1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận Luật hợp đồng Phân tích Lý thuyết hợp đồng

12 251 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 414,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận Luật hợp đồng Phân tích Lý thuyết hợp đồngTiểu luận Luật hợp đồng Phân tích Lý thuyết hợp đồngTiểu luận Luật hợp đồng Phân tích Lý thuyết hợp đồngTiểu luận Luật hợp đồng Phân tích Lý thuyết hợp đồngTiểu luận Luật hợp đồng Phân tích Lý thuyết hợp đồngTiểu luận Luật hợp đồng Phân tích Lý thuyết hợp đồngTiểu luận Luật hợp đồng Phân tích Lý thuyết hợp đồngTiểu luận Luật hợp đồng Phân tích Lý thuyết hợp đồngTiểu luận Luật hợp đồng Phân tích Lý thuyết hợp đồngTiểu luận Luật hợp đồng Phân tích Lý thuyết hợp đồngTiểu luận Luật hợp đồng Phân tích Lý thuyết hợp đồngTiểu luận Luật hợp đồng Phân tích Lý thuyết hợp đồng

Trang 1

1

LỜI NÓI ĐẦU

Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển đã quyết định trao giải thưởng Nobel trong lĩnh vực khoa học kinh tế năm 2016 cho hai giáo sư là Oliver Hart- giáo sư trên ghế của Andrew E Furer về kinh tế tại Đại học Harvard Cambridge, MA, USA và Bengt Holmstrom- giáo sư trên ghế của Paul A Samuelson về kinh tế và là Giáo sư về kinh tế và quản trị tại Viện Công nghệ Massachusetts, Cambridge, MA, USA bở i những công trình nghiên cứu của ho ̣ về Lý thuyết hợp đồng Những nghiên cứu này cho chúng ta

một cái nhìn mới về hợp đồng và đây cũng chính là nền tảng cơ sở để ta ̣o nên hợp đồng thông minh Trong bài tiểu luận này, ngoài việc khái quát, làm rõ lí thuyết hợp đồng của hai vị giáo sư, còn nêu ra những lợi ích cụ thể cũng như việc áp dụng lý thuyết hợp đồng tại Việt Nam

NỘI DUNG LÝ THUYẾT HỢP ĐỒNG

1 TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT HỢP ĐỒNG

Hợp đồng là rất cần thiết cho sự vận hành của các xã hội hiện đại Nghiên cứu của Oliver Hart và Bengt Holmström làm sáng tỏ cách thức các hợp đồng giúp chúng ta xử

lí các xung đột lợi ích minh bạch và công bằng hơn

Hợp đồng chính là một hòn đá tảng giữa hai bên, giúp các bên an tâm và tin tưởng nhau hơn trong quá trình hợp tác Trong khi đó, nếu không có một hợp đồng được kí kết giữa các bên, mỗi bên sẽ rơi vào trạng thái ngờ vực, lo lắng không biết liệu rằng quyền lợi của mình có được bảo đảm, lợi ích của mình có đạt được hay không

Trong lý thuyết hợp đồng, Oliver Hart và Bengt Holmström đã nếu ra những vấn đề về sự căng thẳng giữa bảo hiểm và các biện pháp động viên, trả lương theo kết quả công việc, các biện pháp động viên mạnh so với các biện pháp động viên cân đối, hợp đồng không đầy đủ, quyền sở hữu, các hợp đồng tài chính và sự tư nhân hóa

Dưới đây là một số ý tưởng chính Lý thuyết hợp đồng

1 Lý thuyết hợp đồng có nguồn gốc từ những năm 1700, khi Adam Smith lập luận rằng các hợp đồng phần canh không khuyến khích người thuê nhà để cải thiện đất Lý thuyết này được xem xét lại trong những năm 1930 khi nhà kinh doanh Mỹ Chester Barnard xem làm thế nào để có được nhân viên nỗ lực hơn nữa vào công việc của họ trong các công ty lớn

Trang 2

2

2 Lý thuyết nhìn vào những khó khăn của việc trả lương Một công ty có thể trả cho một Giám đốc điều hành dựa trên sự gia tăng về giá trị thị trường chứng khoán, nhưng điều này chỉ phụ thuộc sự may mắn hay không Vào cuối những năm 1970 và đầu thập niên 80 , tác phẩm của Holmström - " Informativeness Principle " đã giúp phát triển mô hình hiệu năng cân đối lại các yếu tố bên ngoài ngoài sự kiểm soát của nhà quản lý

