1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

SO SÁNH PHƯƠNG PHÁP GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG CAO VỚI GÂY MÊ ĐỂ MỔ XOANG BỤNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA LOẠI CHỈ, KỸ THUẬT MAY ĐẾN KẾT QUẢ MỔ NỐI RUỘT TRÊN CHÓ LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

94 286 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SO SÁNH PHƯƠNG PHÁP GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG CAO VỚI GÂY MÊ ĐỂ MỔ XOANG BỤNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA LOẠI CHỈ, KỸ THUẬT MAY ĐẾN KẾT QUẢ MỔ NỐI RUỘT TRÊN CHÓ LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗ MAI TIẾN DŨNG SO SÁNH PHƯƠNG PHÁP GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG CAO VỚI GÂY MÊ ĐỂ MỔ XOANG BỤNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA LOẠI CHỈ, KỸ THUẬT MAY ĐẾN KẾT QUẢ MỔ NỐI RUỘT TRÊN CHÓ LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 92010 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗ MAI TIẾN DŨNG SO SÁNH PHƯƠNG PHÁP GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG CAO VỚI GÂY MÊ ĐỂ MỔ XOANG BỤNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA LOẠI CHỈ, KỸ THUẬT MAY ĐẾN KẾT QUẢ MỔ NỐI RUỘT TRÊN CHÓ Chuyên ngành: Thú Y Mã số : 60.62.50 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Hướng dẫn khoa học: PGS. TS. LÊ VĂN THỌ Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 92010 i SO SÁNH PHƯƠNG PHÁP GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG CAO VỚI GÂY MÊ ĐỂ MỔ XOANG BỤNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA LOẠI CHỈ, KỸ THUẬT MAY ĐẾN KẾT QUẢ MỔ NỐI RUỘT TRÊN CHÓ MAI TIẾN DŨNG Hội đồng chấm luận văn: 1. Chủ tịch: PGS. TS. LÂM THỊ THU HƯƠNG Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh 2. Thư ký: TS. VÕ ĐÌNH SƠN Thảo Cầm Viên Thành phố Hồ Chí Minh 3. Phản biện 1: TS. NGUYỄN VĂN NGHĨA Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh 4. Phản biện 2: TS. NGUYỄN VĂN KHANH Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh 5. Ủy viên: PGS. TS. LÊ VĂN THỌ Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆU TRƯỞNG ii LÝ LỊCH CÁ NHÂN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗

MAI TIẾN DŨNG

SO SÁNH PHƯƠNG PHÁP GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG CAO VỚI GÂY MÊ ĐỂ MỔ XOANG BỤNG VÀ ẢNH HƯỞNG

CỦA LOẠI CHỈ, KỸ THUẬT MAY ĐẾN KẾT

QUẢ MỔ NỐI RUỘT TRÊN CHÓ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 9/2010

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗∗

MAI TIẾN DŨNG

SO SÁNH PHƯƠNG PHÁP GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG CAO VỚI GÂY MÊ ĐỂ MỔ XOANG BỤNG VÀ ẢNH HƯỞNG

CỦA LOẠI CHỈ, KỸ THUẬT MAY ĐẾN KẾT

QUẢ MỔ NỐI RUỘT TRÊN CHÓ

Trang 3

SO SÁNH PHƯƠNG PHÁP GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG CAO VỚI GÂY MÊ ĐỂ MỔ XOANG BỤNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA LOẠI CHỈ, KỸ THUẬT MAY ĐẾN KẾT QUẢ

MỔ NỐI RUỘT TRÊN CHÓ

MAI TIẾN DŨNG

Hội đồng chấm luận văn:

1 Chủ tịch: PGS TS LÂM THỊ THU HƯƠNG

Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

2 Thư ký: TS VÕ ĐÌNH SƠN

Thảo Cầm Viên Thành phố Hồ Chí Minh

3 Phản biện 1: TS NGUYỄN VĂN NGHĨA

Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HIỆU TRƯỞNG

Trang 4

LÝ LỊCH CÁ NHÂN

Họ và tên: Mai Tiến Dũng

Ngày sinh: 03/12/1980

Nơi Sinh: xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai

Họ và tên cha: Mai Văn Tân

- Năm 2007: học viên cao học khóa Cao học ngành Thú Y tại Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

Tình trạng gia đình: vợ Đỗ Hoàng Anh, kết hôn năm 2009

Địa chỉ liên lạc: 9/1 Gia Tân 3, Thống Nhất, Đồng Nai

Điện thoại: 01682-800-009

Email: dungmai312@yahoo.com

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Trang 6

Cảm ơn các em sinh viên Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh (Huỳnh Hữu Lộc) đã nhiệt tình hỗ trợ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Cảm ơn và chia sẻ những thành quả đạt được với cha mẹ, vợ và anh chị em đã tạo nguồn động viên to lớn cho tôi

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài “So sánh phương pháp gây tê ngoài màng cứng cao với gây mê để mổ xoang bụng và ảnh hưởng của loại chỉ, kỹ thuật may đến kết quả mổ nối ruột trên chó” được tiến hành từ tháng 09/2008 đến tháng 06/2009, tại bộ môn Cơ Thể - Ngoại Khoa, khoa Chăn Nuôi Thú Y, Trường Đại học Nông Lâm Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh Thí nghiệm được tiến hành trên 72 chó ta đực từ 6 -12 tháng tuổi, tương đương

về trọng lượng, với 3 nội dung nghiên cứu: (1) So sánh hiệu quả của hai phương pháp gây tê ngoài màng cứng tuỷ sống và gây mê toàn thân để mổ vào xoang bụng (2)

So sánh hiệu quả của hai kiểu đường may gián đoạn và đường may liên tục trong phẫu thuật mổ nối ruột (3) So sánh hiệu quả của hai loại chỉ tự tiêu có nguồn gốc thiên nhiên (chỉ chromic catgut) và chỉ tự tiêu tổng hợp (chỉ vicryl) được dùng để may nối ruột

Kết quả theo dõi được trình bày như sau:

Phương pháp gây mê để mổ nối ruột kiểm soát được tình trạng mất cảm giác tốt hơn gây tê ngoài màng cứng cao, không có biến chứng trong quá trình vô cảm Thời gian khởi phát hiệu lực của thuốc trên nhóm chó gây mê là 13,83 giây nhanh hơn so với gây tê là 353,42 giây Thời gian mất cảm giác ở phương pháp gây mê là 53,53 phút cho 1 lần cấp thuốc, phương pháp gây tê thì dài hơn là 66,69 phút Phương pháp gây mê làm giảm nhịp tim và nhịp thở của thú còn phương pháp gây

tê thì nhịp tim, nhịp thở tăng

May nối ruột bằng kiểu may gián đoạn hoặc liên tục đều cho kết quả tốt Các tai biến sau khi mổ ở cả hai nhóm kiểu may chủ yếu là tiêu chảy (12,5%), đứt chỉ thành bụng (8,33 %), chết và nhiễm trùng (4,17%)

Chỉ tự tiêu tổng hợp vicryl thích hợp để may nối ruột hơn chỉ chromic catgut Kết quả mổ lại để kiểm tra vết nối ruột phát hiện ruột dính phúc mạc chiếm 41,67%, viêm dính quai ruột chiếm 8,33% (xảy ra trên nhóm chó sử dụng chỉ chromic catgut)

Thời gian ăn lại của thú sau khi mổ trung bình là 3 ngày, thời gian đi đại tiện ở

cả hai kiểu may và chỉ may nối ruột là 5 ngày với tần số xuất hiện phân đặc, màu vàng là cao nhất Thời gian lành vết thương thành bụng trung bình từ 6 – 8 ngày

