1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá mức độ phù hợp trong các quy định bảo vệ môi trường không khí của pháp luật bảo vệ môi trường việt nam với các cam kết quốc tế về môi trường mà việt nam là thành viên

43 584 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 71,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Các bên tham gia Công ước, khi phù hợp với các phương tiện hiện có và trongkhả năng của mình phải đảm nhiệm, hợp tác bằng các quan trắc có hệ thống; nghiên cứu,trao đổi thông tin để hi

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

1 Khái quát chung về vấn đề ô nhiễm môi trường không khí 3

1.1 Các khái niệm về vấn đề ô nhiễm môi trường không khí 3

1.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường không khí hiện nay 4

1.2.1 Tình hình ô nhiễm không khí trên thế giới 4

1.2.2 Ô nhiễm không khí ở Việt Nam hiện nay 6

2 Cam kết quốc tế về môi trường mà Việt Nam đã tham gia; nội luật hóa các cam kết quốc tế tại Việt Nam và đánh giá mức độ phù hợp 9

2.1 Các cam kết quốc tế Việt Nam tham gia về bảo vệ tầng ôzôn 9

2.1.1 Công ước viên 1985 về bảo vệ tầng ôzôn 10

2.1.2 Nghị định thư Montreal 1987 11

2.1.3 Nội luật hóa Công ước Viên 1985, Nghị định thư Montreal về bảo vệ tầng ôzôn tại Việt Nam và đánh giá mức độ phù hợp 13

2.2 Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu 1992 15

2.2.1 Nội dung Công ước khung của Liên Hợp Quốc 16

2.2.2 Nội luật hóa Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu, đánh giá mức độ phù hợp 17

2.3 Nghị định thư Kyoto 20

2.3.1 Nội dung chính của Nghị định thư Kyoto 21

2.3.2 Nội luật hóa Nghị định thư Kyoto và đánh giá mức độ phù hợp 22

2.4 Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu (COP21) 25

2.4.1 Nội dung chính của Thỏa thuận Paris 25

2.4.2 Nội luật hóa các quy định của Thỏa thuận Paris tại Việt Nam, đánh giá mức độ phù hợp 26

3 Những kết quả đạt được và hạn chế của Việt Nam sau khi tham gia các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường không khí 34

3.1 Kết quả 34

3.2 Hạn chế 38

3.3 Các giải pháp khắc phục 40

LỜI KẾT 42

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

1

Trang 2

Vậy mà hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường đang là một vấn đề vô cùng nhức nhói

mà con người đang phải đau đầu để nghĩ ra cách giải quyết Bởi lẽ, chính hoạt động sảnxuất và sinh hoạt của con người đã gây nên sự thay đổi, biến đổi trong thành phần môitrường, làm môi trường xuất hiện chất lạ, vượt quá quy chuẩn kĩ thuật và tiêu chuẩn môitrường, từ đó dẫn đến sự vượt mức giới hạn tự làm sạch của môi trường, gây ra tình trạng

ô nhiễm môi trường Mà hơn hết, môi trường ô nhiễm, thì hậu quả con người phải gánhchịu vô cùng nghiêm trọng

Để bảo vệ môi trường, ngăn chặn cũng như khắc phục sự ô nhiễm, thì con người cần

có giải pháp cụ thể và thiết thực Các quốc gia đã cùng nhau thỏa thuận, góp sức đề ra cácphương án, cam kết bảo vệ môi trường Việt Nam cũng đã rất tích cực trong việc thựchiện các cam kết Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm vẫn đang còn diễn biến rất phức tạp

Để hiểu sâu hơn về sự ô nhiễm cũng như các biện pháp giải quyết, nhóm sẽ trình bày

đề tài về việc bảo vệ một thành phần môi trường Đề tài của nhóm là: “Đánh giá mức độphù hợp trong các quy định bảo vệ môi trường không khí của pháp luật bảo vệ môi trườngViệt Nam với các cam kết quốc tế về môi trường mà Việt Nam là thành viên” Bài tiểuluận của nhóm bao gồm 03 phần:

1 Khái quát chung về vấn đề ô nhiễm môi trường không khí

2 Cam kết quốc tế về môi trường mà Việt Nam đã tham gia; nội luật hóa các cam kếtquốc tế tại Việt Nam và đánh giá mức độ phù hợp

3 Những kết quả đạt được và hạn chế của Việt Nam sau khi tham gia các cam kếtquốc tế về bảo vệ môi trường không khí

Bài làm có thể sẽ có nhiều thiếu sót, mong nhận được sự góp ý của mọi người để đềtài được hoàn thiện hơn Hy vọng bài làm của nhóm sẽ mang lại những thông tin bổ ích

và cần thiết cho mọi người

Xin chân thành cảm ơn

2

Trang 3

1 Khái quát chung về vấn đề ô nhiễm môi trường không khí

1.1 Các khái niệm về vấn đề ô nhiễm môi trường không khí

Không khí là hỗn hợp khí gồm có nitơ chiếm khoảng 78,1%, oxy chiếm 20,9%,argon chiếm 0,9%, dioxit cacbon chiếm 0,035%, hơi nước và một số hiếm khí khác nhưnêon, hêli, mêtan, krypton Trong điều kiện bình thường của độ ẩm tuyệt đối, hơi nướcchiếm 1-3% thể tích không khí1

Ô nhiễm không khí là sự thay đổi lớn trong thành phần của không khí, chủ yếu

do khói, bụi, hơi hoặc các khí lạ được đưa vào không khí, có sự tỏa mùi, làm giảm tầmnhìn xa, gây biến đổi khí hậu, gây bệnh cho con người và cũng có thể gây hại cho cácsinh vật khác như động vật và cây lương thực, và có thể làm hỏng môi trường tự nhiênhoặc xây dựng Hoạt động của con người và các quá trình tự nhiên có thể gây ra ô nhiễmkhông khí

Dưới góc độ pháp lý, ô nhiễm không khí được hiểu là sự thay đổi tính chất khôngkhí, vi phạm tiêu chuẩn không khí mà pháp luật đã quy định Nói cách khác, ô nhiễmkhông khí là tình trạng không khí có xuất hiện chất lạ hoặc có sự biến đổi quan trọngtrong thành phần không khí làm thay đổi tính chất lí, hóa vốn có của nó, vi phạm tiêuchuẩn môi trường do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, gây tác động có hại chocon người và thiên nhiên

Biến đổi khí hậu nghĩa là biến đổi của khí hậu được quy định trực tiếp hoặc gián

tiếp cho hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và sựthay đổi này được cộng thêm vào khả năng biến động tự nhiên của khí hậu quan sát đượctrong những thời kỳ có thể so sánh được2

Tầng ôzôn: là tầng ôzôn khí quyển bên trên tầng biên hành tinh3 Ôzôn là loại khíhiếm trong không khí gần mặt đất nhưng lại tập trung thành lớp dày ở những độ cao khácnhau trong tầng bình lưu, cách mặt đất khoảng từ 10 – 50 km ở những vĩ độ khác nhau

1 2017, Khí quyển Trái Đất, được lấy về từ: https://vi.wikipedia.org , ngày truy cập 13/11/2017

