Ngựa khơng cao sang, quyền quý như rồng; khơng gần gũi, gắn bĩ với người nơng dân như trâu lợn, chĩ, gà… nhưng nĩ khơng hề vắng bĩng trong dịng chảy văn hĩa Việt Nam suốt hàng ngàn năm l
Trang 1Trong 12 con giáp, ngựa đứng
hàng thứ 7 Ngựa khơng cao sang,
quyền quý như rồng; khơng gần
gũi, gắn bĩ với người nơng dân như trâu
lợn, chĩ, gà… nhưng nĩ khơng hề vắng
bĩng trong dịng chảy văn hĩa Việt Nam
suốt hàng ngàn năm lịch sử
Trước hết, con ngựa gắn với tên tuổi
người anh hùng làng Giĩng, một trong
“tứ bất tử” của thần điện nước ta Người
Việt Nam, ai khơng biết đến câu chuyện
về một đứa trẻ lên ba khơng nĩi khơng
cười nhưng tiếng nĩi đầu tiên cậu cất lên
lại là tiếng nĩi yêu nước “Cưỡi lưng ngựa
sắt bay phun lửa/ Nhổ bụi tre làng đuổi
giặc Ân”? Hình tượng Thánh Giĩng ra
trận cùng ngựa sắt, nĩn sát, giáp sắt…
rồi khi “khải hồn ca vang, đã sạch bĩng
thù” vút bay về trời quả là lớn lao, kỳ vĩ
Hình tượng ấy đã giúp danh sĩ Cao Bá
Quát thời Nguyễn cĩ đơi câu đối thật bất
hủ: “Đánh giặc lên ba hiềm đã muộn/
Lên chín tầng mây hận chưa cao”
Bên cạnh Thánh Giĩng là Hội trận làng Giĩng, một lễ hội cĩ quy mơ lớn diễn ra trong các ngày từ mùng 5 đến mùng 9 tháng giêng Rồi Hội phù Thánh Giĩng
ở đình Sen Hồ, làng Chí Nam (Gia Lâm
- Hà Nội); hội đền Sĩc ở núi Vệ Linh (Sĩc Sơn - Hà Nội) diễn ra trong 2 ngày 6 và
7 tháng giêng hàng năm với sự tham gia của 52 làng thuộc 9 tổng của huyện Kim Anh cũ Trong hội đền Sĩc, cĩ việc dân các làng vào đền Thượng làm lễ dâng hoa tre - những mảnh tre vĩt mỏng, đầu tuốt bơng nhuộm phẩm ngũ sắc
Cĩ người cho đĩ là roi ngựa của Thánh Giĩng nhưng cũng cĩ người coi đĩ là biểu tượng của linga, sinh thực khí đàn ơng, gợi tín ngưỡng phồn thực xưa
Chưa hết, ngựa cịn là linh hồn của đền Bạch Mã, một trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long Chuyện xưa kể rằng đền Bạch Mã được xây dựng từ thế kỷ
9 để thờ thần Long Đỗ (Rốn Rồng) - vị thần gốc của Hà Nội cổ Năm 1010, khi
Lý Thái Tổ dời đơ từ Hoa Lư ra Thăng Long, định đắp thành nhưng nhiều lần thành đắp lên lại bị sụp đổ Vua cho người cầu khấn ở đền thờ thần Long Đỗ thì thấy một con ngựa trắng từ đền đi
ra Vua lần theo vết chân ngựa, vẽ đồ án xây thành, thành mới đứng vững Thần được vua Lý Thái Tổ phong làm Thành hồng của kinh thành Thăng Long Trong kho tàng văn hĩa dân gian xưa, con ngựa để lại ấn tượng khá đậm nét, thậm chí “sâu sắc nước đời” “Bĩng câu qua cửa sổ” nĩi chuyện thời gian khơng đợi khơng chờ, vụt trơi, bỗng chốc đã qua một đoạn đời hoặc cuộc đời “Bắt ngựa đằng đuơi” là làm việc nguy hiểm, khơng đúng cách “Bị đất, ngựa gỗ” chỉ kẻ vơ dụng, bất tài Nếu “Chiêu binh mãi mã” nĩi chuyện chiêu mộ quân lính, mua thêm ngựa để chuẩn bị việc chiến đấu thì “Thiên binh, vạn mã” gợi hình ảnh một đội quân đơng đảo, oai hùng
“Chớ mĩ dái ngựa” là lời khuyên khơng
Con ngựa
TRONG DÒNG CHẢY VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ ĐAN
Xuân Giáp Ngọ 2014
84 Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 2nên đụng vào chỗ hiểm của kẻ mạnh
“Chuông vạn, ngựa nghìn” và “Lên xe
xuống ngựa” là hình ảnh những phú
ông giàu nứt đố đổ vách “Cưỡi ngựa
xem hoa” nói ai đó đại khái, qua loa,
không tìm hiểu kỹ sự việc, chỉ loáng
thoáng bên ngoài “Cưỡi ngựa đầu
thềm” là phải làm việc lớn trong hoàn
cảnh bó buộc, thiếu thốn “Da ngựa
bọc thây” nói chuyện chiến đấu nơi sa
