Tìm Hiểu Loại Hình Du Lịch Văn Hóa Tại Phố Cổ Hà Nội.Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HÓA1. KHÁI NIỆM 1.1.Khái niệm về du lịch Theo Bộ Văn hóa thông tin và du lịch, Tổng cục du lịch Việt Nam: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡngtrong một khoảng thời gian nhất định”1.2.Khái niệm về văn hóa : tác giả Trần Ngọc Thêm trong tác phẩm “Cơ sở văn hóa Việt Nam” đã định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với mội trường tự nhiên xã hội”. vậyDu lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc dân tộc với sự tham gia của cộng đồng,nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.Những yếu tố thu hút khách du lịch đến với điểm du lịch đó là các truyền thống văn hóa,các nét đặc trưng riêng biệt của địa phương đó hấp dẫn du khách như : truyền thống văn hóa,phong tục tập quán,lịch sử,nghệ thuật,kiến trúc,phong tục tín ngưỡng tôn giáo,Ở loại hình du lịch văn hóa,điểm đến của du khách là các thành phố lớn,các nhà hát lớn,các bảo tàng văn hóa ,lịch sử,,nhà thờ lớn,công viên các chợ nổi tiếng.hay ở nông thôn là các đình chùa nổi tiếng về văn hóa lịch sử,phong tục tín ngưỡng,các vật dụng ,vật thể hay các nghệ thuật,kiến trúc mang đậm bản sắc vùng miền. điểm đến của du khách còn là các đảo,vịnh các bờ bãi biển đẹp mà nơi đó có cuộc sống đặc biệt của cư dân.Tóm lại : du lịch văn hóa luôn gắn liền với các địa điểm ,vật chất,các giá trị văn hóa lịch sử truyền thống đặc trưng của vùng miền,dân tộc.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA DU LỊCH VĂN HÓA.Tính đa dạng :tính đa dạng của loại hình du lịch văn hóa thể hiện ở sự đa dạng về khách du lịch (người già,người trẻ,đàn ông ,phụ nữ,khách trong nước ,khách nước ngoài) ,mục đích đi du lịch (tham quan,cầu lễ,vui chơi giải trí.. ),, cảnh quan thiên nhiên, hay các hình thức nghệ thuật dân gian (múa rối,hát quan họ,.,) các vật thể có giá trị văn hóa ,lịch sử,truyền thống ..( đền chùa,tượng,nhà sàn,gùi,cuốc.. )Tính mùa vụ : đối với bất kì loại hình du lịch nào cũng có đặc trưng này .các loai hình du lịch thường thể hiện tính mùa vụ qua số lượng khách tập trung đông ở các tuyến điểm du lịch vào những ngày nghỉ cuối tuần ,riêng loại hình du lịch văn hóa này tính mùa vụ còn thể hiện ở các lễ hội các ngày lễ tết như hội chùa hương,ngày lễ giỗ tổ hùng vương..Tính đa thành phần : ở loại hình du lịch văn hóa này ko có giới hạn cho các đối tượng liên quan đến du lịch văn hóa.cá du khách trong và ngoài nước,các tổ chức nhà nước và tư nhân ,các tổ chức,doanh nhân đầu tư trong và ngoài nước.các cộng đồng dân cư địa phương,các hdv…Tính liên vùng. Du lịch văn hóa nâng cao ý thức của các du khách về văn hóa truyền thống và vẻ đẹp thẩm mỹ của địa phương tại điểm du lịch.do đó có sự liên kết giữa các vùng để tạo ra các tuyến điểm du lịch hấp dẫn3. VAI TRÒ CỦA DU LỊCH VĂN HÓADu lịch văn hóa luôn gắn liền với các địa phương có những nét đặc sắc,riêng biệt trong truyền thống,lịch sử,tín ngưỡng,phong tục tập quán,…điểm đến là các địa phương thường có dân cư tập trung thưa và mỏng,chưa có điều kiện tiếp xúc nhiều với sự hiện đại của thế giới,do vậy đặc trưng của các địa phương này là dân cư nghèo đói,và gìn giữ được các giá trị vật chất và tinh thần qua thời gianDo đặc trưng của điểm đến của loại hình du lịch văn hóa là như trên nên du lịch văn hóa có vai trò quảng bá ,lan truyền gìn giữ và bảo tồn các nét đặc trưng văn hóa dân tộc lâu đời,góp phần lớn vào xóa đói giảm nghèo,cải tiến đời sống vật chất và tinh thần,tri thức của cư dân địa phương3.Đặc trưng của du lịch văn hóa3.1. Khái quát về du lịch văn hóaMột trong những động cơ khiến con người đi du lịch là để tìm kiếm những điều mới lạ, mở rộng sự hiểu biết của bản thân mình. Hiển nhiên du lịch kể từ khi nó hình thành có sự gắn kết chặt chẽ với văn hóa bởi văn hóa giữa các vùng miền, giữa các khu vực là không giống nhau, luôn khơi gợi sự tò mò, kích thích sự khám phá. Như vậy du lịch được coi như hành vi thỏa mãn văn hóa và hình thành nên loại hình “du lịch văn hóa”. Trong quá trình phát triển, hoạt động du lịch được coi là một hiện tượng xã hội và bản thân nó sản sinh ra những đặc thù văn hóa trong hành vi ứng xử của những con người tham gia hoạt động du lịch.3.2. Sự phát triển của du lịch văn hóa tại Việt NamTrong các loại hình du lịch, du lịch văn hóa đang trở thành xu thế phát triển của các