2 Khoản 2, điều 1 Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu 6/1992

3 Khoản 1, Điều 1 Công ước viên 1985

3

Trang 4

Nhiên liệu hóa thạch là các loại nhiên liệu được tạo thành bởi quá trình phân hủy

kỵ khí của các sinh vật chết bị chôn vùi cách đây hơn 300 triệu năm Các nguyên liệu nàychứa hàm lượng cacbon và hydrocacbon cao Việc đốt nhiên liệu hóa thạch tạo ra khoảng21,3 tỉ tấn carbon dioxide hàng năm, nhưng người ta ước tính rằng các quá trình tự nhiên

có thể hấp thu phân nửa lượng khí thải trên, vì vậy hàm lượng cacbon dioxit sẽ tăng 10,65

tỉ tấn mỗi năm trong khí quyển (một tấn cacbon tương đương 3,7 tấn cacbon đioxit).Cacbon đioxit là một trong những khí nhà kính làm tăng lực phóng xạ và góp phần vào sựnóng lên toàn cầu, làm cho nhiệt độ trung bình bề mặt của Trái Đất tăng.4

1.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường không khí hiện nay

1.2.1 Tình hình ô nhiễm không khí trên thế giới.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã lên tiếng cảnh báo tình trạng chất lượng khôngkhí giảm sút ở hơn 2000 thành phố Điều này liên quan chặt chẽ tới việc gia tăng dân số,

sự bùng nổ của phương tiện giao thông cá nhân và đốt nhiên liệu hóa thạch Ô nhiễmkhông khí trên toàn thế giới cũng có thể đến từ nhiều nguyên nhân kết hợp, bao gồm: khíthải phương tiện giao thông, bếp đun nấu, bụi xây dựng, … Đầu năm 2016, các dữ liệubáo cáo về chất lượng không khí tại London đã cho thấy ô nhiễm ở đây vượt qua vạchgiới hạn Theo số liệu mới nhất cho thấy hàng năm, ở Anh có 29000 người chết do ônhiễm bụi và tiếp xúc lâu dài với khí nitơ oxit thải ra từ động cơ diesel Con số này trêntoàn cầu lên tới 7 triệu người, nhiều hơn cả các ca tử vong so với sốt rét và HIV cộng lại

Ô nhiễm không khí dường như đang tập trung nhiều ở Châu Á Báo cáo của WHO chothấy đỉnh điểm ô nhiễm không khí ở nhiều thành phố vượt rất xa mức báo động Điểnhình, sương mù Bắc Kinh có thể được nhìn thấy từ ngoài vũ trụ

Mặc dù các dữ liệu trên đã đủ để WHO cảnh báo tình trạng báo động toàn cầu.Nhiều thành phố được dự báo là sẽ phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm không khí cực kìquan trọng Tuy nhiên, việc không có một thống kê đầy đủ được tiến hành ở đây khiếnviệc định lượng vấn đề của toàn thế giới phải đối mặt rất khó khăn

4 2016, Nhiên liệu hóa thạch, được lấy từ www.voer.edu.vn , ngày truy cập 2/12/2017

4

Trang 5

Những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là khu vực Đông Nam Á, và khu vựcTây Thái Bình Dương Những khu vực này có 3,3 triệu người chết liên quan đến ô nhiễmkhông khí trong nhà và 2,6 triệu người chết do ô nhiễm ngoài trời – với tổng số tínhchung là 5,9 triệu người Trên thế giới hiện nay thì tình trạng ô nhiễm không khí đang ởmức gây hại đối với sức khỏe con người Mới đây nhiều bài báo đã đưa tin về tình trạng ônhiễm không khí của nhiều nước trên thế giới như: thủ đô New Delhi ô nhiễm không khí,hơn 1 triệu học sinh Ấn Độ phải nghỉ học, tình trạng khói bụi ở Malaysia ngày càngnghiêm trọng,…5

Mới đây top 10 quốc gia có chất lượng không khí tệ nhất được công bố rộng rãitrên các phương tiện truyền thông gióng lên một hồi chuông báo động tình trạng ô nhiễmkhông khí ngày càng nặng nề từ các quốc gia nghèo, lạc hậu đến các thành phố lớn bậcnhất Mặc dù một số thành phố của Trung Quốc đạt mức ô nhiễm không khí nghiêmtrọng, tuy nhiên xét trên tổng thể thì Trung Quốc lại không thuộc tốp 10 quốc gia có chấtlượng không khí tệ nhất 10 quốc gia đó gồm6:

6 Hải Long, 2017, Những quốc gia đứng đầu thế giới về ô nhiễm không khí và tiêu thụ năng lượng, được lấy về từ:

http://www.nhandan.com.vn , ngày truy cập: 13/11/2017

5

Trang 6

10 Libya

Có thể thấy rằng ô nhiễm môi trường không khí đang đặt ra những bài toán khócho tất cả các chính trị gia Họ đang nỗ lực hành động với các giải pháp nhằm cải thiệnchất lượng không khí Bên cạnh đó, nhiều quốc gia cũng bắt đầu tập trung đầu tư vào kháithác năng lượng sạch Biện pháp này có thể giúp giảm ô nhiễm không khí từ việc đốtnhiên liệu hóa thạch, đồng thời cũng giảm nhẹ tác động biến đồi khí hậu

1.2.2 Ô nhiễm không khí ở Việt Nam hiện nay.

WHO đã liên tục đưa ra những cảnh báo Việt Nam về tình trạng ô nhiễm không khí củamình Hiện nay, Việt Nam đang là quốc gia có mức độ ô nhiễm không khí đặc biệt cao sovới các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Thống kê cho thấy TP.HCM có 8 triệu phương tiện giao thông, trong đó có 7,5triệu xe gắn máy7, thải ra một lượng khí thải độc hại khổng lồ như CO2, NO2, NO, SO2chưa kể bụi than Theo xếp hạng trong một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, cả haithành phố lớn của Việt Nam là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang nằm trongdanh sách 10 thành phố ô nhiễm không khí của khu vực châu Á và thế giới Hai thành phốnước ta đứng đầu khu vực Đông Á, Đông Nam Á và đứng trên cả Bắc Kinh, thành phốnhiều lần được nêu tên trên thế giới vì ô nhiễm không khí8

Đáng lưu ý, trong bảng xếp hạng này Theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc giagiai đoạn 2011-2015 cũng cho thấy, ô nhiễm bụi có xu hướng duy trì ngưỡng cao, đặc biệt

ở Hà Nội và địa phương hoạt động công nghiệp mạnh Cụ thể, nồng độ bụi PM10 9 tạitrạm Nguyễn Văn Cừ (Hà Nội) trong 5 năm đều vượt quy chuẩn 1-1,2 lần, năm 2014 chỉ

số này gấp 1,4 lần Chỉ số chất lượng không khí (AQI) cũng tăng cao, nhiều đô thị lớn ởmức 201-300, có ngày chất lượng suy giảm đến ngưỡng xấu và nguy hại Theo thangđánh giá với tác động sức khỏe con người, nếu chỉ số AQI ở mức 51-200 thuộc nhómnhạy cảm với ô nhiễm môi trường nên hạn chế ở bên ngoài; với AQI trên 300 mọi người

7 Trần Xuân Tình, 2017, TP Hồ Chí Minh đẩy mạnh phát triển xe buýt để giảm ùn tắc giao thông, được lấy về:

www.baomoi.vn , ngày truy cập 2/12/2017

8 Thùy Hương, 2017, Ô nhiễm môi trường – vấn đề đáng báo động hiện nay, được lấy về: https://www.baomoi.com , ngày truy cập 22/11/2017

9 Bụi PM10 là các hạt bụi có đường kính động học ≤ 10 μmm (micromet)

6

Trang 7

nên ở nhà Chỉ số NO2 đo được ở các đô thị đang vượt ngưỡng giới hạn Nồng độ NO2trung bình các năm tại Hà Nội tăng 1-1,3 lần Trạm quan trắc khu thương mại Quách ThịTrang (TP HCM) ghi nhận đã vượt tới 2 lần10.

