ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG --- ĐẶNG ĐÌNH NAM THỜI BÁO KINH TẾ VIỆT NAM TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BÁO CHÍ THỜI KỲ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG
-
ĐẶNG ĐÌNH NAM
THỜI BÁO KINH TẾ VIỆT NAM TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BÁO CHÍ
THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ
Hà Nội - năm 2008
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG
-
ĐẶNG ĐÌNH NAM
THỜI BÁO KINH TẾ VIỆT NAM TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BÁO CHÍ
THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Báo Chí
Mã số: 60.32.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HOÀNG HẢI
Hà Nội - năm 2008
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hoàng Hải Trong luận văn này có các kết quả nghiên cứu, số liệu thống kê, phát hiện mới do người viết thực hiện theo chỉ đạo của thầy hướng dẫn Luận văn cũng sử dụng, phát triển và kế thừa những tư liệu,
số liệu, kết quả nghiên cứu từ các sách, giáo trình, tài liệu liên quan đến nội dung đề tài
Tác giả luận văn
ĐẶNG ĐÌNH NAM
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong và ngoài khoa Báo chí và Truyền thông Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy và trang bị kiến thức cho bản thân tôi trong 3 năm học tại trường, niên khóa 2005- 2008
Tôi đặc biệt chân thành cảm ơn sự quan tâm nhiệt tình của TS.Hoàng Hải, người đã dành nhiều thời gian giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ sự cảm ơn đến gia đình, những người thân cũng như các bạn đồng nghiệp, các học viên trong lớp đã tư vấn, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn ĐẶNG ĐÌNH NAM
Trang 5TRANG VIẾT TẮT
1 PR: Public Relations, Quan hệ công chúng
2 TBKTVN: Thời báo Kinh tế Việt Nam
3 TĐBC: Tập đoàn báo chí
4 TTCK: Thị trường chứng khoán
5 Tp.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
6 WAN: Hiệp hội Báo chí thế giới
\
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MẤY VẤN ĐỀ LÝ LUẬN KINH DOANH BÁO CHÍ 10
1.1 Những vấn đề cơ bản trong hoạt động kinh doanh báo chí 10
1.1.1 Phát hành báo chí 11
1.1.2 Quảng cáo báo chí 13
1.1.3 Hoạt động quan hệ công chúng 16
1.1.4 Thương hiệu của tờ báo 18
1.1.5 Độc quyền và cạnh tranh trên thị trường báo chí 21
1.1.6 Tổ chức sản xuất thông tin báo chí 24
1.2 Một số đặc điểm trong hoạt động kinh doanh báo chí ở Việt Nam 26
1.2.1 Khuynh hướng tự chủ tài chính và sự hình thành nền kinh tế báo chí 28
1.2.2 Sự tham gia mạnh mẽ của tư nhân vào hoạt động báo chí 29
1.2.3 Xu hướng hình thành tập đoàn báo chí ở Việt Nam 32
1.2.4 Cảnh báo xu hướng thương mại hóa báo chí 36
CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA THỜI BÁO KINH TẾ VIỆT NAM 42
2.1 Sơ lược lịch sử phát triển báo chí kinh tế ở Việt Nam và Thời báo Kinh tế Việt Nam 43
2.2 Khảo sát thực trạng hoạt động của Thời báo Kinh tế Việt Nam 47
2.2.1 Khảo sát mô hình Thời báo Kinh tế Việt Nam 48
2.2.2 Hoạt động sản xuất thông tin ở Thời báo Kinh tế Việt Nam 51
2.2.2.1 Khảo sát nội dung 51
2.2.2.2 Khảo sát hình thức 56
2.2.3 Các hoạt động kinh tế của Thời báo Kinh tế Việt Nam 60
2.2.4 Đa dạng hóa hoạt động kinh doanh 65
2.3 Vài nhận xét về những vấn đề đặt ra trong hoạt động kinh doanh
Trang 7báo chí ở Việt Nam 68
2.3.1 Quản lý hoạt động kinh doanh báo chí chưa theo kịp sự phát triển thực tiễn 69
2.3.2 Những vướng mắc trong mối quan hệ kinh tế và thông tin 71
CHƯƠNG 3 NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM 77
3.1 Kinh nghiệm phát triển hoạt động kinh doanh báo chí ở một số nước 77
3.1.1 Tập đoàn báo chí – “Xương sống” của báo chí các nước phương tây 78
3.1.2 Đổi mới cơ chế ở các tập đoàn báo chí Trung Quốc 82
3.1.3 Một góc nhìn về báo chí Singapore 86