nước trong khu vực. Việt Nam một đất nước có nền văn hóa giàu bản sắc, nên du lịch văn hóa có rất nhiều tiềm năng và thế mạnh để Việt Nam khai thác phục vụ cho nền công nghiệp du lịch chuyên nghiệp. Trong hơn một thập niên trở lại đây, dấu ấn du lịch Việt Nam ngày càng đậm nét trên bản đồ du lịch thế giới. Và Việt Nam đang tăng cường xu thế mở cửa và hội nhập, trong xu thế đó du lịch đóng vai trò đặc biệt quan trọng, cả về kinh tế lẫn văn hóa. Vì vậy, để hoạt động du lịch ngày càng phát huy hơn nữa vai trò của mình theo hướng phát triển bền vững, việc khai thác những tiềm năng du lịch Việt Nam là hoạt động mang tính cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao. Bên cạnh những loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục... gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế. Đối với du lịch Việt Nam, du lịch văn hóa có nhiều lợi thế làm bệ đỡ cho một nền công nghiệp du lịch chuyên nghiệp trong tương lai. Chúng ta xem xét các lợi thế sau:3.2.1. Lợi thế từ văn hóa đưa đến sự phát triển bền vững của du lịchVăn hóa tự bản thân nó đã là một sự trường tồn, dựa vào văn hóa để phát triển là một mục tiêu chiến lược đưa đến sự bền vững. Khi đưa văn hóa vào trong kinh doanh du lịch sẽ tạo nên các sản phẩm du lịch văn hóa. Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà điểm đến là các địa chỉ văn hóa, dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng... để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới. Mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và du lịch trong quá trình vận động phát triển là rất rõ. Du lịch khai thác các giá trị văn hóa làm nền tảng cho mục đích của các chuyến đi và tựa vào văn hóa để phát triển. Sự phát triển của du lịch đã làm cho các giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại ở một số vùng địa phương được khôi phục và phát triển. Nhà văn Nguyên Ngọc nhận định: “Du lịch bao giờ cũng là văn hóa, là trao đổi văn hóa, là hành động của những con người tìm đến với nhau bằng văn hóa, qua văn hóa. Du lịch rất cần tìm hiểu cho ra sự chuyển động và hình thành văn hóa mới của chuyển động đó trên vùng đất này để làm món “hàng độc” của mình”.
Trang 1ĐỀ TÀI: “Tìm Hiểu Loại Hình Du Lịch Văn Hóa Tại Phố Cổ Hà Nội”
1.2.Khái niệm về văn hóa :
tác giả Trần Ngọc Thêm trong tác phẩm “Cơ sở văn hóa Việt Nam” đã địnhnghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do conngười sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tácgiữa con người với mội trường tự nhiên xã hội” vậy
Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc dân tộc với sự tham gia của cộng đồng,nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.Những yếu tố thu hút khách du lịch đến với điểm du lịch đó là các truyền thống văn hóa,các nét đặc trưng riêng biệt của địa phương đó hấp dẫn du khách như : truyền thống văn hóa,phong tục tập quán,lịch sử,nghệ thuật,kiến trúc,phong tục tín ngưỡng tôn giáo,
Ở loại hình du lịch văn hóa,điểm đến của du khách là các thành phố lớn,các nhàhát lớn,các bảo tàng văn hóa ,lịch sử,,nhà thờ lớn,công viên các chợ nổitiếng.hay ở nông thôn là các đình chùa nổi tiếng về văn hóa lịch sử,phong tụctín ngưỡng,các vật dụng ,vật thể hay các nghệ thuật,kiến trúc mang đậm bản sắcvùng miền điểm đến của du khách còn là các đảo,vịnh các bờ bãi biển đẹp mànơi đó có cuộc sống đặc biệt của cư dân
Tóm lại : du lịch văn hóa luôn gắn liền với các địa điểm ,vật chất,các giá trị
văn hóa lịch sử truyền thống đặc trưng của vùng miền,dân tộc
2 ĐẶC ĐIỂM CỦA DU LỊCH VĂN HÓA
Trang 2.Tính đa dạng :tính đa dạng của loại hình du lịch văn hóa thể hiện ở sự đa dạng
về khách du lịch (người già,người trẻ,đàn ông ,phụ nữ,khách trong nước ,kháchnước ngoài) ,mục đích đi du lịch (tham quan,cầu lễ,vui chơi giải trí ),, cảnhquan thiên nhiên, hay các hình thức nghệ thuật dân gian (múa rối,hát quan họ,.,)các vật thể có giá trị văn hóa ,lịch sử,truyền thống ( đền chùa,tượng,nhàsàn,gùi,cuốc )
Tính mùa vụ : đối với bất kì loại hình du lịch nào cũng có đặc trưng này các
loai hình du lịch thường thể hiện tính mùa vụ qua số lượng khách tập trungđông ở các tuyến điểm du lịch vào những ngày nghỉ cuối tuần ,riêng loại hình
du lịch văn hóa này tính mùa vụ còn thể hiện ở các lễ hội các ngày lễ tết như hộichùa hương,ngày lễ giỗ tổ hùng vương
Tính đa thành phần : ở loại hình du lịch văn hóa này ko có giới hạn cho các đối
