Lý do chọn đề tài Hội nghị quốc tế của 150 quốc gia về giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp trước thềm thế kỷ XXI được tổ chức tại Seoul, Hàn Quốc năm 1999 đã đưa ra hai khuyến nghị quan trọng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ VÂN HẠNH
HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO
THANH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ VÂN HẠNH
HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH
NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC
LUẬN ÁN TIẾN SỸ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI – 2008
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu khảo sát xã hội học và dữ liệu định tính sử dụng trong luận
án là trung thực và do tôi trực tiếp thu thập Các số liệu thống kê đƣợc trích dẫn nguồn tham khảo rõ ràng
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Vân Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được trân trọng cảm ơn thầy giáo hướng dẫn GS.TS Đặng Cảnh Khanh - người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong quá trình hoàn thành luận án
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô, đồng nghiệp trong và ngoài khoa Xã hội học, trường ĐHKHXH&NV cũng như gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả
Nguyễn Thị Vân Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng, biểu
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Lý do chọn đề tài 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu và những đóng góp mới của luận án 3
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 11
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 12
Giả thuyết nghiên cứu 13
Cách tiếp cận đề tài và phương pháp nghiên cứu 13
Kết cấu luận án 17
Khung lý thuyết 18
PHẦN NỘI DUNG CHÍNH 19
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 19
1.1 Cơ sở lý luận 19
1.1.1 Hệ khái niệm 19
1.1.1.1 Khái niệm thanh niên 19
1.1.1.2 Khái niệm đào tạo nghề 21
1.1.1.3 Khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá 24
1.1.2 Các hướng tiếp cận lý thuyết 25
1.1.2.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng 25
1.1.2.2 Lý thuyết xã hội hoá 30
1.1.2.3 Lý thuyết vốn con người 32
Trang 61.1.2.4 Tiếp cận xã hội học giáo dục 35
1.1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề 40
1.1.3.1 Vai trò của đào tạo nghề đối với sự phát triển nguồn nhân lực 40
1.1.3.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề 43
1.2 Cơ sở thực tiễn 46
1.2.1 Thực trạng lực lượng lao động và nhu cầu việc làm ở nước ta hiện nay 46
1.2.2 Kinh nghiệm một số quốc gia về đào tạo nghề 51
Chương 2: Thực trạng nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên ở nước ta hiện nay 64
2.1 Thực trạng nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên 64
2.1.1 Nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên qua một số cuộc điều tra xã hội học 64
2.1.2 Nhu cầu đào tạo nghề của học sinh THPT 71
2.1.2.1 Đánh giá của học sinh THPT về con đường vào đại học 71
2.1.2.2 Dự định sau khi tốt nghiệp của học sinh THPT 74
2.1.2.3 Lý do chọn học nghề của học sinh THPT 85
2.1.2.4 Ngành nghề muốn theo học của học sinh THPT 88
2.1.2.5 Người định hướng nghề nghiệp cho học sinh THPT 92
2.2 Một số vấn đề đặt ra qua thực trạng nhu cầu đào tạo nghề của thanh niên 99
Chương 3: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo nghề cho thanh niên ở nước ta hiện nay 103
3.1 Thực trạng hoạt động đào tạo nghề cho thanh niên ở nước ta hiện nay 103
3.1.1 Quy mô của hệ thống đào tạo nghề nước ta hiện nay 103
3.1.2 Cơ sở vật chất của hệ thống đào tạo nghề 108
3.1.3 Đội ngũ giáo viên đào tạo nghề 114
3.1.4 Phương pháp đào tạo nghề 127