Đối với ô nhiễm không khí ở Việt Nam có một số vấn đề ô nhiễm không khí đángchú ý:

- Ô nhiễm bụi: Tại các đô thị và khu công nghiệp, vấn đề ô nhiễm do bụi là đáng longại nhất Nồng độ thông số bụi có xu hướng duy trì ở ngưỡng cao, đặc biệt ở các trụcgiao thông, tuyến đường chính và các đô thị lớn

- Dân số đô thị ngày càng đông, các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của quốcgia ngày càng tập trung trong các đô thị Năng lượng tiêu thụ ở các đô thị có thể chiếm tới3/4 tổng năng lượng tiêu thụ của quốc gia, chính vì thế các vấn đề ô nhiễm không khítrầm trọng thường xảy ra ở các đô thị, đặc biệt là thường xảy ra ở các đô thị lớn Ở nước

ta trong thời gian khoảng ¼ thế kỷ qua, quá trình đô thị hóa tương đối nhanh do quá trìnhvới quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Hoạt động xây dựng diễn ra mạnh mẽ: Ở nước ta hiện nay hoạt động xây dựngnhà cửa, đường sá, cầu cống… rất mạnh và diễn ra ở khắp nơi, đặc biệt là ở các đô thị.Các hoạt động xây dựng như đào lấp đất, đập phá công trình cũ, vật liệu xây dựng bị rơivãi trong quá trình vận chuyển, thường gây ô nhiễm bụi rất trầm trọng đối với môitrường không khí xung quanh Ở hầu hết các đô thị nước ta đều bị ô nhiễm bụi, có nhữngnơi tới mức báo động, điển hình là các khu dân cư cạnh đường giao thông

lớn, ở gần các nhà máy, xí nghiệp

- Hoạt động giao thông vận tải: Cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa,phương tiện giao thông cơ giới ở nước ta tăng lên rất nhanh, đặc biệt là ở các đô thị.Nguồn thải từ giao thông vận tải đã trở thành một nguồn gây ô nhiễm chính đối với môitrường không khí ở đô thị, nhất là ở các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,Hải Phòng, Đà Nẵng Theo đánh giá của chuyên gia môi trường, ô nhiễm không khí ở đô

10 Theo Trí thức trẻ, 2016, Bản đồ của WHO: Hiện tại Hà Nội đang ô nhiễm nhất Việt Nam, được lấy về từ

http://cafebiz.vn , ngày truy cập 22/11/2017

7

Trang 8

thị do giao thông vận tải gây ra chiếm tỷ lệ khoảng 70% Trong khi đó, các hoạt độngcông nghiệp là nguồn đóng góp khoảng 70% khí SO2 Đối với NO2, hoạt động giaothông và hoạt động sản xuất công nghiệp có tỷ lệ đóng góp xấp xỉ nhau

- Sinh hoạt của người dân: Đun nấu bằng than và dầu hỏa sẽ thải ra một lượng chấtthải ô nhiễm đáng kể, đặc biệt nó là nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường khôngkhí trong nhà, ảnh hướng trực tiếp tới sức khỏe người dân

Vào năm 2012, hai trung tâm nghiên cứu môi trường thuộc Đại học Yale vàColumbia của Mỹ đã thực hiện báo cáo thường niên mang tên The EnviromentPerformance Index (EPI), khảo sát nồng độ ô nhiễm của môi trường không khí trên 132quốc gia Theo kết quả này, chất lượng môi trường không khí của Việt Nam đứng thứ 123trên 132 quốc gia đã làm khảo sát.Như vậy, Việt Nam nằm trong 10 quốc gia có chấtlượng không khí thấp nhất và ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe Mặc dù đây là kếtquả từ năm 2012, và khi theo dõi danh sách 10 quốc gia ô nhiễm không khí nhất thế giớinăm 2017 ở trên không có Việt Nam Tuy nhiên, chúng ta không thể khẳng định ViệtNam đã làm tốt công tác bảo vệ môi trường không khí, hay môi trường không khí của cácnước khác trên Thế Giới đang dần xấu đi với tốc độ nhanh hơn so với tốc độ của ViệtNam Thiết nghĩ, các quốc gia trên thế giới cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn trong việcthực hiện công tác bảo vệ chất lượng môi trường không khí Bởi đây là một loại tàinguyên hết sức đặc biệt, nó không “cố định” Nên khi một nước ô nhiễm không khí hoàntoàn có thể dẫn đến các quốc gia lân cận nó cũng bị ảnh hưởng Chính vì lẽ đó, ô nhiễmkhông khí là vấn đề đáng lo ngại và nó là một bài toán toàn cầu đặt ra với tất cả các quốcgia trên thế giới Giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí là đồng nghĩa với việc duy trì mộtcuộc sống trong lành và đảm bảo chất lượng sống cho con người Bởi thế, không chỉ ViệtNam mà các quốc gia trên thế giới đã xây dựng và ngày càng hoàn thiện hơn hệ thốngpháp luật bằng cách cùng nhau thỏa thuận các cam kết quốc tế để bảo vệ môi trườngkhông khí chung cho toàn nhân loại

2 Cam kết quốc tế về môi trường mà Việt Nam đã tham gia; nội luật hóa các cam kết quốc tế tại Việt Nam và đánh giá mức độ phù hợp

8

Trang 9

2.1 Các cam kết quốc tế Việt Nam tham gia về bảo vệ tầng ôzôn

Tầng ôzôn có vai trò rất quan trọng đối với sự sống trên Trái Đất Theo Tổ chứcKhí tượng thế giới (WMO), lớp ôzôn ở tầng bình lưu có chức năng bảo vệ Trái Đất chốngcác tia cực tím (tia UV) của Mặt Trời và phải tốn khoản thời gian từ 5 đến 15 năm so với

dự báo mới có thể phục hồi hoàn toàn Trong lịch sử của giới sinh vật, sự sống chỉ được

di cư lên cạn khi trên Trái Đất xuất hiện tầng ôzôn Nếu tầng ozon bị suy giảm đồng nghĩavới việc tia UV sẽ chiếu đến trái đất nhiều hơn, làm cho nguy cơ các bệnh tật như ungthư da, đục thủy tinh thể ở mắt tăng lên cũng như làm giảm sản lượng lương thực và ảnhhưởng đến hệ sinh thái biển Do vậy, nếu tầng ôzôn bị phá hủy sẽ gây tác hại rất lớn đốivới mọi sinh vật sống trên hành tinh