Trang 8

Chi phí cho một ca mổ nối ruột nếu sử dụng phương pháp gây mê là 166.600 đồng, cao hơn so với phương pháp gây tê ngoài màng cứng cao là 92.000 đồng, chênh lệch khoảng 74.600 đồng

Trang 9

SUMMARY

The study "Comparing high epidural anesthesia with general anesthesia methods for laparotomy and the influence of suture materials, suture techniques to intestinal resection and anastomosis results in dogs" was carried out from 09/2008

to 06/2009, at the Anatomy and Surgery department, Faculty of Animal Science and Veterinary Medicine, University of Agriculture and Forestry Thu Duc, Ho Chi Minh City

Seventy-two local breed male dogs from 6 - 12 months old, the same weight were used in this study The experiments were divided in three trials: (1) Comparing the effect of high epidural anesthesia and general anesthesia for the laparotomy (2) Comparing the effect of continuous and simple interrupted patterns in intestinal anastomosis (3) Comparing the effect of natural absorbable suture (chromic catgut suture) and synthetic absorbable suture (vicryl suture) for suturing intestinal anastomosis

The results showed that:

The general anesthesia method was better than high epidural anesthesia for anesthesia in dogs No complication during anesthesia The onset of action of general anesthesia was quicker than high epidural anesthesia (13.83 versus 353.42 seconds) The mean of anesthesia time were 53.53 minutes/dose for general anesthesia and 66.69 minutes/dose for high epidural anesthesia (enough for a surgery) The heart rate and the respiratory rate were decreased in general anesthesia while increased in high epidural anesthesia

Both continuous and simple interrupted sutural patterns in intestinal anastomosis have given good results The most postoperative complications in two techniques were diarrhea (12.5%), dehiscence (8.33%), infection and death (4.17%) The using of vicryl suture was better than chromic catgut suture for intestinal anastomosis The results of laparotomy to explore, the wound healing of the intestinal anastomosis was observed: bowel adhesive peritonitis about 41.67%, inflammatory bowel adhesive 8.33% (occurred on chromic catgut suture group)

Trang 10

The time at the beginning of eating after intestinal anastomosis surgery on dogs was 3 days The mean time defecasion of both suture materials and suture techniques was 5 days after surgery with the highest thick, yellow faecal frequency and wound healing abdomen time average 6 to 8 days

The cost of an intestinal anastomosis surgery with general anesthesia method was 166,600 VND, higher than high epidural anesthesia method by 74,600 VND

Trang 11

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Một số khái niệm cơ thể học 3

2.2 Một số bệnh lý ở ruột và biện pháp can thiệp 7

Trang 12

2.5 Một số đường may thông dụng 21

2.5.1 Đường may gián đoạn đơn giản (simple interrupted) 21

2.5.2 Đường may nệm nằm (horizontal mattress) 21

2.5.3 Đường may liên tục đơn giản (Simple continuous) 22

2.6 Các đường may dạ dày – ruột 22

2.7 Các cách may nối ruột 23

2.7.1 Phương pháp tận-nối-tận (end-to-end anastomosis) 24

2.7.1.1 May liên tục 24 2.7.1.2 May gián đoạn 25 2.7.2 Phương pháp bên-nối-bên (side-to-side anastomosis) 25

2.7.3 Phương pháp tận-nối-bên (End-to-side anastomosis) 26

2.7.4 Các điều kiện cần có của một đường khâu tốt 26

2.8 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự lành vết thương 27

2.9 Sơ lược một số công trình nghiên cứu 30

3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 32

3.2 Phương tiện nghiên cứu 32

3.3 Nội dung nghiên cứu 33

Trang 13

4.1.3 Thời gian khởi phát hiệu lực của thuốc và tình trạng mất cảm giác của chó

4.1.4 Thời gian tê, thời gian mê của chó sau khi gây tê và gây mê 51

4.2.1 Thời gian ăn lại của thú sau khi mổ 52

4.2.2 Tình trạng phân và thời điểm đi đại tiện của chó thí nghiệm sau phẫu thuật

cắt ruột 53 4.2.3 Thời gian lành vết thương thành bụng sau khi mổ 55

4.2.4 Thời gian lành vết nối ở ruột sau khi mổ 56

4.2.5 Các tai biến trong khi mổ 57

4.3.1 Thời gian ăn lại của thú sau khi mổ 59

4.3.2 Tình trạng phân và thời điểm đi đại tiện của chó thí nghiệm sau phẫu thuật 60

4.3.3 Thời gian lành vết thương thành bụng sau khi mổ 61

4.3.4 Kết quả mổ kiểm tra chỗ may nối ruột 62

4.4 Chi phí cho một ca phẫu thuật 66

5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 68

5.1 Kết luận 68 5.2 Đề nghị 69

 

Trang 14

DANH MỤC CÁC BẢNG

BẢNG TRANG

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thú với hai nhóm phương pháp vô cảm 34

Bảng 4.3 Thời gian khởi phát hiệu lực trung bình sau khi cấp thuốc 49

Bảng 4.5 Thời gian ăn lại trung bình của thú sau khi mổ 52

Bảng 4.6 Thời điểm đi đại tiện trung bình của chó sau khi mổ nối ruột 53

Bảng 4.7 Tính chất phân của chó sau khi mổ nối ruột 53

Bảng 4.8 Màu sắc phân của chó sau khi mổ nối ruột 54

Bảng 4.9 Thời gian lành vết thương trung bình ở thành bụng sau khi mổ 55

Bảng 4.10 Các tai biến trong và sau khi mổ 58

Bảng 4.11 Thời gian ăn lại trung bình của thú sau khi mổ 59

Bảng 4.12 Thời điểm đi đại tiện trung bình của chó sau khi mổ nối ruột 60

Bảng 4.13 Tính chất phân của chó sau khi mổ nối ruột 60

Bảng 4.14 Màu sắc phân của chó sau khi mổ nối ruột 61

Bảng 4.16 Kết quả mổ kiểm tra ruột sau khi lành vết thương 64

Bảng 4.18 Chi phí cho một ca mổ nối ruột với liệu pháp gây tê ngoài màng cứng 66

Trang 15

DANH MỤC CÁC HÌNH

HÌNH TRANG Hình 2.1 Nội quan vùng bụng 4

Hình 2.2 Chẩn đoán bệnh lồng ruột và tắc ruột bằng hình ảnh 10

Hình 2.7 Đường may gián đoạn đơn giản 21

Hình 2.8 Đường may nệm nằm gián đoạn 22

Hình 2.9 Đường may liên tục đơn giản 22

Hình 3.6 Vị trí kim vào ngoài màng cứng và bơm thuốc 37

Trang 16

Hình 3.13 Vị trí mổ lại trên thành bụng sau khi lành vết thương 44

Hình 4.4 Lành vết thương thành bụng 55

Hình 4.10 Ruột dính phúc mạc 64 Hình 4.11 Viêm dính ruột 64

Trang 17

có thể mắc một số bệnh ngoại khoa cần phải can thiệp bằng phẫu thuật

Một trong những bệnh ngoại khoa thỉnh thoảng xảy ra cho vật nuôi là tổn thương ở ruột, phổ biến nhất là ở đoạn ruột non Ruột bị hoại tử có thể do bị ngoại vật hay do tắc ruột, xoắn ruột, lồng ruột hoặc do có khối u ở ruột, những tổn thương làm đứt mạch máu màng treo ruột (Nguyễn Văn Nhân và ctv,1987), do viêm dính ruột trên những thú bị thoát vị ruột (hernia), do tai nạn bất ngờ trong sinh hoạt hoặc tai nạn trong lúc phẫu thuật vô tình cắt đứt ruột rất dễ làm chết thú Trong những trường hợp này cách điều trị tốt nhất là phẫu thuật để nối ruột lại Hiện nay có rất nhiều kỹ thuật nối ruột đã được giới thiệu như phương pháp tận-nối-tận (end-to-end), tận-nối-bên (end-to-side) và bên-nối-bên (side-to-side) (Swindle, 1998; Bojrab, 1999; Fossum, 2002) Mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm khác nhau Trong quá trình phẫu thuật, mức độ an toàn và hiệu quả của phẫu thuật phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp vô cảm Mặt khác loại chỉ cũng như kiểu may gián đoạn hoặc liên tục đã được ứng dụng để may nối ruột có thể kết quả thu được lại khác nhau Do đó, việc nghiên cứu kỹ thuật mổ, phương pháp gây tê ngoài màng