tượng liên quan đến du lịch văn hóa.cá du khách trong và ngoài nước,các tổchức nhà nước và tư nhân ,các tổ chức,doanh nhân đầu tư trong và ngoàinước.các cộng đồng dân cư địa phương,các hdv…
Tính liên vùng Du lịch văn hóa nâng cao ý thức của các du khách về văn hóa
truyền thống và vẻ đẹp thẩm mỹ của địa phương tại điểm du lịch.do đó có sựliên kết giữa các vùng để tạo ra các tuyến điểm du lịch hấp dẫn
3 VAI TRÒ CỦA DU LỊCH VĂN HÓA
Du lịch văn hóa luôn gắn liền với các địa phương có những nét đặc sắc,riêngbiệt trong truyền thống,lịch sử,tín ngưỡng,phong tục tập quán,…điểm đến là cácđịa phương thường có dân cư tập trung thưa và mỏng,chưa có điều kiện tiếp xúcnhiều với sự hiện đại của thế giới,do vậy đặc trưng của các địa phương này làdân cư nghèo đói,và gìn giữ được các giá trị vật chất và tinh thần qua thời gian
Do đặc trưng của điểm đến của loại hình du lịch văn hóa là như trên nên
du lịch văn hóa có vai trò quảng bá ,lan truyền gìn giữ và bảo tồn các nétđặc trưng văn hóa dân tộc lâu đời,góp phần lớn vào xóa đói giảmnghèo,cải tiến đời sống vật chất và tinh thần,tri thức của cư dân địaphương
Trang 33. Đặc trưng của du lịch văn hóa
3.1 Khái quát về du lịch văn hóa
Một trong những động cơ khiến con người đi du lịch là để tìm kiếmnhững điều mới lạ, mở rộng sự hiểu biết của bản thân mình Hiểnnhiên du lịch kể từ khi nó hình thành có sự gắn kết chặt chẽ với vănhóa bởi văn hóa giữa các vùng miền, giữa các khu vực là không giốngnhau, luôn khơi gợi sự tò mò, kích thích sự khám phá Như vậy du lịchđược coi như hành vi thỏa mãn văn hóa và hình thành nên loại hình
“du lịch văn hóa” Trong quá trình phát triển, hoạt động du lịch đượccoi là một hiện tượng xã hội và bản thân nó sản sinh ra những đặc thùvăn hóa trong hành vi ứng xử của những con người tham gia hoạt động
du lịch
3.2 Sự phát triển của du lịch văn hóa tại Việt Nam
Trong các loại hình du lịch, du lịch văn hóa đang trở thành xu thế pháttriển của các nước trong khu vực Việt Nam một đất nước có nền vănhóa giàu bản sắc, nên du lịch văn hóa có rất nhiều tiềm năng và thếmạnh để Việt Nam khai thác phục vụ cho nền công nghiệp du lịchchuyên nghiệp Trong hơn một thập niên trở lại đây, dấu ấn du lịchViệt Nam ngày càng đậm nét trên bản đồ du lịch thế giới Và Việt Namđang tăng cường xu thế mở cửa và hội nhập, trong xu thế đó du lịchđóng vai trò đặc biệt quan trọng, cả về kinh tế lẫn văn hóa Vì vậy, đểhoạt động du lịch ngày càng phát huy hơn nữa vai trò của mình theohướng phát triển bền vững, việc khai thác những tiềm năng du lịchViệt Nam là hoạt động mang tính cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thựctiễn cao Bên cạnh những loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, dulịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục gần đây dulịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đangphát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế Đối với du lịch ViệtNam, du lịch văn hóa có nhiều lợi thế làm bệ đỡ cho một nền côngnghiệp du lịch chuyên nghiệp trong tương lai Chúng ta xem xét các lợithế sau:
Trang 43.2.1 Lợi thế từ văn hóa đưa đến sự phát triển bền vững của du lịch
Văn hóa tự bản thân nó đã là một sự trường tồn, dựa vào văn hóa đểphát triển là một mục tiêu chiến lược đưa đến sự bền vững Khi đưavăn hóa vào trong kinh doanh du lịch sẽ tạo nên các sản phẩm du lịchvăn hóa Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà điểm đến là các địachỉ văn hóa, dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyềnthống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng để tạo sức hút đốivới khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Mối quan hệbiện chứng giữa văn hóa và du lịch trong quá trình vận động phát triển
là rất rõ Du lịch khai thác các giá trị văn hóa làm nền tảng cho mụcđích của các chuyến đi và tựa vào văn hóa để phát triển Sự phát triểncủa du lịch đã làm cho các giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại ởmột số vùng địa phương được khôi phục và phát triển Nhà vănNguyên Ngọc nhận định: “Du lịch bao giờ cũng là văn hóa, là trao đổivăn hóa, là hành động của những con người tìm đến với nhau bằng vănhóa, qua văn hóa Du lịch rất cần tìm hiểu cho ra sự chuyển động vàhình thành văn hóa mới của chuyển động đó trên vùng đất này để làmmón “hàng độc” của mình”
Du lịch Việt Nam trong những năm qua có được những thành tựu là do
