DSpace at VNU: Khảo cứu văn bản bổ chính nhị thập tứ hiếu truyện diễn nghĩa ca và văn bản chữ Nôm tài liệu, giáo án, bài...
Trang 1KHẢO CỨU VĂN BẢN
DIỄN NGHĨA CA Vá VĂN BẢN CHỮ NỒM
Sato Thụy Uyởn
1 Dẩn nhập
Đạo hiếu giữ vai trú vừ cỳng quan trọng xuyởn suốt hệ tư tưởng Nho giõo, như
trong Khuyến hiếu thư của Văn Xương Đế Quón đọ v iế t: trong
Luận ngữ chương Học nhi cũng cụ cóu: ffiĩêF<ỈG,l:#jượ^o
M & < ợtlẸ r ỉè ĩê p f f r S L # ^ ;ê # tợr vỏ trong Hiếu kinh cũng đọ đưa
“hiếu” đến mức lỏ “đạo của trời, nghĩa của đất” : “;& Ệ \ i t e 5 i l -tợu
Do đụ, Việt Nam cũng như cõc nước đồng văn khõc luừn chỷ trọng đến việc giõo dục đạo hiếu của Khổng Mạnh cho con chõu để gia đớnh húa mục, xọ hội
ổn định Việc giõo dục đạo hiếu lỏ một bộ phận khừng thể tõch rời trong nền văn hụa gia đớnh của người Việt Nam thừng qua cõc hớnh thức thơ ca khuyến hiếu, gia huấn, gia qui vỏ cõc triều đớnh cũng luừn chỷ trọng đẩy mạnh tinh thần hiếu đạo trong dón chỷng bằng cõch khuyởn khợch, ban thường cho những tấm gương hiếu
tử Tõc phẩm Nhị thập tứ hiểu lỏ một ừong những tõc phẩm khuyến hiếu vỏ sau khi
từ Trung Quốc được truyền vỏo Việt Nam đa được cụ Lý Văn Phức diễn Nừm thỏnh
tõc phẩm Nhị thập tứ hiếu diễn ca được lưu truyền rộng rọi trong dón chủng vỏ
Hoỏng tử Nguyễn Phỷc Miởn Tuấn cũng đọ đợch thón kiểm định biởn soạn ra tõc
phẩm Bổ chợnh Nhị thập tứ hiếu truyện diễn nghĩa ca được lưu truyền trong giới
C0J1 chõu hoỏng thất trong Húa Thịnh Vương phủ.
Ở Việt Nam đề tỏi nghiởn cứu về Nhị thập tứ hiếu hầu như chưa cụ Trong những bỏi nghiởn cứu trước, từi đọ cụ dịp giới thiệu văn bản Nhị thập tứ hiểu diễn
' Kansai University G raduate School o f East Asian Cultures Ph.D Course & Osaka University Faculty o f Foreign Language Lecturer.
Trong quõ trớnh hoỏn thỏnh bỏi viết nỏy, tõc giả bỏi viết đọ nhận được sự hỗ trợ, cung cấp tỏi
liệu từ Phụ Giõo sư Đinh Khắc Thuón (Viện Nghiởn cứu Hõn N ừm -H ỏ Nội), Giõo sư Tomita
Kenji (Trường Đại học Osaka-Japan), Phụ Giõo sư Shimizu M asaaki (Trường Đại học
Osaka-Japan), Giõo su Yao Takao (Trường Đại học Hiroshima-Japan), đặc biệt lỏ sự hướng
dẫn khoa học, nhiệt tóm của Giõo sư Azuma Juji (Trường Đại học Kansai-Japan) Tõc giả
bỏi viết xin trón trọng cảm ơn những sự giỷp đỡ tận tóm nỏy.
Trang 2VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THỨ T ư
ca của cụ Lý Văn Phức1 đã có ảnh hưởng sâu rộng trong g iớ i quần chúng nhưng
vẫn chưa có dịp khảo sát cụ thể về sự ảnh hưởng của Nhị thập tứ hiếu trong giới quí tộc Do đó, trong bài viết này tôi muốn trình bày đề tài “Khảo cứu văn bản Bổ chír.h Nhị thập tứ hiếu truyện diễn nghĩa ca và văn bản chữ Nôm” nhằm mục đích làm rõ tác phẩm Nhị thập tứ hiếu khi truyền vào Việt Nam có sự dung hợp, biến chuyển,
được “bản địa hóa” như thế nào so với nguồn gốc ban đầu và nó có ảnh hưởng sáu sắc như thế nào đến xã hội Việt Nam, đặc biệt ở tầng lớp quí tộc
2 Các văn bản liên quan đến Nhị thập tứ hiếu ở Việt Nam
Chúng tôi đã tiến hành điều tra, thống kê các đầu sách liên quan đến Nhị thập
tứ hiếu và hiện cỏ ít nhất 27 tài liệu2 đang được lưu giữ trong Viện nghiên cứu Hán
Nôm, Thư viện quốc gia Việt Nam, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Trong số đó, có 15 tài liệu là bản Nhị thập tứ hiếu diễn ca nguyên văn thơ chữ
Nôm của cụ Lý Văn Phức và các bản phiên âm sang chữ quốc ngữ đã được phổ biển sâu rộng trong dân chúng Còn lại 12 tài liệu khác là những tài liệu nguyên văn viết bằng chữ Hán nội dung 24 truyện hiếu tử của Trung Quốc, thơ chữ Nôm của Hoàng
tử Miên Tuấn, thơ chữ quốc ngữ của tác giả Nguyễn Trọng Thật, Nguyễn Bá Thời,
thơ thất ngôn tứ tuyệt vịnh về Nhị thập tứ hiếu, bài ca vọng cổ về Nhị thập tứ hiểu, bản chữ quốc ngữ dịch truyện Nhị thập tứ hiếu bằng văn xuôi, v.v Trong sổ các tài liệu kể trên, chỉ có văn bản Bổ chỉnh Nhị thập tứ hiểu trưyện diễn nghĩa ca (dưới đây gọi tắt là Bổ chỉnh Nhị thập tứ hiếu) là văn bản duy nhất do thành viên hoàng
thất (Hòa Thịnh Quận Vương Miên Tuấn) đích thân kiểm định, lại được dùng làm sách dạy đạo hiếu cho con cháu trong hoàng tộc Có lẽ vì thế mà nó không được lưu
truyền phổ biến rộng rãi trong quần chúng nhân dân như văn bản Nhị thập tứ hiếu diễn ca của cụ Lý Văn Phức, nhưng dường như nó đã đượe con cháu Vương phủ
truyền đọc rộng rãi như là một quyển sách gia phạm
Sự tồn tại của các văn bản trên đã cho ta thấy Nhị thập tứ hiểu của T*ung Quốc sau khi truyền vào Việt Nam đã cỏ ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xi hội
Việt Nam từ giới dân chúng bình dân đến giới hoàng thân quí tộc
1 Xin xem thêm Sato Thụy Uyên, 2011, Bước đầu tìm hiểu tác phẩm Nhị thập tứ hiếu ở Việt Warn,
Những lằn ranh văn học, Nxb Đại học Su phạm Thành phố Hồ Chí Minh, trang 607-621.
2 Cụ thể thông tin các tài liệu xin tham khảo Sato Thụy Uyên, 2012, Nhị thập tứ hiếu c Việt Nam và văn bản chữ Nôm ( r -'S' h ' f ' A l Z j o l f <5 , Nghiên
cứu giao thoa văn hóa Đông Á, số kỳ niệm thành lập khoa nghiên cứu văn hóa Đôn» Á , Trương Đại học Kansai ( ITỈCT i t r x é & m p ù M r ' J r X i t m m m t â f a ê * 5 \
KM*:, trang 243 - 262
Trang 3KHẢO CỨU VÁN BẢN BỔ CHÍNH NHỊ THẬP TỨ HIẾU TR U YỆN
Những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đang có khuynh hướng nghiên cứu
vê các tác phẩm của các thành viên hoàng tộc nhưng chi dừng lại ở điểm chú giải,
bình luận, giới thiệu thi tập1 Ví dụ như Bài văn bia do vua Minh Mệnh ngự chế hiện lưu giữ tại chùa Thủy Ván , Canh Tý thi tập của vua Thành T h ả i3, Những thông tin quý trong may chục trang ngự bút cùa vua Khải Định4 v.v Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về Bổ chính Nhị thập tứ hiếu hầu như không có và văn
bàn này dường như vẫn chưa được phicn âm, xuất bản thành sách Do đó, trong
phạm vi khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ tập trung khảo sát, tìm hiểu văn bản Bổ chính Nhị thập tứ hiếu ký hiệu (VNvóO) đang được lưu giừ trong Viện Nghiên cứu
Hán Nôm (Viện Khoa học xã hội Việt Nam)
3 Bổ chính Nhị th ập tứ hiếu và Hoàng tử Miên Tuấn
3.1 Tiểu s ử H oàng íử Miên Tuấn
v ề tiểu sử Hoàng tử Miên Tuấn, những sách, tài liệu viết về ông rất ít, nhưng theo điều tra-của tác giả bài viết, hiện có 5 tài liệu có thông tin về Hoàng tử
Trong Thư mục Hán Nôm, mục lục tác giả5 và Tên tự, tên hiệu của các tác gia Hán Nôm Việt Nam6 có vài thông tin ngắn gọn về ông: “Nguyễn Miên Tuấn, tự
Dương Hiền, hiệu Trọng Diên, Tùng Viên, là con của Nguyễn Minh Mạng Trước
tác của ông có Nhã Đường thi tập (VHb7), về tác phẩm chú giải có Hiếu kinh lập bàn (AB266), tác phẩm chú giải, diễn Nôm có Hiếu kỉnh quốc âm diễn ca
(VHv60)”
Trong Đại Nam thực lục chính biên đệ tam kỷ, đệ ngũ kỷ, đệ lục kỷ (bản chữ
Hán) có một số thông tin về sự thăng, giáng chức của Hoàng tử nhưng thông tin không nhiều và không có thông tin về những năm cuối đời của ông như sau :
1 Nguyễn Thị Kiều M inh, 2007 , Việc diễn Nôm Hiếu kinh thế kỷ XIX:M ột sổ vẩn để văn bàn học và nội dung học th u ậ t, Luận văn Thạc sĩ trường Đại học Khoa học xã hội nhân văn, Hà Nội, trang 8.
2 Trần Thị Thanh, 2001, Bài văn bia do vua Minh Mệnh ngự chế hiện lưu giữ tại chùa Thúy Ván , Tạp chí Hán Nôm sổ 2 (4 7 ), Viện Nghiên cứu Hán Nôm, trang 7 0 ~ 7 4
3 Phan Thuận An, 1994, Canh Tý thi tập cùa vua Thành Thái, Tạp chí Hán Nôm số 1(18), Viện N ghiên cứu Hán N ôm, trang 5 1 ~ 5 6
4 Nguyễn Đắc Xuân &Ngô Văn Lại, 2003 J\ỉhững thông tin quý trong may chục trang ngự bút
cùa vua Khải Đ ịnh, Di sàn Hán Nôm Huế, Trung tâm Bảo tồn di sản cố đô Huế, trang 119-123.
5 Ban Hán Nôm Thư viện khoa học xã hội, 1977, Thư mục Hán Nôm - mục lục tác già , ủ y ban Khoa học xã hội Việt Nam, trang 234.
6 Trịnh Khắc Mạnh, 2002, Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam , Nxb Khoa học xã hội, trang 307.
Trang 4VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THỨ TƯ
íT tìí^ -ííS S ỉtía ữ ik íK ííiiê -íẾ R M iH im tííK S ìtS M iS ậ iiíH 4.
Trong Đại Nam thực lục chính biên đệ lục kỷ phụ biên có thêm vài thông tin
những năm cuối đời của Hoàng tử như sau : “Năm Bính Thân Thành Thái thử 8 (1896 Tây lịch), Hòa Thịnh Công Miên Tuấn thọ 70 tuổi, sai Kiến Thụy hương công Bửu Thạch mang phẩm vật tới ban cấp Năm Kỷ hợi Thành Thái thứ 11 (1899 Tây lịch), mùa hạ, tháng 4, vì là năm có lễ mừng nên bạn ơn tấn phong Hòa Thịnh công Miên Tuấn là Quận vương Năm Đinh mùi Thành Thái thứ 19 (1907 Tây lịch), Hòa Thịnh Quận vương Miên Tuấn chết Quận vương là người chí thân trong đế thất, di lão sáu triều, mê sách hiếu học, giữ lòng đạm bạc, năm ấy 81 tuổi bệnh chết
Chuẩn truy tặng là Hòa Thịnh Vương, lại cấp thêm tiền (300 đồng) sung vào việc
chôn cất ” 5
Nguyễn Phúc tộc Thế phả-Thùy tổ phả - Vương phả - Đ ế phả (dưới đây gọi tắt
là Nguyễn Phúc tộc thế phả) so với 4 tài liệu kể trên, có ghi thông tin chi tiết nhất
về tiểu sử của Ông
1 Quốc sử quán triều Nguyễn, 1977, Đại Nam thực ¡ục chính biên đệ tam kỷ (bản chữ Hán), quyển 27, Viện Nghiên cứu Văn hóa Ngôn ngữ, Trường Đại học Keio Gijutsu, trang 370-377.
2 Quốc sử quán triều Nguyễn, 1977, Đại Nam thực lục chính biên đệ tam kỳ (bản chữ Hán), quyển 49 , Viện Nghiên cứu Văn hóa Ngôn ngữ, Trường Đại học Keio Gijutsu, trang 180-181.
3 Quốc sử quán triều Nguyễn, 1980, Đại Nam thực lục chính biên đệ ngũ ký(bản chữ Hán),
quyển 7, Viện nghiên cứu Văn hóa Ngôn ngữ, Trường Đại học Keio G ijutsu, trang 95-97.
4 Quốc sử quán triều Nguyễn, 1980, Đại Nam thực lục chính biên đệ lục kỳ(bản chữ Hán), quyển 9, Viện N ghiên cứu Văn hóa Ngôn ngữ, Trường Đại học Keio Gijutsu, trang 304-306.
5 Cao Tự Thanh dịch, 2011, Đại Nam thực lục chính biên đệ lục kỷ phụ biên, Nxb Văn hóa Văn nghệ , quyển 8 trang 253, quyển 11 trang322-323, quyển 19 trang 480.
Trang 5KHẢO CỨU VẢN BẢN Bổ CHÍNH NHỊ THẬP TỨ HIẾU TRUYỆN.
NGUYẺN PHÚC MIÊN TUẤN (P;EỈT£Ìf:r?)$j) Hòa Thạnh Vương, các tên tự
là Dương Hiền, Ngạn Chi, Ngạn Thúc, Trọng Diên, hiệu là Tùng Viên, Từ Tài, xưng là Nhã Đường chủ nhân, Lạc Thiện Lão Nhân Là con thứ 37 cùa Đức Thánh
Tổ, mẹ là An Tần Hồ Thị Tùy ông sinh ngày 18 tháng 5 năm Đinh Hợi (12/6/1827) ở nhà sau của Vân cẩm Viện Năm Tân Mão (1831), phụng chỉ ra Quảng Phúc Đường để học cùng với anh em, Tháng giêng năm Quí Mão (1843), ông được sắc ban cho lập phủ (ở sau chùa Giác Hoàng trong Đại nội), lại được tấn phong là Hòa Thạnh Quận công
Năm Kỷ Tỵ (1869) ông cho lập biệt thự tại làng Vạn Xuân, có dựng 1 lầu tên
Hỉ Ngã Sào Dưới triều Giản Tôn Nghị Hoàng đế năm Giáp Thân (1883), ông được tấn phong là Thạnh Quốc công Đến năm Át Dậu (1885) kinh thành có biến, ông cùng gia đình bỏ chạy đến Lưu Biểu, phủ lầu đều bị cướp phá, gia sản cháy thiêu, may mà phủ chính và 1 ngôi lầu vẫn còn Năm Bính Tuất (1886) ông được 60 tuổi, dời đến ở tại vườn riêng ở Áp Đông Trì Qua năm Đinh Hợi (1887) ông can chuyện phong Vương phi cho thân mẫu vua Đồng Khánh nên bị cách tước Đến năm Kỷ Sửu (1889) ông được truy phục lại tước cũ Năm Quý Tỵ (1893) ông phụng mệnh kiêm nhiếp Tôn Nhân phủ Tả Tôn Nhân, rồi phụng mệnh Tam Cung hầu vua tại Hồ Tĩnh Tâm vì vua bị bệnh tâm thần, ông dẫn dẳt các quan đại thần ở Lục bộ, phân chia nhau mà phụng trực Tháng 4 năm Ẩt Mùi (1895) ông được tấn phong Hòa Thạnh công
Qua tháng chạp năm sau, ông xin thôi việc về nghi vì tuổi già Ông mất ngày
12 tháng 5 năm Đinh Mùi (22-6-1907), thọ 81 tuổi, thụy Đoan Cung Tẩm ở Dương Xuân Hạ (Hương Thủy, Thừa Thiên) Nhà thờ ở Phú Mỹ, Huế Sau khi mất, ông được truy phong là Hòa Thạnh Quận Vương, rồi Hòa Thạnh Vương Tác phẩm của
ông để lại gồm có Nhã Đường thi tập (10 quyển), Nhã Đường vân tập, Hiếu Kinh lập bản, Quốc Ầm hiếu sử Ông có 34 con trai và 27 con gái Ông và con cháu mở
ra phòng 37 thuộc Đệ Nhị Chính hệ và được ngự chế ban cho bộ Nữ (^c) để 'đặt tên cho con cháu trong phòng1
Tuy nhiên về thời gian tấn phong ông làm “Thịnh Quốc công” và “Hòa Thịnh
Quận Vương” lại có sự sai khác giữa Nguyễn Phúc tộc thế phả với các văn bản khác Văn bản Đại Nam thực lục (bản chữ Hán) ghi ông được thăng tước “Thịnh Quốc Công” vào năm 1885 nhưng trong Nguyễn Phúc tộc thế phả lại ghi thời gian đó là năm 1883 Trong văn bản Đại Nam thực lục chính biên đệ lục kỷ phụ biên lại chép
thời gian ông được thăng chức “Hòa Thịnh Quận Vương” vào năm Thành Thái thứ
1 Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc, 1995, Nguyễn Phúc tộc thế phả - thủy tổ phả - vương phù đi’ phủ , Nxb, Thuận Hóa - Huế, trang 304.
Trang 6VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ T ư
11 (năm 1899), trong khi đó, Nguyễn Phúc tộc thế phả lại chio thông tin là sau khi
Hoàng tử mất (tức là năm 1907) mới được truy phong là “Hòa Thịnh Quận Vương”
Minh Mệnh cho truyền bá công bố rộng rãi Huấn địch thập đ iều nêu cao trung hiếu,
lễ nghĩa theo quan niệm Nho giáo, ban bố đến tận làng xã V ào thời Tự Đức (1848- 1883), Huấn địch được diễn Nôm để dân dễ nghe, dễ nhớ N h ả nước đã cố gắng hết mức tăng cường và củng cố Nho giáo (Giản lược) Từ thế kỷ XVIII đến thế kỷXIX, nổi rõ xu hướng chuyển dịch kinh điển từ chữ Hán sang chữ Nôm Xu hướng này bộc lộ rõ nhu cầu “bản địa hóa” các tác phẩm kinh điển Nho học Dau còn những hạn chế nhưng xu hướng này là mảng thành tựu quan ư ọ n g của Nho học thế
kỷ XVIII, là một đóng góp của Nho học vào việc nỗ lực tạo ra một thứ Việt Nho”
Vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức của nhà Nguyễn là mhững vị vua tôn sùng đạo Nho nên luôn tích cực thực hiện đường lối “Hiếu đạo”, “Đức trị”, xem trọng việc giáo dục đạo hiếu cho dân chúng nhằm củng cố vương vị, ổn định xã hội Chính vì được giáo dục trong một xã hội, một vương triều tôm trọng Nho giáo như vậy nên vào thời nhà Nguyễn, không chỉ các Hoàng tử mà còm các Công chúa cũng rất có tài trong lãnh vực thi phú và họ rất nhiệt tình sáng tác, mhờ vậy đã để lại một
số trước tác có giá trị2 Ví dụ : Hiếu kinh lập bản, Hiếu sử lược thuyên, Hiếu sử quốc âm ca, Hiểu kinh quốc ngữ ca của Hoàng tử Miên Tuấm, Thương Sơn thi tập, Thương Sơn ngoại tập của Hoàng tử Miên Thẩm, Tuy Quốc- Công thi tập, Vi Dã hợp tập của Hoàng tử Miên Trinh, Tục vựng Đại Nam văn uyển thống biên của
1 Phan Đại Doãn, 1998, Một số vấn để Nho giáo Việt Nam , Nxb Ch ính trị quốc gia, Hà Nội, trang 56, 72.
2 Nguyễn Thị Kiều M inh, 2007, Việc diễn Nôm Hiếu kinh thế kỳ XLX.Một số vắn đề văn bản học và nội dung học th u ậ t, Luận văn Thạc sĩ trường Đại học K hoa học xã hội nhân văn Hà Nội, trang 6.
Trang 7KHẢO CỨU VĂN BẢN BỔ CHÍNH NHỊ THẬP TỨ HIẾU TRUYỆN.
Vĩnh Trinh Công chúa, Diệu Lỉên tập của Trinh Thận Công chúa1 Qua các trước
tác của các hoàng tử, công chúa, ta có thể thấy trong số các anh em, Hoàng tử Miên Tuấn là người nhiệt tâm diễn Nôm các kinh điển Nho giáo, những tác phẩm có liên quan đến tư tường hiếu đạo nhất và tinh thần đề cao ý thức “hiếu đạo” của ông
Điều đó có thể thấy rõ qua bài tựa trong Hiếu kỉnh quốc âm diễn nghĩa ca của
(Phiên âm chữ quốc ngữ: Dễ đền nổi om trời nghĩa đất, luận hiếu bản chưa toại chí, sự thân đâu đã đành lòng Khôn lường thiên đạo, cây muốn lặng mà gió không dừng Càng ngán nhân tình, trăng tuy tròn mà mây dễ phủ Nay gặp trong nhà con nít vừa đang học tập kinh này, trên tiệc bạn hiền từng có hỏi han nghĩa ấy Vậy nền săn sóc muốn làm vui tấc dạ, nương thức cũ vẽ trái bầu, bâng quơ nghe cũng tiếc
phần âm, nối sách xưa thêm chân rắn Còn chưa thông suốt Thi Thư, chẳng liệu tính
hèn, mãn hơn tay vụng, chữ câu chịu khó theo phân giải, thực mong tình bắt chước cho con Nghĩa lý dù may rủi thiếu thừa, dám rằng nguyện học đòi Khổng Tử Đặt đối dạy nhà trẻ nhỏ, cát cứ bày chấp chảnh nôm na)
Đây có thể nói là bối cảnh dẫn đến sự ra đời của một loạt các tác phẩm Khuyến hiếu được diễn Nôm của Hoàng tử Miên Tuấn trong đó bao gồm cả tác
Qua đó, ta có thể nói Bổ chỉnh Nhị thập tứ hiếu có ảnh hường rất lớn và chiếm
giừ vị trí quan trọng trong việc giáo dục tư tưởng hiếu đạo cho con cháu Hòa Thịnh Vương phù và cũng có khả năng cho cả con cháu trong giới hoàng tộc nhà Nguyễn
1 Ban Hán Nôm T hư viện Khoa học xã hội, 1977, Thư mục Hán Nôm - mục lục tác giả, Nxb Khoa học xã hội & Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Học viện Viễn Đông Bác c ổ (Pháp),
1993, Di sàn Hán Nôm Việt Nam - thư mục để yếu, Nxb Khoa học xã hội.
Trang 8VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẰN THỨ T ư
Ngoài ra, thông qua việc diễn Nôm Bổ chỉnh Nhị thập tứ hiếu và một số tác phẩm diễn Nôm Hiểu kinh của Hoàng tử Miên Tuấn cho ta thấy rõ ông là người luôn nỗ
lực đề cao ý thức thực hiện “hiếu đạo” và mong muốn phổ biến rộng rãi đạo hiểu cho dân chúng và cho con cháu trong gia đình
v ề tài năng diễn Nôm của Hoàng tử Miên Tuấn, Nguyễn Thị Kiều Minh dã nói :“Ông đã kế thừa những chú sớ của các bậc tiền bối, đồng thời thể hiện sự thâm nhập sâu vào tư tưởng Nho gia, trải nghiệm một thực tiễn đạo đức theo đạo tu thân nhà Nho Điều đó cũng thể hiện rõ rằng Nho giáo thông qua sự trải nghiệm, lĩnh hội của những cá nhân con người cụ thể mà đã được “bản địa hóa” ở Việt Nam Nhóm tác phẩm diễn Nôm của ông ra đời vào thời điểm đó đã để lại những nội dung tư tưởng nhất định Những cống hiến và sự cố gắng của Miên Tuấn đã góp phần vào việc phát triển ngôn ngữ của dân tộc”1
3.2.2 Niên đại sáng tác, xuất bản
Hiểu kinh quốc âm diễn nghĩa ca, Hoạt thế sinh cơ hiếu tử quang truyện và Bổ chỉnh Nhị thập tứ hiểu được đóng cùng tập Hiểu kinh quốc ngữ ca (VNv60), hiện đang được lưu giữ trong Viện Nghiên cứu Hán Nôm Bên phải trang bìa Hiểu kinh quốc ngữ ca ta thấy dòng chữ ï Ậ và bên trái có dòng
chữ: (xin xem hình 1) Như vậy, Hiểu kinh quốc ngữ ca là do Hoàng tử Miên Tuấn soạn, tác phẩm được in tái bản vào niên hiệu
Thành Thái (1889-1907) tại nhà in Nhã Đường, bản khẳc in gồm 40 trang, kích thước 23 cm X 16cm
1 Nguyễn Thị Kiều M inh, 2007, Việc diễn Nôm Hiếu kinh thế kỳ 19: Một số vấn để vã ĩ bản học và nội dung học thuật, Luận văn Thạc sĩ trường Đại học Khoa học xã hội nhân vin Hà Nội, trang 7.
Hình 1: Tờ bìa văn bản Hiểu Kinh quốc ngữ ca
Trang 9KHẢO CỬU VĂN BẢN B ổ CHÍNH NHỊ THẬP TỨ HIẾU TRUYỆN
Xét qua niên đại sáng tác của từng văn bản đóng cùng tập Hiếu kinh quốc ngữ
ca, cụ thể như sau:
* Vãn bàn Hiếu kinh quốc âm diễn nghĩa ca: Trong dòng cuối bài tựa có
ghi r J và trang đầu có ghi Từ đó ta có thể biết văn
bàn này được Hoàng tử Miên Tuấn diễn Nỏm vào nicn hiệu Tự Đức (1848-1883)
* Văn bản Hoạt thế sinh cơ hiểu từ quang truyện : Trang đàu có dòng chữ:
Cãn cứ vào thông tin được ghi trong Đại Nam thực lục chính biên đệ lục kỷ
phụ biên, Hoàng tử Miên Tuấn được truy phong làm Hòa Thịnh Quận vương vào
năm 1899 Ngoài ra, năm 1823 vua Minh Mạng ngự chế Đe hệ kim sách ( m x & m i ) qui định 20 mỹ tự dùng đặt tên lót cho các đời con cháu trai từ sau thời Minh Mạng trở về sau 20 mỹ tự trong Để hệ kim sách cụ thể như sau :
(Miên) , (Hồng), HI (Ưng), n (Bửu), 7k (Vĩnh)
(Bảo), H (Quí), ẦỀ (Định), PỀ (Long), ẽ (Trường)
l ỉ (Hiền), m (Năng), m (Kham), t t (Kế), ÌẺ (Thuật)
t i (Thế), ĩ$n (Thụy), m (Quốc), M (Gia), n (Xương)
Trong Đ ại Nam thực lục chính biên có ghi thông tin về Đẻ hệ kim sách như
sau :
m u * n m k KJÚHỈ, Ể È * ã k m
Tổng hợp hai nguồn thông tin này cho chúng ta suy đoán răng Hoạt thế sinh
c a hiếu từ quang truyện được Hoàng tử Miên Tuấn biên soạn sau khi ông trở thành
Hòa Thịnh Quận Vương (năm 1899) và con trai ông là Hồng Huy kiểm thảo và cho
in thêm vào năm Thành Thái Canh Tý, tức năm 1900
* Bỗ chỉnh Nhị Thập Tứ Hiếu không ghi rõ niên đại sáng tác, năm xuất bản
nhưng ở trang đầu v ă n b ản có đ ề d ò n g chữ : ,
, cho chúng ta suy đoán rang Bo chính N hị th ậ p tứ hiếu cũng
1 Quốc sừ quán triều Nguyễn, 1972, Dại Nam thực lục chính biên dệ nhị kỷ (bản chữ Hán), quyển 20, Viện Nghiên cứu Văn hóa Ngôn ngữ, Trường Đại học Keio Gijutsu , trang 270 Phần trong ngoặc [ ] là phần ghi chú ngay trong văn bản được viết thànli 2 dòng theo
chiều dọc {ÌẴ 'lĩ:(í)
Trang 10VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ T Ư
được Hoàng tử Miên Tuấn biên soạn sau khi ông trở thành Hòa Thịnh Quận Vương (năm 1899) và con trai ông là Hồng Kinh kiểm thảo và cho in phổ biến rộng rãi trong Vương phủ (Xin xem hình 2)
Tổng hợp các nguồn thông tin trên, 3 văn bản Hiếu kinh quốc âm diễn nghĩa
ca, Hoạt thế sinh cơ hiểu từ quang truyện, B ổ chỉnh Nhị thập tứ hiếu có niên đại
sáng tác khác nhau nhưng có khả năng cả 3 văn bản được tập hợp đóng chung lại thành một tài liệu và cho in lại vào năm Thành Thái Canh Tý (năm 1900) dưới tựa
đề Hiểu kinh quốc ngữ ca.
3.2.3 Văn bản Bổ chính Nhị thập tứ hiểu và hệ thống của Nhị thập tứ hiếu Theo kết quả nghiên cứu của ông Kuroda Akira, Nhị thập tứ hiểu được chia ra
làm 3 hệ thống chủ yếu là : Toàn tướng nhị thập tứ hiếu thi
bản ( rj|3C Ằ ^rJ!£j ) , Nhị thập tứ hiểu nguyên biên ( ) ,
Triệu từ cổ Nhị thập tứ hiếu thư họa hợp bích ( r^ g ^ Ịg H -ị- lS ^ Ệ rlrlỉl l 3 i l j ) Hiếu hành lục có những văn bản như Nam Quỳ bản toàn cận chú giải
Hình 2: Tờ bìa văn bản Bổ chính Nhị thập tứ hiếu
, V ra* - ->&#* -lề*?, Si ~