Chất gây suy giảm tầng ôzôn chủ yếu là CFC (cloflocacbon) – dung dịch Freon ởthể lỏng, được tạo ra do các hoạt động sinh hoạt sản xuất của con người Các CFC đượcdùng trong các máy điều hòa nhiệt độ, các máy làm lạnh trước thập kỷ 1980, trong cácquy trình làm sạch các thiết bị điện tử dễ hỏng và là sản phẩm phụ của một số quá trìnhhóa học11 Không những tủ lạnh, máy lạnh cần dùng đến CFC mà trong dung dịch giặt tẩy,các loại sơn, bình cứu hoả cũng sử dụng CFC và các chất thuộc dạng CFC Đây là nhữnghóa chất thiết yếu và trong quá trình sản xuất và sử dụng chúng không tránh khỏi thấtthoát một lượng lớn hoá chất dạng Freon bốc hơi bay lên khí quyển Khi CFC đến đượctầng bình lưu, dưới tác dụng của tia cực tím nó bị phân hủy tạo ra Clo nguyên tử và Clonguyên tử này có tác dụng như một chất xúc tác để phân hủy hàng ngàn phân tử ôzôntrước khi được mang ra khỏi tầng bình lưu Người ta tính rằng một phân tử CFC mấttrung bình là 15 năm để đi từ mặt đất lên đến các tầng trên của khí quyển và có thể ở đókhoảng một thế kỷ, phá hủy đến cả trăm ngàn phân tử ôzôn trong thời gian này Bên cạnh

đó, còn nhiều nguyên nhân khác được tìm thấy là tác nhân gây nên sự suy giảm tầng ôzônchính là các chất thải công nghiệp như NOx, CO2,… Những chất thải loại này vẫn bền bỉ

và dai dẳng bay vào bầu khí quyển và làm công việc phá hoại tầng ozone Ảnh hưởng nàycàng nghiêm trọng hơn khi nền công nghiệp ngày càng hiện đại hóa, đồng nghĩa với quátrình gia tăng mạnh mẽ sản xuất công nghiệp.12

11 Theo bài viết đăng ngày 13 tháng 1 năm 2016 tại Wikipedia https://vi.wikipedia.org/wiki/sự_suy_giảm_ôzôn

12 Theo http://bkozone.com/Tin-Tuc/2570601/82947/Nguyen-nhan-gay-thung-tang-Ozone.html về nguyên nhân gây thủng tầng ôzôn.

9

Trang 10

Con người bắt đầu tiến hành đo đạc tầng ôzôn từ các trạm trên mặt đất vào năm

1956 ở vịnh Halley, Nam Cực Đầu những năm 1970, con người bắt đầu tiến hành đo đạctầng ôzôn từ các vệ tinh, tuy nhiên việc đo đạc tổng hợp chỉ thực sự bắt đầu vào năm

1978 bởi vệ tinh Nimbus-7 Một nghiên cứu trên diện rộng đã cho thấy rằng, trên bìnhdiện toàn cầu ôzôn đã bị suy giảm 2,5% trong khoảng thời gian từ 1969-1986, và thêm3% từ năm 1986-1993 Dùng các thiết bị như Total Ozone Mapping Spectrometer(TOMS) người ta đã quan sát thấy cột ôzôn giảm sút rõ rệt trong mùa xuân và đầu hè ởNam cực so sánh với thập niên 1970 và trước đó Giảm sút cho đến 70% cột ôzôn đượcquan sát thấy vào mùa xuân ở nam bán cầu trên Nam Cực được nhắc đến lần đầu tiên vàonăm 1985 vẫn đang tiếp tục.13

Nhận thức được tình trạng tầng ôzôn đang bị hủy hoại một cách nghiêm trọng, với

sự cố gắng của các quốc gia, sau nhiều năm đàm phán căng thẳng, tháng 3-1985, Côngước Viên về bảo vệ tầng ôzôn đã được 21 quốc gia đầu tiên hưởng ứng ký kết Công ước

ra đời với tư cách như là một công ước khung, một văn pháp lý đầu tiên mang tính chấttoàn cầu về bảo vệ tầng ôzôn Với mục đích hạn chế sự phát thải các chất khí có hại đến

sự bình ổn của tầng ôzôn Công ước Viên thiết lập sự kiểm soát không đặc thù về các chấtlàm suy giảm tầng ôzôn thay vì xác lập một cam kết chung cho các thành viên để bảo vệtầng ôzôn

2.1.1 Công ước viên 1985 về bảo vệ tầng ôzôn

Nội dung cơ bản mà các quốc gia tham gia vào Công ước Viên nói chung đượcquy định khái quát như sau14:

- Các quốc gia phải có những biện pháp thích hợp để bảo vệ sức khỏe con người vàmôi trường chống lại những ảnh hưởng có hại phát sinh hoặc dễ phát sinh từ những hoạtđộng của con người làm thay đổi hoặc dễ làm thay đổi tầng ôzôn Các biện pháp đượcnhấn mạnh là ngăn ngừa để kiểm soát cũng như hạn chế việc sử dụng một số loại hóa chấthay khí có thể làm suy giảm tầng ôzôn

13 Theo bài viết đăng ngày 13 tháng 1 năm 2016 tại Wikipedia https://vi.wikipedia.org/wiki/sự_suy_giảm_ôzôn

14 Điều 2 Những nghĩa vụ chung của Công ước Viên 1985.

10

Trang 11

- Các bên tham gia Công ước, khi phù hợp với các phương tiện hiện có và trongkhả năng của mình phải đảm nhiệm, hợp tác bằng các quan trắc có hệ thống; nghiên cứu,trao đổi thông tin để hiểu rõ và đánh giá tốt hơn những ảnh hưởng đến sức khỏe conngười và môi trường do biến đổi tầng ôzôn.

- Ngoài ra, Công ước cũng nhấn mạnh trách nhiệm của các nước trong việc khắcphục những hậu quả của việc suy giảm tầng Ôzôn bằng cách chấp nhận các biện pháppháp lý hoặc các biện pháp hành chính và hợp tác trong việc phối hợp các chính sáchthích hợp để kiểm soát hạn chế, giảm bớt hoặc ngăn chặn những hoạt động của con ngườitrong phạm vi quyền hạn hoặc sự kiểm soát của mình nếu như thấy rằng các hoạt động đó

có hoặc dễ có những ảnh hưởng có hại do sự biến đổi hoặc dễ biến đổi tầng ôzôn

Nội dung chính của Nghị định thư Montreal đưa ra những kế hoạch đặc biệt choviệc giảm sản xuất và tiêu thụ các chất làm suy yếu tầng ôzôn như CFCS, Halon,Tetraclorít, Hydrocloruafluorocacbon, Metyl bromid,… Cụ thể quy định tại Điều 2, Nghịđịnh thư Montreal là nội dung về mức sử dụng các chất này của các quốc gia khi tham giavào Nghị định phải bảo đảm qua từng giai đoạn Bên cạnh đó, Nghị định thư đã đề ranhiều điều khoản nhằm xác định các biện pháp cần thiết để các bên tham gia hạn chế vàkiểm soát việc sản xuất, tiêu thụ các chất làm suy giảm tầng ôzôn này:

- Thứ nhất, các quốc gia, trong đó có Việt Nam, không được phép nhập khẩuhay xuất khẩu các chất đã bị hạn chế ra khỏi các quốc gia không tham gia Nghị định thưnày trong những thời hạn nhất định.15

15 Điều 4, Nghị định thư Montreal 1987.