đã và đang khai thác hiệu quả các giá trị đặc sắc của văn hóa dân tộcđưa vào trong kinh doanh du lịch Đối với khách du lịch có sở thíchnghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì dulịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ Thông qua hoạtđộng du lịch; sự giao lưu, giao thoa giữa các dòng du khách nội địa vàquốc tế với cư dân bản địa đã cho ra đời một loại hình sản phẩm vănhóa đặc trưng đó là những sản phẩm du lịch Trong tất cả các loại hình
du lịch thì du lịch văn hóa là một hình thức du lịch mang lại nhiều lợiích cho môi trường du lịch nhất: Du lịch văn hóa là công cụ để khôiphục, duy trì và phát huy những giá trị văn hóa của cộng đồng địaphương một cách hữu hiệu nhất Du lịch văn hóa nếu khai thác tốt nó
là một hình thức du lịch bền vững có lợi cho môi trường tự nhiên vàmôi trường nhân văn của cộng đồng Khách du lịch văn hóa thường có
ý thức bảo vệ môi trường du lịch tốt hơn khách du lịch đại chúng Do
đó, chúng ta phải có chiến lược phát triển văn hóa Khách du lịchkhông phải đến Việt Nam vì chúng ta vừa có một tòa nhà “trọc trời”,
Trang 5không phải họ đến Việt Nam vì chúng ta vừa xây dựng xong nhữngkhách sạn tiêu chuẩn 5 sao, một cây cầu hiện đại… mà phần lớn họ đếnViệt Nam hay quyết định quay trở lại Việt Nam vì những cuốn hút vềmặt văn hóa Theo thống kê: Trong số khách du lịch quốc tế đến ViệtNam hàng năm chỉ có khoảng 5 - 8% tham gia vào các tour du lịchsinh thái tự nhiên và khoảng 40 - 45% tham gia vào các tour du lịchtham quan - sinh thái nhân văn Tổng hợp các điều kiện và chỉ cầnnhìn từ khía cạnh đa dạng văn hóa, từ lợi thế của sự khác biệt, ViệtNam có đầy đủ tiềm năng là điểm đến của thiên niên kỷ mới, là vẻ đẹpbất tận Vấn đề là làm thế nào để khai thác thật hiệu quả vốn văn hóatrong hoạt động du lịch theo hướng phát triển bền vững để du lịch ViệtNam, trong đó du lịch văn hóa không chỉ là ngành kinh tế mũi nhọn màcòn là con đường để giao lưu, tiếp biến văn hóa năng động trong bốicảnh toàn cầu hóa.
3.2.2 Lợi thế từ tiềm năng của du lịch Việt Nam
Thứ nhất: Việt Nam là đất nước có tiềm năng du lịch văn hóa “khổng
lồ”.Về mặt cấu trúc, Việt Nam là một quốc gia đa tộc người với 54 dântộc, các tộc người đều có đặc trưng văn hóa riêng, tạo nên một bứckhảm văn hóa đa sắc màu, thống nhất trong đa dạng Nhiều di sản vănhóa Việt Nam mang đậm dấu ấn đóng góp của văn hóa đa tộc ngườiđược công nhận là di sản văn hóa thế giới (Kinh thành Huế, Phố cổHội An, Thánh địa Mỹ Sơn, không gian văn hóa cồng chiêng TâyNguyên…) Về văn hóa – lịch sử: Việt Nam có một truyền thống vănhóa – lịch sử đặc thù mà đối với du khách, đấy là truyền thống vừa đặcsắc vừa chứa đầy nghịch lý cần khám phá: một nền văn hóa đa dạnguyển chuyển, dung hòa, sáng tạo và giữ vững được bản sắc trongnhững điều kiện tiếp xúc văn hóa hầu hết là không bình thường; mộtđất nước, một dân tộc nhỏ bé nhưng phải đối diện với những thử thách
to lớn và làm nên những kỳ tích thật vĩ đại trong chiến tranh chốngNguyên - Mông, chống Minh - Thanh, chống Pháp, chống Mỹ… Mộtpho lịch sử như thế khó có thể kể hết về những lợi thế của Việt Namtrong việc tựa vào văn hóa – lịch sử để phát triển du lịch, để thu hútkhách du lịch đến Việt Nam Về mặt địa – văn hóa, tức là khai thácnhững giá trị địa - văn hóa, du lịch văn hóa theo chiều ngang, theokhông gian có tính vùng miền Việt Nam còn có các vùng đặc trưngvăn hóa như: Miền núi và trung du Bắc bộ đặc sắc bởi đa dạng văn hóaViệt cổ; Đồng bằng sông Hồng có văn hóa lúa nước; Bắc Trung bộ có
Trang 6cố đô, văn hóa cung đình; Duyên hải Nam Trung bộ có bãi biển đẹp vàvăn hóa Sa Huỳnh; Tây Nguyên có văn hóa Cà phê; Đông Nam bộ cóvăn hóa Óc eo; Đồng bằng sông Cửu Long có văn hóa sông nước miệtvườn Các thương hiệu sản phẩm, doanh nghiệp, vùng du lịch, địa danhnổi tiếng sẽ tổng hòa tạo dựng lên thương hiệu điểm đến quốc gia ViệtNam Ở Việt Nam, nhiều hoạt động du lịch văn hóa được tổ chức dựatrên những đặc điểm của vùng miền Chương trình Lễ hội Đất PhươngNam (Lễ hội văn hóa dân gian vùng Đồng bằng Nam bộ), Du lịch ĐiệnBiên (Lễ hội văn hóa Tây Bắc kết hợp với sự kiện chính trị: 50 nămchiến thắng Điện Biên Phủ), Con đường Di sản miền Trung (Lễ hội4dân gian kết hợp tham quan những di sản văn hóa được UNESCO côngnhận) đều là những hoạt động của du lịch văn hóa, thu hút nhiềukhách du lịch trong và ngoài nước.
3.2.3 Lợi thế từ sự đa dạng về loại hình văn hóa
Chúng ta dùng văn hóa để giúp cho sản phẩm du lịch Việt Nam vốn đãphong phú về chủng loại thêm hấp dẫn khách du lịch trong và ngoàinước, ta có thể phân ra các loại hình du lịch văn hóa tiêu biểu như sau:Thứ nhất: Du lịch văn hóa - lịch sử, gồm tất cả những chuyến du lịchthăm lại những khu di tích lịch sử của vùng, thăm những ngôi nhà củacác anh hùng lịch sử dân tộc, tham quan nơi làm việc của các vĩ nhân Theo thống kê năm 2004, chỉ tính riêng về các di tích, trong số khoảng40.000 di tích là các đình chùa, lăng, miếu trong đó có 2741 di tích,thắng cảnh được xếp hạng quốc gia gồm có 1322 di tích lịch sử, 1263
di tích kiến trúc nghệ thuật, 54 di tích khảo cổ và 102 di tích thắngcảnh Du khách còn có thể thăm viếng 117 bảo tàng lịch sử văn hóa,trong đó có những bảo tàng quan trọng như: Bảo tàng Dân tộc học,Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Bảo tàng văn hóa Chăm ở Đà Nẵng… Mỗi
di tích có một lý lịch riêng với biết bao nhiêu câu chuyện liên quancùng các nhân chứng, kỷ vật Tất cả những cái đó nếu được khai tháctốt sẽ trở thành những sản phẩm du lịch đáng kể Trên khắp đất nước
từ Bắc chí Nam không thiếu những địa danh có thể làm du lịch lịch sửvăn hóa Ở loại hình du lịch này ta còn thấy việc tham quan tìm hiểucác di tích danh nhân có khá nhiều trên khắp ba miền Bắc, Trung vàNam bộ Những Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Du, NguyễnTrung Trực, Thủ Khoa Huân, Võ Trường Toản, Nguyễn Đình Chiểu,Nguyễn Thị Định… đều có các di tích và kèm theo đó là lịch sử phongphú của các di tích đó Nếu so với các nước trong khu vực và thế giới,
Trang 7thì chừng ấy về chủng loại sản phẩm du lịch và các giá trị đang có thìphải được xếp là loại “giàu có” Vấn đề, chúng ta phải làm gì để khaithác hiệu quả “gia tài” đó thật bài bản và chuyên nghiệp.
Thứ hai: Du lịch văn hóa di sản, là sản phẩm lấy những giá trị văn
hóa, lịch sử có trong di sản để cho khách thưởng thức Một đất nướcđược vinh danh nhiều di sản, nó là “tấm giấy thông hành” về trình độ
và bề dày văn hóa – văn minh của dân tộc đó Đến nay, Việt Nam đã có
7 di tích được UNESCO công nhận là Di sản thế giới gồm: Hai Di sảnthiên nhiên thế giới: Vịnh Hạ Long, Vườn Quốc gia Phong Nha - KẻBàng; Năm Di sản văn hóa thế giới gồm: Quần thể di tích Cố đô Huế,Phố Cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Khu di tích trung tâm Hoàng thànhThăng Long, Thành nhà Hồ Các danh hiệu khác cũng được công nhận
là di sản thế giới như: Sáu di sản văn hóa kiệt tác truyền khẩu và phivật thể gồm: Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa CồngChiêng Tây Nguyên, Dân ca quan họ Bắc Giang và Bắc Ninh, Ca Trù,hát Xoan Ba Di sản tư liệu thế giới gồm: Mộc bản triều Nguyễn, 82Bia tiến sĩ Văn5 Miếu Thăng Long, Kho mộc bản kinh Phật chùa VĩnhNghiêm (Bắc Giang) Hội Gióng ở Phù Đổng và đền Sóc, được côngnhận là Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại Cao nguyên Đá ĐồngVăn được công nhận là Công viên địa chất toàn cầu Tương lai, danhsách các di sản thế giới của Việt Nam sẽ còn tiếp tục được bổ sung.Các danh hiệu di sản thế giới bảo đảm là một thương hiệu tốt quảng bácho du lịch văn hóa Việt Nam phát triển Và trong thực tế những nămgần đây, Việt Nam đã trở thành điểm đến của nhiều du khách nướcngoài Có nhiều lý do để Việt Nam thu hút được nhiều du khách, trong
đó phải kể đến sự đóng góp lớn của những di sản thiên nhiên và vănhóa thế giới tại Việt Nam
Thứ ba: về loại hình du lịch văn hóa cảm xúc, là những sản phẩm khai
thác các đặc tính thẩm mỹ phi vật thể thông qua các giác quan như:màu sắc, âm thanh, ánh sáng, hương vị, tiếng động những thành tố tạothành cái cội nguồn văn hóa của vùng, dân tộc hay quốc gia Nhữngthành tố này sẽ tạo nên một vùng cảm xúc mạnh mẽ đối với du khách
và để lại cho họ những kí ức đẹp về chuyến đi Về loại hình du lịchvăn hóa này chúng ta có Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóaCồng Chiêng Tây Nguyên, Dân ca quan họ Bắc Giang và Bắc Ninh, Catrù, Hát Xoan, được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa
Trang 8kiệt tác truyền khẩu phi vật thể Ngoài ra, nghệ thuật múa Rối nướcViệt Nam đã có được thương hiệu du lịch của mình.
