1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

DSpace at VNU: Đánh giá tác dụng an thần, giải lo của bài thuốc “Chè an thần” trên động vật thực nghiệm 1. Ly Huong. TN

5 215 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 427,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu Để đánh giá tác dụng an thần thực nghiệm của bài thuốc “Chè an thần”, sử dụng 4 mô hình sau: mô hình chữ thập nâng cao EPM – Elevated Plus Maze, mô hình leo dây Gr

Trang 1

Nhận xét: Dân gian thường sử dụng 10 g dược

liệu/người/ngày suy ra 0,2 g dược liệu/kg/ngày

Qui đổi ra liều tương ứng trên chuột nhắt cao gấp

12 lần liều trên người là 2,4 g/k/24 giờ Như vậy

LD50 cao gấp khoảng 56 lần liều dự kiến có tác

dụng, cho thấy dược liệu có tính an toàn cao

Kết quả nghiên cứu độc tính bán trường

diễn của CL 1

Độc tính bán trường diễn cao lỏng lá cây thuốc

thượng (CL1) với liều tương đương 2 g và 4 g

dược liệu/kg thể trọng/ngày ở chuột cống trắng đã

được nghiên cứu trên các thông số: trọng lượng

cơ thể, tần số tim, biên độ sóng R; số lượng hồng

cầu, hàm lượng huyết sắc tố; số lượng bạch cầu,

tiểu cầu; hoạt độ AST, ALT; albumin huyết tương;

cholesterol, bilirubin toàn phần; creatinin và mô

bệnh học gan, lách, thận Kết quả cho thấy, sau 60

ngày dùng thuốc, các thông số trên không thay đổi

có ý nghĩa thống kê so với trước khi dùng thuốc,

hoặc so với lô chứng không dùng thuốc

Kết luận

Từ các kết quả trên, chúng tôi thấy cao lỏng lá

cây thuốc thượng (CL1) có tính an toàn cao:

+ Giá trị LD50 = 135,631 (118,974 ÷ 154,619) g/

kg ở P = 0,05, cao gấp khoảng 56 lần so với liều

dự kiến có tác dụng điều trị

+ Nghiên cứu độc tính bán trường diễn, cho chuột uống CL1 hàng ngày trong 60 ngày Không

có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với lô chứng ở tất cả các chỉ số: trọng lượng cơ thể, điện tim, các chỉ số sinh hóa, huyết học Hình ảnh mô bệnh học của gan, lách, thận bình thường Cao lỏng CL1 không có độc tính trên các hệ cơ quan quan trọng của động vật

Tài liệu tham khảo

1 Bộ Y tế (1996), Quyết định số 371/BYT-QĐ về việc

ban hành “Quy chế đánh giá tính an toàn và hiệu lực của thuốc cổ truyền”.

2 Bộ Y tế (2007), Quyết định số 01/2007/ QĐ-BYT

về việc ban hành “Quy định về thử thuốc trên lâm sàng”.

3 Võ Văn Chi (2012), Từ điển cây thuốc Việt Nam –

tập 2, NXB Y học, Hà Nội, tr 940-941.

4 Đỗ Trung Đàm (2014), Phương pháp xác định độc tính của thuốc, Nhà xuất bản Y học.

5 OECD (2002), Drug Safety Evaluation I: Acute and

subchronic toxicity assessement, USA Academy Press.

6 WHO (1993), Research Guidelines For Evaluating

the Safety and Efficacy of Herbal Medicines, ROWP, Manila, Philippines.

7 WHO (2000), General Guidelines for Methodologies

on Research and Evaluation of Traditional Medicine, EDM/TRM, Geneva, Switzerland.

(Ngày nhận bài: 17/03/2016 - Ngày duyệt đăng: 25/04/2016)

Đánh giá tác dụng an thần, giải lo của bài thuốc

“Chè an thần” trên động vật thực nghiệm

Dương Thị Ly Hương1*, Nguyễn Thị Bích Thủy2

1 Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội

2 Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương

* E-mail: lyhuong.smp@vnu.edu.vn

Summary

The coumpound herbal remedy “Che an than” (Tranquillisant tea) was evaluated for anxiolytic effect on experimental mice by the Elevated Plus Maze (EPM), Grip, Rota-Rod performance, Forced swimming test At the dose of 2 g/kg, “Che an than” increased the frequency and time in the open arms of EPM test, decreased the score in Grip test, shortened the stay time on the rotating cylinder in Rotarod performance test, and reduced the swimming time in the Forced swimming test For these estimated effects, at the dose of 2 g/kg, “Che an than” was similar to diazepam 2 mg/kg.