3 Mô hình này đã được mở rộng để nắm bắt những rủi ro đạo đức của làm việc theo nhóm, theo đó một số thành viên của một đội bóng có thể cõng trên công việc khó khăn của người khác, cũng như trong tương lai "mối quan tâm nghề nghiệp", mà có thể tạo động lực cho một người nào đó để mất nhiều hơn hoặc ít rủi ro hơn so với hợp đồng của

họ với chủ nhân hiện tại của họ cho thấy

4 Lý thuyết kể rằng gần như tất cả các hợp đồng chưa đầy đủ bởi vì hiệu suất

là khó khăn để đo lường chính xác Thậm chí nếu bạn có thể đo lường nó một cách chính xác, nó sẽ là quá phức tạp để phản ánh trong một hợp đồng Oliver Hart tập trung vào ý tưởng "hợp đồng không đầy đủ" và mối quan hệ của họ với các quyền tài sản Ngoài ra hình thức hợp đồng không đầy đủ này còn được ứng dụng vào hợp đồng tài chính

2 CÁC VẤN ĐỀ CỤ THỂ ĐƯỢC ĐỀ CẬP TRONG LÝ THUYẾT HỢP ĐỒNG

a) Sự căng thẳng giữa bảo hiểm và các biện pháp động viên Các biện pháp động viên mạnh so với các biện pháp động viên cân đối

- Sự căng thẳng giữa bảo hiểm và các biện pháp động viên

Bằng cách đưa ra hai ví dụ thực tế, đồng thời chỉ ra những mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa hai bên: hợp đồng bảo hiểm ô tô ( mâu thuẫn giữa người mua bảo hiểm và công ty bảo hiểm) và quan hệ lao động ( mâu thuẫn giữa người lao động va 2người sử dụng lao động ), lý thuyết hợp đồng đã nêu ra 2 yếu tố dẫn đến sự căng thẳng này bao gồm

sự xung đột về lợi ích và sự đo lường

Về ví dụ thứ nhất được nêu đến trong lý thuyết hợp đồng, việc phân tích các hợp đồng bảo hiểm y tế của ông Holmstrom chẳng hạn miêu tả tính cân bằng tất yếu giữa

sự hoàn chỉnh của bản hợp đồng với yếu tố rủi ro về đạo đức Nếu bạn mua bảo hiểm cho ô

tô của mình, không có nghĩa rằng khi tai nạn xảy ra, bạn sẽ được trả đầy đủ phần tiền bảo hiểm, thông thường, bạn chỉ nhận được một phần phí chi trả từ công ty bảo hiểm, phần chi phí còn lại là do bạn tự mình chi trả Nếu tai nạn xảy ra là sự may rủi và bạn không thể dự liệu cũng như tránh né được, thì việc được nhận được toàn bộ chi phí bảo hiểm để chi trả,

bù đắp cho toàn bộ thiệt hại là một điều tuyệt vời Tuy nhiên, trong thực tế không phải tất

cả tai nạn xảy ra đều do may rủi, một phần là do hành vi của chính con người, công ty bảo

Trang 3

3

hiểm không thể đo lường được chính xác, nếu không có điều khoản cùng chi trả, họ sẽ phải chi trả toàn bộ chi phí bảo hiểm và nguy cơ vỡ quỹ là rất cao Hơn nữa, hãy tưởng tượng khi chúng ta biết được rằng nếu có tai nạn xảy ra, ta sẽ được chi trả toàn bộ chi phí, xuất phát từ bản tính ỷ lại, chúng ta sẽ không còn sự cân nhắc, cẩn thận, thay vào đó sẽ bất cẩn hơn trong chính hành động của mình Từ việc phân tích vì dụ về bảo hiểm xe ô tô, ta có thể liên hệ đến bảo hiểm điều trị cho bệnh nhân hay bảo hiểm tai nạn với nhà ở Nếu được bảo hiểm toàn diện, ta không thể chắc chắn được rằng các bệnh nhân chỉ được khám và điều trị đúng với nhu cầu hay không, vì vậy bệnh nhân phải cùng chi trả để ngăn chặn rủi

ro đạo đức Tượng tự, khi nhà bị cháy, người mua bảo hiểm sẽ phải chịu một phần (gọi là mức khấu trừ) để họ có trách nhiệm với căn nhà vì nếu như công ty bảo hiểm trả 100% thì

họ sẽ không có trách nhiệm với căn nhà của mình

Về ví dụ thứ hai được nói đến trong lý thuyết hợp đồng, chính là xung đột lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động Không phải bất kì người lao động nào cũng luôn luôn hành động vì lợi ích của cả hai bên, họ luôn có thiên hướng nghiên về thực hiện hành động mang lại lợi ích cho mình nhiều hơn Xuất phát từ nguyên nhân người sử dụng lao động không thể quan sát được hết thảy những hành động của người lao động, để tránh hoặc giảm thỉu sự xung đột lợi ích giữa 2 bên, nên gắn tiền lương của người lao động với hiệu quả công việc của họ, từ đó họ sẽ cố gắng hơn trong làm việc và cân bằng, tối ưu lợi ích cho cả người sử dụng lao động