3.2 Một số kiến nghị về phát triển kinh doanh báo chí ở Việt Nam và Thời báo Kinh tế Việt Nam 88
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế báo chí 89
3.2.2 Hoàn thiện thể chế và mô hình hoạt động tập đoàn báo chí 91
3.2.3 Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực kinh tế báo chí 95
3.2.4 Đẩy nhanh sự hội nhập và mở rộng quan hệ quốc tế 99
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới của đất nước, bộ mặt kinh tế
xã hội của Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Chính phủ trong việc đưa ra những quyết sách, chủ trương đúng đắn nhằm giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề đặt ra trong cuộc sống Trong quá trình đưa chủ trương, chính sách vào cuộc sống, vai trò của các cơ quan thông tin đại chúng trong đó đặc biệt là các tờ báo được đánh giá rất cao Không chỉ đảm nhận chức năng của kênh thông tin hai chiều mà báo chí còn là diễn đàn đăng tải các ý kiến phản biện xã hội về những chủ trương, chính sách
đã, đang và chuẩn bị được triển khai trong thực tiễn Đến năm 2008, Việt Nam
có gần 700 cơ quan báo chí, 67 đài phát thanh - truyền hình (2 đài quốc gia);
90 báo điện tử với đội ngũ nhà báo chuyên nghiệp được cấp thẻ là trên 15.000 người, phần lớn được đào tạo cơ bản về nghiệp vụ, nhiều người thông thạo ngoại ngữ, tin học, đã cho thấy sự lớn mạnh của đội ngũ những người làm báo
Đáng chú ý, sự lớn mạnh về đội ngũ những người làm báo gắn liền với
sự phát triển kinh tế ngày càng mạnh mẽ của nhiều tòa báo Hiện đã có rất nhiều
tờ báo lớn có số tia-ra xuất bản lên đến hàng chục vạn bản/kỳ, doanh số quảng cáo là hàng trăm tỷ đồng/năm Sự phát triển mạnh mẽ của báo chí trong giai đoạn đổi mới đã làm xuất hiện khái niệm về kinh doanh báo chí ở Việt Nam, với chủ trương xây dựng các tập đoàn báo chí (TĐBC) trong tương lai
Mặc dù trên thế giới khái niệm “kinh tế báo chí” hoặc “kinh doanh báo chí” không hề mới, bởi nó ra đời gắn liền với những tờ báo đầu tiên của nhân loại với mục đích bán thông tin kinh tế cho các doanh nghiệp để lấy tiền và mục đích này ngày càng phát triển tới mức nội dung mang tính thương mại như quảng cáo, tin kinh tế chiếm đến trên 60% nội dung của các tờ báo tại Mỹ Nhưng ở Việt Nam, chức năng kinh tế của báo chí đang được đón nhận với rất nhiều ý kiến tranh luận khác nhau Sự phát triển mạnh mẽ cả về cơ sở vật chất
Trang 9lẫn đội ngũ phóng viên của một số tờ báo lớn hiện nay đã phản ánh đúng xu thế phát triển kinh tế báo chí cũng như vai trò của kinh tế đối với báo chí Thực tế
đã chứng minh những tờ báo làm ăn có lãi hiện nay là những tờ báo biết đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng, phong phú của người dân thay vì chỉ đem đến cho bạn đọc những thông tin mà mình có Nhất là trong cơ chế kinh tế thị trường, sự
ổn định về kinh tế giúp báo chí có thể giảm phụ thuộc vào ngân sách nhà nước đồng thời từng bước khẳng định tính độc lập tương đối của báo chí trong việc đưa thông tin tới bạn đọc Như vậy, hoạt động thực tiễn cho thấy cần phải thừa nhận chức năng kinh tế của báo chí trong hoạt động nghiên cứu lý luận báo chí ở Việt Nam hiện nay
Thực tế, chức năng kinh tế của báo chí có thể được nhìn nhận trên 2 khía cạnh là những lợi ích kinh tế mà báo chí đem lại cho xã hội và khi báo chí
đi làm kinh tế Ở khía cạnh thứ nhất, những thông tin kinh tế thuần túy mà
báo chí cung cấp cho người đọc đã góp phần giúp họ tiếp cận được những cơ hội kinh doanh sản xuất mới để làm giàu cho bản thân và làm giàu cho xã hội Ở
khía cạnh thứ hai, cùng với việc xây dựng nền kinh tế hàng hoá vận hành theo