Thứ tư: Du lịch văn hóa sự kiện và lễ hội, là những sản phẩm du lịch
tận dụng sự kiện và lễ hội để xây dựng chương trình tour sao chokhách du lịch có thể trải nghiệm và hòa mình vào không khí của lễ hộimột cách hợp lý nhất Ở Việt Nam, lễ hội đã trở thành truyền thống và
từ lâu là một phần không thể thiếu trong đời sống nhân dân Theothống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thì nước ta hiện có hơn8.000 lễ hội trong năm Với gần 8.000 lễ hội lớn nhỏ, Việt Nam được
ví như đất nước của lễ hội Đây không chỉ là một kho tàng di sản vănhóa quý giá đối với mỗi người dân Việt Nam mà còn có sức hút rất lớnđối với tất cả những ai muốn tìm hiểu về văn hóa, phong tục, tập quáncủa người Việt Vấn đề là kèm theo các lễ hội là những nghi thức tínngưỡng, các đám rước nhiều màu sắc, nhiều phong tục khác nhau vàđặc biệt là các sinh hoạt văn hoá nghệ thuật xung quanh nó như múabóng rỗi, hát bội và các loại hình diễn xướng khác Bên cạnh đó lànhững vui chơi phong tục, trò chơi, ca cải lương, hò, đờn ca tài tử…Một giá trị to lớn khác và cũng là những sản phẩm du lịch hết sức thú
vị, đó là các sản phẩm của văn hoá ẩm thực mang sắc thái địa phương,hàng hóa, quà đặc sản của các vùng
Trang 9CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA Ở PHỐ
CỔ HÀ NỘI.
2.1 Giới thiệu du lịch văn hóa Phố Cổ Hà Nội
Hà Nội, mảnh đất ngàn năm văn vật, "thứ nhất kinh kỳ", luôn tồn tại sống trongtiềm thức của mỗi người con đất Việt Để rồi "dù có bốn phương trời, lòng vẫnnhớ về Hà Nội", Hà Nội như là một biểu tượng văn hóa bậc nhất của con người
và đất nước ta Và nằm trong lòng thủ đô là khu phố cổ 36 phố phường củathành Thăng Long cũ Nếu như Hà Nội là trái tim của Việt Nam, thì phố cổchính là trái tim của thủ đô yêu dấu
Khu phố cổ Hà Nội là tên gọi thông thường của một khu vực đô thị có từ lâu
đời của Hà Nội nằm ở ngoài hoàng thành Thăng Long Khu đô thị này tập trungdân cư hoạt động tiểu thủ công nghiệp và buôn bán giao thương, hình thành lênnhững phố nghề đặc trưng, mang những nét truyền thống riêng biệt của cư dânthành thị, kinh đô Ngày nay khu phố cổ Hà Nội là điểm đến hấp dẫn cho những
ai muốn tìm hiểu về Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội
Khu "Hà Nội 36 phố phường" là một cách gọi không chính xác của khu phố cổ,
vì 36 phố phường là một cách gọi ước lệ khu vực đô thị cổ, nằm bên trong vàbên ngoài cả khu phố cổ
Chính vì vậy mà ca dao có câu rằng:
Rủ nhau chơi khắp Long thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:
Hàng Bồ , hàng Bạc , hàng Gai ,
Hàng Buồm , hàng Thiếc , hàng Bài[5], hàng Khay ,
Mã Vĩ[6], hàng Điếu , hàng Giầy
Hàng Lờ[7], hàng Cót , hàng Mây , hàng Đàn[8],
Trang 10Phố Mới, Phúc Kiến[9], hàng Ngang ,
Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền
Khu phố cổ Hà nội là một di sản kiến trúc quí báu mang đậm bản sắc truyền thống văn hoá của dân tộc, là niềm tự hào và xứng đáng tượng trưng cho cốt cách linh hồn của Thủ đô ngàn năm văn hiến.
Nằm ngay cạnh hồ Hoàn Kiếm, khu phố cổ Hà Nội bao gồm 76 tuyến phố, đượcxác định bởi: phía bắc là phố Hàng Đậu; phía tây là phố Phùng Hưng; phía nam
là các phố Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ và Hàng Thùng; phía đông là đườngTrần Quang Khải và Trần Nhật Duật
Với tổng diện tích khoảng 100ha, khu phố cổ Hà Nội được hình thành từ thế kỷ
11 và có bề dày gần một nghìn năm lịch sử của một khu đô thị buôn bán sầmuất, tập trung dân cư hoạt động tiểu thủ công nghiệp và buôn bán giao thương,hình thành nên những phố nghề đặc trưng mang những nét truyền thống riêngbiệt của cư dân thành thị, kinh đô Thợ thủ công từ các làng nghề quanh kinhthành Thăng Long xưa tụ tập về đây, tập trung theo từng khu vực chuyên làmnghề của mình khiến các phố nghề ngày càng phát triển Phố nào cũng ồn ào,náo nhiệt cảnh mua bán, lao động như một làng nghề thu nhỏ Và sản phẩmđược buôn bán đã trở thành tên phố, với chữ "Hàng" đằng trước như Hàng Gạo,Hàng Đường, Hàng Muối Chính vì vậy người Việt quen gọi Hà Nội là Hà Nội
36 phố phường với ý nghĩa phường là nơi tập trung những người làm cùng mộtnghề thủ công, bán cùng mặt hàng theo kiểu “buôn có bạn, bán có phường”.Một đặc trưng nữa của khu phố cổ Hà Nội là kiến trúc nhà cổ với nhà dạng ống,mái ngói nghiêng, mặt tiền là cửa hàng buôn bán Những ngôi nhà này chủ yếuđược xây dựng vào thế kỉ 18-19 Người Hà Nội đã bố cục khéo léo hệ thống cácphòng, gác lửng, sân trong đáp ứng nhu cầu đa dạng của cuộc sống Nhờ thế màtuy không lớn nhưng mỗi ngôi nhà cổ Hà Nội vẫn có diện tích dành làm nơi bánhàng, làm hàng, nơi thờ cúng, tiếp khách, nơi ngủ, hóng mát…
Trang 11Đến với khu phố cổ Hà Nội, du khách dù khó tính đến đâu cũng vẫn bị hấp dẫnbởi những giá trị văn hoá chứa đựng trong khoảng 100 công trình kiến trúc lâuđời gồm đình, đền, chùa, hội quán Điển hình trong các di tích lịch sử và vănhoá này là ngôi đền Bạch Mã ở phố Hàng Buồm, được coi là một trong tứ trấncủa kinh thành Thăng Long.
Nhiều người nước ngoài lần đầu tiên tới phố cổ Hà Nội sẽ cảm thấy hơi lo lắngkhi đi giữa những dãy phố mang những cái tên na ná, nằm ngang dọc với cáccửa hàng bán những sản phẩm cùng chủng loại, những hàng ăn hai bên đườngtấp nập kẻ vào người ra, hay hòa vào dòng người và xe cộ đi lại như mắc cửi.Nhưng rồi cảm giác đó dần dần qua đi, thay vào đó là sự yêu mến da diết khi họnhận ra cuộc sống của con người Hà Nội đầy náo nhiệt, đầy sức sống, khôngngừng chuyển động nhưng cũng rất nên thơ Họ như bị cuốn vào một xứ sở bấttận của các món ăn, từ món ăn truyền thống như bún chả, phở, bún cá…trongcác quán nhỏ trên vỉa hè đến các gánh hàng rong bán trứng vịt lộn, bánh rán,bún ốc, bún đậu mắm tôm…
Cứ vào dịp cuối tuần, khi màn đêm buông xuống, tuyến phố đi bộ Hàng Đào Đồng Xuân kết nối với chợ đêm Đồng Xuân đã tạo thành một không gian đi bộphố cổ về đêm dài gần 3km Đây thực sự đã trở thành một điểm du lịch hấp dẫn,khai thác được nét văn hóa phố cổ đồng thời tạo điều kiện cho du khách khámphá Hà Nội về đêm Hòa vào dòng người đi bộ trong không gian phố cổ và muasắm hàng lưu niệm, hàng tiêu dùng tại những sạp hàng dựng trong tuyến phốmới cảm nhận được sức hấp dẫn của chợ đêm và phố cổ về đêm
Ngay cạnh những dãy hàng náo nhiệt người ta vẫn cảm nhận được một đêmphố cổ trầm mặc qua những căn nhà nhỏ lô xô nằm nép mình vào nhau gợi lêncảm giác xa xưa, hoài cổ Đặc biệt vào tối thứ 7 hàng tuần, các hoạt động văn
Trang 12nghệ dân gian như hát chèo, hát xẩm, ca trù, quan họ… do Hội Nhạc sỹ ViệtNam tái hiện càng làm tăng thêm nét cổ kính và riêng có của phố cổ Hà Nội.Khu phố cổ Hà Nội với những ngôi nhà ống nhỏ nhắn xinh xắn, những conđường tấp nập người đi, những đền chùa mái cong mềm mại, cả những khônggian, âm thanh hay hương vị độc đáo của các món ăn tất cả đã làm nên một vẻđẹp mà chỉ Hà Nội mới có.
Cùng với Hoàng thành, khu phố cổ Hà Nội là hiện hữu của Kinh thành Thăng Long xưa, mang hồn thiêng khí phách lịch sử dân tộc, là một di tích vô cùng quý giá của thủ đô Hà Nội và của cả nước.