Hai nguyên nhân dẫn đến sự căng thẳng giữa bảo hiểm và biện pháp động viên

là sự xung đột về lợi ích và sự đo lường Nhân tố thứ nhất là xung đột về lợi ích: không có

ai là thiên thần cả Một điều không thể chối cãi chính là bản chất ích kỉ trong mỗi con người Mỗi người đề luôn đặt lợi ích của mình lên trước, mà chẳng mấy khi quan tâm đến việc điều làm lợi ích cho mình có gây tác động xấu hay ảnh hưởng tiêu cực gì đến người khác hay không Do đó, nếu khi nhận được bảo hiểm toàn diện, chúng ta sẽ mặc sức bất cẩn, vì ta mặc nhiên cho rằng dù mình có xảy ra chuyện gì, thì công ty bảo hiểm sẽ là người chịu mọi chi phí Nếu con người ta thật sự quan tâm đến hành vi của chính mình, đều hành xử một cách cẩn trọng, thì việc có được bảo hiểm toàn diện hay không không hề xảy ra vấn đề gì, công ty bảo hiểm sẽ không cần lo lắng bị vỡ quỹ bảo hiểm Nhưng mấu chốt ở đây, con người ta không làm được như vậy, đó chính là nguyên nhân của việc đồng chi trả nhằm tránh rủi ro đạo đức Nhân tố thứ hai là sự đo lường: không phải tất cả các hành động của chúng ta đều có thể được quan sát một cách chính xác và đầy đủ Công ty bảo hiểm không thể nào nhìn thấy trước và dự liệu được tất cả mọi hành động bất cẩn của người mua nên hợp đồng bảo hiểm không thể bao gồm tất cả những thiệt hại xảy ra trên thực tế, mà còn có cả những thiệt hại do lơ là, bất cẩn

Trang 4

4

- Các biện pháp động viên mạnh so với các biện pháp động viên cân đối

Tuy nhiên, hiện nay những nhà quản lí hay người lao động không những chỉ quan tâm đến tiền lương có thỏa đáng với công sức học bỏ ra, kết quả, hiệu quả công việc

mà họ đạt được hay không mà còn quan tâm đến sự nghiệp , thăng quan tiến chức sau này của mình Xuất phát từ bản chất cầu tiến của con người, ai cũng đều muốn nhắm đến cho mình một tương lai sáng hơn, đó cũng là động lực giúp họ làm việc một cách hiệu quả hơn Công ty nếu muốn động viên người lao động phải kèm theo sự hứa hẹn về tương lai nhằm mục đích khuyến khích họ làm việc và giữ chân họ, tránh trường hợp người lao động bỏ sang công ty khác mà họ cho là xứng đáng hơn Tuy nhiên, biện pháp động viên này cũng mang lại một nhược điểm không nhỏ, đó là người trẻ nỗ lực quá nhiều, còn người đã lớn tuổi, họ biết rằng trong tương lai học cũng sẽ nhanh chóng kết thúc việc làm của mình, việc hứa hẹn về chức vụ, lương bổng trong tương lai đó trở nên vô nghĩa với học, do đó,

họ không cần phải cố gắng Theo em, biện pháp động viên cần được điều chỉnh linh hoạt nhằm thích hợp với từng bộ phận người lao động, đối với người trẻ, ta có thể động viên bằng cách tặng cho họ phần thưởng trong tương lai, còn đối với người lớn tuổi, phần thưởng của họ nên được trao ngay tại chính thời điểm nỗ lực của họ được ghi nhận

b) Trả lương theo kết quả công việc

Đến với Trả lương theo kết quả công việc, Oliver Hart và Bengt Holstrom cho chúng ta một ý niệm mới về việc nên có một cách thức, thước đo tương đối cho kết quả, quá trình làm việc của người lao động hay nhà quản lý doanh nghiệp từ đó đưa ra mức lương xứng đáng với công sức mà họ bỏ ra Trong quá trình làm việc, không ai có thể kiểm chứng, đo lường một cách chính xác những giá trị lao động họ tạo ra và mức lương thực nhận có thỏa đáng hay chưa Dù rằng người lao động còn có thể được thưởng thêm các khoản cho việc đi làm thêm, tăng ca thì đó cũng chỉ là những biện pháp động viên tương đối Nó không thể giải quyết hoàn toàn vấn đề mức lương đáng lẽ được nhận

Làm việc theo nhóm cũng điều chỉnh khung ban đầu về việc trả lương theo kết quả công việc Nếu nỗ lực chung của toàn bộ thành viên trong nhóm được phản ánh bới một kết quả cong việc duy nhất,sẽ có một số thành viên hình thành tư tưởng chủ quan, ý lại rằng dù mình cố gắng nhiều hay ít, đều được hưởng như những thành viên còn lại trong nhóm, họ sẽ trốn tránh công việc, “ ngồi mát ăn bát vàng” Nhằm cân bằng sự cố gắng của các thành viên, thì nhà sử dụng lao động cần trả lương linh hoạt theo sự nỗ lực của từng cá nhân, đề đánh giá được nỗ lực này một cách chính xác, là điều rất khó

Giáo sư Holmström đã nêu ra một ví dụ nhằm phân tích việc trả lương theo kết quả công việc giữa người lao động và người sử dụng lao động Ví dụ nêu ra tình huống về một công

Trang 5

5

ty thuê người quản lí và câu chuyện đặt ra khi cổ phiếu công ty lên hay xuống, trách nhiệm

và tiền lương người quản lí được qui định thế nào, điều đó đã phù hợp, thỏa đáng chưa hay còn biện pháp nào khác ?

Trên gốc độ của của người lao động, không phải mọi cố gắng của họ đều được nhìn nhận một cách chính xác Trường hợp người quản lý doanh nghiệp, đó là sự rủi ro khi

ra quyết định với giá trị cổ phiếu, hành động của anh ta gây ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của chính doanh nghiệp anh ta chứ không phải giá cổ phiếu của các doanh nghiệp khác

Do giá cổ phiếu phản ánh các nhân tố khác của nền kinh tế, nằm ngoài tầm kiểm soát của anh ta, anh ta không thể tác động hoàn toàn vì giá trị cổ phiếu còn phụ thuộc vào môi trường chứng khoán, đôi khi do “hên xui” mà giá cổ phiếu rớt thê thảm, không thể vì thế

mà gắn mức lương với giá trị cổ phiếu Điều đó đồng nghĩa với việc toàn bộ trách nhiệm

sẽ thuộc về nhà quản lý, còn người sử dụng lao động đương nhiên miễn trách nhiệm Cách

xử trí hợp lí hơn là nên gắn tiền lương của nhà quản lý với giá cổ phiếu của doanh nghiệp anh ta so với giá cổ phiếu của các doanh nghiệp khác, của các doanh nghiệp tương tự trong cùng điều kiện với doanh nghiệp đó để xem anh ta có nổ lực trong việc làm tăng giá trị cổ phiếu hay giảm rủi ro rớt giá trị cổ phiếu hết mức có thể hay chưa Từ đó sẽ đưa ra kết quả chính xác nhất và quyết định mức lương phù hợp cho người quản lí đó

Trên góc độ của người sử dụng lao động, họ không thể quản lý được chi tiết và

rõ ràng những giá trị lao động của người lao động trong quá trình học làm việc, họ chỉ có thể căn cứ vào kết quả công việc, sản phẩm cuối cùng để đánh giá rằng người lao động đó làm việc như thế nào, cố gắng, nổ lực ra sao để xác định mức lương Kiểu đánh giá này ảnh hưởng một phần không nhỏ đến lợi ích của người lao động, vì trong 1 số trường hợp

họ có cố gắng nhưng người sử dụng lao động không nhận ra hoặc những cố gắng của họ mang đến lợi ích trong tương lai chứ không phải hiện tại Lý thuyết hợp đồng sẽ mang đến cho người lao động công cụ để đánh giá chính xác nhân viên, không xảy ra tình trạng hưởng lương không tương xứng, đưa ra mức lương phù hợp cho từng ngành nghề khác nhau để đảm bảo sự an toàn cho họ, trong những ngành nghề có rủi ro cao, tiền lương nên thiên hơn về một mức lương cố định một cách tương đối, trong khi ở các môi trường lao động ổn định hơn thì nên thiên hơn về một biện pháp dựa vào kết quả công việc

Sau đây là một ví dụ đời thường về việc trả lương theo hiệu quả công việc Giả

dụ A là chủ cửa hàng gà rán Để mở rộng kinh doanh, A mở thêm các chi nhánh trên cả nước, không thể một mình quản lí hết tất cả, A thuê các nhân viên quản lí, B là nhân viên quản lí của A ở chi nhánh Tp.HCM Mỗi tháng, A được báo cáo về tình hình kinh doanh

và A không thể trực tiếp đến quan sát, trông coi B quản lí có nổ lực, cố gắng hay không Việc kinh doanh lỗ lãi của cửa hàng, không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào nỗ lực của B mà