cơ chế thị trường, người dân đã quen dần với các khái niệm: thị trường lao động, thị trường tiền tệ; chất xám là hàng hoá, sản phẩm giáo dục là hàng hoá Cùng với thời gian, người ta nhận ra rằng, thông tin, sản phẩm chủ yếu của ngành truyền thông đã và đang được coi là một thứ hàng hoá, có thể là một loại hàng hoá đặc biệt, nhưng vẫn có đầy đủ thuộc tính của một loại hàng hoá Nghĩa là có một cộng đồng người sản xuất ra nhưng không phải để tự phục vụ mà để đáp ứng nhu cầu xã hội và có thể trao đổi, mua bán Thông tin trở thành một trong những “nhu yếu phẩm” không thể thiếu được trong xã hội hiện đại Người ta cần rất nhiều loại thông tin: thông tin chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá giải trí và sẵn sàng trả tiền để được đáp ứng nhu cầu này
Tại các nước phát triển, truyền thông từ lâu đã trở thành một ngành kinh
tế quan trọng với doanh số hàng năm lên tới cả trăm tỷ USD và vẫn đang trên đà phát triển rất mạnh Có quốc gia truyền thông hoàn toàn nằm trong tay Nhà nước, có nước truyền thông lại hoàn toàn do tư nhân nắm giữ, nhưng cũng có
Trang 10nhiều nước áp dụng mô hình pha trộn Chính quyền muốn thông tin đến người dân những quan điểm, chính sách của mình cũng phải chi những khoản tiền không nhỏ
Nhưng việc báo chí đi làm kinh tế không hẳn đã nhận được sự đồng tình của nhiều ý kiến do sự e ngại về thương mại hóa ảnh hưởng đến chất lượng báo chí Sự lo ngại này cũng rất giống với quan điểm của các nhà nghiên cứu lý luận báo chí khác trên thế giới Tuy nhiên, việc giải quyết vấn đề này tại Việt Nam còn nhiều ý kiến khác nhau
Cho đến nay, các cơ quan truyền thông của nước ta vẫn được coi là các
cơ quan Nhà nước, được hưởng chế độ bao cấp và có trách nhiệm tuyên truyền, định hướng chính sách của Đảng, Nhà nước và đoàn thể đến người dân Nhưng trong sự phát triển chung của xã hội, một cơ hội mới đang mở ra: bên cạnh những báo - đài vẫn được bao cấp hoàn toàn hoặc một phần, một số cơ quan truyền thông đã tự làm dịch vụ kinh doanh, phải theo cơ chế "lãi hưởng lỗ chịu", cung cấp cho xã hội những thông tin theo xu hướng kinh doanh, giải trí Điều này sẽ mang lại lợi ích to lớn cho cả nhà nước, người dân và cả cơ quan truyền thông Nhà nước không phải trả một khoản tiền khổng lồ để “nuôi” tất cả báo chí, trong đó có những ấn phẩm báo chí chuyên cung cấp thông tin kinh doanh, giải trí thậm chí còn thu được những khoản đóng góp của các cơ quan truyền thông “dịch vụ” để tăng cường chất lượng cho các cơ quan “chính thống” Người dân được tự do lựa chọn các thông tin mà họ cần, không còn bị “ép” phải xem một kênh truyền hình hay một tờ báo nào đó nữa Họ sẽ chọn nguồn thông tin chính xác, phong phú, kịp thời, phân tích sâu theo đúng yêu cầu của họ Còn các cơ quan truyền thông có thể bán sản phẩm của mình, kinh doanh quảng cáo thu lãi lớn Theo TS Vũ Duy Thông, Phó Tổng biên tập báo điện tử Đảng cộng sản, chức năng kinh tế báo chí ở Việt Nam cần được hiểu như là xu thế xã hội hóa báo chí tức huy động các nguồn lực của xã hội vào phát triển báo chí
TS Nguyễn Văn Dững, giảng viên Học viện báo chí và Tuyên truyền, cho rằng chức năng kinh tế của báo chí thể hiện ở chức năng quảng cáo và dịch vụ Việc quảng cáo trên báo chí vừa có tác dụng thúc đẩy tiêu dùng vừa là nguồn thu tạo
Trang 11kinh phí hoạt động cho tờ báo, ông Dững cũng cho rằng cần nhận thức đúng về
chức năng quảng cáo - dịch vụ của báo chí để nhà báo hoạt động tác nghiệp
đúng tôn chỉ mục đích của tờ báo, bảo đảm thông tin chân thật, khách quan đến
người đọc
Bên cạnh đó, dù luật pháp Việt Nam hiện nay không cho phép có báo chí
tư nhân nhưng tiềm lực thực hiện hoạt động truyền thông - báo chí ngoài khu
vực nhà nước hiện rất lớn thể hiện qua số lượng rất lớn các công ty hoạt động
trong lĩnh vực kinh doanh quảng cáo - truyền thông, có nhân lực được đào tạo
tốt về truyền thông Theo thống kê của Sở Kế hoạch - Đầu tư thành phố Hà Nội,