Trang 18

cứng cao với gây mê toàn thân để mổ vào xoang bụng, cách may và loại chỉ dùng

để nối ruột sao cho an toàn, hiệu quả là vấn đề cấp thiết hiện nay

Được sự chấp thuận của khoa chăn nuôi thú y trường Đại học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh, bộ môn Cơ Thể - Ngoại Khoa, với sự hướng dẫn của Phó giáo sư Tiến sĩ Lê Văn Thọ chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“So sánh phương pháp gây tê ngoài màng cứng cao với gây mê để mổ xoang

bụng và ảnh hưởng của loại chỉ, kỹ thuật may đến kết quả mổ nối ruột trên chó”

1.2 Mục tiêu

− So sánh hiệu quả của hai phương pháp gây tê ngoài màng cứng cao và gây

mê toàn thân trong khi phẫu thuật vào xoang bụng

− So sánh hiệu quả của hai kiểu đường may gián đoạn và đường may liên tục trong phẫu thuật mổ nối ruột

− So sánh hiệu quả của hai loại chỉ tự tiêu có nguồn gốc thiên nhiên (chỉ chromic catgut) với chỉ tự tiêu tổng hợp Vicryl (Polyglactin 910) được dùng để may nối ruột

1.3 Yêu cầu

− Áp dụng phương pháp gây tê ngoài màng cứng cao và gây mê toàn thân bằng cách tiêm thuốc vào tĩnh mạch chân cho chó

− Theo dõi phản xạ đau trong quá trình phẫu thuật

− Ứng dụng đường may liên tục và đường may gián đoạn để may nối ruột

− Theo dõi kết quả của sự lành vết thương

− Ghi nhận các tai biến trong phẫu thuật

− Ghi nhận các tai biến sau khi phẫu thuật

Trang 19

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.11 Một số khái niệm cơ thể học

2.1.1 Cơ thể học vùng bụng

Dọc theo đường giữa bụng, từ xương ức đến xương mu là một lớp da mỏng có

ít lông nên dễ cạo và vệ sinh sát trùng trước khi phẫu thuật

Quan sát từ ngoài vào, có phần mô liên kết mỏng Kế đến là lớp cơ thẳng bụng, hai cơ này nằm song song với mặt bụng, chạy dài từ xương ức đến phần trước xương

mu Đường trắng (Linea alba) là một lằn mô liên kết hóa keo, do hai lớp màng cơ của

cơ thẳng bụng và màng gân của cơ nghiên bụng làm thành, tại vị trí này không có huyết quản lớn, nhưng da và các cơ lân cận có nhiều mạch máu giúp đường mổ mau lành Chỉ có các sợi dây thần kinh cảm giác bị cắt nên không sợ bị tê liệt

Trang 20

(Nguồn: http://www.vetmed.wsu.edu/cliented/anatomy/dog_digest.aspx)

Hình 2.1 Nội quan vùng bụng 2.1.3 Ruột

Ruột bắt đầu từ hạ vị, tận cùng ở hậu môn, rất dài nhưng đường kính không rộng, có vài chỗ phình ra nhưng không lớn lắm Tùy theo chức năng và kích thước, ruột được chia thành 2 phần lớn là ruột non và ruột già

2.1.3.1 Ruột non

Ruột non của chó rất dài so với ruột già, chiều dài trung bình của ruột non ở chó ta trưởng thành là 222,38cm (Lê Quang Thông, 1999) Ruột non có 2 đường cong lớn và nhỏ nhưng không khác biệt rõ ràng Người ta qui ước đường cong nhỏ

là nơi dính màng treo ruột, đường cong lớn tự do và hướng xuống phía dưới Ruột

Trang 21

và thứ 3 tạo nên 3 nhánh chữ U, đáy chữ U hướng về phía sau

Có 2 ống đổ vào đoạn đầu của tá tràng là ống dẫn mật và ống dẫn tụy, để đổ các dung dịch tiêu hóa và mật vào ruột Vị trí của các ống trên khi đổ vào ruột thay đổi rất nhiều tùy loài thú

- Không tràng (jejunum)

Không tràng là phần dài nhất nhưng cũng dễ xê dịch nhất của ruột non, gấp lại rất nhiều lần, không theo một thứ tự nhất định nào và tạo thành 1 khối lớn áp sát vào thành bụng phải Phần cuối của không tràng cũng nằm sát màng treo ruột, hướng về phía trước để tiếp tục hồi tràng

- Hồi tràng (ileum)

Có độ dài gần bằng đoạn tá tràng nhưng thành rất dày Hồi tràng gấp khúc không đáng kể và tiếp xúc với manh tràng của ruột già bên phải, phía sau của xoang bụng, cửa của hồi tràng vào manh tràng có van hồi – manh tràng Mặt trong của tất

cả các đoạn ruột non có nhiều vi nhung mao (lông nhỏ) và các lỗ thông ra của các tuyến ruột Các lông xếp chi chít nhau như 1 tấm thảm nhung

Trên thành ruột non còn có các tiểu nang bạch huyết màu trắng, kích thước khoảng đầu đinh ghim, tụ lại thành từng đám dài từ 3-10 cm gọi là mảng Peyer’s chạy theo đường cong lớn, hiện diện nhiều ở hồi tràng và tá tràng

Trang 22

Các tuyến của ruột non tiết ra các enzyme tiêu hóa protein, bột đường và chất béo Tuyến ruột non được chia làm 2 loại bao gồm tuyến tá tràng (glandula duodenales) hay tuyến Brunner’s chỉ có ở tá tràng và tuyến ruột (glandula intestinales) hay tuyến Lieberkühn có ở khắp nơi trên ruột non

2.1.3.2 Ruột già

Chiều dài trung bình của ruột già ở chó ta trưởng thành là 38,58cm; đường kính trung bình của kết tràng và trực tràng là 1,85cm (Lê Văn Thọ, 2006) Ruột già được chia làm 3 đoạn:

- Manh tràng (caecum) là một khúc ruột hình chữ S, nằm ở bên phải và phía sau xoang bụng Một đầu tự do, hướng về phía sau, đầu trước liên quan đến 2 cấu tạo hồi tràng của ruột non và kết tràng của ruột già (ở khoảng sườn chót, bên phải)

- Kết tràng (colon) là đoạn dài nhất của ruột già, gồm một đoạn ruột hình chữ

U, với đáy chữ U hướng lên phía trước Ở chó kết tràng giống như ở người, được chia làm 3 phần:

+ Kết tràng lên (colon ascendens) là phần ngắn, nằm bên phải gốc màng treo ruột + Kết tràng ngang (colon transversum) nằm phía trước của gốc màng treo ruột + Kết tràng xuống (colon descendens) nằm ở phía trái gốc màng treo ruột Chỗ quẹo giữa phần lên và phần ngang gọi là khuỷu kết tràng phải và giữa phần ngang và phần xuống gọi là khuỷu kết tràng trái Phần cuối của kết tràng nối với trực tràng