Trang 6

6

còn phụ thuộc vào tình hình khách quan xung quanh cửa hàng đó Việc dùng kết quả kinh doanh để quyết định thu nhập của B là thiếu chính xác, cần sự kết nối tất cả những việc làm của B tiềm ẩn những thông tin cung cấp tích cực để đưa ra mức lương thích đáng cho

B

Giáo sư Holmstrom cũng đã từng đưa ra một kịch bản thực tế rằng một người có nhiều nhiệm vụ trong một công việc, nhiệm vụ này có thể đo lường được, nhiệm vụ khác thì lại không Ví dụ như: Giáo viên có nhiệm vụ phải dạy cho học sinh kiến thức và kĩ năng Về kiến thức, có thể được phản ánh qua điểm thi của học sinh, còn về kĩ năng, khó có thể đo lường được Do vậy, nếu nhà trường trả lương theo hiệu quả công viên, thì chắc chắn giáo viên sẽ chỉ tập trung vô ôn cho học sinh để lấy kết quả cao, chứng tỏ hiệu quả tốt, mà không quan tâm đến kĩ năng, vốn không thể đánh giá bằng cách đo lường hiệu quả, và nếu

kĩ năng có tốt cũng không giúp ích gì cho họ với vấn đề tiền lương Để ngăn chặn việc này, nhà trường nên sử dụng hình thức trả lương cố định, thay vì trả lương theo kết qả công việc để cân bằng công sức dành cho cả kiến thức và kĩ năng

c) Hợp đồng không đầy đủ

Lý thuyết kinh tế chia lĩnh vực hợp đồng thành hai loa ̣i là hợp đồng không đầy đủ và hoàn tất Hợp đồng không đầy đủ cũng chính là công trình mà Oliver Hart và cộng

sự của ông tạo nên bước đột phá vào những năm 1980

Khi soạn thảo hợp đồng, các bên thường không có khả năng thực tiễn làm rõ trước các điều khoản chi tiết của hợp đồng, không có khả năng dự liệu trước hay quy định

rõ các bên nên làm gì trong tình huống trong tương lai, có những vấn đề không thể hợp đồng được vì không có cách gì quan sát được, hoặc có quan sát được cũng không kiểm chứng là đúng hay sai Hợp chưa hoàn tất đề cập đến tình huống mà ở đó là thỏa thuận của các bên nhưng nó không thể chỉ ra chính xác làm thế nào để thực hiện hợp đồng, giúp các bên linh hoạt hơn trong việc quyết định ai là người xử lí, xử lí như thế nào khi có tình huống bất cập xảy ra mà các bên không thể nhất trí với nhau Bên nào có cái quyền quyết định này sẽ có nhiều khả năng thương lượng hơn, và sẽ có khả năng đạt được một thỏa thuận tốt hơn một khi kết quả được cụ thể hóa

Hầu hết những hợp đồng trong cuộc sống đều là hợp đồng không hoàn chỉnh, nghĩa là trong hợp đồng đó vẫn không thể dự liệu được tất cả những tình huống, tranh chấp, bất cập có thể xảy ra trong tương lai để đi đến những quyết định, thỏa thuận cụ thể từ thời điểm soạn thảo hợp đồng Do đó, lý thuyết hợp đồng không chỉ ngừng lại ở việc chia

sẻ lợi nhuận hay chia sẻ rủi ro mà còn giải quyết rủi ro với sáng kiến của Oliver Hart là

Trang 7

7

trao quyền quyết định cho một người khi có tranh chấp không thể thỏa thuận, đã mở ra nhiều hướng tích cực cho hợp đồng Tuy nhiên vấn đề Oliver Hart đề cập lại đặt ra những thử thách trong thực tế, vì không dễ gì để có một người nắm quyền quyết định công tâm, sáng suốt và thỏa mãn yêu cầu của các bên kí kết hợp đồng Nếu bên nào có người được chỉ định là người có quyền quyết định, tức là bên đó sẽ có lợi hơn khi có sự tranh chấp, không thể thỏa thuận Điều này lại dẫn đến sự bất cân xứng lợi ích trong hợp đồng Chưa dừng lại ở đó, chúng ta còn chưa thể hiểu rõ, làm thế nào để xác định một tình huống được coi là mâu thuẫn lợi ích giữa các bên không thể đi đến thỏa thuận cuối, và người có quyền quyết định nên dựa vào những nguyên tắc, tiêu chí gì để có thể làm việc một cách công tâm Trong trường hợp mâu thuẫn là lỗi cố ý của bên có người nắm quyền quyết định thì lợi ích sẽ nghiêng về bên họ nhiều hơn Và khi các ý kiến, suy nghĩ của bên yếu thế sẽ bị loại bỏ