11

Trang 12

- Thứ hai, các bên phải đánh giá và kiểm điểm các biện pháp được kiểm soátdựa trên cơ sở khoa học, môi trường, kỹ thuật và kinh tế có được.16

- Thứ ba, hằng năm các thành viên phải báo cáo số liệu về sản xuất, xuấtkhẩu, nhập khẩu các chất được kiểm soát cho Ban thư ký.17

- Thứ tư, các bên phải cùng nhau hợp tác, đặc biệt là theo nhu cầu của cácnước đang phát triển nhằm tăng cường nghiên cứu, phát triển, trao đổi thông tin và làmtăng thêm nhận thức của công chúng trong bảo vệ tầng ôzôn.18

- Thứ năm, các bên trong khuôn khổ của Nghị định này, đặc biệt là theo nhucầu của các nước đang phát triển, sẽ phải hỗ trợ nhau trong việc thúc đẩy kỹ thuật tạo điềukiện để tham gia và thực hiện các điều khoản của Nghị định.19

- Thứ sáu, các bên tham gia vào Nghị định sẽ thiết lập cơ chế tài chính theohình thức “Quỹ đa phương” (do các nước phát triển đóng góp) nhằm cung cấp cho cácnước đang phát triển sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật.20

Nếu như không có sự ra đời của Nghị định thư Montreal, thì nồng độ khí nhà kínhtrong khí quyển hiện nay có thể cao gấp 2 lần, và do tác động của tia tử ngoại sẽ có thêm

20 triệu người mắc bệnh ung thư da, 130 triệu người mắc bệnh đục thuỷ tinh thể, khiếnthế giới sẽ phải bỏ ra khoảng 4.000-5.000 tỷ đôla vào việc chữa bệnh21 Nghị định thưMontreal được coi là điều ước quốc tế về môi trường thành công nhất từ trước đến nayvới sự đồng thuận và tham gia của nhiều quốc gia trên thế giới Bên cạnh đó, Nghị địnhthư Montreal cũng được tất cả các ngành, tập đoàn công nghiệp và người dân toàn cầuủng hộ

2.1.3 Nội luật hóa Công ước Viên 1985, Nghị định thư Montreal về bảo vệ

tầng ôzôn tại Việt Nam và đánh giá mức độ phù hợp

Công ước Viên về bảo vệ tầng ôzôn 1985 và Nghị định thư Montreal về các chấtlàm suy giảm tầng ôzôn 1987 đã và đang được ghi nhận là thành công của cộng đồng

16 Điều 6, Nghị định thư Montreal 1987.

17 Điều 7, Nghị định thư Montreal 1987.

18 Điều 9, Nghị định thư Montreal 1987.

19 Điều 10 Hỗ trợ kỹ thuật, Nghị định thư Montreal 1987.

20 Điều 10 Cơ chế tài chính, Nghị định thư Montreal 1987.

21 Tuấn Hà,2009, Nghị định thư Montreal: Việt Nam – người cam kết tích cực, được lấy từ www.vacne.org,vn , ngày truy cập: 2/12/2017

12

Trang 13

quốc tế trong việc chống lại thảm họa môi trường toàn cầu tạo ra sự biến đổi khí hậu dotầng ôzôn bình lưu bị phá hủy gây ra

Nhận thấy được lợi ích to lớn đem lại từ Công ước Viên 1985 và Nghị định thưMontreal 1987, Việt Nam ta đã trở thành thành viên chính thức vào 1/1994 Kể từ thờiđiểm ký kết, tính đến nay Việt Nam ta đã ban hành nhiều chính sách để hạn chế việc tiêuthụ các chất làm suy giảm tầng ôzôn nhằm hiện thực hóa các nội dung mà chúng ta đã tiếnhành cam kết Các văn bản pháp luật quan trọng liên quan đến lĩnh vực này đã được ViệtNam ta ban hành có thể kể đến là:

- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã tiếp nối theo Luật Bảo vệ môi trường

2005 trong quy định việc cấm sử dụng các chất làm suy giảm tầng ôzôn phù hợp với cáccam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.22

- Nghị định số 12/2006/ĐN-CP hướng dẫn chi tiết Luật Thương mại năm

2004 về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công

và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài đã quy định về việc cấm nhập khẩu các phế liệu,phế thải, thiết bị làm lạnh sử dụng CFC.23

- Thông tư liên tịch số 47/2011/TTLT – BCT - BTNMT của Bộ Công thương

và Bộ Tài nguyên và môi trường về việc xuất khẩu và tạm nhập và tái xuất các chất làmsuy giảm tầng ôzôn Trong thông tư quy định cụ thể rằng các thương nhân chỉ được phépnhập khẩu, xuất khẩu và tạm nhập – tái xuất các chất làm suy giảm tầng ôzôn với cácquốc gia là thành viên của Nghị định thư Khi các thương nhân nhập khẩu, xuất khẩu cácchất làm suy giảm tầng ô-dôn phải đăng ký với Bộ Tài nguyên và Môi trường và được BộTài nguyên và Môi trường xác nhận Bộ Tài nguyên và Môi trường xác nhận khối lượngđăng ký nhập khẩu các chất HCFC cho các thương nhân căn cứ trên hạn ngạch nhập khẩucác chất HCFC theo quy định của Bộ Công thương và tỷ lệ khối lượng thực nhập khẩutrung bình của ba (03) năm của thương nhân trước năm thương nhân đăng ký nhập khẩu.Quy định này đã làm hạn chế đi việc sử dụng chất HCFC vào các thiết bị máy móc24

22 Quy định tại khoản 2, điều 42, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

23 Mục số 7, phần II, phụ lục số 01, ban hành kèm theo Nghị định 12/2006/NĐ-CP.

24 Điều 2 Thông tư liên tịch số 47/2011/TTLT-BCT-BTNMT của Bộ Công thương và Bộ tài nguyên và môi trường

13

Trang 14

- Thông tư 40/2015/TT-BTNMT của Bộ tài nguyên và môi trường về Quytrình kỹ thuật quan trắc khí thải Thông tư này đã quy định về kỹ thuật quan trắc khí thải

từ ống khói, ống thải của các nhà máy, cơ sở sản xuất, chế biến kinh doanh, dịch vụ côngnghiệp và các lò đốt chất thải Quy định này cung cấp số liệu phục vụ công tác kiểm soát

ô nhiễm môi trường không khí, quản lý môi trường không khí của Trung ương và địaphương Từ đó có thể đánh giá sự tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật môi trường liên quanđến khí thải, đồng thời đánh giá hiệu suất làm việc của các hệ thống, thiết bị xử lý khíthải Điều này hoàn toàn phù hợp với cam kết ngăn ngừa để kiểm soát, hạn chế việc sửdụng một số loại hóa chất hay khí có thể làm suy giảm tầng ôzôn