3.1.5 Nội dung đào tạo nghề 136
3.1.6 Chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề .140
3.1.7 Hệ thống văn bằng chứng chỉ của hệ thống đào tạo nghề 149
Trang 73.1.8 Hoạt động quản lý nhà nước đối với đào tạo nghề .156
3.2 Một số dự báo về sự phát triển của hoạt động đào tạo nghề cho thanh niên ở nước ta trong giai đoạn hiện nay 164
3.3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo nghề cho thanh niên 169
PHẦN KẾT LUẬN 179
Kết luận 179
Khuyến nghị 181
Danh mục các công trình khoa học đã công bố .186
Tài liệu tham khảo 187 Phụ lục
Danh sách phỏng vấn sâu
Biên bản phỏng vấn sâu
Bảng hỏi
Danh sách hội đồng chấm luận án cấp nhà nước
Quyết nghị của hội đồng chấm luận án cấp nhà nước
Nhận xét của các phản biện
Trang 8TTDN : Trung tâm dạy nghề
TTDNCL : Trung tâm dạy nghề công lập TTDNNCL : Trung tâm dạy nghề ngoài công lập
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Danh mục bảng
1.1 Bảng 1: Cơ cấu mẫu
1.2 Bảng 2.1: Các đề nghị của thanh niên với nhà nước theo thứ tự ưu tiên 1.3 Bảng 2.2: Dự định sau khi tốt nghiệp của học sinh THPT
1.4 Bảng 2.3: Tương quan giữa giới tính và dự định sau khi tốt nghiệp của học sinh THPT
1.5 Bảng 2.4: Tương quan giữa địa bàn cư trú và dự định sau khi tốt nghiệp của học sinh THPT
1.6 Bảng 2.5: Tương quan giữa điều kiện kinh tế gia đình và dự định sau khi tốt nghiệp của học sinh THPT
1.7 Bảng 2.6: Dự định học nghề của học sinh THPT nếu kết quả thi ĐH, CĐ
không như ý muốn
1.11 Bảng 2.7: Lý do lựa chọn học nghề của học sinh THPT
1.12 Bảng 2.8: Ngành nghề muốn theo học của học sinh THPT
1.13 Bảng 2.9: Người có ảnh hưởng nhiều nhất tới định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT
1.14 Bảng 3.1: Mạng lưới trường nghề theo loại hình
1.15 Bảng 3.2: Mạng lưới trường nghề theo vùng miền
1.16 Bảng 3.3: Trung tâm dạy nghề phân theo vùng miền
1.17 Bảng 3.4: Quy mô tuyển sinh các trường nghề 1998 – 2004
1.18 Bảng 3.5: Nghiệp vụ sư phạm của giáo viên dạy nghề
1.19 Bảng 3.6: Trình độ tay nghề của giáo viên dạy thực hành tại các trường nghề 1.20 Bảng 3.7: Số lượng và tuổi đời giảng viên tại 3 trường CĐSPKT
1.21 Bảng 3.8: Trình độ chuyên môn kỹ thuật và trình độ tay nghề của giảng viên tại 3 trường CĐSPKT
1.22 Bảng 3.9: Đánh giá điểm thi lý thuyết của học sinh trường nghề
1.23 Bảng 3.10: Đánh giá điểm thi thực hành của học sinh trường nghề
1.24 Bảng 3.11: Số học sinh học nghề lưu ban, bỏ học
Trang 101.25 Bảng 3.12: Kết quả thi tốt nghiệp của học sinh học nghề
1.26 Bảng 3.13: Cán bộ quản lý tại các trường nghề
1.27 Bảng 3.14: Cán bộ quản lý tại các trung tâm dạy nghề
2 Danh mục biểu
2.1 Biểu 1.1: Cơ cấu hệ thống đào tạo nghề Australia
2.2 Biểu 2.1: Thanh thiếu niên học nghề phân theo giới tính, nhóm tuổi và thành thị – nông thôn
2.3 Biểu 2.2: Đánh giá của học sinh THPT về nhận định “Đại học là con đường duy nhất để thành công”
2.4 Biểu 3.1: Mức đầu tư của nhà nước cho các dự án đào tạo nghề
2.5 Biểu 3.2: Trình độ học vấn của giáo viên dạy nghề
2.6 Biểu 3.3: Tỷ lệ giáo viên dạy nghề có trình độ tin học
2.7 Biểu 3.4: Tỷ lệ giáo viên dạy nghề có trình độ ngoại ngữ
2.8 Biểu 3.5: Tỷ lệ giáo viên dạy nghề đạt chuẩn
2.11.Biểu 3.6: Khả năng lưu giữ thông tin qua các phương pháp học tập
3 Danh mục hộp
3.1 Hộp 3.1: So sánh hai quan điểm giáo dục
3.2 Hộp 3.2: Kinh nghiệm quốc tế về hệ thống đào tạo nghề
3.3 Hộp 3.3: Kinh nghiệm quốc tế về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đào tạo
nghề
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hội nghị quốc tế của 150 quốc gia về giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp trước thềm thế kỷ XXI được tổ chức tại Seoul, Hàn Quốc năm
