Cơng trình Ngơn ngữ học đại cương gắng trình bày các vấn đề cơ bản của ngơn ngữ học hiện đại một cách cĩ hệ thống, khoa học và đặc biệt kết nối được các thành tựu của ngơn ngữ thế giới v
Trang 2Giáo sư cĩ thể giới thiệu đơi nét về cuớn
sách “Ngơn ngữ học đại cương: Những
nội dung quan yếu” – cơng trình vừa
được Giám đớc ĐHQGHN trao tặng
Giải thưởng Cơng trình khoa học tiêu
biểu năm 2013?
Cơng trình Ngơn ngữ học đại cương –
Những nội dung quan yếu của tơi mới
được NXB Giáo dục Việt Nam xuất bản
năm 2012 Đây là kết quả nghiên cứu
và giảng dạy mơn học Ngơn ngữ học
đại cương mà tơi theo đuổi trong hơn
30 năm, nhằm đáp ứng yêu cầu nhận
thức, nhận thức lại và cập nhật các tri
thức lí thuyết, phương pháp nghiên
cứu ngơn ngữ học Cơng trình Ngơn
ngữ học đại cương gắng trình bày các
vấn đề cơ bản của ngơn ngữ học hiện
đại một cách cĩ hệ thống, khoa học
và đặc biệt kết nối được các thành tựu
của ngơn ngữ thế giới với ngơn ngữ
học đơng phương và Việt ngữ học
Cuốn sách cĩ 595 trang (kể cả phần
tài liệu tham khảo), khổ 16×24, chia
làm 12 chương, trình bày những nội
dung quan yếu nhất của Ngơn ngữ học
đại cương, được tơi lựa chọn theo ba
nguyên tắc ưu tiên cơ bản, thiết thực và
sư phạm (tr.9) Điều đáng lưu ý là bố cục của cuốn sách khơng được trình bày theo lối diễn dịch truyền thống thường thấy trong các cơng trình Ngơn ngữ học đại cương Thay vì trình bày từ lí luận tổng quan đến các cấp độ ngơn ngữ, tơi đã chọn theo một lơgic phản ánh quá trình nhận thức là đi từ quan niệm (về ngơn ngữ học đại cương) đến đối tượng nghiên cứu (bản chất, chức năng và hệ thống, cấu trúc ngơn ngữ) và phương pháp nghiên cứu (các lí thuyết ngơn ngữ học) Cách tổ chức nội dung quyển sách như thế cĩ nét mới mẻ so với các cơng trình đã cĩ
Giáo sư cĩ thể thơng tin rõ hơn về các nội dung của cơng trình nghiên cứu này?
Nội dung thứ nhất của quyển sách đề cập đến các vấn đề cơ bản của triết lý ngơn ngữ cái vốn
đã được đề cập và thảo luận khá nhiều trong các cơng trình ngơn ngữ học đại cương trước đĩ
từ nhiều quan niệm lí thuyết khác nhau, trong sách này tơi đã tìm cách làm sáng tỏ thêm cả về mặt lí luận và dữ kiện ngơn ngữ Trên cơ sở lí thuyết đĩ, tơi đã trình bày và thảo luận sâu sắc thêm các vấn đề chức năng giao tiếp của ngơn ngữ, bản chất kí hiệu của ngơn ngữ, cơ chế hoạt động của ngơn ngữ và đặc biệt là vấn đề mối quan hệ giữa ngơn ngữ và tư duy đều được nhìn nhận và giải thích từ các tiền đề lí thuyết hiện đại
Nội dung thứ hai và thứ ba của cuốn sách – các vấn đề về hệ thống, cấu trúc và cơ chế hoạt động của ngơn ngữ, được trình bày cơ đọng ở các chương 4 và 5, tơi đã trình bày và thảo luận
kĩ về các cách tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu của ngơn ngữ học, qua đĩ một lần nữa làm sáng tỏ các vấn đề hệ thống – cấu trúc và cơ chế hoạt động của ngơn ngữ
Ở phần nội dung thứ tư, người đọc cĩ thể tiếp cận ngay với phương pháp luận và các tiền đề lí thuyết và phương pháp của ngơn ngữ học hiện đại