- Ngoài ra, để đảm bảo tuân thủ hạn định loại trừ các chất HCFC theo Nghịđịnh thư Montreal, Cục KTTV&BĐKH với sự trợ giúp của Ngân hàng thế giới, đã xâydựng và trình Ban chấp hành Quỹ đa phương thi hành Nghị định thư Montreal, dự án “Kếhoạch quốc gia quản lý loại trừ các chất HCFC của Việt Nam” Với dự án thực hiện: Loạitrừ hoàn toàn sử dụng hơn 500 tấn HCFC-141b và gần 2.000 tấn polyol trộn sẵn HCFC-141b tại 12 doanh nghiệp sản xuất xốp cách nhiệt thông qua việc thay thế toàn bộ dâychuyền công nghệ sản xuất xốp dùng HCFC-141b sang công nghệ sản xuất xốp sử dụngcyclopentane Chính vì vậy, tại thông tư liên tịch số 47/2011/TTLT-BTC-BTNMT có quyđịnh về hạn chế nhập khẩu các chất HCFC, Việc tạm nhập - tái xuất các chất HCFC, nhậpkhẩu polyol trộn sẵn HCFC-141b và xuất khẩu các chất HCFC được thực hiện theo giấyphép của Bộ Công Thương trên cơ sở xác nhận đăng ký nhập khẩu của Bộ Tài nguyên vàMôi trường Ngoài ra quyết định số 15/2006/QĐ-BTNMT còn ban hành danh mục thiết bịlàm lạnh sử dụng môi chất lạnh CFC cấm nhập khẩu

- Ngoài những văn bản pháp lý nêu trên, còn có thể kể đến các văn bản khácnhư: Nghị định 187/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành luật thương mại về hoạt độngmua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hànghóa với nước ngoài, trong đó tại khoản 10, mục II của phụ lục I quy định các chất C.F.C

là các chất bị cấm nhập khẩu vào thị trường Việt Nam; Nghị định 155/2016/NĐ-CP quyđịnh về mức xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trong đó mức xử phạt

14

Trang 15

đối với các hành vi nhập khẩu hợp chất làm suy giảm tầng ôzôn là từ 200.000.000 đồngđến 250.000.000 đồng (khoản 3, điều 24).

Về mặt tích cực, có thể thấy những văn bản pháp luật mà Việt Nam ta ban hànhtrong lĩnh vực bảo vệ môi trường ôzôn hoàn toàn phù hợp và có sự liên kết chặt chẽ vớinhững điều lệ quốc tế mà ta đã tham gia Từ hệ thống các văn bản pháp luật trên đã chứngminh Việt Nam ta đang từng bước thực hiện những gì mình đã cam kết, đang chung taycùng cộng đồng quốc tế bảo vệ tầng khí quyển bình lưu

Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng, những quy định trong hệ thống văn bản phápluật của ta còn chưa thật sự đầy đủ Thứ nhất đó là phạm vi của các văn bản pháp luật màchúng ta hướng đến chỉ nằm trong nội bộ quốc gia, trong khi những cam kết chúng tahướng đến mang tính chất toàn cầu Thứ hai, việc nghiên cứu khoa học, phối hợp với cácquốc gia khác trong quan trắc môi trường có hệ thống liên quan đến tầng ôzôn, sự biếnđổi tầng ôzôn, những chất làm suy giảm tầng ôzôn cũng như các chất thay thế đã đượcquy định trong công ước Viên 1985 thì pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có văn bản cụthể quy định, mà chỉ được quy định chung đối với môi trường tại Chương XII Luật Bảo

vệ môi trường năm 2014 Hạn chế thứ ba cần nhắc đến đó là hiện nay các văn bản phápluật nêu trên chỉ tập trung giải quyết các nguyên nhân gây ô nhiễm tầng ôzôn là CFC màchưa có sự đề cập đến các nguyên nhân khác cũng không kém phần quan trọng như khíthải CO2 của các phương tiện giao thông vận tải, các hoạt động sản xuất, sinh hoạt,…

2.2 Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu 1992

Biến đổi khí hậu với biểu hiện chủ yếu là hiện tượng ấm lên toàn cầu đang là vấn

đề được toàn nhân loại quan tâm Sự ấm lên toàn cầu do hiệu ứng các khí nhà kính nhântạo đã và đang tác động mạnh mẽ đến khí hậu trái đất Nhằm bảo vệ hệ thống khí hậu,cộng đồng quốc tế đã có nhiều nỗ lực để giảm nhẹ biến đổi khí hậu

Tại hội nghị thượng đỉnh của Liên Hiệp Quốc về môi trường họp tại Rio DeJaneiro, Brazin tháng 6 năm 1992, 162 quốc gia, trong đó có Việt Nam đã ký công ướckhung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu

2.2.1 Nội dung Công ước khung của Liên Hợp Quốc

15

Trang 16

Công ước khung của Liên Hợp Quốc (UNFCCC) là cam kết của các quốc gia nhằm vạch ra khuôn khổ cho hoạt động kiểm soát và cắt giảm phát khí thải nhà kính nhằm ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển để ngăn chặn các tác động nguy hiểmcủa nó tới hệ thóng khí hậu Công ước này nhằm nhấn mạnh trách nhiệm của các nước phát triển phải đi đầu trong việc ngăn ngừa biến đổi khí hậu và các ảnh hưởng tiêu cực của nó Bên cạnh đó, các nước phát triển cần tính đến đặc thù và hoàn cảnh của các nước đang phát triển vì hầu hết sự phát khí thải nhà kính của nhà kính của thế giới xuất phát từ các nước này Các nước phát triển phải giữ vai trò chủ đạo trong việc chống lại sự biến đổi khí hậu và những tác động xấu của nó Rõ ràng là trách nhiệm của các nước phát triển

và đang phát triển là khác nhau trong quá trình hợp tác để đi đến thành công Do đó trong các phụ lục của công ước chia ra rất rõ ràng trách nhiệm của các nước phát triển và đang phát triển Cụ thể, UNFCCC về biến đổi khí hậu phân chia các nước trên thế giới làm hai nhóm: Nhóm 1: thuộc phụ lục I- các nước phát triển là các nước có lượng phát thải các khí nhà kính lớn, gây biến đổi khí hậu và các nước không thuộc phụ lục I gồm các nước đang phát triển Nguyên tắc của UNFCCC là các bên phải tham gia bảo vệ hệ thống khí hậu vì lợi ích chung của nhân loại trên cơ sở công bằng và phù hợp với “ những trách nhiệm chung nhưng có phân biệt”

Mặc dù Việt Nam là nước đang phát triển nhưng chúng ta cũng nên thực hiện nghĩa vụnhư các nước thuộc phụ lục I của công ước để góp phần hạn chế khí thải nhà kính, bảo vệmôi trường – ngôi nhà chung của nhân loại Đó là việc sẽ không ngừng điều tra để nhằmhạn chế nguồn phát khí thải gây hiệu ứng nhà kính trong phạm vi quốc gia, xây dựng cácchương trình khu vực, quốc gia về biến đổi khí hậu, đưa ra các vấn đề khí hậu vào cácchính sách, vào các hoạt động quốc gia về xã hội, kinh tế và môi trường Có nghĩa vụ hợptác với các quốc gia trên thế giới về biến đổi khí hậu