Năm 1010, trung tâm Hà Nội cổ được nhà Vua Lý Thái Tổ đánh giá trong
"Chiếu dời đô" là "ở giữa khu vực trời và đất, có thế rồng cuộn hổ ngồi" Vớisẵn một vùng kinh tế – cư dân – nơi "hội họp của bốn phương", kinh kỳ ThăngLong chính thức được hình thành, với tổng thể "Tam trùng thành quách" là quyhoạch kiến thiết của đô thị cổ Hà Nội
Trung tâm thương mại của Thăng Long, lấy cửa Đông, sông Tô, sông Hồng làmgiới hạn, là vùng sầm uất nhất Kinh thành, ở đây tập trung nhiều phố phường,chợ bến, kết hợp với khu vực buôn bán, các phường thủ công ngày càng pháttriển Trải qua quá trình lịch sử, các thành tố đơn lẻ của phố cổ Hà Nội có bịthay đổi, các niên đại xây dựng không sớm, nhưng không thể phủ nhận giá trịlịch sử và quá trình hình thành, phát triển nghìn năm văn hiến Về tổng thể khuvực này vẫn bảo lưu được cơ cấu không gian đô thị của một khu phố cổ, vẫn giữđược chức năng xã hội với vai trò là một trung tâm thương mại, các tuyến phố,
hệ thống chợ, các công trình di tích kiến trúc, tôn giáo, tín ngưỡng, các nhà ở cógiá trị kiến trúc, phương thức tổ chức không gian sống, sinh hoạt, các lễ hộitruyền thống, nếp sống, thanh lịch của người Hà Nội hàng ngày diễn ra trongkhông gian khu phố cổ Hà Nội
Trên cơ sở khoa học và thực tiễn, khu phố cổ Hà Nội đã được xếp hạng là "Ditích lịch sử khu phố cổ Hà Nội"
Giá trị văn hoá của phố cổ Hà Nội
Nói đến lịch sử hình thành, quá trình phát triển "Thăng Long- Hà Nội" khôngthể không nói đến khu phố cổ Hà Nội Ngày nay, không chỉ nhân dân Việt Nam
mà cả bạn bè quốc tế cũng quan tâm đến khu phố cổ Hà Nội, coi đó là một disản văn hoá, một đặc trưng của thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến Khu phố cổ
Hà Nội – khu 36 phố phường là một nhân tố quan trọng, một phần để nhận diệnbản sắc văn hoá đô thị Hà Nội
Trang 13Khu 36 phố phường xưa cùng với Hoàng thành làm nên kinh kỳ Thăng Longnổi tiếng là "ngàn năm văn hiến" "Thứ nhất kinh kỳ thứ nhì phố Hiến", với cáchoạt động, đời sống sôi động, đây không chỉ là một trung tâm kinh tế mà còn làmột trung tâm văn hoá đa dạng đó là các giá trị văn hoá phi vật thể như lễ hộitruyền thống trong các di tích lịch sử, văn hoá, ứng xử nếp sống thanh lịch củangười Hà Nội xưa cùng với sự hiện diện của văn hoá nghề thủ công truyềnthống còn ghi dấu lại bằng các tên phố, các di tích tổ nghề, bằng các hoạt độngbuôn bán, sản xuất hiện hữu còn thể hiện trên phố
Giá trị kiến trúc của khu phố cổ Hà Nội
Tổng thể khu phố cổ Hà Nội là một quần thể kiến trúc với khối không gian nhỏ
bé, hình thức kiến trúc mặt đứng, tuyến phố, ngôi nhà đặc biệt là các lớp máingói "lô xô" với các hoạ tiết trang trí truyền thống của Việt Nam, tạo nên mộttổng thể cảnh quan kiến trúc đặc trưng của đô thị cổ tiêu biểu với kiến trúctruyền thống của người Việt đồng bằng Bắc Bộ, cái nôi của văn hoá dân tộcViệt Đây cũng là đặc trưng cho một đô thị cổ Châu Á
Giá trị di sản của tổng thể kiến trúc đó là ý tưởng khởi nguyên của việc xâydựng Kinh thành Thăng Long cùng với Hoàng thành, khu phố cổ Hà Nội giữ vaitrò quan trọng trong việc hình thành cơ cấu đô thị đặc thù của Kinh đô ThăngLong xưa và thủ đô Hà Nội ngày nay
Dù trải qua nhiều biến cố lịch sử, những thành tố đơn lẻ của phố cổ bị thay đổi,mang dấu ấn của kiến trúc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX nhưng về tổng thểvẫn bảo lưu được cơ cấu không gian đô thị của một khu phố cổ truyền thống.Đồng thời với sự phát triển qua quá trình lịch sử "khu 36 phố phường" Hà Nội
Trang 14là đặc trưng của một quần thể kiến trúc truyền thống Việt Nam, với hình tháikiến trúc mà phản ánh vào nó là các dạng kiến thức kiến trúc của các thời kỳlịch sử của thủ đô Hà Nội Đặc điểm dân gian thể hiện rất rõ trong cách tổ chứckhu phố trên cơ sở đơn vị, phường nghề với phương thức sản xuất, tổ chức xãhội và các thiết kế văn hoá, tín ngưỡng, cách thức xây dựng có nguồn gốc từnông thôn Phố xuất hiện sau phường do nhu cầu trao đổi thương nghiệp tăngdần Phố là một bộ phận của phường đồng thời phố là thành phần liên kết cácphường khác nhau trong mối quan hệ tương hỗ và tạo nên một mạng lưới đường