Cách trình bày của tơi kết hợp vừa theo hướng lịch sử (khuynh hướng nghiên cứu) vừa theo hệ giá trị từng vấn đề như vậy mang lại cho người đọc một bức tranh khá tồn diện về các nội dung hữu quan, mặc dù khơng phải lúc nào cũng dễ theo dõi
Một cố gắng khác của cuốn sách là ngồi việc cung cấp cho người đọc một hệ thống kiến thức
lí luận vừa tồn diện, vừa cụ thể về ngơn ngữ học đại cương, ở nhiều vấn đề, tơi đã vận dụng
lí luận đại cương để giúp người đọc hiểu rõ các vấn đề của Việt ngữ học và thực tiễn tiếng Việt
ĐÃ LÀ GIẢNG VIÊN THÌ PHẢI GẮNG
NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY CHO TỐT
NGỌC DIỆP (thực hiện)
Vừa qua, ĐHQGHN đã tặng Giải
thưởng cơng trình khoa học tiêu biểu
năm 2013 cho 04 cơng trình, trong
đĩ cĩ cuớn sách “Ngơn ngữ học đại
cương: Những nội dung quan yếu”
của GS.TS Đinh Văn Đức – Khoa
Ngơn ngữ học, Trường ĐHKHXH&NV,
ĐHQGHN.
Nhân dịp này, Bản tin ĐHQGHN đã
cĩ dịp trị chuyện với Giáo sư:
GS.TS Đinh Văn Đức Ảnh: Thành Long
Xuân Giáp Ngọ 2014
Trang 3Có thể thấy rõ điều này qua những trang viết
khá sâu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và
tư duy với cấu trúc và chức năng của ngôn
ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng Cuốn
sách có bố cục khá chặt chẽ, nội dung các
chương đã gắng liên kết với nhau một cách
logic và mạch lạc Tôi sử dụng văn phong có
tính hàn lâm, khoa học nhưng cũng dễ hiểu
và có tính sư phạm, có sự kết hợp giữa trình
bày lí luận với ý kiến phân tích, đánh giá với
những dẫn dụ cụ thể được lấy từ thực tiễn
tiếng Việt và các ngôn ngữ khác
Giáo sư có thể chia sẻ về công việc nghiên
cứu của nhà khoa học để hình thành được
công trình khoa học công phu này?
Tôi đã dạy ngôn ngữ học gần 50 năm
và trong quá trình đó vừa giảng dạy, vừa
nghiên cứu và tích lũy thêm kinh nghiệm
Riêng công trình “Ngôn ngữ học đại cương:
Những nội dung quan yếu” tích lũy phải
mất đến 30 năm Tôi dạy môn học này từ
những năm 1980 cho đến nay Trong quá
trình đó tôi đặt ra ba việc là phải học được
những kiến thức cơ bản; tiếp nhận, cập nhật
được các thông tin khoa học quốc tế; trong
khi nghiên cứu thì phải thể hiện được đặc
điểm của thực tiễn Việt Nam cho phù hợp
với kiến thức đó Dần dần hình thành nên
cuốn sách trong ý tưởng và bắt đầu thực
hiện cuốn sách cũng phải mất gần 10 năm
từ 2002 đến 2012
Tôi đã cố gắng cập nhật trong 600 trang sách những phương diện quan yếu nhất và
cơ bản nhất, có những cái mới so với những cuốn sách có cùng chuyên ngành Song kiến thức là vô cùng nhưng tiếp tục phải rèn giũa
và bổ sung để khi tái bản, thì các thông tin tiếp tục được cập nhật hơn
Gần 70 tuổi đời, với xấp xỉ 50 năm tuổi nghề, đến nay, Giáo sư đã chủ trì 5 đề tài nghiên cứu khoa học cấp ĐHQGHN, xuất bản 5 cuốn sách, công bố hơn 40 bài báo khoa học và là Thầy của nhiều thế hệ học trò Cơ duyên nào đã gắn bó Giáo sư với sự nghiệp giảng dạy và nghiên cứu khoa học?
Tôi là lứa sinh viên khóa 6 của Trường
ĐH Tổng hợp Hà Nội trước đây, nay là ĐHQGHN Tôi vào trường năm 1961 và ra trường năm 1965, vẫn còn trong thời gian kháng chiến chống Mĩ
Thủa đó, chúng tôi không được chọn ngành học mà do sự phân công của nhà nước Tôi may được Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn chọn để bồi dưỡng, đào tạo và truyền nghề Tôi bị Thầy mắng rất nhiều rồi mới định hình được mình qua từng bước, từ chỗ đi học đến công việc nghiên cứu Đến nay thật ra thì tôi cũng chưa có đóng góp gì lớn cả Tôi cố gắng thực hiện tốt công việc của giảng viên, một
người nghiên cứu để xuất bản một vài cuốn sách, công bố một số bài báo trên các tạp chí trong và ngoài nước Tôi thực sự chưa thấy thỏa mãn và bằng lòng với những kết quả
mà mình đạt được Trong công tác giảng dạy, tôi muốn cố gắng truyền đạt cho sinh viên những kiến thức cơ bản và cập nhật những kiến thức mới mẻ Tôi đã hướng dẫn cho 18 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, hàng chục thạc sĩ và rất nhiều
cử nhân chuyên ngành ngôn ngữ học
Gần đây, triết lí của ĐHQGHN về khoa học công nghệ là “khoa học vị nhân sinh”,
“giảng viên – nhà khoa học”, ý kiến của Giáo sư về nội dung này là gì?
Tôi thấy rằng, nhà giáo ở đại học bắt buộc phải song hành thực hiện cả hai nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu Trong quá trình công tác thực hiện các công việc đó, người thầy phải làm công việc giảng dạy và nghiên cứu của mình đồng thời truyền cảm hứng cho học trò để học có thể độc lập trong giảng dạy và nghiên cứu Đây là công việc không chỉ để sinh viên có thể trở thành nhà nghiên cứu mà là để sinh viên có thể chủ động tư duy độc lập, tiếp cận và xử lí các vấn đề một cách độc lập để tích lũy kinh nghiệm và hành động thực tế Các sinh viên tốt nghiệp Trường ĐHKHXH&NV có thể trở thành nhà nghiên cứu song cũng có thể trở
Ảnh: Thành Long
Trang 4thành doanh nhân hoặc làm các cơng việc
khác Kiến thức mà đại học đào tạo cho
người học theo tư duy nghiên cứu là rất
quan trọng
Định hướng “khoa học vị nhân sinh”,
“giảng viên – nhà khoa học” của ĐHQGHN
là một chủ trương cực kì đúng đắn Mục tiêu
cuối cùng theo tơi là rèn luyện để đầu ra ở
bậc đại học và sau đại học đều biết việc và
làm việc được, phục vụ thật thà các cơng việc
mà họ đeo đuổi
Tơi cho rằng ĐHQGHN cần cĩ cơ chế hỗ trợ
nghiên cứu cơ bản vốn là mũi nhọn mà ở
đĩ cho ta cơ sở lý luận để giải quyết những
bài tốn của xã hội Các nhà nghiên cứu của
ĐHQGHN khơng chỉ nghiên cứu những thứ
mình đang cĩ mà phải nghiên cứu những
điều thực tiễn xã hội đang cần Tơi lưu ý một
điều là khơng cĩ khoa học cơ bản khơng thể
giải quyết được
Nền khoa học của Việt Nam ngày càng phát
triển đi lên và cĩ định dạng khá tốt bởi lẽ
khoa học cơ bản của Việt Nam tương đối
tốt Ngay trong thời kì kháng chiến mặc dù
khĩ khăn song Đảng và Nhà nước vẫn duy
trì đào tạo nền khoa học cơ bản tốt và từ
đĩ để cĩ thể phát triển các chuyên ngành
khác Khoa học cơ bản là nền mĩng lí thuyết
để các ngành khoa học khác phát triển đến
Tơi rất tán đồng với chủ trương này và mong
muốn các hoạt động khoa học cụ thể của
ĐHQGHN sẽ tiếp tục ngày càng phát triển
Gần đây, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khĩa XI đã ban hành Nghị