Keywords: “Che an than”, mice, Elevated Plus Maze, Grip test, Rota-Rod performance test, and Forced

swimming test.

Đặt vấn đề

Mất ngủ là một chứng bệnh khá phổ biến

hiện nay Ở các nước phát triển như Anh, Mỹ,

Canada, tỷ lệ người mất ngủ có thể lên đến xấp xỉ 30% trong các điều tra xã hội học [4,9] Để điều trị mất ngủ, ngoài liệu pháp tâm lý thì việc

Trang 2

sử dụng thuốc an thần là rất quan trọng Bên

cạnh dẫn xuất được sử dụng phổ biến như dẫn

xuất benzodiazepin (sedusen, zolpidem…), dẫn

xuất barbiturat (phenobarbital…) thì việc phát

triển các bài thuốc Đông y dựa trên kinh nghiệm

dân gian cũng rất được quan tâm

“Chè an thần” của Bệnh viện Y học cổ truyền

trung ương là một bài thuốc nghiệm phương,

được xây dựng dựa trên những vị thuốc có tác

dụng an thần như: lá vông, lạc tiên, thảo quyết

minh, bình vôi… kết hợp với long nhãn, lá sen,

cúc hoa, cam thảo,… Bài thuốc được kết hợp

chủ yếu dựa trên lý luận Đông y mà chưa có

bằng chứng của Y học hiện đại soi sáng Để góp

phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học của bài thuốc,

chúng tôi tiến hành đề tài này với mục tiêu: Đánh

giá tác dụng an thần, giải lo của bài thuốc “Chè

an thần” trên động vật thực nghiệm

Nguyên liệu, đối tượng và phương pháp

nghiên cứu

Nguyên liệu

Bài thuốc “Chè an thần” gồm các vị thuốc: lá

vông 0,40 g; lạc tiên 0,33 g; thảo quyết minh 0,40

g; bình vôi 0,60 g; long nhãn 0,20 g; lá sen 0,40 g;

cúc hoa 0,20 g; cam thảo 0,13 g; liên nhục 0,33

g do Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương sản

xuất “Chè an thần” được đóng dưới dạng túi lọc,

gói 3 gam Khi sử dụng cho chuột, hãm chè trong

60 ml nước sôi trong 20 phút, dịch thuốc được cô

cách thủy đến còn 20 ml hoặc 15 ml tùy nồng độ

cần sử dụng

Đối tượng

Chuột nhắt trắng khỏe mạnh đủ tiêu chuẩn,

giống đực, trọng lượng từ 20-25 g, do Viện Vệ

sinh Dịch tễ Trung ương cung cấp Chuột được

nuôi trong điều kiện nhiệt độ và ánh sáng tự nhiên,

được cho ăn, uống theo nhu cầu cho đến trước khi

tiến hành thí nghiệm

Phương pháp nghiên cứu

Để đánh giá tác dụng an thần thực nghiệm

của bài thuốc “Chè an thần”, sử dụng 4 mô hình

sau: mô hình chữ thập nâng cao (EPM – Elevated

Plus Maze), mô hình leo dây (Grip test), thí nghiệm

Rota-Rod và thí nghiệm chuột bơi

Để tiến hành thí nghiệm EPM và thí nghiệm leo

dây, chúng tôi đã chế tạo 2 dụng cụ thí nghiệm

(dựa trên các tài liệu tham khảo [6-8, 10])

Hình 1: Dụng cụ cho thí nghiệm EPM

Dụng cụ là một hình chữ thập gồm 2 tay hở và

2 tay kín, được đặt trên một thanh đỡ cách sàn nhà

50 cm Khi tiến hành thí nghiệm, đặt từng chuột vào trung tâm của dụng cụ, mặt chuột hướng về phía một tay hở Quan sát chuột trong 5 phút Ghi lại số lần chuột đi vào mỗi tay và tổng thời gian chuột lưu lại trong các tay hở và các tay kín

Hình 2: Dụng cụ cho thí nghiệm Grip

Dụng cụ là 01 sợi dây thép dài 50 cm, được đặt trên 2 thanh đỡ cách mặt đất 45 cm Khi tiến hành thí nghiệm, chuột được đặt lên dây bằng hai chân trước Quan sát khả năng bám trên dây của chuột

và cho điểm theo thang điểm sau: 0 điểm: chuột

bị rơi; 1 điểm: giữ nguyên tư thế trên dây; 2 điểm: giữ nguyên tư thế, có cố gắng trèo lên; 3 điểm: treo trên dây bằng 2 chân trước cộng với một hoặc

2 chân sau; 4 điểm: treo trên dây bằng cả 4 chân cộng với quấn đuôi quanh dây; 5 điểm: chạy được trên dây

Các thí nghiệm được tiến hành trong phòng riêng biệt, yên tĩnh và tối với đèn màu đỏ 40 w Thời gian tiến hành thí nghiệm trong khoảng 9 giờ sáng đến 2 giờ chiều Riêng thí nghiệm chuột bơi được tiến hành trong điều kiện ánh sáng bình thường Trong ngày tiến hành thí nghiệm,

Trang 3

chuột được chuyển vào phòng thí nghiệm trước

đó 1 giờ để làm quen với điều kiện phòng

Chuột được chia ngẫu nhiên thành 4 lô (8-12

chuột/lô), uống thuốc hoặc NaCl 0,9% liên tục

trong 3 ngày Thí nghiệm bắt đầu vào ngày thứ ba

sau khi uống thuốc 30 phút

Lô 1: Uống NaCl 0,9%

Lô 2: Uống diazepam (DZP) 2 mg/kg – với thể

tích 10 ml/kg

Lô 3: Uống chè an thần 1,5 g/kg – với thể tích

10 ml/kg

Lô 4: Uống chè an thần 2 g/kg – với thể tích 10

ml/kg

Kết quả nghiên cứu

Thí nghiệm EPM

Bảng 1: Tác dụng của Chè an thần lên thời gian

chuột lưu ở tay kín/tay hở

Lô Thuốc uống n Thời gian lưu ở tay kín (s) Thời gian lưu ở tay hở (s)

1 NaCl 0,9% 8 228 ± 5,26 47,13 ± 4,48

2 DZP 2 mg/kg 8 112,50 ± 5,06p

1-2 < 0,0001 124,13 ± 7,07p1-2 < 0,0001

3 Chè an thần 1,5 g/kg 8 207,00 ± 5,13p

1-3 > 0,05 56,50 ± 6,49p1-3 > 0,05

4 Chè an thần 2 g/kg 8 126,63 ± 3,73p1-4 < 0,0001

p2-4 > 0,05

106,13 ± 4,37

p1-4 < 0,0001

p2-4 > 0,05

Bảng 2: Tác dụng của Chè an thần lên số lần lưu

của chuột ở tay kín/tay hở

Lô Thuốc uống n Số lần lưu ở tay kín Số lần lưu ở tay hở

1 NaCl 0,9% 8 20,50 ± 0,93 3,38 ± 0,18

2 DZP 2 mg/kg 8 13,50 ± 0,33p

1-2 < 0,001 p8,38 ± 0,571-2 < 0,0001

3 Chè an thần 1,5 g/kg 8 20,88 ± 1,06p

1-3 > 0,05 4,38 ± 0,46p1-3 > 0,05

4 Chè an thần 2 g/kg 8 14,88 ± 0,29p1-4 < 0,001

p2-4 > 0,05

7,00 ± 0,65

p1-4 < 0,001

p2-4 > 0,05

Nhận xét: DZP liều 2 mg/kg làm tăng thời gian

và số lần chuột ở trong tay hở (p < 0,001) một cách

rõ rệt so với chứng Chè an thần 1,5 g/kg không

làm thay đổi đáng kể thời gian và số lần chuột ở

trong tay hở so với chứng (p > 0,05) Chè an thần

2 g/kg làm tăng thời gian chuột ở trong tay hở

(p < 0,001) và giảm thời gian chuột ở trong tay

kín (p < 0,001) một cách rõ rệt so với chứng So

với diazepam, tác dụng của Chè an thần 2 g/kg là

tương đương (p > 0,05)

Thử nghiệm Grip

Bảng 3: Tác dụng của Chè an thần lên số điểm

bám trên dây của chuột

Lô Thuốc uống n Điểm bám trên dây Điểm thấp

nhất

Điểm cao nhất

Trung

vị p

0 1 2 3 4 5

1 NaCl 0,9% 8 0 0 0 1 2 5 3 5 5

2 DZP 2 mg/kg 8 1 3 3 1 0 0 0 1.5 3 0,0107

3 Chè an thần 1,5 g/kg 8 0 0 2 4 2 0 2 3 4 0,0097

4 Chè an thần 2 g/kg 8 0 1 4 4 0 0 1 2 3 0,0111

Nhận xét: Cả diazepam 2 mg/kg, Chè an thần

1,5 g/kg, Chè an thần 2 g/kg đều làm giảm đáng kể

số điểm bám trên dây so với lô chứng (p ≤ 0,05) Chè an thần 1,5 g/kg không giảm điểm mạnh bằng diazepam 2 mg/kg Chè an thần 2 g/kg làm giảm

số điểm tương đương với diazepam 2 mg/kg

Thí nghiệm Rota-Rod

Bảng 4: Tác dụng của Chè an thần lên thời gian chuột

bám trên máy quay Rota-Rod

Lô Thuốc uống n Thời gian (s) p

1 NaCl 0,9% 8 205,13 ± 8,01

2 DZP 2 mg/kg 8 84,13 ± 8,53 p1-2 < 0,0001

3 Chè an thần 1,5 g/kg 8 186,25 ± 2,37 p1-3 > 0,05

4 Chè an thần 2 g/kg 8 129,88 ± 8,85 p 1-4 < 0,0001

p2-4 > 0,05

Nhận xét: Diazepam 2 mg/kg làm giảm đáng kể

thời gian bám trên máy quay Rota-Rod của chuột

so với chứng (p < 0,0001) Chè an thần 1,5 g/kg làm giảm không đáng kể thời gian bám trên máy quay Rota-Rod của chuột so với chứng (p > 0,05) Chè an thần liều 2 g/kg làm giảm rõ rệt thời gian bám trên máy quay Rota-Rod của chuột so với chứng (p < 0,0001) Tác dụng này tương đương với diazepam 2 mg/kg (p > 0,05)

Thí nghiệm chuột bơi

Thí nghiệm này chỉ đánh giá trên mức liều

2 g/kg, là mức liều đã thể hiện tác dụng rõ trong các thí nghiệm trước

Bảng 5: Tác dụng của Chè an thần lên thời gian bơi

của chuột

Lô Nhóm n Thời gian bơi (s) p

1 NaCl 0,9% 9 1102,22 ± 67,24

2 DZP 2 mg/kg 12 235,83 ± 25,11 p1-2 < 0,0001

3 Chè an thần 2 g/kg 11 368,45 ± 48,33 p 1-3 < 0,0001

p2-3 > 0,05

Nhận xét: Diazepam liều 2 mg/kg làm giảm

đáng kể thời gian bơi của chuột so với chứng (< 0,0001) Chè an thần 2 g/kg làm giảm rõ rệt thời gian bơi của chuột so với chứng (p < 0,0001) Chè an thần 2 g/kg cho tác dụng tương đương với diazepam 2 mg/kg

Trang 4

Bàn luận

Tác dụng của Chè an thần trên mô hình EPM

EPM là thí nghiệm được sử dụng rộng rãi nhất

hiện nay để đánh giá tác dụng an thần, giải lo của

thuốc [3, 7, 8, 10] Thí nghiệm này dựa trên bản năng

của chuột là tự vệ và thích khám phá Trong thử

nghiệm EPM, hành vi tự vệ biểu hiện bằng việc tìm

nơi trú ẩn trong tay kín, còn bản năng khám phá

biểu hiện bằng việc đi vào tay hở Bình thường,

khi được đặt trong dụng cụ hình chữ thập trên cao,

do cảm giác lo lắng về độ cao nên chuột ít tiếp xúc

với tay hở, và thường tìm đến nơi trú ẩn an toàn

trong tay kín Tuy nhiên, khi được dùng thuốc làm

giảm lo lắng, chuột không còn cảm giác sợ độ cao

nữa và sẽ thích đi ra tay hở hơn, do bản năng thích

khám phá

Kết quả ở bảng 1 và 2 cho thấy cả thời gian

và số lần chuột đi vào tay hở của lô chuột uống

diazepam và uống Chè an thần 2 g/kg đều tăng

một cách có ý nghĩa thống kê so với lô chứng cho

thấy Chè an thần 2 g/kg đã làm giảm lo lắng trên

chuột Tác dụng này của Chè an thần 2 g/kg tương

đương với diazepam liều 2 mg/kg

Tác dụng của Chè an thần trên mô hình Grip

Thử nghiệm Grip cũng là một trong những

thử nghiệm được sử dụng khá rộng rãi để nghiên

cứu tác dụng an thần kiểu benzodiazepin của

thuốc [1, 5, 6] Thí nghiệm này đánh giá khả năng đeo

bám và phối hợp vận động của chuột, từ đó đánh

giá được tác dụng giãn cơ cũng như tác dụng an

thần của thuốc Hầu hết các thuốc an thần loại

diazepam đều có tác dụng giãn cơ

Kết quả ở bảng 3 cho thấy cả diazepam,

Chè an thần 1,5 g/kg và 2 g/kg đều làm giảm

đáng kể số điểm bám trên dây so với lô chứng

(p ≤ 0,01) Chè an thần 1,5 g/kg không giảm điểm

mạnh bằng diazepam 2 mg/kg Chè an thần 2 g/

kg làm giảm số điểm tương đương với diazepam 2

mg/kg Như vậy, có thể thấy Chè an thần 1,5 và 2

g/kg có tác dụng giãn cơ rõ

Tác dụng của Chè an thần trên mô hình

Rota-Rod

Rota-Rod cũng là một trong những thử nghiệm

được áp dụng nhiều trong nghiên cứu tác dụng an

thần của thuốc Cơ sở của thử nghiệm này là dựa

trên khả năng phối hợp thần kinh-cơ, khả năng

định hướng không gian, sức căng cơ, khả năng

giữ thăng bằng của động vật Thuốc an thần ức

chế thần kinh trung ương, làm giảm phối hợp thần

kinh-cơ, giảm khả năng giữ thăng bằng và định

hướng không gian nên giảm khả năng đeo bám

trên thanh quay của chuột [5, 6]

Kết quả ở bảng 4 cho thấy Chè an thần liều 2 g/kg làm giảm rõ rệt thời gian bám trên máy quay Rota-Rod của chuột so với chứng (p < 0,0001) Tác dụng này tương đương với diazepam 2 mg/kg (p > 0,05) Chè an thần 1,5 g/kg chưa làm thay đổi thời gian bám trên máy quay Rota-Rod của chuột Như vậy, có thể thấy với liều 2 g/kg, Chè an thần

đã làm giảm phối hợp thần kinh-cơ ở chuột, chứng

tỏ tác dụng an thần, giải lo của Chè an thần ở liều

2 g/kg

Tác dụng của Chè an thần trên thí nghiệm chuột bơi

Thử nghiệm chuột bơi thường được sử dụng

để phát hiện tác dụng an thần và chống trầm cảm [2, 6] Cơ sở của thử nghiệm cũng là dựa trên sự phối hợp vận động thần kinh-cơ và bản năng sống sót của động vật Thuốc an thần làm giảm sự phối hợp thần kinh-cơ của động vật, do đó, khi uống thuốc an thần, khả năng bơi của chuột sẽ giảm đi Thử nghiệm dựa trên sự quan sát chuột bơi trong nước

Kết quả ở bảng 5 cho thấy Chè an thần với liều 2 g/kg đã làm giảm đáng kể thời gian bơi của chuột so với lô chứng (p < 0,0001), tác dụng này tương đương với tác dụng của diazepam liều 2 mg/kg Kết quả này hoàn toàn phù hợp với các thử nghiệm trước (trên mô hình Grip, mô hình chuột bơi), chứng tỏ tác dụng giãn cơ, an thần của Chè

an thần ở mức liều 2 g/kg Ngoại suy trên người, liều này tương đương với liều 0,17 g/kg thể trọng người/ngày, hay 8 g/người nặng 50 kg/ngày

Kết luận

Qua quá trình nghiên cứu tác dụng an thần, giảm lo lắng của Chè an thần trên chuột nhắt thực nghiệm, rút ra một số kết luận: Với liều 2 g/kg, Chè

an thần có tác dụng an thần, giảm lo lắng và giãn

cơ tốt thông qua việc làm tăng số lần và thời gian chuột đi vào tay hở trong mô hình chữ thập nâng cao (EPM), làm giảm số điểm bám trên dây trong

mô hình leo dây Grip, làm giảm thời gian bám trên máy quay Rota-Rod và làm giảm thời gian bơi trong mô hình chuột bơi

Các tác dụng trên của Chè an thần 2 g/kg tương đương với tác dụng của diazepam liều 2 mg/kg Ngoại suy trên người, liều này tương đương với liều 8 g/người nặng 50 kg/ngày (tương đương 2-3 gói Chè an thần/ngày)

Tài liệu tham khảo

1 Adeyemi O O., et al (2007), “Sedative and anticolvulsant activities of aqueous root extract of

Sanseviera liberica Gerome and Labroy”, Journal of Ethnopharmacology, 113, 111-114

Trang 5

2 Benoit Petit-Demouliere, et al (2005) “Forced

swimming test in mice: a review of antidepressant

activity”, Psychopharmacology, 177, 245-255

3 Carobrez A P., et al (2005), “Ethologycal and

temporal analyses of anxiety-like behavior: The Elevated

plus maze model 20 years on”, Neuroscience and

Biobehavioral Reviews, 29, 1193-1205

4 Cho Y M., et al (2009), “Epidemiology of insomnia

in Korean adults: prevalence and associated factor”, J

Clin Neurol., 5 (1), 20-23

5 Denga, Yujuan Zhoua, Mengmeng Baia, Hongwei

Li (2009), “Anxiolytic and sedative activities of Passiflora

edulis f flavicarpa”, Journal of Ethnopharmacology, 128,

148-153

6 Edward J Calabrese (2008), “ An assessment of

anxiolytic drug screening tests: hormetic dose responses

predominate”, Critical Reviews on Toxicology, 38, 489-542

7 Emamghoreishi M., et al (2005), “Coriandrum sativum: evaluation of its anxiolytic effect in the elevated

plus maze”, Journal of Ethnopharmacology, 96, 365-370

8 Jamal et al (2008), “Evaluation of chalcones –

a flavonoid subclass, for their anxiolytic effects in rats using elevated plus maze and open field behaviour test”,

Fundamental and Clinical Pharmacology, 22, 673-681.

9 Morphy H., et al (2007), “Epidemiology of Insomnia:

a longitudinal study in a UK population”, Sleep, 30(3),

147-180.

10 Rodgers R J and Dalvi A (1997), “Anxiety,

defence and the elevated plus maze”, Neurosciences

and Biobehavioral Reviews, 21(6), 801-810.

liều thử là 100, 200, 400 mg/kg Từ đó lựa chọn

mức liều phù hợp và qui đổi để đánh giá tác dụng

chống viêm trên chuột cống trắng (động vật lớn

hơn) Các mức liều này cũng được áp dụng để

đánh giá tác dụng của cao lá gối hạc

Trên mô hình mâm nóng, gối hạc với cả ba mức

liều thử đều không thể hiện tác dụng giảm đau trung

ương Tuy nhiên, trên mô hình gây đau quặn bằng

acid acetic để đánh giá tác dụng giảm đau ngoại vi,

gối hạc lá và rễ đều thể hiện tác dụng khá tốt, đặc

biệt ở mức liều 200 và 400 mg/kg (tính theo tổng số

cơn quặn đau trong 30 phút theo dõi) Vì vậy, đây

là 2 mức liều được lựa chọn và quy đổi trên chuột

cống trắng để đánh giá tác dụng chống viêm

Đánh giá tác dụng chống viêm cấp trên mô

hình gây phù bàn chân chuột bằng carrageenan,

gối hạc thể hiện tác dụng ở cả 2 mức liều thử,

trong đó GHL với liều 200 mg/kg thể hiện khả năng

làm giảm mức độ phù tại 3 thời điểm nghiên cứu

Trên mô hình gây u hạt thực nghiệm để đánh giá

tác dụng chống viêm mạn, cao GHL tiếp tục thể

hiện tác dụng khá rõ ở cả 2 mức liều thử trong khi

cao GHR chỉ có tác dụng ở mức liều 200 mg/kg

Như vậy, nghiên cứu này đã làm sáng tỏ được

tác dụng sinh học liên quan tới ứng dụng của rễ

gối hạc trong dân gian, đồng thời cho thấy lá gối

hạc (bộ phận mà từ trước đến nay chưa được sử

dụng) cũng có tác dụng chống viêm, giảm đau khá

tốt Kết quả này cũng mở ra gợi ý về bộ phận dùng

lá của dược liệu trong tương lai, giúp khai thác gối

hạc một cách hiệu quả và bền vững

Kết luận

1 Tác dụng giảm đau: Cao GHL liều 100 và

400 mg/kg có tác dụng giảm số cơn đau quặn

trong 10 phút đầu của thực nghiệm gây đau quặn

trong khi liều 200 mg/kg có tác dụng này trong toàn

bộ 30 phút nghiên cứu Cao GHR ở cả 3 mức liều thử đều làm giảm số cơn quặn đau từ phút đầu đến phút thứ 20 của thực nghiệm gây đau quặn

2 Tác dụng chống viêm: Cao GHL liều 100 mg/

kg có tác dụng chống viêm cấp tại các thời điểm

1 giờ và 3 giờ sau khi gây viêm, liều 200 mg/kg có tác dụng tại các thời điểm 1, 3 và 5 giờ sau khi gây viêm trên mô hình gây phù bàn chân chuột Cả hai mức liều 100 và 200 mg/kg đều có tác dụng chống viêm mạn trên mô hình gây u hạt thực nghiệm Cao GHR liều 100 và 200 mg/kg cùng thể hiện tác dụng chống viêm cấp trên mô hình gây phù bàn chân chuột tại các thời điểm 1 giờ và 3 giờ sau khi gây viêm Trên mô hình gây u hạt thực nghiệm, GHR chỉ thể hiện tác dụng chống viêm mạn với mức liều 200 mg/kg

Tài liệu tham khảo

1 Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Trung, Bùi Xuân Chương, Nguyễn Thượng Dong, Đỗ Trung Đàm, Phạm văn Hiển, Vũ Ngọc Lộ, Phạm Duy Mai, Phạm Kim Mãn,

Đoàn Thị Nhu, Nguyễn Tập, Trần Toàn (2005), Cây

thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập I, NXB

Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội tr 874-875.

2 Võ Văn Chi (2012), Từ điển cây thuốc Việt Nam,

NXB Y học, tập I, 1046-1049.

3 Phạm Quốc Tuấn, Nguyễn Minh Khởi, MinKyun

Na, Nguyễn Thùy Dương, Hà Hương Lan, Phương Thiện Thương (2015), “Nghiên cứu tác dụng giảm đau

và chống viêm của cao phần dưới mặt đất cây lạc tân

phụ”, Tạp chí Dược học, 466, trang 62-68.

4 Vogel H G (2008), Drug Discovery and Evaluation

Pharmacological Assays, 3rd ed, Springer.

5 Winter C A., Risley E A, Nuss G W (1962),

“Carrageenin-induced edema in hind paw of the rat as

an assay for antiinflammatory drugs”, Proc Soc Exp

Biol Med., 111, pp 544-547.

(Ngày nhận bài: 22/03/2016 - Ngày duyệt đăng: 25/04/2016)

(Ngày nhận bài: 31/03/2016 - Ngày duyệt đăng: 25/04/2016)

Ngày đăng: 16/12/2017, 20:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w