Trong trường hợp trên, Hart cho rằng vấn đề sở hữu trở thành vấn đề then chốt Nếu người chủ đồng thời là người quản lý, nỗ lực sáng tạo đổi mới của anh ta sẽ là mức cao nhất (mức tối ưu), vì anh ta nhận thức được rằng mọi nỗ lực mà anh ta tạo ra, đều trở thành lợi ích phục vụ cho anh ta Nếu quyền sở hữu bị tách ra, có nghĩa là người quản lý riêng, người chủ riêng, dù được chia phần thì nỗ lực sáng tạo của người quản lý cũng chỉ ở mức vừa phải (sub-optimal), vì anh ta biết nếu anh ta cố gắng hết công suất của mình, phần lợi ích mà anh ta tạo ra cũng không thuộc về anh ta một cách trọn vẹn, vì vậy không việc

gì phải đánh đổi hết tất cả công sức, thời gian của mình Từ nghiên cứu mang tính nền móng này, vấn đề hợp đồng không đầy đủ được chú ý đến, và các công trình tiếp theo của ông và các cộng sự mang đến những gợi ý vô cùng quan trọng trong nhiều lĩnh vực như quản trị, tài chính doanh nghiệp và hợp tác công – tư ( sẽ được nhắc đến trong phần dưới )

Lý thuyết hợp đồng không đầy đủ đã là một bí ẩn lớn Vào năm 1999, Giáo sư kinh tế Jean Tirole có viết: “Hợp đồng không đầy đủ được cho là nền tảng cho một số trong những câu hỏi quan trọng nhất về kinh tế và một số ngành khoa học xã hội khác, vì

vậy không nghi ngờ gì khi đây là mô ̣t bí ẩn lớn chưa được khám phá và chưa được hiểu rõ.” Tuy nhiên, nhờ có công trình nghiên cứu của Hart và Holmström, lý thuyết hợp đồng với doanh nghiệp đã giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về hợp đồng để xử lý xung đột lợi ích minh bạch và công bằng hơn

d) Quyền sở hữu và quyền kiểm soát - Ứng dụng trong hợp đồng không đầy đủ

Một công trình nghiên cứu nữa của Hart và các cộng sự của ông là về việc phân bố quyền sở hữu trong hợp tác các bên Ông đã nêu ra một ví dụ về việc sỡ hữu một phát minh mới rằng giả sử một phát minh mới đòi hỏi việc sử dụng một cỗ máy đặc biệt và

Trang 8

8

một kênh phân phối thì ai sẽ sở hữu cỗ máy và ai sẽ sở hữu kênh phân phối – nhà phát minh, nhà vận hành máy, hay nhà phân phối? Có vẻ câu trả lời nghiêng về phía người sáng tạo sẽ là chủ sở hữu phát minh đó, vì sáng tạo ra là một điều khó khăn, họ lại còn là người đầu tư vào việc phát minh, nên người ấy xứng đáng là chủ sở hữu phát minh mà mình tạo

ra

Quyền quyết định thường đi song song với quyền sở hữu Theo Hart, người nắm quyền sở hữu rất quan trọng trong việc quyết định sẽ làm gì trong các trường hợp bất ngờ diễn ra trong tương lại ( trên nền tảng hợp đồng không đầy đủ, những tình huống không thể dự liệu trước khi soạn thảo hợp đồng) Một ý tưởng chung và quan trọng trong nghiên cứu của ông Hart và ông Holmstrom là vai trò của quyền lực trong các doanh nghiệp hợp tác (co-operative ventures) Quyền lực đó cho phép họ giành được nhiều hơn phần giá trị mà doanh nghiệp hợp tác tạo ra, và họ cũng có khả năng triệt tiêu toàn bộ sự hợp tác ngay cả khi doanh nghiệp đó mang lại những lợi ích lớn lao cho các thành viên và cho xã hội Hợp đồng ra đời và tồn tại để định hình mối quan hệ quyền lực đó Trong một

số trường hợp, hợp đồng sẽ hạn chế quyền bãi bỏ sự hợp tác; trong một số trường hợp khác, hợp đồng tạo ra hoặc bảo vệ các mối quan hệ quyền lực nhằm khuyến khích lối ứng

xử tốt: nếu người lao động và doanh nghiệp đều có quyền chấm dứt hợp đồng chẳng hạn, thì hai bên buộc phải quan tâm tới quyền lợi của nhau

Bài học rộng lớn này– vấn đề quyền lực – là một lĩnh vực kinh tế học thường xuyên bị lãng quên; giải Nobel Kinh tế năm nay có ý nghĩa lớn ở chỗ lần đầu tiên đưa vấn đề động

cơ quyền lực lên trước, lên trung tâm và phơi bày nhiều cách thức – thường không được chú ý – mà quyền lực tác động đến cuộc sống của mỗi chúng ta

e) Hợp đồng tài chính

Một ứng dụng quan trọng của lý thuyết hợp đồng không đầy đủ nằm trong các hợp đồng tài chính Oliver Hart và Bengt Holstrom tiếp tục cung cấp cho người lao động

cơ hội với tư cách nhà quản lý cơ hội để nhận mức lương xứng đáng khi đề cập về Hợp đồng tài chính Không những giải quyết tình trạng bất cân xứng lợi ích mà còn cho nhà quản lý cơ hội thể hiện năng lực ở vai trò chủ sở hữu doanh nghiệp Giả sử, trong ví dụ của nhà quản lý, giải pháp tốt nhất cho nhà quản lý là trở thành một doanh nhân và sở hữu chính doanh nghiệp của mình – một doanh nhân có thể tự do quyết định cách thức điều hành doanh nghiệp, và có những đánh đổi thích hợp giữa một hành động làm tăng lợi nhuận và một hành động làm tăng lợi ích riêng của mình Tuy nhiên, một thách thức cơ bản được đặt ra rằng phần lớn nhà quản lí không có khả năng mua lại doanh nghiệp cho riêng mình, do đó, cái họ cần ở đây là những nhà đầu tư lớn, tài chính khổng lồ, đầu tư

Trang 9

9

mạnh tay vào doanh nghiệp của họ Vậy dựa trên cơ sở nào để các nhà đầu tư yên tâm, tin tưởng vào việc đầu tư của mình ? Biện pháp thường gặp chính là sự hứa hẹn sẽ thanh toán cho các nhà đầu tư một khoản tiền cố định trong tương lai, dù công ty có lợi nhuận hay không, lời lãi là sao, cùng với vật thế chấp rằng nếu không thanh toán, họ sẽ nắm giữ tòan

bộ quyền sở hữu doanh nghiệp, số phận doanh nghiệp sẽ do họ một tay quyết định

Lý thuyết hợp đồng không đầy đủ dự báo rằng các doanh nhân phải có quyền đưa ra hầu hết các quyết định trong doanh nghiệp họ chừng nào hoạt động của doanh nghiệp cho được kết quả tốt, nhưng các nhà đầu tư có nhiều quyền đưa ra quyết định hơn khi kết quả hoạt động của doanh nghiệp xấu đi Trong quá trình làm việc nhà quản lý sẽ không phải lo sợ về việc cố gắng, nỗ lực của bản thân bị tác động từ người sử dụng lao động hay môi trường bên ngoài Tuy lợi ích của người lao động tăng đáng kể, nhà quản lý

có thể tự do cân nhắc giữa lợi ích bản thân và lợi nhuận doanh nghiệp sao cho tốt nhất, nhưng cũng kèm theo đó những rủi ro, khó khăn nhất định Các nhà đầu tư không thể ngồi yên cho số tiền của mình đang được nhà quản lý sử dụng Nên quyền sở hữu có thể được chuyển giao cho nhà đầu tư khi có tình huống xấu, nhưng làm sao có thể biết khi nào doanh nghiệp, công ty lâm vào tình trạng xấu

f) Tư nhân hóa- Mô hình công-tư trong dịch vụ công cộng

Một ứng dụng khác của lý thuyết hợp đồng không đầy đủ của Hart là mô hình công – tư trong dịch vụ công cộng, liên quan đến sự phân chia giữa các khu vực kinh tế tư

và công Liệu các nhà cung cấp dịch vụ công, như trường học, bệnh viện, và nhà tù, có nên thuộc sở hữu tư nhân hay không? Theo lý thuyết, điều này phụ thuộc vào bản chất của các khoản đầu tư không thể rút lại

Xã hội ngày càng hiện đại kéo theo sự thay đổi của nhiều thứ, trong đó các dịch

vụ công như trường học, bệnh viện hay nhà tù đang được tư nhân hóa Vấn đề mà Lý thuyết hợp đồng muốn giải quyết là làm sao để đạt hiệu quả cao Đối với bất kì loại hình dịch vụ công nào cũng đều phải đạt được mục đích là cung cấp cho người dân sử dụng một cách tốt nhất Giả định của Oliver Hart như sau, giả sử một nhà quản lý điều hành một cơ

sở dịch vụ phúc lợi xã hội có thể thực hiện hai loại hình đầu tư: một số đầu tư để cải thiện chất lượng, trong khi một số đầu tư khác để cắt giảm chi phí nhưng lại bỏ qua yếu tố chất lượng Ngoài ra, giả sử các khoản đầu tư như vậy rất khó được quy định trong một hợp đồng Nếu chính phủ sở hữu cơ sở vật chất và thuê một nhà quản lý để điều hành nó, thì nhà quản lý sẽ có rất ít động cơ để thực hiện một trong hai loại hình đầu tư nói trên, khi mà

Trang 10

10

chính phủ không thể đưa ra một hứa hẹn chắc chắn để thưởng cho những nỗ lực này Nếu

là một nhà thầu tư nhân cung cấp dịch vụ, thì các động lực để đầu tư cả về chất lượng lẫn

về việc cắt giảm chi phí sẽ mạnh hơn, vì họ biết rằng điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận mà họ thu được Nhà quản lý thực hiện hai loại hình đầu tư, một số đầu tư tập trung vào chất lượng và một số đầu tư khác thì bỏ qua chất lượng, cắt giảm chi phí Khi cung cấp một dịch vụ nào đó, trước nhất phải chất lượng tốt để thõa mãn nhu cầu, sau đó là thu lợi nhuận phù hợp

Như vậy, mong muốn tư nhân hóa sẽ phụ thuộc vào việc đánh đổi giữa vấn đề cắt giảm chi phí và chất lượng Nghĩa là trong tình huống nào, nếu như nhà quản lý một loại hình dịch vụ công cộng được đảm bảo về sự cố gắng của họ, và không bị ràng buộc trong việc chỉ thực hiện đầu tư đạt chất lượng, thì sẽ tư nhân hóa dịch vụ công sẽ đạt hiệu quả rõ rệt Điều này cũng đảm bảo cho trường hợp, chủ sở hữu là nhà nước muốn hài hòa lợi ích với tư nhân Trên danh nghĩa, nhà nước là chủ sở hữu và tư nhân là người quản lý, nhà nước có thể lựa chọn ra ai là người làm tốt nhất để cân nhắc Như vậy, không chỉ tạo điều kiện cho các tư nhân cạnh tranh, thể hiện năng lực của họ trong đầu tư mà còn mở ra nhiều sự lựa chọn tốt cho người dân trong việc quyết định chọn loại hình dịch vụ nào

g) Mở rộng- Hiểu biết thực tế

Lý thuyết hợp đồng đã ảnh hưởng rất lớn đến nhiều lĩnh vực, từ quản trị doanh nghiệp đến pháp luật hiến pháp Nhờ công trình của Oliver Hart và Bengt Holmstrom, giờ đây chúng ta có được những công cụ để phân tích không chỉ các điều khoản tài chính của một hợp đồng, mà còn phân tích việc phân bổ các quyền kiểm soát, quyền sở hữu, và quyền quyết định giữa các bên trong hợp đồng Những đóng góp của hai ông đã giúp chúng ta hiểu rất nhiều về các hợp đồng mà chúng ta có thể quan sát được trong thực tế đời sống Họ cũng giúp chúng ta có được những cách suy nghĩ mới về cách thức thiết kế các hợp đồng, cả trong các thị trường tư nhân lẫn trong các lĩnh vực chính sách công

Bên cạnh đó, lý thuyết hợp đồng cũng đặt ra yêu cầu cho hệ thống pháp luật Pháp luật cần linh hoạt, mềm dẻo hơn nhằm mở rộng cơ hội, lợi ích cho các bên khi tham gia kí kết hợp đồng Các bên khi tham gia hợp đồng sẽ chủ động, linh hoạt hơn trong việc tạo ra nhiều giá trị hơn trong quá trình lao động, sản xuất và giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp xảy ra trong quá trính hợp tác mà không phải lúc nào cũng cần đến sự can thiệp của nhà nước Nếu như pháp luật có thể tạo điều kiện tốt nhất, mở ra một trật tự mới an toàn, đảm bảo thì việc áp dụng Lý thuyết hợp đồng sẽ không còn là hy vọng nữa

3 Ứng dụng lí thuyết hợp đồng tại Việt Nam

Ngày đăng: 17/12/2017, 11:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w