Bên cạnh đó, UNFCCC còn quy định các bên tham gia phải thực hiện những biệnpháp phòng ngừa để đoán trước, ngăn ngừa hoặc làm giảm những nguyên nhân của đổikhí hậu và làm giảm nhẹ những ảnh hưởng có hại của nó, ở những nơi có các mối đe doạ

bị thiệt hại nghiêm trọng hoặc không thể đảo ngược, việc thiếu của sự chắc chắn đầy đủ

về khoa học không được dùng làm lý do để trì hoãn những biện pháp ấy, các chính sách

16

Trang 17

và biện pháp đối phó với thay đổi khí hậu phải là chi phí có hiệu quả để bảo đảm nhữnglợi ích toàn cầu ở mức phí tổn thấp nhất có thể được Ðể đạt được điều đó, những chínhsách và biện pháp như vậy phải tính đến những tình huống kinh tế - xã hội khác nhau,phải toàn diện, bao trùm mọi nguồn, bể chứa các khí nhà kính, sự tích ứng và bao gồmmọi lĩnh vực kinh tế Những nỗ lực đối phó với thay đổi khí hậu được thực hiện một cáchhợp tác bởi các Bên quan tâm.

Các bên tham gia UNFCCC có quyền và phải đẩy mạnh sự phát triển lâu bền Nhữngchính sách và những biện pháp để bảo vệ hệ thống khí hậu chống lại sự thay đổi do conngười gây nên, phải thích hợp với những điều kiện riêng của mỗi bên Ngoài ra, các chínhsách và biện pháp này cũng phải thích hợp với những chương trình phát triển quốc gia,

sự phát triển kinh tế là cốt yếu với việc chấp nhận những biện pháp đối phó với thay đổikhí hậu

Cuối cùng, Các bên tham gia UNFCCC phải hợp tác để đẩy mạnh một hệ thống kinh

tế quốc tế mở cửa và tương trợ, hệ thống này sẽ dẫn tới sự phát triển và tăng trường kinh

tế lâu bền ở tất cả các bên, đặc biệt các bên nước đang phát triển, như vậy làm cho họ cóthể đối phó tốt hơn với các vấn đề của sự thay đổi khí hậu Các biện pháp dùng để chốnglại sự thay đổi khí hậu, bao gồm các biện pháp đơn phương không được tạo thành mộtphương tiện phân biệt đối xử tuỳ tiện hoặc không chính đáng hoặc một sự hạn chế tráhình về thương mại quốc tế

2.2.2 Nội luật hóa Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu,

đánh giá mức độ phù hợp

Việt Nam là một trong các bên không thuộc Phụ lục I Do đó, Việt Nam không cónghĩa vụ phải giảm phát thải định lượng các khí nhà kính theo quy định của Nghị định thưKyoto Nhưng để góp phần bảo vệ môi trường, hệ thống khí hậu, tiếp nhận hỗ trợ về tàichính và công nghệ thân thiện với khí hậu từ các nước phát triển, các tổ chức quốc tế cũngnhư đóng góp cùng cộng đồng quốc tế thực hiện mục tiêu cuối cùng của UNFCCC, ViệtNam cũng như các nước đang phát triển khác thực hiện một số nghĩa vụ chung theo Điều4.1 của Công ước như:

17

Trang 18

+ Xây dựng các Thông báo quốc gia trong đó có kiểm kê quốc gia khí nhà kính; đánh giátác động của biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực kinh tế-xã hội;

+ Xây dựng và thực hiện các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu;

+ Xây dựng và thực hiện các chương trình, phương án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính khinhận được sự hỗ trợ đầy đủ về vốn và chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển vàcác tổ chức quốc tế;

+ Tiến hành các hoạt động nghiên cứu và quan trắc những vấn đề/yếu tố liên quan đến khíhậu và biến đổi khí hậu;

+ Cập nhật, phổ biến các thông tin nhằm nâng cao nhận thức của các nhà hoạch địnhchính sách và công chúng về biến đổi khí hậu, Cơ chế phát triển sạch (CDM)

Chính phủ Việt Nam đã ban hành một số văn bản quan trọng làm cơ sở cho việc thực hiệnUNFCCC và Nghị định thư Kyoto tại Việt Nam như:

+ Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện UNFCCC

+ Kế hoạch tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc UNFCCC;

+ Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu;

+ Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu;

+ Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh;

+ Kế hoạch hành động quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn 2012-2020;

+ Đề án quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính; quản lý các hoạt động kinh doanh tínchỉ các-bon ra thị trường thế giới

Thực hiện nghĩa vụ của một Bên nước là thành viên của UNFCCC, Việt Nam đãhoàn thành việc xây dựng Thông báo quốc gia lần thứ nhất (INC), lần thứ hai (SNC) vàBáo cáo cập nhật hai năm một lần lần thứ nhất (BUR1) đề trình Ban Thư ký UNFCCCvào năm 2003, 2010 và 2014

Nhằm tạo cơ sở pháp lý cho công tác kiểm kê quốc gia khí nhà kính phục vụ việcxây dựng và gửi Ban Thư ký UNFCCC các Thông báo quốc gia và các Báo cáo cập nhậthai năm một lần theo định kỳ, Việt Nam đang tiến hành thiết lập Hệ thống quốc gia vềkiểm kê khí nhà kính

Ngoài ra, Hệ thống kiểm kê quốc gia khí nhà kính tại Việt Nam còn nhằm giám sátcác nguồn phát thải, bể hấp thụ khí nhà kính góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển

18

Trang 19

nền kinh tế các-bon thấp, tăng trưởng xanh tại Việt Nam; phục vụ đo đạc, báo cáo vàthẩm định (MRV) các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiệnquốc gia và các mục tiêu giảm nhẹ khí nhà kính trong đóng góp do quốc gia tự quyết địnhcủa Việt Nam (INDC) cho Công ước.

Thực hiện Quyết định số 1/CP.19 ngày 31 tháng 01 năm 2014 của Hội nghị lần thứ

19 (COP19) các Bên tham gia UNFCCC, Việt Nam đã xây dựng và đệ trình Ban Thư kýĐóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định (INDC) của Việt Nam trong giai đoạn 2021-

2030 INDC của Việt Nam gồm các đóng góp về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và thíchứng với biến đổi khí hậu, trong đó có đóng góp tự nguyện và đóng góp khi có hỗ trợ về tàichính, công nghệ và tăng cường năng lực từ quốc tế

Việt Nam không chỉ thực hiện nghĩa vụ của một Bên nước đang phát triển tham giaUNFCCC mà còn thể hiện vai trò tích cực, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tậndụng các cơ hội phát triển nền kinh tế các-bon thấp, giảm nhẹ phát thải KNK, tăng trưởngxanh, tăng cường năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu, đảm bảo an ninh năng lượng,

an ninh lương thực, an sinh xã hội tại Việt Nam khu vực và toàn cầu

Nâng cao nhận thức, tuyền truyền về biến đổi khí hậu cũng là một trong nhữnghoạt động cần thực hiện theo yêu cầu của UNFCCC đối với các Bên nước thành viên BộTài nguyên và Môi trường được Chính phủ giao làm Cơ quan đầu mối của Chính phủViệt Nam tham gia và thực hiện UNFCCC đã chủ trì, phối hợp thực hiện nhiều hoạt độngnâng cao nhận thức, tuyên truyền về biến đổi khí hậu thông qua các phương tiện thông tinđại chúng, hoạt động quần chúng, tài liệu tuyên truyền… Trong thời gian qua, nhiềuchương trình tọa đàm về biến đổi khí hậu được phát sóng trên đài truyền hình, đài phátthanh, nhiều hội thảo tuyên truyền nâng cao nhận thức được tổ chức ở các tỉnh/thành phốtrên cả nước

Bên cạnh đó, định kỳ sáu tháng một lần, chuyên san “Thông tin biến đổi khí hậu”

đã được xuất bản và gửi tới các Bộ, ban, ngành và các chuyên gia và nhà khoa học có liênquan Nội dung chuyên san gồm các mục về: Thông tin chung về UNFCCC và Nghị địnhthư Kyoto, thực hiện UNFCCC và Nghị định thư Kyoto trên thế giới và ở Việt Nam, tinkhoa học công nghệ về biến đổi khí hậu và các tin liên quan khác

19

Trang 20

Nhằm chung tay ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, Việt Nam đã tích cực tham giađàm phán và đóng góp ý kiến tại các Hội nghị, Hội thảo quốc tế về biến đổi khí hậu,CDM, đặc biệt là Hội nghị thường niên của UNFCCC và cuộc họp của các Nhóm côngtác thảo luận về UNFCCC, Nghị định thư Kyoto.

Ngoài ra, để góp phần tích cực trong việc đạt được mục tiêu giữ nhiệt độ trungbình toàn cầu không tăng quá 2°C vào cuối thế kỷ này, Việt Nam cũng đang nỗ lựcnghiên cứu xây dựng và chuẩn bị thực hiện NAMA Với sự hỗ trợ của một số tổ chứcquốc tế, một số đề xuất NAMA đã được xây dựng và tìm kiếm các nguồn tài trợ cho việcthực hiện như: Chương trình hỗ trợ phát triển điện gió tại Việt Nam, Sản xuất điện khísinh học tại các trang trại nuôi lợn quy mô trung bình và lớn, Quỹ phát triển năng lượngtái tạo, Chuyển hóa rác thải thành tài nguyên ở các thành phố ở Việt Nam, Nghiên cứu vàứng dụng công nghệ xe điện ở Việt Nam… Một số NAMA này cũng được xác định sẽ lànhững NAMA ưu tiên của Việt Nam trong việc thực hiện INDC trong giai đoạn tới

2.3 Nghị định thư Kyoto

Nghị định thư Kyoto là một nghị định liên quan đến Công ước khung Liên HiệpQuốc về Biến đổi Khí hậu tầm quốc tế của Liên hiệp quốc với mục tiêu cắt giảmlượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính Nghị định thư được hoàn tất và mở ký vào ngày11/12/1997 tại Kyoto, Nhật Bản Nghị định thư quy định trước khi có hiệu lực Nghị địnhthư phải được phê chuẩn bởi ít nhất 55 quốc gia và các quốc gia này phải chịu tráchnhiệm ít nhất đối với 55% tổng lượng khí thải toàn cầu Các điều kiện này đã được thỏamãn khi Liên bang Nga phê chuẩn Nghị định thư Vì vậy Nghị định thư chính thức bắtđầu có hiệu lực từ ngày 16/02/2005 Tính đến tháng 02/2009, đã có 184 quốc gia tham giavào Nghị định thư Kyoto Việt Nam ký Nghị định thư vào ngày 03/12/1998 và phê chuẩnvào ngày 25/9/2002

2.3.1 Nội dung chính của Nghị định thư Kyoto

Nghị định thư Kyoto có mục tiêu chính là kiểm soát việc phát thải các khí nhàkính- GHG do con người gây ra GHG là một khí trong bầu khí quyển hấp thụ và phát

ra bức xạ trong dải hồng ngoại nhiệt Quá trình này là nguyên nhân cơ bản của hiệu ứng

20

Trang 21

nhà kính Các khí nhà kính chính trong bầu khí quyển của Trái đất là các hơinước , carbon dioxide , mêtan , oxit nitơ và ozon Nếu không có khí nhà kính, nhiệt độtrung bình của bề mặt trái đất sẽ khoảng -18 ° C (0 ° F), thay vì mức trung bình hiện tại là

15 °C (59 ° F ) Trong Hệ mặt trời , các bầu khí quyển của sao Kim , sao Hỏa và Titan cũngchứa các khí gây ra hiệu ứng nhà kính

Các cam kết chung đầu tiên của Nghị định thư Kyoto là bước đi chi tiết đầu tiêntrong khuôn khổ UNFCCC về Thay đổi Khí hậu Mục tiêu cuối cùng của UNFCCC là

"ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn chặn sự can thiệp củacon người nguy hiểm vào hệ thống khí hậu" Ngay cả khi các Bên trong Phụ lục I đãthành công trong việc đạt được các cam kết đầu tiên, trong tương lai sẽ cần phải giảmphát thải nhiều hơn nữa để ổn định nồng độ GHG trong khí quyển

Đối với mỗi loại GHG nhân tạo khác nhau, các mức giảm phát thải khác nhau sẽđược yêu cầu để đạt được mục tiêu ổn định nồng độ khí quyển Carbon dioxide ( CO2 ) làGHG nhân tạo quan trọng nhất Ổn định nồng độ CO2 trong khí quyển cuối cùng sẽ đòihỏi sự loại bỏ hiệu quả các phát thải CO2 do con người gây ra

Nghị định thư Kyoto đã đưa ra các mục tiêu mang tính bắt buộc đối với 37 nước côngnghiệp trên thế giới và Liên minh Châu Âu (EU) về việc giảm lượng khí thải nhà kính.Hầu hết những điều khoản trong Nghị định thư là yêu cầu dành cho các nước công nghiệpphát triển - được liệt vào nhóm Phụ lục I trong Công ước khung Liên Hợp Quốc về biếnđổi khí hậu , và không có hiêu lực đối với các nguồn khí thải đến từ lãnh vực hàng không

và hàng hải thuộc phạm vi quốc tế những quốc gia tham gia ký kết phải chấp nhận việccắt giảm khí CO2 và năm loại khí gây hiệu ứng nhà kính khác, hoặc có thể tiến hành biệnpháp thay thế như mua bán phát thải nếu không muốn đáp ứng yêu cầu đó

Nghị định thư đại diện cho sự thống nhất giữa các quốc gia công nghiệp trong vấn

đề cắt giảm khí thải trên 5.2% so với năm 1990 (lưu ý rằng mức độ cắt giảm theo đó đếnnăm 2010 phải đạt được thì chỉ tiêu này là khoảng 29%) Mục tiêu hướng đến việc giảmthiểu các loại khí carbondioxide, methane, nitơôxít, lưu huỳnh hexafluorua,clorofluorocarbon và perflourocarbon trong khoảng thời gian 2008-2021 Mức trần đã

21

Ngày đăng: 17/12/2017, 15:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w