số lượng giấy phép kinh doanh cấp cho các doanh nghiệp có hoạt động trên lĩnh
vực truyền thông tính đến ngày 31/5/2008 là 1.208 đơn vị Tại thành phố Hồ Chí
Minh (Tp.HCM), số lượng các công ty truyền thông thống kê được còn lớn hơn
gấp rưỡi Nhiều công ty trong số đó có xu hướng xây dựng bộ phận sản xuất sản phẩm truyền thông Sự xuất hiện của nhiều ấn phẩm báo chí liên kết giữa
các đơn vị báo chí, xuất bản và các đơn vị bên ngoài ngành Thực tế cho thấy,
khi một số doanh nghiệp được làm các hoạt động dạng báo chí- truyền thông (có
thể lúc đầu theo giấy phép thì không làm các nội dung tuyên truyền chính trị - xã
hội, nhưng với thời gian thực tế là làm cả các nội dung này), thì chỉ trong thời
gian rất ngắn, các doanh nghiệp này đã phát triển được hệ thống truyền hình,
báo điện tử mạnh, về tốc độ phát triển vượt xa các đơn vị báo chí - truyền thông
do các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể và cơ quan nhà nước chủ quản
Trong lĩnh vực truyền hình, nhiều đơn vị kinh doanh đã và đang xây dựng các
cơ sở vật chất kỹ thuật sản xuất chương trình truyền hình, đang cạnh tranh với
nhau để cung cấp sản phẩm theo đặt hàng của các đài truyền hình Các công ty
cổ phần, công ty tư nhân đang xây dựng nhiều trường quay, mua sắm thiết bị ghi
hình
Chính vì thế, đã đến lúc phải nhìn nhận nghiêm túc, truyền thông là một
ngành kinh tế, thậm chí ngành kinh tế mũi nhọn Đã là ngành kinh tế, tất yếu
phải có sự cạnh tranh Chính sự cạnh tranh lành mạnh sẽ nâng chất lượng của
truyền thông lên rất nhiều Khi truyền thông đã là một ngành kinh tế,
Trang 12“cuộc chiến” thương hiệu như tất cả các ngành kinh doanh mua - bán khác sẽ là một phần không thể thiếu Nhưng với đặc thù riêng của mình, doanh thu của truyền thông sẽ từ nhiều nguồn khác nhau, kể cả từ quảng cáo, tài trợ của các doanh nghiệp muốn quảng cáo thương hiệu Như thế, việc “bắt tay” giữa các cơ quan truyền thông và các công ty quảng cáo trong việc sản xuất chương trình là điều hiển nhiên, theo đúng quy luật của kinh tế Đó là thực tế của sự phát triển
và tư duy cũng cần thay đổi để chấp nhận và đi theo thực tế này Xã hội hóa sẽ
là chủ trương đúng của nhà nước với truyền thông trong những năm sắp tới
Với những lý do trên đây, luận văn đã chọn đề tài “Thời báo kinh tế Việt
Nam hoạt động kinh doanh báo chí trong thời kỳ hội nhập quốc tế” nhằm tìm
hiểu hoạt động thực tế của một trong những tờ báo kinh tế được coi là có uy tín
và nhanh nhạy trên thị trường báo chí Việt Nam hiện nay đặt trong bối cảnh những thuận lợi, thời cơ và thách thức của hội nhập quốc tế để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm thực tiễn nhằm góp phần vào xây dựng lý luận về kinh tế báo chí ở Việt Nam thời hội nhập
2 Lịch sử nghiên cứu về hoạt động kinh doanh báo chí
Các nghiên cứu về hoạt động kinh tế báo chí nói chung ở Việt Nam đến nay còn rất thiếu Bởi do đặc thù về chức năng chính trị tư tưởng, tuyên truyền
của báo chí đã đặt những tờ báo vào loại hàng hóa đặc biệt nên trong suốt một
thời gian dài, những người làm báo ở Việt Nam không có được một hệ thống lý luận căn bản và đầy đủ về kinh tế báo chí Trong khi đó, hoạt động sôi nổi với rất nhiều bài học kinh doanh báo chí từ 20 năm đổi mới là những thực tiễn sinh động chứng minh cho mối liên kết chặt chẽ giữa báo chí và kinh tế Song cũng trong 20 năm đó, trên mặt bằng nghiên cứu nói chung, kinh doanh báo chí được nói đến khá dè dặt và tản mát Hầu hết các tài liệu đề cập đến kinh doanh báo chí (văn kiện của Đảng, bài viết đăng tải trên báo) chủ yếu nhấn mạnh vào các nguy
cơ tiềm ẩn của thương mại hóa báo chí, tư nhân hóa báo chí mà ít đề cập đến những khía cạnh tích cực của kinh doanh báo chí vốn làm thay đổi phong cách,