quyết về phát triển khoa học và cơng nghệ
phục vụ sự nghiệp cơng nghiệp hĩa, hiện
đại hĩa trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quớc tế; Hội nghị lần 8 Ban Chấp hành TW
khĩa XI đã ban hành Nghị quyết về đổi mới
căn bản, tồn diện giáo dục và đào tạo Dưới
gĩc độ của một nhà khoa học – giảng viên
đại học, ý kiến của Giáo sư về một sớ chủ
trương, đường lới chính sách gần đây trong
lĩnh vực giáo dục đào tạo và khoa học cơng
nghệ?
Vấn đề trong Nghị quyết nêu rất đúng
Đảng cĩ chủ trương và Nhà nước cĩ chiến
lược khoa học cơng nghệ cũng như giáo
dục và đào tạo phát triển, song để đổi mới
thì phải dựa trên căn cốt là Nghị quyết phải
vào cuộc sống và cuộc sống vào Nghị quyết
Cuộc sống vốn đa dạng, phức tạp và khĩ
lường Cần phải triển khai bằng tư duy và
hành động, bằng biện pháp và hỗ trợ trong
đĩ cĩ hỗ trợ bằng vật chất mới cĩ thể thành cơng được Tơi cho rằng Nghị quyết về đổi mới giáo dục rất đúng, đáp ứng được mong mỏi của đội ngũ nhà giáo
Nhưng tơi cũng cịn băn khoăn Nghị quyết rất đúng và trúng song việc áp dụng trong thực tiễn thì phải vừa làm vừa tìm hiểu và phải kiên định Tơi cho rằng, giải pháp tốt nhất để Nghị quyết đi vào cuộc sống thì phải bám lấy thực tế, xuất phát từ thực tế
để giải quyết các vấn đề Tơi rất mong nội dung nghị quyết của trung ương sớm đi vào cuộc sống
Theo Giáo sư, trong mơi trường đại học
đa ngành, gớc dễ của đổi mới cần bắt đầu từ đâu?
Tơi cho rằng cần phải đổi mới cả giảng dạy
và nghiên cứu Trong giảng dạy thì phải đổi mới cả cách dạy và cách học Tơi cho rằng cần phải thơng qua tăng cường sự phản biện của sinh viên sau khi nghe bài giảng của thầy Chương trình đào tạo phải cung cấp thước đo nhận thức để sinh viên biết
họ cần phải làm những gì, làm vào lúc nào, giải quyết những vấn đề thực tiễn ra sao
để cho họ thảo luận, bàn bạc và cĩ những phản ứng tương tác với hoạt động của thầy Khơng nên để cho sinh viên nghe thầy cơ một chiều Kiến thức của Thầy cĩ thể cập nhật, cĩ thể khơng song thực tiễn thì đa dạng, muơn màu muơn vẻ
Nghiên cứu thì nên bắt đầu từ những thứ thiết thực xung quanh ta Tơi cho rằng thấy
gì vừa sức, cĩ ích thì làm trước Phương pháp
Ảnh: Bùi Tuấn
Xuân Giáp Ngọ 2014
Trang 5nghiên cứu thì nên học hỏi bạn bè quốc
tế Họ giàu kinh nghiệm và chuyên nghiệp
trong phương pháp giải quyết nhưng tôi
muốn lưu ý thêm là phương pháp ấy phải
gắn với bài toán thực tiễn của Việt Nam Lý
luận mà không có thực tiễn là lý luận suông,
còn phương pháp không gắn với lí luận thì
trở thành mù quáng Do vậy, những giảng
viên – nhà khoa học nên thường xuyên cập
nhật thông tin trên Internet, tiếp cận các
thông tin khoa học thế giới và bám sát thực
tế Việt nam
Đổi mới nghiên cứu phải đồng bộ từ cá nhân
và tổ chức Tổ chức phải có sự đầu tư, cập
nhật trong quản trị nghiên cứu khoa học
Bấy lâu nay ta vẫn chỉ đầu tư nhỏ giọt, chưa
tập trung nguồn lực Cá nhân các chuyên gia
đầu ngành đứng đầu các nhóm nghiên cứu
mạnh, tổ chức phải tập hợp các chuyên gia giỏi để thực hiện các nghiên cứu liên ngành thì mới có thể thực hiện đổi mới thành công
Mong mỏi của Giáo sư đối với hoạt động giáo dục đào tạo cũng như nghiên cứu khoa học ở ĐHQGHN?
Gần 50 năm giảng dạy tại Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN, tôi luôn mong dạy tốt – học tốt – nghiên cứu tốt Người Thầy phải tự nâng cao năng lực nghiên cứu của mình thông qua các công bố trong nước và quốc tế; các bài báo trên các tạp chí chuyên ngành, xuất bản sách chuyên khảo, giáo trình,…
Đối với ĐHQGHN, để thực hiện thành công triết lí xây dựng ĐH nghiên cứu thì phải sớm hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh
mở rộng bên cạnh việc đi vào chiều sâu là xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh trong từng địa hạt: công nghệ, xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, kinh tế, luật,…
Tôi nghĩ cần phải mở rộng nhóm nghiên cứu mạnh của ĐHQGHN thông qua việc mời các chuyên gia giỏi trong và ngoài nước cùng tham gia
Việc đầu tư thì phải quan tâm ủng hộ 3 việc như sau: nâng cao chất lượng và hiện đại hóa các phòng thí nghiệm của KHTN và công nghệ; hiện đại hóa thư viện trong đó lưu tâm đến nguồn sách báo khoa học của nước ngoài và đầu tư cho tạp chí khoa học Đây là 3 lĩnh vực nổi bật thể hiện chất lượng của ĐH nghiên cứu
Bấy lâu nay, chỉ số công bố ISI và scopus thường được ngầm gắn với lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ Là một nhà khoa học trong lĩnh vực KHXH&NV, Giáo sư nghĩ
gì về các chỉ số này?
Việc công bố các công trình KHXH&NV trên các tạp chí ISI không thể nhanh chóng như khoa học tự nhiên hay công nghệ được Đặc tính của KHXH&NV là cần tích lũy và đánh giá qua thực tiễn
Đối với Việt Nam, chúng ta có ưu thế nghiên cứu trong lĩnh vực khảo cổ học, ngôn ngữ học, lịch sử tư tưởng và văn hóa nghệ thuật… Có nhiều công trình có giá trị nhưng việc chuyển ngữ lại khá khó khăn
KHXH&NV mới có sự giao lưu và cởi mở kể
từ cuối những năm 80 của thế kỉ trước nên việc giao lưu cập nhật còn hạn chế Do vậy các nhà khoa học trong lĩnh vực này cần phải cập nhật thực tiễn và đi thực địa, điền dã và cần có sự đầu tư mạnh của nhà nước Đầu tư cho KHXH&NV khác với đầu tư cho KHCN vì kết quả không thấy ngay được Đôi khi phải trải qua một thời gian dài kết quả nghiên cứu mới được kiểm chứng Lâu nay, đội ngũ cán bộ nghiên cứu KHXH&NV vẫn còn hàn lâm, chưa thay đổi và cập nhật phù hợp với thực tiễn của công tác quản lí
Trân trọng cảm ơn Giáo sư!