trường khốc liệt, lúc hy sinh không được
chôn cất tử tế “Dã mã vô cương” mượn
hình ảnh ngựa hoang không dây buộc
nói về người phóng đãng, không ai kiềm
chế được “Đầu trâu, mặt ngựa” chỉ
phần tử bất hảo thường kết bạn theo
tiêu chí “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”
và hành động kiểu “Ngựa quen đường
cũ” “Dẫu hèn cũng ngựa nhà quan”
nói những ai sa sút vẫn là con nhà quý
phái Nếu “Đơn thương độc mã” nói
về hành động gian nan, đơn độc của ai
đó mà không có sự hỗ trợ của anh em,
bè bạn thì “Một mình một ngựa” nói
về thuận lợi của người không phải chạy
đua, tranh chấp, giành giật và “Đường
dài mới hay sức ngựa” là lời tổng kết
rằng lửa thử vàng, gian nan thử sức, qua
thách thức mới biết tài năng, sức lực mỗi
người “Lồng lên như ngựa vía” nói kẻ
không chịu ngồi yên một chỗ “Một con
ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” và “Ngựa chạy
có bầy, chim bay có bạn” thể hiện triết
lý sống mình vì mọi người, phải luôn biết
yêu thương, đoàn kết “Ngựa nào đóng
được hai yên” nói cái gì cũng có giới hạn
nhất định “Ngựa Hồ, chim Việt” chỉ sự
xa cách chia ly không hẹn ngày tái ngộ
“Ruột ngựa, phổi bò” nói người vô tâm,
tính tình bộp chộp, không giấu điều gì
nhưng cũng không giận lâu “Ngựa non
háu đá” chê những người trẻ kiêu căng,
ngạo mạn, không tự lượng sức mình
dẫn dến chuyện lúc nào cũng thích đối
đầu, thích “húc” “Tái ông mất ngựa”
nói chuyện phúc họa khôn lường luôn
diễn ra trong cuộc sống “Thay ngựa
giữa dòng” là hình ảnh các ông chủ thay
đổi tay sai, đầy tớ giữa chừng, giữa cuộc
“Voi giày ngựa xéo” gợi lại hình phạt tàn
khốc thời quân chủ xưa “Hàm chó, vó
ngựa, cựa gà, ngà voi” chỉ những chốn
hiểm nguy nên tránh “Người ta tuổi
Ngọ, tuổi Mùi…” gửi gắm quan niệm
duy tâm cho rằng những ai sinh ra trong năm Mùi, năm Ngọ thường có lá số tử
vi tốt, cuộc đời hanh thông; ngược lại,
“Giàu giờ Ngọ, khó giờ Mùi” nói chuyện giàu có không bao giờ vĩnh viễn, thậm chí sự phù hoa chỉ tồn tại trong chốc lát
Không chỉ ca dao, thành ngữ, tục ngữ… ngựa còn đường hoàng đi vào văn học viết Ngựa có mặt trong “Dụ chư tì tướng hịch văn” của Trần Hưng Đạo; trong “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi; trong nhiều tác phẩm thuộc dòng văn học yêu nước ở các thời đại Lý
- Trần -
Lê Ai
quên
đ ư ợ c hình ảnh các chiến
lững trên lưng ngựa cầm ngang ngọn giáo giữ non sông? Ai quên được vẻ hào hùng “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã/ Sơn hà thiên cổ điện kim âu” (Xã tắc hai phen chồn ngựa đá/ Non sông nghìn thuở vững âu vàng) trong thơ Trần Nhân Tông? Và khi các vương triều hoàn thành
sứ mệnh của mình, trước ánh hoàng hôn của lịch sử, chỉ đọng lại những tiếc nuối, băn khoăn, day dứt: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương” (thơ Bà huyện Thanh Quan)
Sẽ là thiếu sót lớn nếu nói về con ngựa trong nền văn học viết thời quân chủ mà lại bỏ qua hình ảnh ngựa trong “Truyện Kiều” Có thể nói, không một tác phẩm văn học nào ở ta có bước chân ngựa nhiều như “Truyện Kiều”: “Ngựa xe như nước, áo quần như nêm”
(câu 48);
“Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh” (72); “Tuyết
in sắc ngựa câu giòn” (139); “Khách
đà xuống ngựa tới nơi tự tình” (142);
“Khách đà lên ngựa người còn ghé theo” (168); “Rằng ta có ngựa truy phong” (1107); “Song song ngựa trước
85
Số 274 + 275 - 2014
Trang 3ngựa sau một đồn” (1118); “Người