- Trực tràng (rectum) là đoạn cuối của ruột già, nằm hoàn toàn trong xoang chậu và được mở ra ngoài bằng hậu môn (anus) Mặt trên trực tràng giáp với xương thiêng, mặt dưới giáp với bàng quang, túi tinh nang, tuyến tiền liệt, ống thoát tiểu đoạn chậu nếu là thú đực; với tử cung, âm đạo nếu là thú cái

2.1.3.3 Cấu trúc của ruột

Từ ngoài vào trong, ruột non hay ruột già đều có 3 lớp:

- Lớp tương mạc, hay lá tạng của phúc mạc (từ đoạn sau trực tràng)

- Lớp cơ gồm 2 lớp cơ trơn, trong đó cơ dọc ở ngoài và cơ vòng ở trong

Trang 23

Ruột non và ruột già ngoài sự khác biệt về hình dạng, vị trí còn có các khác biệt cơ bản ở lớp niêm mạc:

- Tuyến ruột không có tế bào tiết dịch tiêu hóa

- Các vi nhung mao chỉ có ở giai đoạn bào thai, sau đó rụng đi

- Các nang bạch huyết không tập trung thành các mảng Peyer’s

Theo khảo sát của Lê Quang Thông (1999), chiều dài ruột/dài thân, đường kính và vị trí của các đoạn ruột như sau (đối với chó nặng khoảng 10kg):

Chiều dài: trung bình 2,60 m; biến động từ 2 – 4,8 m

Tỉ lệ chiều dài ruột/dài thân: 5,30

Vị trí: ở vùng thắt lưng và bên trái xoang bụng

2.12 Một số bệnh lý ở ruột và biện pháp can thiệp

™ Hoại tử đoạn ruột non do nhiều nguyên nhân:

Các nguyên nhân gây hoại tử ở quai ruột non như lồng ruột cấp tính tới muộn, các loại xoắn ruột, tắc ruột cơ học,…

Theo Nguyễn Đức Ninh và Hoàng Tích Độ (2001), khi một khúc ruột ở trên theo chiều nhu động chui vào khúc ruột dưới gọi lồng ruột, nhưng cũng có khi do nhu động ruột quá mạnh, khúc ruột trên ôm lấy khúc ruột dưới gọi là lồng ruột

Trang 24

ngược chiều Khi ruột lồng, màng treo ruột cũng chui vào nằm bên trong khối lồng, đầu khối lồng càng vào sâu thì màng treo càng bị kéo căng, chèn ép và sẽ dừng lại ở một giới hạn nhất định Màng treo ruột càng bị chèn ép, càng có khả năng bị ghẹt, dẫn đến thiếu máu ở đoạn ruột lồng, nên gây hoại tử Lồng ruột cấp tính tới muộn sau 48 giờ, đoạn ruột bị lồng không thể tự tháo ra được, đưa đến nhiều biến chứng nguy hiểm như tắc ruột, hoại tử ruột, viêm phúc mạc, có dấu hiệu nhiễm độc Tùy theo thương tổn mà tháo lồng bảo tồn hoặc phải cắt nối ruột

Chứng xoắn ruột thường xảy ra ở đoạn ruột không tràng, xuất hiện khi ruột bị xoắn vào nhau, gây ra sự tắc nghẽn, hư hại động mạch màng treo ruột trước và tất

cả các nhánh của nó Kết quả là làm cản trở dòng máu cung cấp đến phần xa của các đoạn ruột khác Sau khi màng treo ruột bị xoắn, mạch máu bị tắc, làm cho ruột bị thiếu oxy huyết, vòng tuần hoàn bị sock, tuần hoàn tim bị hư hại, nếu như điều trị không đúng và kịp thời sự chết sẽ xảy ra gây hoại tử ruột nhanh chóng (Lê văn Thọ, 2006)

Theo Nguyễn Đức Ninh và Hoàng Tích Độ (2001), xoắn ruột thường theo trục màng treo ruột một vòng, hai vòng, có khi chỉ một quai bị xoắn, có khi gần toàn bộ hay toàn bộ ruột non bị xoắn Xoắn theo chiều kim đồng hồ hay ngược lại, càng xoắn nhiều vòng, càng để lâu thì càng dễ bị hoại tử ruột

Tắc ruột cơ học là sự ngưng trệ lưu thông của chất rắn, hơi, dịch trong lòng ruột do sự tắc nghẽn từ góc tá không tràng cho đến hậu môn, các nguyên nhân do tại bên trong lòng ruột (sỏi mật, bã thức ăn, búi giun, u phân), ngay tại thành ruột (ung thư đại tràng, ruột non, hẹp lòng ruột, lồng ruột do viêm nhiễm hoặc do sẹo, khối u máu, lồng ruột), ở bên ngoài thành ruột như ung thư phúc mạc hoặc khối u trong ổ phúc mạc hoặc áp xe ở phúc mạc, do dính ruột, xoắn ruột (Phạm Văn Lình, 2007) Vấn đề điều trị cắt một đoạn ruột non là bắt buộc, vì đoạn hoại tử sẽ dần dần gây thối rữa và dẫn đến viêm phúc mạc nặng, thậm chí một đoạn ruột dài hoại tử cũng gây ra choáng nặng cho thú

Trang 25

Sự đánh giá tính sống còn của một đoạn ruột đã hoại tử thường rất khó, thông thường các phẫu thuật viên dựa vào các dấu hiệu sau để xác định sự sống còn của một đoạn ruột như màu sắc của đoạn ruột có màu xanh hoặc xanh tím khi bệnh lý, nhưng trong điều kiện bình thường thì ruột màu hồng Nhìn bên ngoài thành đoạn ruột hoại tử dày cộm, hơi cứng, mất độ trơn bóng bên ngoài, sự đập của động mạch và chảy máu khi mổ, ngoài ra còn có mùi hôi thối trong khi quan sát

Quan sát khả năng nhu động của ruột là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá được tính sống còn của đoạn ruột đoạn ruột đã hoại tử

Lau rửa đoạn ruột có liên quan bằng cách dùng gạc thấm nước muối ấm một vài phút (15-20phút) có thể phục hồi màu sắc và nhu động, nhưng không đảm bảo ruột sẽ lành sau khi mổ

Những kỹ thuật đánh giá khả năng sống của ruột bao gồm dùng phép ghi điện

cơ, đo oxy mạch, dùng siêu âm Doppler để xác định mạch,…Những nghiên cứu gần đây đã chứng minh đo oxy mạch là phương pháp chính xác hơn cả để xác định khả năng sống sót của mô ruột

™ Phẫu thuật ruột non được chỉ định thường gặp nhất là do trục trặc về dạ dày ruột có thể do ngoại vật, do những chấn thương, ví dụ như:

− Thủng ruột – rách lớn trên quai ruột, thương tổn ở bờ màng treo ruột hoặc

có nhiều thương tổn tập trung gần nhau

− Thương tổn đứt mạch máu màng treo ruột gây thiếu máu nuôi dưỡng một đoạn ruột non

Chẩn đoán bệnh ở ruột non phải dựa vào bệnh sử, các triệu chứng lâm sàng, chẩn đoán bằng hình ảnh như chụp X-quang, siêu âm, nội soi, sinh thiết hoặc dựa vào kết quả ở phòng thí nghiệm

Trang 26

(Nguồn: Stanley, 2005; http://www.liv.ac.uk/vets_med_images/sath/images/ultrasound.jpg)

Hình 2.2 Chẩn đoán bệnh lồng ruột và tắc ruột bằng hình ảnh

Những triệu chứng lâm sàng của bệnh ở ruột non thường thay đổi và không đặc trưng, phổ biến là nôn mửa, tiêu chảy, bỏ ăn, suy nhược Thú có biểu hiện đau

và sock có thể là kết quả từ sự chấn thương, tắc nghẽn huyết quản hoặc tắc nghẽn ruột hoàn toàn Nôn dữ dội, sock hoặc đau bụng cấp thường là do thiếu máu cục bộ, ruột bị xuyên thủng hoặc tắc nghẽn một phần ở ruột trên

Khám và sờ nắn ở vùng bụng thì thú có cảm giác đau, có thể có những khối u

ở bụng hoặc những cơ quan nằm ở vị trí bất thường

Thú nôn mửa nhiều hoặc tiêu chảy thường dẫn tới mất nước, mất cân bằng điện giải, thú mê man, giảm ăn Nôn mửa có thể gây giảm chlor huyết, giảm kali huyết, giảm natri huyết hoặc giảm cả ba

Trang 27

Bảng 2.1 Những triệu chứng lâm sàng của bệnh ở ruột mãn tính

Nôn Thỉnh thoảng Hiếm khi

Chứng đầy hơi và sôi ruột Thỉnh thoảng Hiếm khi

Số lượng phân thải ra Bình thường đến nhiều Ít đến bình thường

Thải phân thường xuyên Bình thường đến tăng nhẹ Bình thường đến rất

thường xuyên Máu trong phân Nếu xuất hiện thường

đậm, đen

Nếu xuất hiện thường tươi, đỏ Màng nhầy trong phân Không có Có hoặc không có

Khẩn cấp và cảm giác buốt mót Không có Thỉnh thoảng

Chứng khó đi cầu Không có Có khi bệnh trực

(nguồn: Fossum, 2002) Ảnh chụp X-quang rõ ràng có thể cung cấp bằng chứng của chất khí, chất lỏng bất thường, khối u, ngoại vật, chất dịch của xoang bụng hoặc nội tạng bị di chuyển Siêu âm cũng có thể giúp xác định những khối u khác ở ruột và bụng Nội soi

dạ dày ruột cho phép thấy được sự viêm loét, khối u hoặc những thay đổi ở bề dày vách hoặc mô tế bào

2.13 Sơ lược về thuốc mê và thuốc tê

2.3.1 Thuốc mê

Thuốc mê là những chất khi vào cơ thể và tới thần kinh trung ương sinh một trạng thái ngủ, đầu tiên nó gây ra sự mất ý thức và cảm giác rồi đến sự dãn nghỉ các cơ vân liên lạc mà không làm xáo trộn các chức năng của hệ tuần hoàn và hệ hô hấp

Thuốc mê lý tưởng là những chất chỉ sinh các tác động mất ý thức và cảm giác rồi dãn nghỉ các cơ vân liên lạc mà không làm xáo trộn các chức năng của hệ tuần hoàn và hô hấp

Trang 28

2.3.1.1 Ý nghĩa của việc dùng thuốc mê

− Dùng trong phẫu thuật, nhất là phẫu thuật lâu và lớn như mổ ruột, tim…

− Chống shock, co giật

− Gây ngủ và giảm đau

2.3.1.2 Sự lựa chọn thuốc mê tùy thuộc vào

− Bản chất cuộc giải phẫu

− Sự khác biệt về sinh lý và cơ thể học các loài

− Sự nhạy cảm của thú

− Yếu tố gia tăng tác động của thuốc mê

2.3.1.3 Các giai đoạn mê

Theo Mai Tất Tố và Vũ Thị Trâm (2007), dựa vào độ nhạy cảm của thần kinh trung ương đối với thuốc gây mê theo thứ tự từ vỏ não xuống dưới vỏ và dựa vào dấu hiệu lâm sàng chia tác dụng của thuốc gây mê thành 4 giai đoạn tương ứng với

4 giai đoạn gây mê:

™ Giai đoạn 1: Thời kỳ mất cảm giác đau

Mất cảm giác đau nhưng vẫn còn cử động theo ý muốn Đi đứng loạng choạng, đồng tử dãn, có những phản xạ tiểu tiện, tim đập mạnh, nhanh và có tiết nước bọt (nếu cấp atropin thì giảm tiết nước bọt)

Khi gần đến thời kỳ kích thích, thú không còn đứng được nữa và có khuynh hướng nằm nghiêng một bên

™ Giai đoạn 2: Thời kỳ kích thích

Cử động không theo ý muốn, trung khu vỏ não bị ức chế nên thú mất đi cảm giác, hô hấp phục hồi từ từ, ở cuối giai đoạn này hô hấp gần như bình thường nhưng nếu có kích thích nào sẽ làm thú co giật mạnh (nên thực hiện giải phẫu ở nơi yên tĩnh để thú tránh bị kích thích)

™ Giai đoạn 3: Thời kỳ phẫu thuật (giai đoạn mê giải phẫu)

Giai đoạn này với đặc điểm mất ý thức và giảm dần các phản xạ, cơ dãn ra,

Trang 29

- Mê nhẹ: hô hấp đều, các cử động tứ chi mất hẳn, mắt đảo qua, đảo lại, mất hẳn Thời kỳ này thích hợp khám và thực hiện các tiểu phẫu

- Mê vừa: hô hấp không biến đổi nhiều, hô hấp vẫn đều, cầu mắt lộn xuống dưới và kéo mí mắt thứ 3 xuống, các cơ dãn đều, phản xạ ở bàn chân còn nhưng yếu Thời kỳ này thích hợp mọi công việc giải phẫu, ngoại trừ giải phẫu bụng

- Mê sâu: vận tốc hô hấp tăng lên nhưng thở cạn và có sự ngập ngừng giữa hít vào và thở ra Tròng mắt trở lại vị trí cũ và phản ứng bàn chân mất hẳn nhưng mí mắt thứ 3 vẫn đóng Thời kỳ này thích hợp để phẫu thuật bụng

™ Giai đoạn 4: Thời kỳ tê liệt hành tủy

Trung khu thần kinh ức chế tối đa, hô hấp ngừng, huyết áp ở mức độ shock với màng niêm nhợt nhạt, đồng tử nở rộng Nếu không có liệu pháp can thiệp kịp thời như cắt đường mê, hô hấp nhân tạo, nhồi bóp tim, thở oxy, hoặc dùng thuốc trợ

hô hấp thì thú sẽ chết

2.3.1.4 Sự phục hồi sau khi mê

Khi thuốc mê bị loại thải khỏi não bộ và tác dụng của thuốc mê tan dần, thì mức độ mê cũng giảm, giai đoạn mê cũng dần dần giảm theo chiều ngược lại với ban đầu

2.3.1.5 Giới thiệu về thuốc mê Zoletil

Zoletil là thuốc mê mới được cấp qua đường tiêm, là sự kết hợp giữa thuốc an thần tiletamine và thuốc dãn cơ zolazepam, có độ an toàn cao Chỉ sau khi hấp thu thuốc một thời gian ngắn thì thú mê toàn diện

Trang 30

- Zolazepam có cấu tạo phân tử như sau:

Dược động học của zolazepam và tiletamine cho phép kết hợp chúng lại với nhau để tạo nên một tác động gây mê an toàn, vừa đảm bảo đạt đến một mức độ mê thích hợp và đảm bảo việc thải cùng lúc, để thú có thể phục hồi nhanh về trạng thái sinh lý bình thường

Hình 2.3 Thuốc mê Zoletil 50

Dược lý học: tiletamine làm thân nhiệt của thú giảm từ 38,5oC xuống còn

36oC sau khi tiêm bắp với liều lượng 30mg/kg Ở trên chó, nếu tiêm tĩnh mạch tiletamine 2mg/kg thì sẽ làm tăng áp lực động mạch và nhịp tim trong khoảng 30 phút Nhưng tiêm với liều cao hơn (4-8mg/kg) thì xảy ra tình trạng giảm huyết áp (Lê Văn Thọ và Lê Quang Thông, 2010)

Theo Plumb (2008), thuốc được bài thải dưới dạng còn nguyên hoạt tính qua nước tiểu thấp hơn 4%

Trang 31

Zoletil giúp gây mê dễ dàng hơn và nhanh chóng hơn so với phương pháp làm

an thần, giảm đau và gây mê truyền thống

Không hoặc ít ói mửa hơn những thuốc an thần khác (Ví dụ: xylazine)

Không gây suy giảm tuần hoàn, tim mạch như những chất gây mê khác (Ví dụ: barbiturates)

Làm dãn cơ hoàn toàn và tức khắc trong những ca phẫu thuật quan trọng như các loại thuốc mê bay hơi

Zolazepam làm tăng hiệu quả giảm đau của tiletamine

Zoletil cho phép phẫu thuật can thiệp vào những ca bệnh đau đớn nhất, bằng cách loại bỏ những cử động không điều kiện do đau gây ra và làm giảm nguy cơ shock trong phẫu thuật

Qua thử nghiệm một vài loài động vật cho thấy Zoletil không gây độc cho thận

Thời gian mê kéo dài từ 20-60 phút tuỳ thuộc vào liều dùng Có thể lập lại với liều chỉ bằng 1/3-1/2 liều ban đầu, tốt nhất tiêm vào tĩnh mạch

2.3.1.6 Các tai biến của thuốc mê

− Chảy nước bọt, nôn mửa

− Ngừng tim, ngừng hô hấp do phản xạ

− Ngừng tim trực tiếp

− Shock

− Hạ thân nhiệt

Trang 32

2.3.2 Thuốc tê

Thuốc tê là thuốc tuy được khám phá sau thuốc mê gần nửa thế kỷ nhưng ngày càng chứng tỏ những tính chất vượt trội và chiếm giữ một vị trí quan trọng trong vô cảm để thực hiện những phẫu thuật

2.3.2.1 Định nghĩa và phân loại

Thuốc tê không làm mất ý thức, chỉ làm giảm hay mất cảm giác và vận động

™ Phân loại: dựa trên cấu trúc hoá học

Nhóm amino ester: procaine, tetracaine

Amino ester

Nhóm amino amide: Lidocaine, Prilocaine

Amino amide

Nhóm amino ester hiện nay ít được sử dụng vì chúng có độc tính cao và nhất

là chúng thường gây nên các phản ứng dị ứng, có thể gây nên phản ứng quá mẫn Nhóm amino amide hiện nay được sử dụng nhiều như Lidocaine, Bupivacaine

Trang 33

2.3.2.2 Cơ chế tác dụng của thuốc tê

Theo Đào Văn Phan (2007), luồng thần kinh được dẫn truyền do sự di chuyển của các điện giải qua màng tế bào khi có kích thích, ion Na+ từ ngoài vào trong tế bào qua những lỗ nhỏ và tạo ra hiệu điện thế Các dạng thuốc tê tổng hợp làm giảm tính thấm của màng tế bào với Na+ do gắn vào receptor của kênh Na+ ở mặt trong của màng tế bào, khác với các độc tố thiên nhiên như tétrodotoxin gắn ở mặt ngoài của kênh Như vậy, thuốc tê có tác dụng ngăn cản dẫn truyền luồng xung động thần kinh bằng cách ngăn cản Na+ đi vào tế bào, làm màng tế bào thần kinh không khử cực được, giữ màng tế bào ở điện thế nghỉ

Ngoài ra, thuốc tê còn làm giảm tần số phóng xung tác của các sợi cảm giác Hầu hết các thuốc tê đều có pKa là 8,0 – 9,0, vì vậy, ở pH của cơ thể phần lớn đều ở dạng cation, là dạng có hoạt tính gắn vào được receptor, nhưng lại không qua được màng tế bào nên không có tác dụng, vì receptor của thuốc tê nằm ở mặt trong màng tế bào

Thuốc tê thế vào chỗ của chất acetycholine (một hóa chất giúp dẫn truyền thần kinh) Chất acetylcholine được phóng thích và được phá hủy trong một thời gian ngắn khi có dẫn truyền

Luồng thần kinh được dẫn truyền với vận tốc nhanh, chậm khác nhau tùy theo đường kính sợi thần kinh lớn hay nhỏ Sợi thần kinh nhỏ nhất dẫn truyền cảm giác đau, rồi đến cảm giác nhiệt độ… Khi gây tê cảm giác mất đi theo thứ tự: hoạt động

tự động, đau ngoài da, cảm giác nóng lạnh, vận động, xúc giác… Sau đó, thuốc tê dần dần được ngấm vào máu, được biến dưỡng, được trung hòa, mất hoạt tính ở gan

và được thận thải ra ngoài

2.3.2.3 Thuốc sử dụng trong gây tê ngoài màng cứng

Lidocaine (xylocaine, lignocaine)

− Thuốc tê thuốc nhóm aminoamide, khó bị thủy phân, tác dụng dài

− Ưu điểm: ngấm tê nhanh, không kích thích chỗ tiêm

− Thuốc tê duy nhất không co mạch, không dãn mạch

Trang 34

− Gây tê niêm mạc ở nồng độ 4 – 10%, tối đa dùng 100mg

− Gây tê thường dùng ở nồng độ từ 0,5% đến 2%, tối đa không quá 300mg Công thức cấu tạo Lidocaine (xylocaine, lignocaine)

− Đặc tính :

+ Bột vàng nhạt hoặc trắng

+ Không hòa tan trong nước

− Chuyển hóa:

Lidocaine bị thủy phân chính ở gan và những mô khác trong cơ thể Cả dạng

tự do và dạng kết hợp được bài thải qua nước tiểu

− Tác dụng :

Dùng để gây tê tại chỗ, màng cứng tủy sống, gây tê dẫn truyền và tê thấm Tùy nồng độ dung dịch và phương pháp thực hiện, thời gian bắt đầu tác động khi gây tê

bề mặt có thể 5 phút và kéo dài 30 phút hoặc hơn

Khi tiêm mà không có epinephrine, Lidocaine được hấp thu từ nơi tiêm làm suy yếu hệ thần kinh trung ương, kích ứng nơi chích xảy ra Quá liều sẽ gây co rút

cơ, huyết áp thấp, buồn nôn và ói mửa

Trang 35

+ Tê dẫn truyền thường dùng dung dịch 1-2% ở thú nhỏ và 2-3% ở thú lớn với chất co mạch

+ Tê màng cứng tủy sống thường dùng dung dịch 2%

2.3.2.4 Tai biến của thuốc tê

Các tai biến của thuốc tê thường xảy ra trên tim mạch, mô, thần kinh, gây dị

ứng, ngộ độc, gây ngủ và gây ói

2.3.2.5 Những trường hợp bệnh lý không gây tê ngoài màng cứng

Những thú bị nhiễm trùng cột sống, shock nặng, suy tim, huyết áp cao, dị dạng cột sống và dị ứng với thuốc tê thì không nên gây tê ngoài màng cứng

2.14 Sơ lược về hai loại chỉ may (chromic catgut và vicryl) trong mổ nối ruột 2.4.1 Đại cương

Chỉ dùng trong phẫu thuật là những loại dây dùng để may các mô dính lại với nhau hay để cột các mạch máu Hiện nay có nhiều loại chỉ để phẫu thuật viên chọn lựa, mỗi loại chỉ được ứng dụng thích hợp ở 1 trường hợp riêng biệt dựa trên cơ sở thích hợp về các đặc lý tính, sinh học của chỉ may và sự đánh giá tình trạng tại chỗ của vết thương cũng như thời gian lành vết thương ở những mô khác nhau

Theo Lê Văn Thọ (2006), một chỉ phẫu thuật lý tưởng bao gồm những yếu tố như đề kháng đối với nhiễm trùng, giảm phản ứng mô tối thiểu, dễ sử dụng, mềm mại dễ cột, nút buộc an toàn Bề mặt sợ chỉ phải mịn nhưng chắc chắn, không cứa rách mô, không to quá làm cộm chỗ may, không gây ra vết sẹo lớn và duy trì độ bền thích hợp sau khi may vào mô Chỉ phải là chất không ăn mòn, không độc với mô, không phải là chất ưa thích để vi sinh vật phát triển, không bị điện phân, không có

sự mao dẫn, không gây dị ứng, không phải là chất gây ung thư và không đắt tiền, dễ tiệt trùng mà không bị biến tính

2.4.2 Chỉ polyglactin 910 (tên thương mại : Vicryl)

Polyglactin 910 là những sợi tổng hợp bện vào nhau bao gồm hai thành phần glycolic acid và lactic acid theo tỉ lệ 9:1 Cả hai chất này có tính kháng lại sự thủy phân cao hơn chỉ polyglycolic acid (Dexon) Chỉ này có vỏ bọc (coated) và được

Trang 36

tiệt trùng bằng ethylene oxide Nhờ có vỏ bọc đã giúp cải thiện đặc tính dễ sử dụng của sợi chỉ Chỉ được hấp thu bằng cơ chế thủy phân và lực bền có thể duy trì tới 21 ngày sau khi may vào mô (Aston và Rees, 1977)

Theo Neath (2005), polyglactin 910 mất khoảng 35% sức bền sau 14 ngày, 70% sau 21 ngày và bị hấp thu hoàn toàn sau 56-90 ngày Chỉ polyglactin 910 có tỷ

60-lệ lý tưởng về kích thước và sức bền, gây phản ứng mô tối thiểu, chịu đựng tốt ở vết thương có nhiễm trùng

Hình 2.5 Chỉ Vicryl 2.4.3 Chỉ chromic catgut

Chỉ surgical gut (chromic catgut) là một loại chỉ đa sợi, được làm từ lớp dưới màng niêm ruột non của loài cừu hoặc loài bò và xử lý với formaldehyde Chỉ được làm tròn, đánh bóng và tiệt trùng bằng bức xạ ion hóa

Sự hấp thu của chỉ surgical gut sau khi may vào cơ thể theo một tiến trình hai giai đoạn chính yếu bao gồm sự thực bào Trước tiên những phân tử được cắt đứt bởi sự thủy phân của acid và phân giải collagen Tiếp theo là sự tiêu hóa và hấp thu bởi enzyme tiêu hóa protein xảy ra trong giai đoạn sau của sự tiêu tan Bởi vì chỉ surgical gut có thành phần là collagen, nên sẽ gây kích thích phản ứng ngoại vật khi may vào mô Surgical gut thay đổi rất lớn về tỉ lệ hấp thu và mất sức bền tùy thuộc vào loại mô mà chỉ đó may vào Chỉ hấp thu nhanh trong môi trường acid của dạ dày, ở những nơi có nhiễm trùng và những nơi có nhiều mạch máu Sự hấp thu của

Trang 37

protein Sự hấp thu chỉ thường xảy ra một thời gian dài, sau đó chỉ mới mất sức bền Trung bình chỉ chromic catgut mất 33 % sức bền sau 7 ngày, mất 67% sức bền sau

28 ngày sau khi may vào mô và hấp thu hoàn toàn sau 60 ngày (Neath, 2005)

Hình 2.6 Chỉ Chromic catgut 2.15 Một số đường may thông dụng

2.5.1 Đường may gián đoạn đơn giản (Simple interrupted)

Đây là đường may đơn giản và thường được dùng nhất May kín tổ chức an toàn, đường may có khả năng giữ chặt chính xác, dễ may Nếu sức căng quá mức có thể cuốn mép thương vào trong Đường may này thường dùng để may da, mô dưới

da, cân mạc, mạch máu, thần kinh, dạ dày-ruột

Hình 2.7 Đường may gián đoạn đơn giản 2.5.2 Đường may nệm nằm (Horizontal mattress)

Biến đổi của đường may gián đoạn đơn giản Có hai kiểu đường may:

™ Đường may nệm nằm đứng gián đoạn (Interrupted vertical mattress)

Đặc điểm: áp sát lộn ra ngoài Đường may này giúp chống căng thẳng mạch hơn đường may nệm nằm Một đường may cho từng lớp được sử dụng cho từng lớp được sử dụng để may da và mô dưới da để loại bỏ khoảng chết ở trong mô

Đường may này được ứng dụng để may da, mô dưới da, cân mạc

™ Đường may nệm nằm gián đoạn (Interrupted horizontal mattress)

Trang 38

Đặc điểm: may áp sát giúp lộn mép ra ngoài tuỳ thuộc vào sức căng của đường may và sự đâm vào trong mô của chỉ sâu hay cạn Khả năng làm dịch chuyển mô thấp Dùng để may da rất tốt

Hình 2.8 Đường may nệm nằm gián đoạn 2.5.3 Đường may liên tục đơn giản (Simple continuous)

Đây là đường may tiết kiệm được thời gian và kinh tế Áp sát tốt, kín không khí và kín nước Phải thật cận thận khi may vì nếu chỉ bị đứt hoặc mối cột bị sút thì toàn bộ đường may có thể bị bung ra Ứng dụng tốt cho những lớp bên dưới có sức căng thấp Đường may này có ít sức mạnh hơn đường may gián đoạn đơn giản Nếu

có sức căng quá mức sẽ gây nên nhăn nhúm và dịch chuyển da

Ứng dụng: may da, mô dưới da, cân mạc, mạch máu, dạ dày-ruột

Hình 2.9 Đường may liên tục đơn giản 2.16 Các đường may dạ dày – ruột

2.6.1 Đường may Lembert

Đây là kiểu may căn bản để may dạ dày và ruột, có tác dụng ngăn ngừa sự rò

rỉ và xảy ra sự lành sớm nhờ sự cuốn lại của các bề mặt thanh mạc Là biến đổi của

 

Trang 39

đường may nệm đứng, có thể là đường may gián đoạn hoặc liên tục Mũi kim chỉ đâm sâu vào lớp cơ chứ không xuyên thủng vào bên trong lòng ruột

Ứng dụng để may cuốn mép vào hoặc để đóng kín nội tạng rỗng (dạ dày, ruột, bàng quang, tử cung)

2.6.2 Đường may Connell

Ứng dụng để may lớp đầu tiên của nội tạng rỗng (ruột, dạ dày, bàng quang, tử cung) Do kim đâm xuyên thủng vào bên trong lòng ruột vì vậy dễ bị dịch tiêu hoá làm đứt chỉ Do đó, khi may phải chọn chỉ có thời gian tiêu chậm và may đường liên tục

Hình 2.10 Đường may Connell 2.6.3 Đường may Cushing

Kỹ thuật may gần giống với kỹ thuật Connell, nhưng có điểm khác cơ bản là mũi kim không đâm xuyên thủng lòng ruột Đường may này cũng được dùng để may kín nội tạng rỗng (nối ruột, bàng quang, tử cung)

Hình 2.11 Đường may Cushing 2.17 Các cách may nối ruột

Mổ ruột (enterotomy) là một phẫu thuật rạch vào ruột, phẫu thuật cắt bỏ ruột (enterectomy) là phẫu thuật cắt bỏ đi một đoạn ruột Cắt và nối ruột là một thủ thuật cắt

bỏ một đoạn ruột rồi may nối lại May nối ruột có 3 phương pháp nối ruột là tận (đầu nối đầu), tận-nối-bên (đầu nối cạnh) và bên-nối-bên (cạnh nối cạnh) Tuỳ vào

Trang 40

tận-nối-mục đích của cuộc phẫu thuật mà chúng ta có thể chọn một trong 3 phương pháp vừa nêu Cách may có thể dùng đường may liên tục hoặc đường may gián đoạn

2.7.1 Phương pháp tận-nối-tận (end-to-end anastomosis)

Theo Nguyễn Văn Đức (1991), do lòng ruột trên và lòng ruột dưới đường kính quá khác nhau (có khi 1/10) nên lúc cắt ruột dưới tác giả khuyên nên xén vạt 45o

trong trường hợp teo ruột non

Sau khi cắt bỏ một đoạn ruột, dùng một miếng gạc để lau sạch hai đầu ruột, rồi nối lại bằng đường may liên tục hay gián đoạn

2.7.1.1 May liên tục

Dùng chỉ tiêu 4-0 với đường may Cushing hoặc Connell để may nối ruột trước hết giữ cho hai đầu ruột nằm sát vào nhau bằng cách may hai mối tạm thời ở hai mép ruột và giữ hai sợi chỉ để có hai mép ruột sát nhau Khởi đầu người ta may hai bờ trong của đoạn ruột lại bằng đường may Connell hoặc Cushing Khi may hết một nửa vòng ruột ở mặt trong, lúc này cho kim chui ra ngoài và may tiếp nửa còn lại từ bên ngoài Nên tiếp tục may luôn nửa bên ngoài đầu tiên để giúp cho mép ruột cuốn vào trong nhằm ngăn ngừa viêm dính lúc lành vết thương

Sau khi may nối ruột xong phải kiểm tra sự an toàn của đường may bằng cách dùng tay kẹp hai đầu ruột gần với chỗ may nối, sau đó bơm vào lòng ruột khoảng 10ml dung dịch nước sinh lý để xem có chỗ nào bị rò rỉ hay không Nếu có thì phải

bổ sung bằng một nối may gián đoạn vào vị trí rò rỉ

Màng treo ruột được may lại bằng đường may gián đoạn đơn giản hoặc liên tục thông thường Làm vệ sinh vết mổ, đưa ruột vào bên trong xoang bụng và đóng thành bụng lại

Phương pháp này có ưu điểm là giới hạn khối cuốn vào bên trong lòng ruột nên không làm hẹp lòng ruột Tuy nhiên khi may nửa bên ngoài phải lưu ý để tránh may dính luôn lớp bên dưới sẽ gây tắc ruột

Ngày đăng: 17/12/2017, 05:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Quang Bá, 2000. Cơ thể học chó mèo. Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Đại học Nông Lâm TP.HCM, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ thể học chó mèo
2. Phillippe Detrie, 1970. Phẫu thuật vùng bụng. Nhà xuất bản Y Học TP.HCM, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phẫu thuật vùng bụng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y Học TP.HCM
3. Thái Minh Duy, 2001. Ứng dụng kỹ thuật may đầu-nối-đầu trong trường hợp mổ nối ruột trên chó. Luận văn tốt nghiệp. Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM. Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng kỹ thuật may đầu-nối-đầu trong trường hợp mổ nối ruột trên chó
4. Nguyễn Văn Đức, 1991. Bài giảng bệnh học ngoại khoa. Bộ môn Ngoại Tổng Quát, Trường Đại học Y Dược TP.HCM. Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng bệnh học ngoại khoa
5. Nguyễn Kim Hải, Nguyễn Trường An, Nguyễn Hà Dương Phan và Trương Văn Trí, 2006. Giáo trình phẫu thuật thực hành. Trường Đại học Huế. Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phẫu thuật thực hành
6. Phạm Văn Lình, 2007. Ngoại bệnh lý, Tập 1. Nhà xuất bản y học Hà Nội, Việt Nam. Trang 109-247 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại bệnh lý
Nhà XB: Nhà xuất bản y học Hà Nội
7. Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đình Hiếu, Nguyễn Duy Đại và Đồng Sĩ Thuyên, 1987. Thủ thuật ngoại khoa chiến tranh. Tổng cục hậu cần, Cục Quân Y.Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ thuật ngoại khoa chiến tranh
8. Nguyễn Đức Ninh, 1995. Phẫu thuật ống tiêu hoá. Nhà xuất bản Y Học Hà Nội, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phẫu thuật ống tiêu ho
Nhà XB: Nhà xuất bản Y Học Hà Nội
9. Nguyễn Đức Ninh và Hoàng Tích Độ, 2001. Bệnh học ngoại. Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học ngoại
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội
10. Đào Văn Phan, 2007. Dược lý học. Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội, Việt Nam. Trang 109-115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược lý học
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội
11. Mai Tất Tố và Vũ Thị Trâm, 2007. Dược lý học. Nhà xuất bản Y Học Hà Nội, Việt Nam. Trang 75-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược lý học
Nhà XB: Nhà xuất bản Y Học Hà Nội
12. Nguyễn Thị Kim Thoa, 2007. So sánh hiệu quả của hai phương pháp gây tê ngoài màng cứng và gây mê toàn thân trong phẫu thuật cắt bỏ tử cung noãn sào ở chó. Tiểu luận tốt nghiệp. Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM. Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh hiệu quả của hai phương pháp gây tê ngoài màng cứng và gây mê toàn thân trong phẫu thuật cắt bỏ tử cung noãn sào ở chó
13. Lê Quang Thông, 1999. Khảo sát và đo đạc một số nội quan trên chó ta trưởng thành. Luận văn tốt nghiệp. Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM. Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát và đo đạc một số nội quan trên chó ta trưởng thành
14. Lê Văn Thọ, 1999. Bài giảng ngoại khoa. Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM. Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng ngoại khoa
15. Lê Văn Thọ, 2006. Ngoại khoa thú y (chó – mèo). Nhà xuất bản Nông Nghiệp TP.HCM. Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại khoa thú y (chó – mèo)
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp TP.HCM. Việt Nam
16. Lê Văn Thọ và Lê Quang Thông, 2003. Nghiên ảnh hưởng của kiểu may và loại chỉ may đến quá trình lành vết thương trong trường hợp mổ nối ruột trên chó.Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y-Hội Thú Y Việt Nam, Tập X- số 3-2003.Trang 42-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y-Hội Thú Y Việt Nam
17. Lê Văn Thọ và Lê Quang Thông, 2010. Thuốc tác động lên hệ thần kinh. Dược lý thú y. Nhà xuất bản nông nghiệp. Việt Nam. Trang 133-199.NƯỚC NGOÀI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược lý thú y
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp. Việt Nam. Trang 133-199. NƯỚC NGOÀI
18. Adams H.R., 2001. Veterinary pharmacology and therapeutics. Eighth Edition. Iowa. pp 259-261 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Veterinary pharmacology and therapeutics
19. Anderson S., Gill P., Lippincott L., Somerville M., Shields S., Bafour R.J., Wilson E.. “Intestinal Surgery”. Southern California Veterinary Medical Association’s Offical Magazine, January 2002.< www.dvmpulse.com&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intestinal Surgery
20. Aston S.J. and Rees T.D.. “Vicryl Sutures” Aethetic Plastic Surgery 1:289 – 293, 1977.http://www.springerlink.com/content/j77363412rx73q0u Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vicryl Sutures

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w