1999 đã đưa ra hai khuyến nghị quan trọng:
(1) Uy tín và địa vị của ĐTN phải được tăng cường trong con mắt của cộng đồng và của các phương tiện truyền thông đại chúng;
(2) Học suốt đời là cuộc hành trình với nhiều hướng đi, trong đó giáo dục nghề nghiệp là hướng đi chủ yếu [103, tr 59]
Những khuyến nghị này đã cho thấy sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế đối với tầm quan trọng của ĐTN Đối với một quốc gia đang trong tiến trình CNH-HĐH như nước ta hiện nay, ĐTN lại càng
có vị trí quan trọng đặc biệt Tuy nhiên, trong một thời gian dài chúng
ta chưa chú ý đúng mức tới việc đào tạo đội ngũ công nhân kĩ thuật lành nghề Điều đó đã khiến cho các cơ sở ĐTN không có điều kiện phát triển, cơ sở vật chất nghèo nàn, trang thiết bị học tập thiếu thốn Chính sách đào tạo "nhiều thầy ít thợ" đã tạo ra một tỷ lệ bất hợp lí giữa số cán bộ được đào tạo đại học, cao đẳng với số kĩ thuật viên, công nhân lành nghề được đào tạo THCN và số công nhân qua trường nghề Nghị quyết Trung ương lần thứ hai khoá VIII (tháng 12 - 1996)
đã chỉ ra thiếu sót nói trên và xác định phải chú trọng phát triển giáo dục nghề nghiệp
Đây là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, góp phần khẳng định vị trí quan trọng của hoạt động ĐTN cho thanh niên,
Trang 12nâng cao chất lượng công tác phát triển nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, hoạt động ĐTN cho thanh niên ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại đáng quan tâm: đào tạo chưa gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
và nhu cầu thực tế của thị trường lao động, dẫn đến tình trạng mất cân đối trong cơ cấu ngành nghề, đào tạo không có địa chỉ rõ ràng, người được đào tạo không kiếm được việc làm khi tốt nghiệp; nội dung và phương thức đào tạo còn chưa thống nhất, đồng bộ; công tác quản lý còn lỏng lẻo, thiếu những văn bản, những quy định cần thiết cho hoạt động quản lý, chất lượng đào tạo chưa cao Tất cả những điều đó đã tạo nên một bức tranh hỗn độn về thực trạng những hoạt động ĐTN cho thanh niên hiện nay Phát biểu tại Hội nghị Đào tạo nghề, việc làm và xuất khẩu lao động toàn quốc năm 2007 (10-11/5/2007), Thủ tướng Chính phủ nhận xét:
Nhận thức về công tác dạy nghề, giải quyết việc làm ở các ngành, các cấp, các địa phương và trong xã hội còn bất cập và chưa được quan tâm đúng mức, đầu tư còn hạn chế, tuyên truyền về công tác dạy nghề, học nghề còn yếu Hệ thống dạy nghề còn mất cân đối, nhiều nơi phát triển chậm, nhất là dạy nghề dài hạn; cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa sát với nhu cầu thị trường lao động, thiếu lao động
kỹ thuật cao, chất lượng dạy nghề nhìn chung còn thấp chưa đáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng cao của sự nghiệp CNH-HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế [99]
Đào tạo nghề là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc xây dựng một nguồn nhân lực có kỹ năng, tay nghề cao - đòi hỏi cơ bản của quá trình tiến hành CNH - HĐH Các nhà nghiên cứu giáo dục đã chỉ ra
Trang 13rằng ứng với mỗi giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội, các quốc gia trên thế giới cần có mục tiêu ưu tiên cho phát triển giáo dục và đào tạo Đối với những nước đang phát triển như nước ta hiện nay, thiết chế cần được ưu tiên hàng đầu là ĐTN [103] Trong khi đó, hệ thống ĐTN của chúng ta hiện nay lại chưa phù hợp, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của một nền kinh tế tri thức, kinh tế của thời đại hậu công nghiệp Để có thể xây dựng được một nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường, một hệ thống ĐTN phù hợp và hiệu quả là một yêu cầu tất yếu Vấn đề đáng nói ở đây là mặc
dù đã nhận thức được tầm quan trọng của ĐTN, nhưng cho đến nay, chúng ta vẫn còn nhiều lúng túng, hạn chế trong việc tìm kiếm và thực hiện những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả ĐTN, thiết thực đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động
Thực tế này đã đặt ra những vấn đề cấp bách cần nghiên cứu nhằm tìm kiếm những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo nghề cho thanh niên trong thời gian tới, vì mục tiêu phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu và những đóng góp mới của Luận án
Đào tạo nghề là một lĩnh vực quan trọng của giáo dục - đào tạo, góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực quốc gia phục vụ CNH - HĐH Tuy nhiên, lĩnh vực ĐTN trong thời gian gần đây còn nhiều bất cập đòi hỏi phải nghiên cứu khắc phục
Đã có nhiều công trình khoa học đề cập tới vấn đề này dưới
những góc độ, quy mô khác nhau như luận án "Những giải pháp phát triển ĐTN góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp CNH- HĐH" của Phan Chính Thức, luận án "Đổi mới vịêc đào tạo, bồi
Trang 14dưỡng và sử dụng công nhân kỹ thuật, cán bộ có trình độ trung học chuyên nghiệp để nâng cao năng suất lao động ở Việt Nam" của Lê Văn Nhã; đề tài cấp nhà nước "Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010" của Tổng cục Dạy nghề, đề tài "Nghiên cứu thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp của thanh niên Việt Nam hiện nay" của Viện Khoa học Lao động & Xã hội; sách
"Giáo dục nghề nghiệp những vấn đề và giải pháp" của Nguyễn Viết
Sự, "Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực" của
Trần Khánh Đức mỗi công trình có những cách nhìn, quan điểm khác nhau về ĐTN
Về những quan điểm mang tính định hướng đối với hoạt động
ĐTN, chúng ta có những ấn phẩm khoa học của các chuyên gia, các nhà quản lý trong lĩnh vực ĐTN cũng như của những nhà khoa học có quan tâm nghiên cứu lĩnh vực này Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH Nguyễn
Thị Hằng trong bài viết "Phát huy trí tuệ và tay nghề của nguồn lực con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước"
đăng trên đặc san Đào tạo nghề của Tổng cục Dạy nghề năm 2002 đã viết "Chưa khi nào đất nước cần nhiều lao động có trí tuệ và tay nghề, cần nhiều nhân tài như hiện nay Bởi vậy, ngay từ bây giờ, cần phải tập trung vào đào tạo, tăng nhanh bộ phận lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, nhất là những chuyên gia kỹ thuật và đội ngũ công nhân bậc cao, có thể lực và phẩm chất tốt để đi ngay vào kinh tế tri thức; đồng thời phát triển và nhanh chóng phổ cập nghề cho số đông lao động phổ thông, nhất là ở nông thôn và cho thanh niên nhằm chuyển đổi cơ cấu sản xuất, phát triển ngành nghề, tăng cường cơ hội
và khả năng lựa chọn việc làm, tự tạo việc làm đảm bảo cuộc sống." Cũng trong đặc san này, bài viết của GS.TS Vũ Đình Cự - phó chủ
Trang 15tịch Quốc hội - "Tiếp tục đổi mới tư duy trong đào tạo nghề" cũng đưa
ra quan điểm "ở nước ta, trong những năm đầu thế kỷ XXI, chiến lược ĐTN phải được đặt lên hàng đầu Thời đại đặt ra cho sự nghiệp ĐTN
ở nước ta nhiều vấn đề mới, do đó cần phải có thêm nhiều đổi mới trong tư duy và tổ chức thực hiện cho nhiệm vụ cao cả này" GS.VS Phạm Minh Hạc - một nhà khoa học hàng đầu trong lĩnh vực khoa học
giáo dục - qua một số các ấn phẩm của mình như "Về phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH - HĐH"; "Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI"; "Đào tạo nghề góp phần phát triển nguồn nhân lực đất nước trong thế kỷ XXI"; "Về giáo dục" lại khẳng định
"Để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội, vai trò cực kỳ to lớn, có thể nói là quyết định, thuộc về nguồn nhân lực, cụ thể là đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nguồn nhân lực Vì vậy, trong thời gian tới, cùng với các chiến lược khác, chiến lược dạy và truyền nghề phải góp phần tích cực tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ và phát triển nguồn nhân lực để
có bước bứt phá của toàn bộ chiến lược 2001 - 2010 tiến mạnh vào CNH - HĐH, phát triển đất nước nhanh và bền vững" Tác giả Phan
Chính Thức trong luận án tiến sỹ của mình với tiêu đề "Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho
sự nghiệp CNH-HĐH" cũng đã nhấn mạnh "Phải khẳng định vai trò
rất quan trọng của ĐTN trong việc phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời phải thay đổi cách nhìn và quan niệm về ĐTN Trong chiến lược phát triển giáo dục đào tạo, phải đặt ĐTN vào vị trí ưu tiên hàng đầu, đặc biệt trong bối cảnh đất nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH-HĐH và hội nhập quốc tế" Qua các phân tích của mình, các nhà quản lý, nghiên cứu đều thể hiện một sự thống nhất trong quan điểm coi ĐTN là thiết chế đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn đất nước
Trang 16thực hiện CNH-HĐH xuất phát từ nhiệm vụ cung cấp cho đất nước một đội ngũ CNKT lành nghề
Nhiều công trình đã chỉ ra cái nhìn tổng quan về tình hình đào
tạo và phát triển nguồn lao động kỹ thuật cao ở Việt Nam, phải kể đến
những công trình như "Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực" của PGS.TS Trần Khánh Đức; "Hệ thống giáo dục hiện đại trong những năm đầu thế kỷ XXI", GS TSKH Vũ Ngọc Hải
và PGS TS Trần Khánh Đức đồng chủ biên; "Giáo dục nghề nghiệp những vấn đề và giải pháp" của PGS.TS Nguyễn Viết Sự; hay đề tài
khoa học độc lập cấp nhà nước năm 2004 "Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010" do PGS.TS Đỗ Minh Cương
- Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề - làm chủ nhiệm Các công trình này đều thống nhất nhận định rằng phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn lao động kỹ thuật nói riêng là vấn đề sống còn của một nền kinh tế Chính vì thế, chúng ta hiểu rằng Việt Nam đang phải đối mặt với một thách thức rất lớn trong quá trình tiến hành CNH - HĐH vì nguồn nhân lực của chúng ta đang hết sức hạn chế về mặt chất lượng, chúng ta đang có một khoảng cách khá xa về mặt tri thức và công nghệ so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới
Cụ thể là, trong lĩnh vực ĐTN, chúng ta còn phải đối mặt với nhiều bất cập như trang thiết bị đào tạo còn thiếu và lạc hậu, đội ngũ giáo viên vừa thiếu vừa yếu, nội dung chương trình còn chậm đổi mới, phương pháp đào tạo còn theo hướng thụ động Những điều này đã ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng đội ngũ lao động kỹ thuật của nước
ta với quy mô nhỏ, cơ cấu trình độ và ngành nghề đào tạo còn nhiều bất hợp lý, đặc biệt là chất lượng đào tạo còn rất hạn chế, ít có khả
Trang 17năng thích ứng và cạnh tranh trên thị trường lao động Đây cũng là điều mà tác giả Lê Văn Nhã trong luận án tiến sỹ chuyên ngành kinh
tế học với tiêu đề "Đổi mới vịêc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng công nhân kỹ thuật, cán bộ có trình độ trung học chuyên nghiệp để nâng cao năng suất lao động ở Việt Nam" đã đưa ra sau khi phân tích thực
trạng đội ngũ công nhân lao động kỹ thuật của chúng ta Từ đó, tác giả này đi tìm những cơ sở lý luận chứng minh cho nhu cầu tất yếu khách quan của việc đổi mới hoạt động đào tạo và bồi dưỡng cũng như sử dụng CNKT và cán bộ THCN và chỉ ra những chỉ tiêu cụ thể cho việc đánh giá hiệu quả của việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng này Tác giả
Nguyễn Đức Thuần trong cuốn "Nhân lực trẻ đào tạo và triển vọng"
cũng thừa nhận khâu yếu kém nhất trong hệ thống giáo dục nước ta hiện nay chính là dạy nghề và đã chỉ ra hai nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự yếu kém này Đó là khâu tổ chức quản lý công tác dạy nghề không ổn định, quản lý buông lỏng, phân tán và chồng chéo và nhận thức chưa đúng đắn của xã hội về vị trí của ĐTN Còn tác giả Lê Khắc
Đoá trong luận án tiến sỹ của mình với nhan đề "Hoàn thiện hệ thống dạy nghề Việt Nam" thì lại cho rằng lý do của thực trạng đáng quan
ngại của hệ thống dạy nghề là do chúng ta có một chính sách đào tạo thiếu thống nhất, một phương pháp kế hoạch hoá hình thức hành chính quan liêu, không gắn đào tạo với sử dụng Thực trạng này đòi hỏi cần phải có sự chuyển hướng mạnh mẽ trong ĐTN theo hướng dạy nghề phải phục vụ cho sự phân công lao động xã hội và phải lấy hiệu quả kinh tế, hiệu quả đào tạo làm căn cứ hoàn thiện mục tiêu đào tạo, cơ cấu trường lớp và cơ chế quản lý dạy nghề
Trang 18Chung nhận định với các tác giả trên về thực trạng hoạt động ĐTN của nước ta, tác giả Phan Chính Thức, trong luận án tiến sỹ chuyên ngành giáo dục học của mình, đã nhận xét "Cơ cấu hệ thống ĐTN hiện nay không còn thích hợp, để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ trong sản xuất, cần đổi mới cơ cấu hệ thống, hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành nhiều trình độ" Trên cơ sở đó, tác giả này đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm phát triển hệ thống ĐTN nước ta: (1) Xây dựng chính sách phát triển ĐTN với các tiêu chí là sự rõ ràng, sự nhất quán, sự bao quát và sự ủng hộ; (2) Đổi mới cơ cấu hệ thống ĐTN với hai vấn đề trọng tâm là hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành nhiều cấp trình độ và thành lập uỷ ban phát triển nhân lực quốc gia; (3) Phát triển chương trình ĐTN; (4) Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề; (5) Hình thành
và phát triển cơ quan kiểm định chất lượng và (6) Xã hội hoá, tăng cường nguồn lực cho ĐTN
Vấn đề hướng nghiệp cho thanh niên cũng được nhiều tác giả
quan tâm trong bối cảnh học sinh phổ thông "đổ xô" vào thi đại học
mà quên đi một con đường không kém phần vững chắc và rộng mở là
ĐTN Tác giả Nguyễn Đức Trí trong bài viết "Một số vấn đề về hướng nghiệp" đăng trên tạp chí Khoa học ĐTN số 2/2005 đã chỉ ra những
cơ sở tâm lý học, giáo dục học, kinh tế xã hội và điều khiển học của quá trình hướng nghiệp và nhấn mạnh rằng công tác hướng nghiệp cho thanh thiếu niên của chúng ta hiện nay còn chậm đổi mới tư duy,
có nhiều bất cập, lúng túng về lý luận, mơ hồ về nội dung và phương thức, nghèo nàn về kết quả tác động và do đó ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình phát triển nguồn nhân lực cho đất nước Đi vào nghiên
Trang 19cứu chuyên sâu hơn, các tác giả của đề tài khoa học độc lập cấp nhà
nước năm 2004 "Nghiên cứu thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp của thanh niên Việt Nam hiện nay" do TS Nguyễn Hữu Dũng
chủ biên đã phân tích mối quan hệ giữa định hướng nghề nghiệp cho thanh niên và thị trường lao động, đánh giá thực trạng hoạt động hướng nghiệp cho thanh niên nước ta hiện nay, qua đó đề xuất các giải pháp phát triển thị trường lao động, định hướng nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên giai đoạn 2006 - 2010 Đề tài đã chỉ ra rằng yêu cầu của thị trường lao động đối với định hướng nghề nghiệp cho thanh niên liên quan đến bài toán chiến lược phát triển lao động thanh niên sao cho phù hợp với những đòi hỏi của thời kỳ CNH - HĐH và hội nhập quốc tế Theo đó, định hướng nghề nghiệp cho thanh niên phải hướng vào đáp ứng yêu cầu của sản xuất, của thị trường lao động trong điều kiện áp dụng kỹ thuật và công nghệ mới với những đòi hỏi mới
Cuốn "Cẩm nang hướng nghiệp - dạy nghề thành phố Hồ Chí Minh" dành phần II gồm 35 trang để viết về "Những điều cần biết về
chọn và học nghề" trong đó đã chỉ ra vị trí của công tác hướng nghiệp, những tiêu chí cần thiết để xác định nghề nghiệp phù hợp như năng lực, sở thích, điều kiện kinh tế, xu hướng thị trường và còn cung cấp một số ngành nghề đang có nhu cầu tuyển dụng cao trong xã hội, cũng như chỉ ra những địa chỉ đào tạo đáng tin cậy đối với những ngành nghề đó
Những khía cạnh cụ thể trong quá trình ĐTN cũng được nhiều tác giả đề cập tới trong nhiều bài báo, công trình khoa học
Trang 20Chẳng hạn như về vấn đề xã hội hoá hoạt động ĐTN, có "Vấn
đề xã hội hoá trong đào tạo nghề" của Nguyễn Đức Trí và "Một số vấn đề về thực trạng công tác xã hội hoá dạy nghề hiện nay" của Nguyễn Tiến Dũng, hay "Liên kết trong đào tạo nghề" của Anh Văn
và Tiên Tri Điểm kết luận có thể rút ra từ những công trình này là chủ trương xã hội hoá giáo dục nói chung và xã hội hoá ĐTN nói riêng - một chủ trương hết sức đúng đắn của Đảng và Nhà nước - đã và đang bước đầu phát huy hiệu quả nhưng vẫn cần được triển khai mạnh mẽ
và đồng bộ hơn nữa trong thời gian tới
Về phương pháp và nội dung chương trình đào tạo, có "Ứng dụng phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm trong đào tạo nghề" của Hoàng Minh Phương, "Đổi mới phương pháp đào tạo trong các trường chuyên nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ đào tạo tích cực" của tác giả Trần Khánh Đức, hay Nguyễn Xuân Mai với
"Đổi mới phương pháp dạy học trong các trường nghề" Các tác giả
này cho rằng để đào tạo con người phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu và thách thức của thời đại mới, cần đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy ở mọi bậc học, trong đó có ĐTN và việc đổi mới ấy là một quá trình đòi hỏi phải kiên trì, không nóng vội, cần tiến hành thử nghiệm, đánh giá, rút kinh nghiệm trước khi triển khai đại trà Còn tác giả Nguyễn Viết Sự của luận án tiến sỹ chuyên ngành sư phạm tâm lý
"Cơ sở lý luận và thực tiễn xác định nội dung đào tạo công nhân kỹ thuật ở Việt Nam" đã xác định nội dung ĐTN là hệ thống các kiến
thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp và các kiến thức kỹ năng kỹ thuật
cơ sở của nghề cũng như các kiến thức kỹ năng chung về chính trị, xã hội, đạo đức, thẩm mỹ và thể chất mà học sinh được học nhằm đạt mục tiêu đào tạo đã nêu ra Thông qua khảo sát hiệu quả nội dung đào
Trang 21tạo một số trường nghề ở Hà Nội, tác giả này đã đề ra các bước và phương pháp tiến hành việc xây dựng nội dung đào tạo đảm bảo tính khả thi và khoa học
Về đội ngũ giáo viên ĐTN, có Trần Hùng Lượng với cuốn "Đào
tạo, bồi dưỡng năng lực sư phạm kỹ thuật cho đội ngũ giáo viên dạy
nghề" và bài viết "Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy
nghề ở một số nước", Cao Văn Sâm với "Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề đáp ứng nhu cầu đào tạo theo ba cấp trình độ" hay "Đào tạo giáo viên kỹ thuật với quá trình hoàn thiện công tác hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh phổ thông trong bậc trung học mới" của Trần
Khánh Đức Điểm nhấn của các công trình này là vai trò quan trọng của người giáo viên dạy nghề đối với chất lượng hoạt động ĐTN và thực trạng không sáng sủa về năng lực sư phạm kỹ thuật của đội ngũ giáo viên dạy nghề nước ta
Rất nhiều công trình khoa học với nhiều cách nhìn, nhiều chiều cạnh đánh giá đối với lĩnh vực ĐTN đã phần nào khai thác và phân tích một số khía cạnh khác nhau của vấn đề này, trên cơ sở tham khảo các công trình đó, đề tài này là sự kế thừa và phát triển nhằm phân tích một cách có hệ thống dưới góc độ xã hội học về hoạt động ĐTN cho thanh niên giai đoạn hiện nay Hoạt động ĐTN có thể được nghiên cứu dưới rất nhiều góc độ "vấn đề không phải chỉ là nghiên cứu cái gì
mà là nghiên cứu như thế nào, vận dụng lý thuyết nào, sử dụng phương pháp tư duy nào, áp dụng phương pháp và kỹ thuật nào để thu thập, xử lý, phân tích thông tin nhằm làm rõ mối quan hệ giữa giáo dục với xã hội và con người" [50, tr 77] Chính ở điểm này đề tài đã thể hiện những đóng góp mới qua những nỗ lực nhìn nhận hoạt động
Trang 22ĐTN dưới góc độ xã hội học, vận dụng các lý thuyết xã hội học vào việc giải thích những tồn tại trong hệ thống giáo dục, sử dụng các phương pháp điều tra xã hội học để thu thập và xử lý thông tin Đề tài có thể được xem như một trong những công trình nghiên cứu xã hội học đầu tiên chuyên sâu về lĩnh vực ĐTN, qua đó góp thêm một góc nhìn đối với hệ thống ĐTN Việt Nam
Có một điểm đáng chú ý ở đây là các công trình nghiên cứu quy
mô (sách, luận án tiến sỹ, đề tài khoa học) về ĐTN trong thời gian gần đây không xuất hiện nhiều Tra cứu cơ sở dữ liệu của Thư viện Quốc gia Việt Nam – nơi lưu giữ đầy đủ nhất các ấn phẩm xuất bản trong nước – với từ khoá "ĐTN" và "dạy nghề" chúng tôi thu được 61 ấn phẩm, trong đó chỉ có 24 tài liệu là được xuất bản từ năm 2000 trở lại đây, số còn lại đa phần được xuất bản vào những năm 80 của thế kỷ trước, một số ít được ra đời những năm 90 và một số là những năm 70 (tra cứu ngày 11/4/2007) Như vậy, có thể thấy sự quan tâm của xã hội nói chung và những người làm khoa học nói riêng đối với lĩnh vực ĐTN đã có những biến đổi nhất định và hiện nay chúng ta đang khá thiếu các tài liệu khoa học về lĩnh vực này
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Xã hội học giáo dục là mảng nghiên cứu quan trọng đã có lịch
sử nghiên cứu lâu đời với những nghiên cứu của các nhà xã hội học nổi tiếng như Emile Durkheim, Talcott Parsons, Pierre Bourdier Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, với sự tồn tại và nổi cộm của hàng loạt các vấn đề giáo dục, xã hội học giáo dục đã và đang trở
thành mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Đề tài “Hoạt động đào
Trang 23tạo nghề cho thanh niên trong điều kiện CNH- HĐH đất nước” là
việc vận dụng và kiểm chứng các lý thuyết xã hội học nói chung cũng như các lý thuyết xã hội học trong lĩnh vực giáo dục nói riêng để giải quyết vấn đề xã hội nảy sinh trong hệ thống giáo dục Việt Nam Bên cạnh đó, đề tài cũng góp phần nhỏ vào việc phát triển bộ môn Xã hội học giáo dục vốn đang hình thành và phát triển tại các cơ sở đào tạo đại học
Đề tài cũng hướng đến việc làm rõ khái niệm đào tạo nghề và
góp phần hình thành quan niệm xã hội đúng đắn về vị trí, vai trò của loại hình đào tạo này trong hệ thống giáo dục
Những nghiên cứu và phân tích thực tiễn của đề tài sẽ cung cấp
dữ liệu phác thảo nhu cầu ĐTN của thanh niên hiện nay cũng như một bức tranh toàn cảnh về hoạt động ĐTN cho thanh niên Việt Nam trong những năm gần đây, cung cấp thông tin cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách để sớm có những điều chỉnh cần thiết, cải thiện và nâng cao chất lượng hệ thống ĐTN Việt Nam
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu hoạt động ĐTN cho thanh niên, Luận án đi sâu tìm hiểu, đánh giá thực trạng hoạt động ĐTN cho thanh niên ở nước ta hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động này
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động ĐTN cho thanh niên;