lên ngựa, kẻ chia bào” (1519); “Vực
ngay lên ngựa tức thì” (1647); “Thanh
gươm, yên ngựa lên đường thẳng rong”
(2216); “Từ cơng ra ngựa thân nghênh
cửa ngồi” (2272); “Sắm sanh xe ngựa
vội vàng” (2951) Cĩ những câu thiên
tài Nguyễn Du khơng dùng từ “ngựa”
mà ta vẫn thấy con vật ấy hiển hiện trước
mắt: “Vĩ câu khấp khểnh, bánh xe gập
ghềnh”; “Sở Khanh đã rẽ dây cương
lối nào”; “Vĩ câu thẳng ruổi nước non
quê người”; “Roi câu vừa giĩng dặm
trường”… Và quả là “tất cả những đấng
nam nhi đi qua cuộc đời Kiều đều hơn
một lần ngồi trên lưng ngựa” Nếu Kim
Trọng cưỡi con tuấn mã “Tuyết in sắc
ngựa câu giịn” thì Sở Khanh cưỡi con
ngựa của lọc lừa, phản phúc; Thúc Sinh
cưỡi con ngựa của tiễn biệt, chia ly; Từ
Hải cưỡi con ngựa chiến thích lập cơng
danh Khơng cịn nghi ngờ gì nữa, con
ngựa của tiễn biệt, chia ly trong mối tình
chăn gối Kiều - Thúc đã làm nền cho
những câu thơ đẹp nhất của cả nghìn
năm văn học dân tộc: “Người lên ngựa,
kẻ chia bào/ Rừng phong thu đã nhuốm
màu quan san”…
Đây nữa: “Được lời như cởi tấc son/ Vĩ
câu thẳng ruổi nước non quê người/
Long lanh đáy nước in trời/ Thành xây
khĩi biếc non phơi bĩng vàng”…
Hẳn là nếu thiếu bĩng dáng chàng Thúc
Sinh và con ngựa cũng tâm trạng như
người kia, chưa chắc nhà đại thi hào của
chúng ta đã cĩ những dịng tuyệt bút
“Thì trao giải nhất chi nhường cho ai”
về cảnh thu, tình thu
Ngồi nghệ thuật ngơn từ, ở Việt Nam,
người ta cịn thấy bĩng dáng ngựa thấp
thống ở một số loại hình nghệ thuật
khác như điêu khắc ngựa trên chất liệu
đá trước thềm chùa Phật Tích, chùa Bút
Tháp; tượng ngựa tại các khu lăng mộ
thời Trần (Hưng Hà - Thái Bình), thời Lê
(Lam Kinh - Thanh Hĩa), thời Nguyễn
(cố đơ Huế); ngựa trong tranh dân gian
Đơng Hồ (Đám cưới chuột), trong âm
nhạc (Lý ngựa ơ)…
Thời hiện đại, hình tượng con ngựa
cũng khơng đến nỗi quá nghèo nàn
trong các tác phẩm văn học nghệ thuật
Suốt “Mười bốn trăng tê tái gơng cùm”
trong nhà lao Tưởng Giới Thạch, khơng
ít lần Hồ Chí Minh chơi chữ thật ý vị
“Đêm ngủ ở Long Tuyền”, Người viết:
Bạch thiên “song mã” bất đình đề/ Dạ vãn thường thường “ngũ vị kê” (“Đơi ngựa” ngày đi chẳng nghỉ chân/ Đêm
“gà năm vị” lại thường ăn) “Song mã”
vốn là cỗ xe chở người quyền quý được dùng để chỉ đơi chân cuốc bộ của người
tù, cịn “ngũ vị kê” cũng là một mĩn ăn nổi tiếng của Trung Hoa bỗng cĩ thêm ý nghĩa mới: đơi chân bị xiềng chéo giống chân gà
Vẫn Hồ Chí Minh mấy năm sau (1948) trên cương vị Chủ tịch nước, lãnh đạo tồn dân ta kháng chiến chống Thực dân Pháp đã cĩ thơ tặng Bùi Bằng Đồn, một Thượng thư triều Nguyễn đi theo cách mạng, giữ chức Trưởng ban Thanh
tra đặc biệt của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hịa, Trưởng ban Thường trực Quốc hội Việt Nam giai đoạn 1946-1955: “Tiệp báo tần lai lao dịch mã/
Tư cơng tức cảnh tặng tân thi” (Tin vui thắng trận dồn chân ngựa/ Nhớ cụ thơ xuân tặng một bài) Khi quân, dân ta lập nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, giải phĩng hồn tồn miền Bắc, Trung ương Đảng
và Chính phủ chuẩn bị về tiếp quản thủ
đơ Hà Nội, nhà thơ Tố Hữu đã mượn lời người dân Việt Bắc gửi lại với thời gian một bức thi hoạ thật đẹp: “Nhớ Người những sáng tinh sương/ Ung dung yên ngựa trên đường suối reo/ Nhớ chân Người bước lên đèo/ Người đi rừng núi trơng theo bĩng Người”…
Xuân Giáp Ngọ 2014
86 Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội