1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

DSpace at VNU: Đánh giá lại giá trị của di sản kiến trúc đô thị của thành phố Hà Nội trong quá trình đô thị hóa

11 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 5,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐÁNH GIÁ LẠI GIÁ TRỊ CỦA DI SẢN KIÉN TRÚC ĐỒ THỊ CỦA THÀNH PHÓ HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Đào Thị N h ư Bảo tồn di sản kiến trúc đô thị KTĐT luôn là mục đích của mọi thành phố,

Trang 1

ĐÁNH GIÁ LẠI GIÁ TRỊ CỦA DI SẢN KIÉN TRÚC ĐỒ THỊ CỦA THÀNH PHÓ HÀ NỘI

TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

Đào Thị N h ư

Bảo tồn di sản kiến trúc đô thị (KTĐT) luôn là mục đích của mọi thành phố, quôc gia trên con đường khẳng định bản sắc văn hóa riêng biệt và hướng đến sự phát triển bền vững Bài toán bảo tồn di sản luôn gắn với bài toán xác định những giá trị cần phải bảo tồn Cho đến nay, di sản được xác định và đánh giá theo nhiều cách khác nhau, tùy vào cách tiếp cận của nhóm người làm nhiệm vụ đánh giá Họ

có thế đánh giá di sản theo các tiếp cận khác nhau về mặt kinh tế, chính trị đô thị, lịch sử, văn hóa, tinh thần, thẩm m ĩ v.v và thường bị chi phối bởi đặc điểm của mỗi dân tộc, quốc gia hay bối cảnh thay đổi và phát triển của xã hội (The Getty conservation institute, 2000)

Từ sau thời kỳ Đổi mới (1986), với sự chuyển đổi cơ chế quản lý từ tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt N am nói chune và thành phố H à Nội nói riêns đã có sự phát triển nhanh, mạnh và ghi nhận

sự thay đổi to lớn trong xã hội, trong nhện thức của cộng đồng dân cư đô thị Trong bối cảnh mới, các di sản KTĐT cũng giữ vai trò mới với các giá trị mới Do vậy, việc nhận diện và đánh giá lại các giá trị di sản rất cần thiết, £Óp phần định hướna; cho công tác bảo tồn

1 Lý luận về giá trị di sản

1.1 Lý luận về giá trị di sán tại Việt Nam

Trước năm 1945 (thời điểm ban hành sắ c lệnh về di sản của nước Việt Nam

Dân chủ cộng hòa), tại Việt Nam chưa có khái niệm chính thống về di sản, do đó cũn® chưa có hệ thống quan điểm về bảo tồn di sản như hiện nay Tuy nhiên, các

triều đại phong kiến Việt Nam đã có những bộ luật như Luật H ồng Đức (Bộ Quốc triều hình luật thời Lê Sơ), H oàng Việt luật ỉệ (hay còn aọi là L uật Gia Long, Quốc triều điều luật, Hocmọ; triều điều luật, Bộ luật triều N guyễn) tro na đó có những điều

khoản về bảo vệ các cône trình có siá trị đối với xã hội thời đại, mặc dù các công trình

* Nhà quy hoạch Cục Phát triển đô thị, Bộ Xây dựng.

253

Trang 2

VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THÀO QUỐC TÉ LÀN T H Ứ TU

đó khône được gọi tên chính xác là di sản như ngày nay và ở mỗi thời đại danh sách các côna trình này lại có sự thav đổi với sự quan tâm khác nhau Bên cạnh các luật của triều đình phone kiến kể trên, cũne tồn tại các quy định bảo vệ các cônơ trình có

giá trị ở quy mô làng với cách gọi tên là hương ước làng (hay còn có tên gọi khác là

hương biên, hươne lệ, hương khoán, khoán làng ) Theo các quy định và điều luật bảo vệ này, các công trình được coi là có giá trị bao gồm: thành quách, lâu đài, vườn thượng uyển, lăns mộ, đàn tế trời phục vụ triều đình phong kiến, công trình tôn oiáo thờ tự dân gian như đình, chùa, công trình văn hóa như hội q u á n

T rons thời kỳ phone kiến, quan điếm của người Việt N am chịu ảnh hưởng từ nhiều luồng tư tưởng du nhập từ nước neoài, thông qua quá trình khai phá thuộc địa

và giao thoa các nền văn hóa thông qua trao đổi th ư ơ n s mại, truyền giáo Có ba luồns tư tưởng triết học chính ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa, tinh thân tại Việt Nam và ảnh hưởng đến góc nhìn đánh giá về các công trình kiến trúc có giá trị

đó là: tư tưởng triết học của Nho giáo, Đạo giáo (du nhập từ thời kỳ Bắc thuộc Trune Quốc), và tư tưởne triết học Phật giáo (du nhập bởi người truyền giáo Ấn Độ) (Trần Nhật Kiên, 2010) Ba tư tưởng chủ đạo này đã hình thành nên một hệ thống “tiêu chí” làm cơ sở cho việc xây dựng và đánh giá các công trình kiến trúc

có giá trị trong mồi giai đoạn lịch sử phong kiến ở Việt Nam:

Tư tưởng Đạo giáo: là tư tưởng có nguồn gốc từ Trung Quốc, có ảnh hưởng sâu

sắc đến quan niệm xây dựng đô thị và các công trình kiến trúc có giá trị của Việt Nam Dựa trên lý luận triết học “Vô vi”, Đạo giáo phát triển thành các lý thuyết âm dươne, phong thủy, kinh dịch áp dụng mọi mặt trong đời sống và xây dựng Theo đó, các công trình K TĐ T cần đạt được tiêu chí về đảm bảo sự vận hành !ưu thông tự nhiên của các luồng khí, nhằm đạt đến sự giao hòa âm dương giữa con neười và thiên

nhiên, để đảm bảo “đạo” hay “nguyên lý” giao hòa trời - đất - con người (Hình 1).

Hình 1: Lý thuyết phong thủy trong chọn đất xây dụng công trình

phát triển từ tư tưởng của Đ ạo giáo

Nguồn: Trần Nhật Kiên, 2000

Trang 3

ĐÁNH GIÁ LẠI GIÁ TRỊ CỦA DI SẢN KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ.

Tư tưởng Phật giáo: Đạo Phật được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ II khi

các nhà sư Trung Quốc bị truy đuổi đã chạy sane Việt N am (Philippe Papin 2010) Tuy nhiên, mãi đến thế kỷ thứ X, đạo Phật mới có cơ hội phát triển rực rỡ “Đạo Phật

đã nhanh chóng chế ngự đời sốne tâm linh tronơ hoàng cung cũng như trong dân gian”, “Đền chùa được xây dựns khắp nơi trong kinh thành tạo nên một bố cục mới theo quan niệm tôn giáo, ít chú trọne đến luật phong thủy” (Philippe Papin, 2010)

Tư tưởng Nho giáo: Nho eiáo chính thức thời kỳ phát triển rực rỡ của mình

trên đất T h ă n s Lone từ thế kỷ XIII được đánh dấu bằng sự cho phép tổ chức các kỳ thi Nho giáo vào năm 1232 (Philippe Papin, 2010) Sau này với quan điếm đỗ đạt là con đường duy nhất ẹiúp con người thăng tiến trong xã hội, Nho giáo đã trở nên hấp dẫn và lan rộng từ kinh thành đến các vùng nông thôn, miền núi Tư tưởng Nho 2;iáo

đề cao tính trật tự xã hội, tần 8, bậc trên dưới, trước sau trong quan hệ giữa người với người, giữa các cấp bậc, địa vị, vị thế trone xã hội để hướng đến một xã hội tốt đẹp

Tư tưởng này thể hiện trong các công trình kiến trúc thông qua những nguyên lý về

sự dẫn dắt, tầng bậc, phân cấp của công trình, có thể thấy trong hầu hết các loại công trình kiến trúc như cung điện, lăng tẩm, đình chùa, nhà ở Công trình được xây dựng trong thời kỳ thịnh vượng của Nho giáo là Quốc Tử Giám - nơi đào tạo các nho sĩ và quan lại cho đất nước

Bên cạnh ba hệ tư tưởng trên, người dân Việt Nam cũng thường dựa vào tính chất của sự kiện, văn hóa địa phương để đánh giá hay công nhận một công trình có giá trị Ngoài ra, những tư tưởng chính trị của mỗi thời kỳ cũng là yếu tô có ảnh hưởng không nhỏ đến nhận định giá trị của di sản

Hình 2: Các tư tuỏng chi phối trong đánh giá giá trị của di sản KTĐT

theo quan điểm đánh giá truyền thống của Việt Nam

255

Trang 4

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUÓC TÉ LÀN THỦ T Ư

Với sự xuất hiện và thống trị của người Pháp, Việt N am bước vào thời kỳ nứa phong kiến nửa thuộc địa Không tính đến giai đoạn tàn phá các cône trình địa phương để xây dựng các công trình thực dân, giai đoạn sau này, người Pháp đã có công trong việc nhìn nhận các aiá trị di sản của H à Nội và bảo vệ nó Người Pháp

đã mang vào Việt N am lý luận mới chính thống về khái niệm di sản Trong đó, khái niệm “di sản” được đi kèm với khái niệm về giá trị lịch sử, giá trị văn hóa, giá trị nghệ thuật của các công trình kiến trúc Người Pháp phát hiện ra sự khác nhau trong cách đánh giá về di sản của họ so với người dân bản xứ Họ eọi di sản của Việt Nam là "m onum ent historique” (công trình tư ở n e niệm lịch sử) để tư ơns đương với V nghĩa và sự đánh giá về di tích theo cách của Việt N a m 1 Tuy nhiên,

họ thừa nhận từ “monument historique” tron2 bối cảnh địa phương Hà Nội vẫn có ý nahĩa rộng hơn và bao quát ho'n ý n sh ĩa của từ này trone tiếng Pháp và tiếng Latin2 (France Mangin, 2002; Francoise Choay, 1988: Dictionnaire,1814)

Ngày nav, trong Luật Di sản của Việt Nam và tronơ các quy định, nshị định dưới luật, khái niệm về di sản luôn được gắn với giá trị về lịch sử, kiến trúc, nehệ thuật, khảo cô, danh lam thắng cảnh

1.2 L ý lu ậ n về giá trị di sán trên th ế g iớ i

Khái niệm “di sản” trên thế giới được định hình bởi các từ: heritage, patrim oine và monum ent, v ề heritage: Từ điển O xford ( The O xford English dictionary) định nehĩa: heritage là những vật thể có giá trị như công trình lịch sử, truyền thống văn hóa được truyền lại cho thế hệ sau (H eritage OS valued objects a nd qualities such as historic building a n d cultural traditions that have been p a ssed down fro m previous generation) Còn p atrim o in e theo từ gốc latin có nghĩa là

“những di vật được truyền lại từ bố và mẹ cho con cái” ('“patrim o in iu m ” = ilbỉen

d ’heritage qui descend, saivant la loi, des p ères et des m ere à ỉeur enfants theo định nghĩa của Pháp thì đó là những vật có giá trị văn hóa và giá trị tự nhiên được

thừa kế từ quá khứ (“bien d 'or lire culture! oil d ’ordre nature l hérites dll passe")

về monument: khái niệm gốc có liên quan đến việc khơi dậy những kỷ niệm đã qua (ỉa notion originelle du terme "ce quì interpelle le m ém oire") (France Mangin, 2.002).

Theo Hiến chương châu Âu về di sản kiến trúc được phê duyệt bởi Hội đồna

châu Âu tại Amsterdam ngày 2 1 - 2 5 tháng 10 năm 1975, thì di sản kiến trúc không

chỉ bao gồm những cône trình kv niệm (m onum ent) quan trọng mà nó còn bao gồm

1 Theo cách sử dụnu của Việt Nam , di lích là từ Hán Việt được tạo thành do ghép hai từ " di"

và "tích", theo đó, từ di tích nói đến các tàn tích cùa quá khử được để lại.

2 Trong tiếng Pháp và Latinh, monument (công trình tưởng niệm ) được sử dụng đê nói về các

công trình nhàm hồi tưởng, tưởng niệm về quá khứ và các sự kiện.

Trang 5

Đ ÁNH G IÁ LẠI G IÁ TRỊ CỦA DI SẢN KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ.

tống thể nhóm công trình Di sản này cần được truyền lại cho thế hệ sau trạng thái

xác thực (authentic State) và tất cả những thành phần quan trọng của nó để gợi lại những ký ức của nhân loại Di sản kiến trúc là một vốn (a capital) giá trị không thể thay thế về kinh tế, văn hóa xã hội tinh thần Sự mai một của các thành phần này sẽ làm cho đô thị nghèo nàn nếu không có những giá trị mới được tạo ra Tương lai của di sản kiến trúc phụ thuộc rất lớn vào sự can thiệp của những người dân trong bối cảnh của nó và phụ thuộc vào sự quan tâm trong các đồ án phát triển và quy hoạch thành phố hay quy hoạch vùng Theo Công ước của Hội đồng châu Âu năm

1985, di sản kiến trúc cũng gồm có: đài kỷ niệm, nhóm công trình và địa điểm (monuments, building groups and sites) gắn với giá trị về lịch sử, khảo cổ, nghệ thuật, khoa học, x ã hội, k ỹ thuật N ăm 1994, Văn kiện Nara (Nara Document) chính thức đưa ra tiêu chí tính xá c thực (.A uthenticity) tro n s đánh giá giá trị của di

sản bên cạnh những giá trị trước đó Theo Hội đồng Quốc tế các di tích và di chỉ

(1COMOS), giá trị và tính x á c thực của di sản kiến trúc khône nằm ở những tiêu chí

định sẵn, và cần được xem xét trong bối cảnh văn hóa chứa đựng nó Giá trị của di

sản kiến trúc không chỉ là sự xuất hiện của nó, mà còn nằm ở tính toàn vẹn của tất

cả các thành phần như là m ột sản phẩm độc đáo của công nghệ xây dựng đặc biệt của thời đại đó Đặc biệt, sự loại bỏ những cấu trúc bên trong chỉ duy trì bề mặt là không phù hợp với các tiêu chí bảo tồn

Như vậy, quan điểm của thế giới về giá trị của di sản K TĐ T không chỉ gắn với nhữne giá trị lịch sử, nghệ thuật, khoa học, khảo cổ mà trong đó các giá trị này dược kiến nghị cần được xem xét trong bối cảnh xung quanh để có được tính xác thực và tính toàn vẹn

2 Sự thay đổi trong các lý luận và nhận thức về giá trị của di sản

2.1 S ự thay đồi của x ã lĩội tác động lên di sản và các quan điểm về giá trị

của di sán

T ừ sau năm 1986, với định hướng cơ chế chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sane; phát triển kinh tế thị trường, N h à nước đã thực hiện rất nhiều những chính sách mới tạo ra môi trường tự do và khuyến khích phát triển kinh tế của thành phố như: phát triển kinh tế đa thành phần, cho phép phát triển kinh tế tư nhân, và đầu tư nước ngoài Các chính sách này đã góp phần đưa đến những thay đổi đáng kể trong xã hội nói chu n a và tác động đến di sản nói riêng

Hoạt động th ư ơ n s mại tự do đã tạo điều kiện cho rất nhiều người dân giàu lên nhanh chóna thúc đẩy sự thay đổi trong cách nhìn của người dân về giá trị của nhà

ở cũng như bản chất của nhà ở, đặc biệt nhà ở có giá trị trone khu vực trung tâm của thành phố Nhà ở không chỉ còn đóng vai trò là nơi cư trú đơn thuần mà đó còn là

2 5 7

Trang 6

VIỆT NAM H Ọ C - KỶ YẾU HỘI TH ẢO QUÓC TẾ LÀN T H Ú T ư

nơi tạo ra các giá trị kinh tế và giá trị biểu tượng cho vị thế của chủ nhân trong xã hội (Hoàng H ữ u Phê, 2000)

Sự thành cô n e của hoạt độne kinh doanh trong môi trường kinh tế mở và sự nới lỏng kiểm soát dân sổ khiến Hà Nội trở thành nơi thu hút mạnh mẽ những luồng nhập cư từ các vùng phụ cận với m ong muốn tìm kiếm những việc làm và cơ hội phát triển mới D ân số Hà Nội tăng nhanh và dồn nén vào trung tâm đã khiến cho câu trúc đô thị của thành phố bị phá vỡ, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội khôna đủ

đê duna, nạp m ột lượng người vượt quá khả năng của thành phô theo quy hoạch trước đây [M onograph, 2011] N hu cầu ở m ạnh mẽ đã kích hoạt các hoạt động mua bán, sans tên, chuyển nhượng (chủ yếu là trái phép) nhà ở có giá trị tại khu vực phố

cổ và phổ P h á p ' N hiều nhà biệt thự Pháp tại khu phố Pháp đã bị biến dạng về kiến trúc, quy hoạch không gian, chuyển đổi chức năng sử dụng từ nhà ở sang văn phòng, nhiều biệt thự bị phá đi xây mới [Sở Q H -IM V , 2009], Phố cổ chỉ còn rất ít các công trình nhà ống có giá trị và cũng đang trong tình trạng xuống cấp Tình trạng bị xuống cấp không chỉ dừng lại với công trình nhà ở m à còn đối với các di tích đình, chùa, m iế u nằm xen kẽ trong các khu dân cư và dề trở thành đối tượng

bị người dân lấn chiếm, chiếm dụng trong bối cảnh thiếu sự quản lý của các câp chính quyền Sự thay đổi, biến dạng của các công trình di sản này cho thấy các giá trị của di sản trước kia vốn gắn với các giá trị nghệ thuật (xét trong các mặt về bố cục hay tính lịch sử) nay đã thay đổi, người dân nhìn các di sản này ở sóc độ thực dụng hơn theo khả năng chuyến đổi những tiềm năng gắn với sinh kế và hoạt động kinh tế

2.2 Giá trị của dì sản K T Đ T đang được đánh gỉá lại trong hối cảnh mới

2.2 ỉ Giả trị của d i sản K T Đ T đang được xem x é t và đánh giá theo m ột cách nhìn m ới trên th ế g iớ i

Hoạt động thư ờng niên rộng khắp của các tổ chức bảo vệ di sản quốc tế như UNESCO, ICO M O S đang m ang đến những Ur tưởng mới trong cách xác định và đánh giá giá trị của di sản KTĐT

Thứ nhất, định nghĩa về di sản với ý nghĩa m ở rộng hơn, trong đó di sản không

còn hoàn toàn được xem xét như là nhừnơ giá trị từ thế hệ trước đê lại cho thế hệ sau, mà di sản được tạo ra bởi chính cộng đồng hiện tại “Khái niệm di sản không phải được m an ẹ lại m à là được tạo ra bởi m ột cộng done, bởi người dân - những người đã gắn những giá trị vào m ột số những vật thể, ngôn ngữ, bối cảnh, cuộc sổng, khu vực lịch sử và công trình kỷ n iệm ” (Patrizia Riganti et al, 2004)

1 Kết quả là năm 1999 có đến 89% hộ ở Hà Nội thuộc diện không có giấy chứng nhận sử dụng đất (K unihiro N arum i, 2000).

Trang 7

ĐÁNH GIÁ LẠI GIÁ TRỊ C Ủ A DI SẢN KIỂN TRÚC ĐÔ THỊ

Thứ hai, bảo tồn di sản gắn với ý nehĩa bảo tồn và san% tạo ra những giá trị mới Quá trình bảo tồn di sản sẽ trở thành quá trình sáne tạo (creative process)

"Một biểu tượng văn hóa không nên bị cầm tù tro n s quá khứ m à thay vào đó đưẹc định hình trone tư ơne lai” Thúc đấy sự sáns; tạo x u n? quanh di sản văn hóa có g á trị không chỉ thúc đẩy neười dân m à còn giữ cho di sản “sống” Cách tốt nhất cể bảo tồn di sản văn hóa là khuyến khích những triển v ọ n e sáng tạo mới, làm mới lai hoặc tăng thêm trường ý nghĩa của nó (Lourdes Arizpe, 2000)

Thứ ba, giá trị di sản cần được gắn với bối cảnh xã hội, văn hóa, con ngưci,

khône; gian để đảm bảo và phát huy tính toàn vẹn và tính xác thực

Thứ tư, di sản sống luôn là những di sản có sức hút nhất.

Thứ năm, bảo tồn di sản cần coi trọne tính độc đáo địa phương.

Có thể nói rằng, g iá trị “số n g " đ ang trở nên quan trọng hơn khi xem xét cản nhắc về các giá trị của d i sản, nhất là trong khi nhữ ng giả trị được truyền lại từ thế

hệ trước khó có thê đàm bảo được tính toàn vẹn và xác thực trong bổi cảnh hiện tại Giá trị “s ố n g ” là những giả trị g ợ i lại những tầng sâu ký ức hay tâm linh cho người dân đô thị, hoặc đó là những giá trị sáng tạo m ới được tạo ra cho di sản nhờ vào các

hoạt động văn hóa mới của cộng đồng Bảo tồn di sản trong bối cảnh đô thị hóa ngay nay ngoài những nỗ lực bảo vệ vẻ bên ngoài của những công trình kiến trúc, việc cô aắne để giữ lại hay làm sốne lại những ký ức gắn bó với công trình đó hay tạo ra nhừng ký ức văn hóa mới trở nên thiêt yêu hơn bao giờ hêt Việc làm sông lại những

ký ức này như là việc tạo nên tinh thần, tạo nên phần hồn cho các công trình di sản đã

ít nhiều thay đổi trong bối cảnh mới Vai trò tạo nên phần hồn này chỉ có thể dựa vìo

ký ức đã qua hoặc ký ức sẽ được khôi phục lại của cộng đồng

2.2.2 Hiện trạng các vẩn đề thực tế và quan điểm về di sản tại địa phư ơ ng

Như trên đã phân tích, quan điểm chính thống về di sản tại Việt Nam được thể hiện trong Luật Di sản Đó là cơ sở cao nhất để thực hiện tất cả những hoạt động liên quan đến công tác bảo tồn di sản trong lãnh thổ Việt Nam Ngoài ra có một sô nghị định hướnơ dẫn thi hành luật hay cơ chế quản lý bảo tồn được lập riêng cho một sổ di sản quan trọng cũng là cơ sở pháp lý để thực hiện và hư ớne dẫn hoạt động bảo tồn Tuy nhiên, những quan điểm trong các luật, nghị định này còn mang nặng tính lý thuyết, chưa hợp với tình hình quan điểm thực tế của cộng đồng về giá trị di sản, cũng như chưa bẳt kịp với quan điểm mới trên thể giới về đánh giá giá trị của

di sản

Ngày nay, giá trị di sản được nhận thức bởi người dân đô thị khá đa dạng và dàn trải Một mặt, vẫn còn những bộ phận người dân coi trọng giá trị theo quan điểm truyền thống, m ặt khác, có nhiều người nhìn nhận các giá trị này theo một

259

Trang 8

MỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN T H Ứ T Ư

cách hiện đại hơn, chịu sự ảnh hưởng của những tư tưởng mới, bối cảnh thay đối

hoặc của luật di sản (H ình 3).

Một số nhận diện về thực trạng đánh giá giá trị di sản K T Đ T của người dân đô thị trong bối cảnh hiện nay có thể được nhìn thấy như sau:

+ Giá trị di sản K T Đ T nằm ở giá trị thực dụng (giá trị sử dụng)

N hư trên đã phân tích, trons điều kiện thay đổi của kinh tế xã hội và nhất là có

sự cạnh tranh cao, nhìn nhận của người dân về di sản nghiêng về giá trị thực dụng hơn là những giá trị n sh ệ thuật hay lịch sử Nhà ở không còn là nơi cư trú đơn thuần, đó còn là nơi tạo sinh kế v à tôn vinh đẳng cấp trong xã hội Vì vậy, nhiều người không ngại sửa chữa nhà ở thuộc khu vực bảo tồn của mình Tương tự, đình, đền chùa khôns còn giữ neuyên chức năng gốc như biểu tượng của giá trị linh thiêng, hoặc sinh hoạt cộng đồng, người dân đến đây không hoàn toàn nhằm mục đích chiêm ngưỡng giá trị nẹhệ thuật hay lịch sử mà với m ục đích mang tính “trao đổi” Họ không tiếc lễ vật phục vụ cho việc cầu cúne đế m o n e những điều tốt đẹp nhừne lợi ích sẽ đến với bản thân

+ Giá trị di sản K T Đ T nằm trong những ký ức của người dân

Rất may là bên cạnh quan điềm trên, người dân nhận thấy giá trị của di sản cũng nằm trong phần phi vật thể gắn kết với di sản Đó là những ký ức đã gắn bó với họ trong quá khứ sống và tiếp cận với di sản

+ Giá trị di sản K TĐ T nằm trong sự gắn bó về tổng thế, giữa yếu tố vật thể (công trình) và phi vật thể ( bối cảnh - cộng đồng - lối sống)

Phần lớn, đổi với người dân, họ luôn đặt giá trị di sản trong giá trị tổng thể bối cảnh Giá trị của đình, đền, chùa luôn được xem xét trong bối cảnh chung của không gian làng Giá trị của phố cố cũng được gắn với không gian toàn vẹn của đô thị nơi có sinh hoạt cộng đồng độc đáo

+ Giá trị di sản K T Đ T nằm ở giá trị lịch sử văn hóa kiến trúc nạhệ thuật

Quan điểm này phần lớn thuộc quan điểm quản lý của chính quyền Tuy nhiên qua sự tuyên truyền, người dân cũng tiếp cận được các giá trị này Mặc dù sự tiếp nhận đó còn hạn chế do sự hạn chế từ kiến thức chuyên m ôn và sự thiếu hụt nhiều tài liệu lịch sử để so sánh đối chiếu Điều này khiến quan điểm về giá trị lịch sử văn hóa, kiến trúc nghệ thuật của di sản đối với naưòi dân là m ột cảm nhận khá mơ hồ

và dỗ dàng thay đổi

Sự thay đổi trong cách nhìn nhận của người dân về giá trị di sản là một thực

tể, nhưng ở khía cạnh nào đó, khi sự nhìn nhận này đi quá những giới hạn của giá trị

Trang 9

ĐÁNH GIÁ LẠI GIÁ TRỊ CỦA DI SẢN KIỂN TRÚC ĐÔ THỊ

kinh điển của di sản, có thể gây nên những tác động tiêu cực, làm rào cản cho công tác bảo tồn Vì vậy, chính quyền và các nhà chuyên môn có vai trò rất lớn trong việc cân nhắc và xác định lại giá trị của di sản trong bối cảnh mới Sự cân nhắc này nên

là kết quả của sự xem xét kỹ càng những quan điểm đánh giá giá trị di sản đang tồn tại trên thực tế, bối cảnh địa phương và sự khảo cứu các quan điểm xu hướng mới

về công nhận những giá trị di sản trên thế giới (Hình 4).

Hình 3: N hững yếu tố tác động và chi phối cách đánh giá giá trị

của di sản KTĐT trong bối cảnh đô thị hóa

QUAN ĐIỀM OÁNH GIÁ GIẢ TRI DI SẢN CỦA CHlNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG ( LUẬĨ PHẢP NHÀ QUÂN LÝ )

ĐÁNH GIÁ

VE GIA TRỊ DI SAN CÚA NGƯỜI DÁN ĐIA PHƯƠNG (NGƯỜI Sứ DỤNG, NGƯỜI HƯỞNG LỌI)

sư THỐNG NHAI t r o n g q u a n đ iề m ĐÁNH GIẢ g iá t h i d i s á n c ủ * ĐIA PHƯƠNG

S ự H/U HỒA CẦN THIÊT GIỮA QUAN ĐIỂM CÚA Đ[A PHƯƠNG

VÀ QUAN ĐIẾM THÊ GIỜI TRONG VIỆC ĐÁNH GIẢ GiA TRI DI SẤN

Hình 4: Mối quan hệ hài hòa giũa các yếu tố tác động trong đánh giá

giá trị của di sản K TĐT trong bối cảnh đô thị hóa

2 6 1

Trang 10

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN T H Ú T ư

K ết luận

Đánh giá giá trị di sản không chỉ là đánh giá những giá trị hiện hữu của di

sản đó, những eiá trị đã từne tồn tại, từng được thiết lập trong quá khứ mà còn phải

xét đến những giá trị tiềm ẩn hay những giả trị có thể gắn vào/cho di sản đế di sản

đó tiếp tục tồn tại và phát triển trong bối cảnh xã hội mới và tương lai Bởi mục đích cuối cùne của bảo tồn khôna phải là để duy trì eiá trị thế hiện của di sản - với sự can thiệp hay xử lý bên ngoài mà là làm cho di sản “sống” được và trở nên có ý nghĩa đối với những người sử dụng và hưởng lợi từ nó

Tài liệu tham khảo

1 L ourdes Arizpe, 2000, Cuturaỉ heritage a n d globa lizatio n, Trích trong “ value and

heritage conservation” research report, the getty conservation institute, los angeles, tr.32-38

2 Francoise Choay, 1988, ƯAllégorie đ u patrimoine, Nxb Seil, Paris, tr 14 - 15.

3 Katherin V Gough, Hoai Anh Tran, 2009, “Changing housing policy in Vietnam:

Emerging inequalities in a residential area of Hanoi-’, Tạp chi Scienne direct, tr 176-186.

4 Hoàng Hữu Phê, 2000, “Vị thế, chất lượng và sự lựa chọn khác Tiến tới một lý

thuyết mới về vị trí dân cư đô thị”, Tạp chí Urban studies.

5 Vimolsiddhi Horayangkura, 2005, The future o f cultural heritage conservation amid urbanization in Asia, Constraints and Prospects, journal of architectural/planning

research and studies, volumne 3, (p71-p84)

6 J Jokilehto, 1990, Definition o f cultural heritage, references to documents in history, 1CCROM working group “heritage and society”, 45 pages

7 France Mangin, 2002, La place da patrimoine urbain dans le developpement till centre-viỉỉe de Hanoi, These de doctoral, tombre 1, part 1, 292 p.

8 Kunihiro Narumi, Daisuke Kato, Nguyen Cao Huan, 2000, Land-usse change by Urbanization o f Hanoi city, after the adoption o f Doimoi policy, p 98 - 106.

9 Nguyen QuanR and Hans Detlef Kammeier, 2002, “Changes in the political

economy of Vietnam and their impacts on the built environment o f Hanoi'’, Tạp chi

Elsevier Science, tr 373-388.

10 Philippe Papin, 2010, Lịch sử Hà Nội, Nxb Mĩ thuật, 390 trang.

11 Patrizia Riganti and Peter Nikamp, 2004, Valuing cultural heritage benefits to urban and regional development, 44th European consress of the european regional science

asociation regions and fiscal federalism, university of Porto, Porto, Portugal 25-20

12 Sở Quy hoạch kiến trúc Hà Nội, IMV, Vùng Ile-de-France, 6/2009, Nghiên círa bảo tồn và phát huy giá trị khu pho Pháp phía Nam quận Hoàn Kiếm Hà Nội.

Ngày đăng: 16/12/2017, 13:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm