Lĩnh vực BVMT đã có nhiều đề tài khoa học, luận văn, bài viết trên tạp chí đã đề cập một cách trực tiếp hoặc lồng ghép vào những nội dung liên quan: Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS LÊ KIM NGUYỆT
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi
đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét
để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 2017
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đoàn Tiến Dũng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 8
1.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường 8
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường 8
1.1.2 Vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta 12
1.2 Khái niệm, nội dung và vai trò của xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường 15
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường và xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường 15
1.2.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 20
1.2.3 Vai trò của xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam 28
1.3 Kinh nghiệm xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường ở một số quốc gia trên thế giới 31
Kết luận chương 1 36
Chương 2: THỰC TRẠNG XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH 37
2.1 Thực trạng xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam qua các giai đoạn 37
2.1.1 Giai đoạn trước năm 1986 37
Trang 52.1.2 Giai đoạn từ 1986 đến nay 38
2.2 Thực trạng xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường tại
địa bàn tỉnh Quảng Bình 44
2.2.1 Nhận diện các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường
phổ biến tại tỉnh Quảng Bình và các yêu cầu xử lý vi phạm 46 2.2.2 Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 53 2.2.3 Thực trạng bồi thường thiệt hại về môi trường trên địa bàn tỉnh
Quảng Bình 58 2.2.4 Thực trạng xử lý tội phạm về môi trường trên địa bàn tỉnh
Quảng Bình 63 2.2.5 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém 67
Kết luận chương 2 71 Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ VI PHẠM
PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG BÌNH 72 3.1 Tính cấp thiết của việc nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường 72
3.1.1 Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về xử lý vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực môi trường 72 3.1.2 Tính cấp thiết của việc nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm pháp
luật về bảo vệ môi trường 73
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm pháp
luật bảo vệ môi trường 75
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện nội dung pháp luật về xử lý vi phạm
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 75 3.2.2 Giải pháp cho việc thực thi xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ
môi trường 84
KẾT LUẬN 94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Từ được viết tắt
BTTH Bồi thường thiệt hại
BVMT Bảo vệ môi trường
LMT Luật môi trường
ÔNMT Ô nhiễm môi trường
QLNN Quản lý nhà nước
UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số cơ sở sản xuất kinh doanh thanh kiểm tra và xử lý vi
phạm hành chính (giai đoạn từ 1996 – 2001) 39 Bảng 2.2 Số cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng bị xử
phạt VPHC do thanh tra chuyên ngành môi trường giai
Bảng 2.4 Số vụ xử phạt vi phạm hành chính về môi trường tại
Bảng 2.5 Tổng thiệt hại ước tính của sự kiện Formosa đến 4 tỉnh
Bảng 2.6 Tổng thiệt hại ước tính của sự kiện Formosa đến các địa
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Tổng số cơ sở thanh tra và xử phạt vi phạm hành
Biểu đồ 2.2 Số tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính do thanh tra
chuyên ngành môi trường (giai đoạn 2005 – 2008) 41 Biểu đồ 2.3 Số vụ xử phạt vi phạm hành chính về môi trường tại
Biểu đồ 2.4 Tổng thiệt hại ước tính của sự kiện Formusa đến 04
Biểu đồ 2.5 Thiệt hại ước tính ảnh hưởng tới các địa phương trong
tỉnh quảng bình do sự kiện Formosa 60
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Ô nhiễm môi trường đã và đang là vấn đề mang tính toàn cầu, vì thế Việt Nam không phải là ngoại lệ Hiện nay bảo vệ môi trường là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia hướng đến Muốn phát triển bền vững thì yếu tố môi trường phải được quan tâm đúng mức Môi trường ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của con người, của sinh vật và kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc và toàn nhân loại Đặc biệt trong thời kỳ đất nước ta đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng nền kinh tế tri thức thì bảo vệ môi trường càng trở nên cấp bách Môi trường nói chung không chỉ là vấn đề của hiện tại mà còn là của tương lai, chúng ta phải quan tâm và chủ động giải quyết nhằm đảm bảo phát triển bền vững đất nước
Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã dành được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, từng bước xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, cùng với những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, vấn
đề môi trường đã và đang đặt ra những thách thức lớn Bảo vệ môi trường hiện nay là nghĩa vụ của tất cả các cá nhân, tổ chức ở nước ta và được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Điều 50 Hiến pháp quy định:
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc
tế, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [48]
Hiến pháp 2013 ghi nhận quy định như sau:
1 Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng
Trang 10hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu… nội dung về vấn đề bảo vệ môi trường nói chung [47, Điều 63]
Bên cạnh đó, Nghị quyết của Bộ Chính trị số 41-NQ/TW ngày
15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [5]; Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, đã được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt theo Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003;
Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) do Chính phủ ban hành [10], chính là những tiền đề cơ bản khẳng định sự
cần thiết của hoạt động BVMT ở nước ta trong tiến trình hội nhập và phát
triển Ngoài ra, trong các văn bản khác như Luật Bảo vệ môi trường năm
2014 [48]; Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung [49], Luật xử phạt vi phạm hành chính [46]; Bộ luật dân sự 2015 [50] và các Nghị định, Thông
tư hướng dẫn thi hành [12]; [13]; [14]… là tiền đề để nhà nước thống nhất quản lý về công tác BVMT cũng như xử lý các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Phải nhìn nhận khách quan rằng từ khi Đảng và Nhà nước ta ban hành chủ trương và pháp luật bảo vệ môi trường cho đến nay chúng ta đã triển khai thực hiện rộng khắp trong cả nước; chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức kinh tế xã hội và cộng đồng ngày càng chú ý hơn đến vấn đề bảo vệ môi trường Tại tỉnh Quảng Bình, trên cơ sở đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường, chính quyền các cấp của tỉnh đã ban hành các văn bản và triển khai thi hành pháp luật bảo vệ môi trường Nhìn chung, đã đạt được một số kết quả nhất định, góp phần nâng
Trang 11cao trách nhiệm, ý thức của cộng đồng và xã hội trong bảo vệ môi trường Nhưng công tác xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường còn bộc lộ nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững Chính vì vậy cần được tiếp tục nghiên cứu, đề ra các giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường Góp phần nâng cao hiệu quả công tác ngăn ngừa, xử lý vi phạm và bảo vệ môi trường ngày càng tốt hơn Xuất phát từ tình hình nói trên, tác giả chọn đề
tài “Xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trên địa bàn Quảng Bình”
làm luận văn thạc sĩ luật học, với mong muốn góp phần hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường là một trong những nội dung rất quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển bền vững ở nước ta Đồng thời đáp ứng với công cuộc cải cách trong tình hình mới nên nghiên cứu lĩnh vực xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu lý luận
và chỉ đạo thực tiễn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Lĩnh vực BVMT đã có nhiều đề tài khoa học, luận văn, bài viết trên tạp chí đã đề cập
một cách trực tiếp hoặc lồng ghép vào những nội dung liên quan: Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với doanh nghiệp trong khu công nghiệp ở Việt Nam (Nguyễn Thị Bình, 2013, Luận văn thạc sĩ); Thực hiện pháp luật môi trường ở tỉnh Nam Định (Nguyễn Thị Thu Hường, 2008, Luận văn thạc sĩ) [24]; Đinh Thị Mai Phương (2003), “Trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực môi trường của pháp luật Việt Nam”, bài viết trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp), Thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ môi trường ở các làng nghề Việt Nam (Lê Kim Nguyệt, Tạp chí khoa học Đại học
Trang 12quốc gia Hà Nội, năm 2012); Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường do hoạt động của làng nghề gây ra (Lê Kim Nguyệt, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, 2014); Cơ sở pháp lý đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong
lành ở Việt Nam (Lê Kim Nguyệt, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng 10/2015); Một số vấn đề pháp lý đảm bảo quyền tiếp cận thông tin về môi
trường ở Việt Nam (Lê Kim Nguyệt, Tạp chí Thanh tra, số 01/2016); Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cộng đồng dân cư trong kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề ở Việt Nam (Lê Kim Nguyệt, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật,
số chuyên đề tháng 01/2017) [26]; [27]; [28]… những công trình nghiên cứu, các bài viết trên ít nhiều đều đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường ở nước ta dưới mọi góc nhìn của đời sống kinh tế - xã hội Tuy nhiên, công trình nghiên cứu triển khai trực tiếp về nội dung xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường tại một địa phương cụ thể còn khá khiêm tốn Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề xử lý
vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn điều tra hiện nay Do vậy, không có bất kỳ một công trình khoa học nào trùng lặp với đề tài luận văn mà tác giả chọn nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Những năm trở lại đây, vấn đề ÔNMT và BVMT luôn được xã hội quan tâm Chọn lĩnh vực xử lý vi phạm pháp luật BVMT làm đối tượng nghiên cứu, chúng ta có điều kiện đi sâu phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam và thực trạng xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, khẳng định tính tất yếu khách quan của việc cần thiết nâng cao hiệu quả xử lý
các hành vi vi phạm pháp luật BVMT ở Việt Nam hiện nay
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, tìm hiểu và đánh giá đúng tình hình xử lý vi
Trang 13phạm pháp luật bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong những năm qua Luận văn đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển bền vững kinh tế - xã hội
tại Quảng Bình nói riêng và cả nước nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể
Để có thể đạt được mục đích đặt ra khi nghiên cứu đề tài, đòi hỏi luận văn phải giải quyết các vấn đề sau:
Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường Trong đó nêu lên khái niệm, giải thích vì sao phải xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường và trình bày yêu cầu và các yếu tố đảm bảo xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường được quy định trong hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành
Ba là, nêu và phân tích thực trạng xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, trong đó chú trọng các vi phạm đã xảy
ra Đánh giá thực trạng xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Tìm hiểu các khiếm khuyết của pháp luật thực định về
xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, đồng thời tìm hiểu các nguyên nhân của các khiếm khuyết đó Từ đó, đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trong thời gian tới
4 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Trên cơ sở kế thừa các thành tựu của các công trình nghiên cứu đã công
bố trong nước và quốc tế, luận văn đạt được những kết quả nghiên cứu có tính mới như sau:
Phân tích, đưa ra các khái niệm tổng quát về pháp luật bảo vệ môi
Trang 14trường và xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường như: Khái niệm, đặc điểm và sự cần thiết phải ban hành các quy định về xử lý vi phạm pháp luật
về bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay
Phân tích và luận giải một cách khoa học các nguyên tắc, căn cứ của việc áp dụng các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường; Đánh giá toàn diện tình hình xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Tìm ra các thiếu sót của hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường và các nguyên nhân của các thiếu sót đó Đề xuất một số phương hướng, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu
quả xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trong thời gian tới
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu lý luận pháp luật chuyên sâu về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn việc áp dụng các quy định của pháp luật xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong các văn bản pháp luật về xử lý
vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường: Bộ Luật Hình sự, Bộ luật dân sự, Luật bảo vệ môi trường và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thực hiện Nội dung luận văn tác giả giới hạn trong vấn đề lý luận về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường được ghi nhận tại pháp luật của Việt Nam Giới hạn khảo sát của luận văn là quá trình áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật bảo
vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Bình từ năm 2005 cho đến nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung của khoa học xã hội và các phương pháp nghiên cứu đặc thù của luật học để nghiên cứu đề tài Các phương pháp chủ yếu bao gồm: Phương pháp phân tích quy phạm để đánh giá quy phạm, tính tích cực, bất cập, hướng sửa đổi hoàn thiện, tìm kiếm
Trang 15ý tưởng của các nhà làm luật về hoàn thiện pháp luật; phương pháp phân tích
vụ việc để đánh giá thực trạng xử lý vi phạm pháp luật…; phương pháp phân loại pháp lý để nhận dạng các loại vi phạm và hình thức xử lý vi phạm; phương pháp so sánh pháp luật; phương pháp mô tả quy phạm và mô tả vụ việc nhằm so sánh pháp luật Việt Nam với một số nước về pháp luật xử lý vi phạm; phương pháp mô hình hoá và điển hình hoá các quan hệ xã hội nhằm giải quyết những vấn đề về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật…
7 Bố cục nội dung của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung luận văn được chia thành ba chương, cụ thể là:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ
môi trường
Chương 2: Thực trạng xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trên
địa bàn tỉnh Quảng Bình
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ
môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường
Môi trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình tồn tại và phát triển của con người Sự phát triển bùng nổ về kinh tế của các quốc gia trên thế giới hiện nay đang đặt ra thách thức về BVMT, phòng tránh những tác động đến môi trường luôn được các quốc gia trên thế giới quan tâm và xem là một trong những chiến lược quan trọng Bởi lẽ, môi trường bao gồm tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh có tác động, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe, đời sống con người Từ đó khẳng định: Môi trường là bạn tốt và đang rất cần chúng ta yêu mến, bảo vệ
Cùng với việc nghiên cứu, tìm hiểu, xây dựng, hoàn thiện và áp dụng các quy định về BVMT trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng về cơ bản đã được thực hiện Luật bảo vệ môi trường 2014 đã điều chỉnh một cách tương đối hợp lý các vấn đề liên quan đến pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay Trên cơ sở tìm hiểu các quan điểm về môi trường của các nhà nghiên cứu, pháp luật Việt Nam đã đưa ra một khái niệm về môi trường, bảo vệ môi trường một cách hoàn thiện phù hợp với thực tiễn áp dụng tại Việt Nam Tạo nền tảng pháp lý cho các hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta trong tiến trình hội nhập quốc tế
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân mà là của toàn xã hội Hoạt động BVMT muốn đạt hiệu quả cao nhất thiết phải được
Trang 17pháp điển hoá thành các quy phạm, các đạo luật Mặc dù vậy, hiện nay khái
niệm pháp luật bảo vệ môi trường vẫn còn những cách hiểu khác nhau
Trong những năm qua, đất nước ta đã và đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, song song với phát triển kinh tế cũng cần ban hành các quy định pháp luật trong lĩnh vực BVMT Nhận thức rõ vai trò quan trọng của hoạt động bảo vệ môi trường, các cơ quan NN có thẩm quyền đã hoạch định, xây dựng và ban hành hệ thống văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh Có thể nói rằng, phạm vi và đối tượng điều chỉnh cụ thể trong từng văn bản pháp luật, các quan hệ về bảo vệ môi trường với luật chuyên ngành đã được xử lý một cách hài hoà và ngày càng mang tính khả thi cao Thông qua hoạt động ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật chung và văn bản pháp luật chuyên ngành khác có quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường đã tạo nền tảng pháp lý cơ bản trong hoạt động BVMT, xây dựng và phát triển
bền vững Dựa trên các phân tích trên tác giả đưa ra khái niệm pháp luật bảo
vệ môi trường như sau: Pháp luật bảo vệ môi trường là tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình các chủ thể có hành vi khai thác, sử dụng hoặc tác động đến môi trường Đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ môi trường Pháp luật bảo vệ môi trường được cấu
thành bởi hệ thống quy phạm pháp luật được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh cho đến những văn bản hướng dẫn thi hành do Chính phủ, các Bộ, ban ngành hay chính quyền địa phương ban hành
Trên cơ sở đó, pháp luật bảo vệ môi trường có những đặc điểm sau: Thứ nhất, pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta chịu sự điều chỉnh của công ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam là thành viên Đây là một
đặc điểm hết sức quan trọng Là thành viên của Liên Hiệp Quốc, bên cạnh
Trang 18việc tuân thủ các Công ước về bảo vệ môi trường, Việt Nam cần có những quy định pháp luật riêng điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động bảo vệ môi trường nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật BVMT
ở nước ta đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Theo tinh thần trên, tại khoản 3 Điều 6 Luật ký kết gia nhập, thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 của Việt Nam ghi nhận như sau:
Căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của điều ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ
rõ, chi tiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó
Trên cơ sở đó Việt Nam đã tuân thủ các quy định về BVMT của quốc
tế, đồng thời xây dựng nên hệ thống pháp luật ở nước ta về vấn đề này Từ đó, tạo nên tính thống nhất của các quy phạm pháp luật BVMT.Vì vậy pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam cũng được xây dựng hài hòa với các điều ước quốc tế về môi trường và chịu sự tác động của các thành viên đó
Thứ hai, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, việc xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta ra đời muộn hơn so với
một số lĩnh vực pháp luật khác Tuy rằng, khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động bảo vệ môi trường là tất yếu khách quan, cũng như yêu cầu luật hóa các công cụ pháp lý nhằm điều chỉnh việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường Luật Bảo vệ môi trường đầu tiên đã được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 27/12/1993 (Luật Bảo vệ môi trường năm 1993) Sau khi Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 có hiệu lực thi hành, hàng loạt các văn bản
Trang 19dưới luật, gồm: Pháp lệnh, Thông tư, Chỉ thị, các chương trình mục tiêu quốc gia về bảo vệ môi trường đã được ban hành và triển khai, trong đó nhiều văn bản nhấn mạnh vấn đề quản lý, giám sát chất thải bảo vệ môi trường Có thể kể đến như: Nghị định số 175/CP, Nghị định số 20/CP, Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg… và một loạt các Tiêu chuẩn Việt Nam được ra đời Nếu so với các lĩnh vực pháp luật khách thì pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam ra đời muộn hơn hẳn Nguyên nhân là do vấn đề môi trường ngày càng trở nên quan trọng
và nhận định vai trò của nó trong mối quan hệ mật thiết với quá trình xây dựng
và phát triển đất nước, cũng như thực trạng yêu cầu cần thiết của hoạt động bảo
vệ môi trường hiện nay Vì vậy vấn đề bảo vệ môi trường đã được đưa ra và thực hiện phổ biến
Thứ ba, tuy rằng pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam ra đời muộn hơn so với các lĩnh vực luật pháp khác nhưng pháp luật về BVMT đã có sự phát triển nhanh chóng và ngày càng hoàn thiện hơn Cùng với sự quan tâm
của các cơ quan NN có thẩm quyền về chiến lược BVMT đã và đang được
hoàn thiện trên cả hai phương diện: Lý luận và thực tiễn Việt Nam đã đi đầu
trong việc xử lý các hành vi vi phạm, cụ thể hóa vấn đề BVMT thành chiến lược phát triển quốc gia… khẳng định không đánh đổi môi trường để lấy kinh
tế Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đạt được, pháp luật BVMT cũng đứng trước những thách thức to lớn về bảo vệ môi trường và sự phát triển bền vững của Việt Nam trong thời đại mới
Thứ tư, pháp luật bảo vệ môi trường có liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước nói chung, vấn đề về môi trường nói riêng Đặc biệt,
pháp luật về BVMT ở nước ta có liên quan mật thiết đối với nhiều lĩnh vực pháp luật khác như dân sự, hình sự, kinh tế Hoạt động bảo vệ môi trường nói chung với mục tiêu là bảo vệ môi trường sống không chỉ riêng với đất nước ta
mà còn là toàn cầu Nhà nước với vai trò là chủ thể thay mặt nhân dân quản lý
Trang 20bảo vệ những lợi ích chung của cộng đồng, do vậy phải ban hành các quy phạm pháp luật nhằm quản lý xã hội trong đó có vấn đề BVMT Từ đó, cho thấy vai trò quan trọng của pháp luật BVMT không chỉ riêng đối với Việt Nam mà còn đối với toàn cầu trong giai đoạn hiện nay
1.1.2 Vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta
Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường được thể chế hoá thành pháp luật bảo vệ môi trường – trở thành công cụ hữu hiệu để quản lý và bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay Trên phương diện lý luận và thực tiễn, pháp luật bảo vệ môi trường có
lý những vi phạm đối với lĩnh vực mà mình quản lý
Hai là, vấn đề bảo vệ môi trường có vai trò to lớn, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện các quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia về bảo vệ môi trường và là một trong những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước nói chung Bằng việc quy định cụ thể nội dung bảo vệ môi trường tại
các văn bản pháp lý hiện hành là tiền đề cho các hoạt động bảo vệ môi trường Hệ thống văn bản pháp lý có vai trò không thể thay thế được trong
Trang 21việc đảm bảo thực hiện các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn về bảo vệ môi trường, đồng thời đây cũng là cơ sở quy định chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực BVMT
Ba là, đối với xã hội, vấn đề bảo vệ môi trường có vai trò đặc biệt to lớn trong xây dựng chiến lược phát triển bền vững của quốc gia Môi trường được
bảo vệ tốt là yếu tố đảm bảo phát triển bền vững và ngược lại Việc ban hành các quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường là
cơ sở pháp lý cho việc cơ quan nhà nước thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát được thực hiện thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất dựa vào các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành, còn xử lý vi phạm được áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước có những hành vi vô ý hoặc cố ý vi phạm các quy định của pháp luật bảo vệ môi trường
Bốn là, bảo vệ môi trường là lĩnh vực rộng lớn nên hoạt động QLNN về bảo vệ môi trường tác động nhiều đến kinh tế và xã hội Việt Nam hiện nay
đang thực hiện công cuộc xây dựng và phát triển đất nước nên cùng với quá trình xây dựng thì việc bảo vệ môi trường ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa chính trị, xã hội rất quan trọng Đặt hoạt động QLNN về bảo vệ môi trường trong quá trình xây dựng và phát triển lên hàng đầu và trở thành nhiệm
vụ có ý nghĩa chiến lược, phù hợp với xu thế chung trên thế giới hiện nay
Năm là, pháp luật bảo vệ môi trường có vai trò quan trọng trong việc
nâng cao nhận thức của xã hội trong lĩnh vực này Những quy định về bảo vệ
môi trường có vai trò trong việc giáo dục, truyền thông để từ đó góp phần nâng cao nhận thức của xã hội về vấn đề xây dựng và phát triển trong môi trường lành mạnh, an toàn và trong sạch Góp phần quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế - xã hội một cách bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Sáu là, pháp luật về BVMT có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo
Trang 22cho con người được sống trong môi trường trong lành Để tồn tại và phát
triển con người đã tác động nhiều vào thiên nhiên để phục vụ cho các nhu cầu của mình Các cuộc cách mạnh KHKT với nhiều thành quả quan trọng đã làm cuộc sống con người có nhiều biến đổi Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực thì con người cũng đứng trước những thách thức to lớn như biến đổi khí hậu, nước biển dâng, núi lửa phun trào, ÔNMT… ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước trên toàn thế giới
Ở Việt Nam trong thời gian gần đây, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, việc tập trung xây dựng và phát triển nền kinh tế đã để lại những tác nhân ảnh hưởng trực tiếp lên môi trường sống nói chung Do đó, nhận thức được vai trò quan trọng của việc hình thành
và phát triển một môi trường xanh – sạch – đẹp không chỉ riêng ở nước ta mà còn chung của thế giới chính là tiền đề bảo đảm thực hiện những nguyên tắc
cơ bản của pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam, trong đó có nguyên tắc
“bảo đảm và ghi nhận quyền được sống trong môi trường trong lành của con người” [30] Điều này là hoàn toàn phù hợp với Tuyên bố của Hội nghị Liên
Hợp Quốc về môi trường và con người (Hội nghị Stockhom năm 1972) nêu
rõ: “Con người có quyền cơ bản được tự do, bình đẳng và được hưởng đầy đủ các điều kiện sống trong một môi trường chất lượng cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con người có trách nhiệm trong bảo vệ và cải thiện cho các thế hệ hôm nay và mai sau” và trong một số Tuyên bố của các tổ
chức thế giới về vấn đề bảo vệ môi trường Như vậy, thông qua việc ban hành
và hoàn thiện khung pháp lý cũng như quá trình thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường một cách chặt chẽ và có hiệu quả đã góp phần trong việc bảo đảm quyền được sống trong một môi trường với chất lượng đạt tiêu chuẩn cho phép, cuộc sống được bảo đảm lành mạnh, hữu ích và được hài hòa với môi trường thiên nhiên của con người ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Trang 231.2 Khái niệm, nội dung và vai trò của xử lý vi phạm pháp luật bảo
vệ môi trường
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường
và xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường
1.2.1.1 Khái niệm, đặc điểm của vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của một cá nhân mà của toàn xã hội BVMT là nội dung quan trọng trong xây dựng và phát triển đất nước Theo từ điển Luật học: Vi phạm pháp luật được xem xét dưới hai nghĩa:
“Nghĩa rộng: Là các việc làm sai trái pháp luật nói chung
Nghĩa hẹp: Là các việc sai trái chưa cấu thành tội phạm và thường được gọi là vi phạm hành chính” [64]; [65]
Khái niệm vi phạm pháp luật nói chung được coi là một trong các khái niệm cơ bản và quan trọng của pháp luật Việt Nam Hệ thống pháp luật nước
ta căn cứ vào mức độ hành vi vi phạm của từng ngành luật chuyên ngành mà đưa ra những mức xử lý tùy vào mức độ của các hành vi trên Ví dụ: Luật hình sự xác định hành vi nào là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới các khách thể được luật hình sự bảo vệ và quy định các hình thức xử lý với tư cách là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất để áp dụng đối với người phạm tội Hoặc đối với Luật xử phạt vi phạm hành chính thì mức độ vi phạm được đánh giá là nhẹ hơn sẽ được áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính tương thích đối với các hành vi đó Tuy rằng, đây là một khái niệm quan trọng nhưng cho tới nay, pháp luật Việt Nam vẫn chưa có quy định cụ thể để xác định khái niệm về vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường Khái niệm này chỉ được nghiên cứu dưới góc độ là một khái niệm khoa học về lý luận pháp lý nói chung của các nhà nghiên cứu
Xuất phát từ đặc thù cũng như vai trò và sự cần thiết bảo vệ môi
Trang 24trường, Luật bảo vệ môi trường 2014 và các văn bản pháp luật liên quan đã quy định các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường Song do các hành
vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường là vô cùng đa dạng, được thể hiện
dưới các hình thức khác nhau nên việc đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường là chưa từng được đề cập Mặc dù vậy,
qua phân tích nêu trên có thể đưa ra một khái niệm cơ bản về vấn đề này như
sau: Vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường được hiểu là những hành vi vi phạm các quy định của nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và được các văn bản pháp luật quy định cụ thể trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Theo khái niệm trên, vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường có những đặc điểm sau:
Một là, vi phạm pháp luật BVMT là các hành vi do tổ chức, cá nhân thực hiện đã vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường Tức là hành vi của tổ
chức, cá nhân đã vi phạm những quy định cụ thể của pháp luật bảo vệ môi trường Do vậy các hành vi vi phạm này cần phải bị xử lý theo quy định nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật
Hai là, hành vi vi phạm pháp luật BVMT là các hành vi vi phạm quy định của NN trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được quy định trong các văn bản pháp luật cụ thể Tức là chỉ những hành vi vi phạm các quy định trong
lĩnh vực BVMT thì mới bị xử lý theo các văn bản pháp luật có liên quan trong lĩnh vực BVMT
Ba là, hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý Tùy vào từng hành vi vi phạm do các tổ chức, cá nhân
thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý theo từng quy định pháp luật mà sẽ có hình thức và mức độ xử lý tương ứng đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực pháp luật BVMT
Trang 251.2.1.2 Khái niệm, đặc điểm pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực môi trường và xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường
* Khái niệm pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo môi trường
Hiện nay chưa có một khái niệm pháp lý nào mang tính khái quát về
pháp luật xử lý vi phạm trong lĩnh vực môi trường Về cơ bản khái niệm này
có thể hiểu rằng pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực môi trường là tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm xử lý các hành vi vi phạm của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ xã hội về môi trường được pháp luật điều chỉnh Thông qua các quy định này nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân nói chung đối với hoạt động BVMT Theo khái niệm
trên, tác giả cho rằng tùy thuộc vào tính chất, mối quan hệ pháp luật trong từng lĩnh vực của môi trường sẽ có các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quy định trên một cách cụ thể Ví dụ: trong lĩnh vực bảo vệ rừng, nếu có hành
vi vi phạm pháp luật thì có thể bị xử lý theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004, sửa đổi bổ sung 2016, Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này, Luật xử phạt vi phạm hành chính, Bộ luật hình sự… Tổng thể các quy định nêu trên chính là pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng nói riêng và các lĩnh vực khác ở nước
ta trong giai đoạn hiện nay
Khái niệm, đặc điểm xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường:
Có rất nhiều quan điểm khi định nghĩa về khái niệm xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường Tuy vậy, các quan điểm đều đồng nhất cho rằng, dưới góc độ pháp lý, xem Luật môi trường là một lĩnh vực pháp luật thì cần
có những quy định cụ thể nhằm điều chỉnh và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường nhằm hoàn thiện khung hành lang pháp lý về lĩnh vực này Luật môi trường là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình các chủ thể có hành vi khai
Trang 26thác, sử dụng hoặc tác động đến một hoặc nhiều thành phần môi trường Ở nước ta hiện nay, trong việc hoạch định và tổ chức xây dựng các văn bản pháp luật, các nhà quản lý, nhà làm luật đều rất quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường Trong phạm vi và đối tượng điều chỉnh cụ thể trong từng văn bản pháp luật, các quan hệ về bảo vệ môi trường với luật chuyên ngành đã được
xử lý một cách hài hoà và ngày càng mang tính khả thi cao Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật chung và văn bản pháp luật chuyên ngành khác có quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường mà các chủ thể phải thực hiện nhằm góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường trong sạch và phát triển bền vững [63] Đối với các hành vi vi phạm pháp luật
về bảo vệ môi trường thì các chủ thể phải gánh chịu hậu quả pháp lý về hành chính, dân sự hoặc hình sự tùy từng mức độ do hậu quả của hành vi đó mang lại Tuy nhiên, hiện nay chưa có một văn bản pháp lý nào định nghĩa về vấn
đề xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường mà trên thực tế việc xử lý các hành vi này tùy thuộc vào các quy định được pháp luật về bảo vệ môi trường quy định cụ thể và được quy định rõ trong Bộ luật hình sự hiện hành và Luật
xử lý vi phạm hành chính Để làm căn cứ cho việc xử lý vi phạm đối với pháp luật bảo vệ môi trường, tại Luật bảo vệ môi trường quy định như sau:
1 Tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường, gây thiệt hại cho tổ chức
và cá nhân khác, có trách nhiệm khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường, bồi thường thiệt hại và xử lý theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan;
2 Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, theo quy định của pháp luật [48, Điều 160]
Tuy vậy, một hành vi nếu bị xử phạt vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường thì hành vi đó phải thỏa mãn các điều kiện sau:
Trang 27Điều kiện thứ nhất, các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường là những hành vi xác định của con người, tức là xử sự thực tế, cụ thể của cá
nhân hoặc tổ chức nhất định, bởi vì pháp luật được ban hành để điều chỉnh hành vi của các chủ thể mà không điều chỉnh suy nghĩ của họ Do đó, phải căn cứ vào hành vi thực tế của các chủ thể mới có thể xác định được là họ thực hiện pháp luật hay vi phạm pháp luật hay không? Những hành vi được xác định có thể được thực hiện bằng hành động hoặc bằng không hành động
Điều kiện thứ hai: Vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường phải là hành
vi trái pháp luật được pháp luật bảo vệ môi trường quy định, tức là xử sự trái
với các yêu cầu của pháp luật Hành vi này được thể hiện dưới các hình thức sau: Chủ thể thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm Chủ thể không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật bắt buộc phải thực hiện Chủ thể sử dụng quyền hạn vượt quá giới hạn cho phép vi phạm quy định về bảo vệ môi trường nói riêng
Điều kiện thứ ba: Hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường phải là
hành vi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý, vì tuy hành vi có tính
chất trái pháp luật nhưng của chủ thể không có năng lực trách nhiệm pháp lý thì không bị coi là vi phạm pháp luật Năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể là khả năng mà pháp luật quy định cho chủ thể phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình Theo quy định của pháp luật, chủ thể là cá nhân sẽ có năng lực này khi đạt đến một độ tuổi nhất định và trí tuệ phát triển bình thường được ghi nhận theo quy định của pháp luật Đó là độ tuổi mà sự phát triển về trí lực và thể lực đã cho phép chủ thể nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội nên phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình Đối với chủ thể là tổ chức sẽ có khả năng này khi được thành lập hoặc được công nhận theo quy định của BLDS hiện hành
Điều kiện thứ tư: Vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường phải là hành
Trang 28vi có lỗi của chủ thể, tức là khi thực hiện hành vi trái pháp luật, chủ thể có
thể nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó, đồng thời điều khiển được hành vi của mình Như vậy, chỉ những hành vi trái pháp luật mà có lỗi của chủ thể thì mới bị coi là vi phạm pháp luật nói chung và
vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường nói riêng Còn trong trường hợp chủ thể thực hiện một xử sự có tính chất trái pháp luật nhưng chủ thể không nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội hoặc nhận thức được hành vi và hậu quả của hành vi của mình nhưng không điều khiển được hành vi của mình thì không bị coi là có lỗi
và không phải là vi phạm pháp luật
Điều kiện thứ năm: Vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường là hành vi
xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật môi trường bảo vệ Ví dụ: Theo quy định của Luật bảo vệ môi trường nói chung thì nghiêm cấm các hành vi
xả thải ra môi trường mà chưa qua xử lý Nhưng tại các khu công nghiệp, khu chế xuất thì các hành vi trên của các công ty xảy ra và từ đó gây nên tình trạng ÔNMT Hành vi xả thải của các công ty tại các khu công nghiệp đó là hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường và cần phải bị xử lý [51]
Do đó, để đảm bảo tốt hơn việc thực hiện pháp luật về xử lý các hành
vi trên thì trong quá trình tiến hành xử lý cần làm rõ về những điều kiện để áp dụng các quy định về xử lý vấn đề này một cách nghiêm túc và mang tính chất triệt để, nhằm đạt hiệu quả cao trong quá trình áp dụng
1.2.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Đối với vấn đề BVMT nói chung và xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ
môi trường nói riêng ở nước ta hiện nay đã và đang trở thành vấn đề nhận được nhiều quan tâm của các cơ quan NN có thẩm quyền và toàn xã hội Nhận thức được tầm quan trọng của lĩnh vực này, đáp ứng nhu cầu phát
Trang 29triển của đất nước cũng như điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội phát sinh thì pháp luật ngày càng được sửa đổi, bổ sung một cách hoàn thiện hơn, trong đó có nội dung về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường Nội dung điều chỉnh của pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực BVMT
là những quy định của pháp luật về việc xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực môi trường được ban hành nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống các vi phạm pháp luật; ngăn chặn và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm trong lĩnh vực BVMT; đề cao trách nhiệm của người có thẩm quyền xử lý cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi tổ chức, cá nhân; tăng cường trật tự kỷ cương trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội đối với vấn đề bảo vệ môi trường trong sự nghiệp xây dựng
và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay
Ở nước ta hiện nay, tại Hiến pháp 2013 quy định:
Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại - là cơ
sở pháp lý cơ bản cho văn bản luật và dưới luật triển khai chi tiết quy định về vấn đề này [47]
Cùng với Hiến pháp, các văn bản luật cũng quy định theo hướng ngày càng hoàn thiện và phù hợp hơn về nội dung bảo vệ môi trường và xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta, đáp ứng với yêu cầu chính trị, quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trong tình hình mới
Luật bảo vệ môi trường 2014 ra đời và có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 Các nội dung về bảo vệ môi trường được quy định làm nền tảng cơ bản tại các Điều 7 và Điều 160 [48] đã tạo ra cơ chế xử lý tương đối hoàn thiện đối với những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, thể hiện rõ nét sự tiến bộ của Nhà nước ta trong việc quan tâm đến vấn đề BVMT Văn bản pháp lý này đã
Trang 30quy định nhiều nội dung phù hợp tạo điều kiện tối đa để cho việc xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường ở nước ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nội dung điều chỉnh của pháp luật xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được thể hiện dưới các nội dung cơ bản như sau:
1.2.2.1 Quy định về xử lý các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Bên cạnh Luật Bảo vệ môi trường, trong Luật xử phạt vi phạm hành chính 2012 và Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18 tháng 11 năm 2016 của Chính phủ cũng quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thay thế Nghị định 179/2013/NĐ-CP (Phần phụ lục) & 81/2006/NĐ-
CP với mức phạt tăng lên nhiều lần có hiệu lực từ ngày 01/02/2017 (gọi tắt là Nghị định 155/2016) Nghị định gồm 4 chương 63 điều đã đảm bảo khả năng
điều chỉnh cũng như quá trình áp dụng pháp luật về vấn đề xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, đồng thời tạo cơ chế để các cơ quan NN có thẩm quyền trong việc tiến hành xử lý vi phạm trong lĩnh vực môi trường Nội dung của Nghị định 155/2016 về cơ bản đã có nhiều thay đổi trong thực tế Cụ thể, theo quy định của Nghị định 155/2016 [14] quy định rõ các hành vi vi phạm
hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường bao gồm: Thứ nhất, các hành vi vi
phạm các quy định về kế hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi
trường và đề án bảo vệ môi trường Thứ hai, các hành vi gây ô nhiễm môi trường Thứ ba, các hành vi vi phạm các quy định về quản lý chất thải Thứ
tư, các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh
doanh dịch vụ và khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công
nghiệp, khu kinh doanh dịch vụ tập trung Thứ năm, các hành vi vi phạm các
quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, phế liệu, chế
Trang 31phẩm sinh học; nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng; hoạt động lễ hội,
du lịch và khai thác khoáng sản Thứ sáu, các hành vi vi phạm các quy định về thực hiện phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường Thứ bảy, các hành vi vi phạm hành chính về đa dạng sinh học Thứ tám, các hành vi
cản trở hoạt động quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính và các hành vi vi phạm quy định khác về BVMT Các hình thức xử phạt chính bao gồm: Cảnh cáo; phạt tiền Hình thức phạt tiền tối đa áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là 1 tỷ đồng đối với cá nhân và 2 tỷ đồng đối với tổ chức Mức phạt quy định tại Nghị định 155/CP là mức phạt đối với cá nhân, mức phạt đối với tổ chức gấp hai lần so với quy định tại Nghị định Đối với các thành phố trực thuộc Trung ương có thể thông qua mức phạt lên gấp 02 lần so với quy định chung Khung phạt xả thải là số lần vượt cao nhất để làm căn cứ xác định khung phạt; trường hợp có nhiều thông số vượt, tùy theo mức vượt sẽ tăng thêm từ 10% đến 50% nhưng không quá khung phạt cao nhất Trường hợp có nhiều điểm xả thải thì đơn vị sẽ
bị xử phạt theo từng điểm xả thải Đồng thời đơn vị vi phạm phải chi trả kinh phí trưng cầu giám định mẫu môi trường vượt quy chuẩn Ngoài ra, Nghị định 155/2016 còn quy định hình phạt bổ sung và biện pháp bắt buộc khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực BVMT của các cá nhân, tổ chức gây ra
Tại Nghị định 155/2016 cũng quy định: Mức phạt tăng xả nước thải vượt Quy chuẩn Việt Nam từ 10% đến 50% của khung phạt; kết quả quan trắc tự động được làm căn cứ để xác định hành vi xả thải vượt QCVN; quan trắc môi trường định kỳ do đơn vị không được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện bị xử phạt như không QTMT Nghị định này bổ sung mức phạt tăng thêm 30% nếu trong nước thải vượt quy chuẩn có chứa 01 trong 03 loại vi khuẩn (Salmonella, Shigella, Vibrio cholerae) (Điều 13, Điều 14 – Nghị định 155/2016) Đồng thời, Nghị định
Trang 32số 155/2016/NĐ-CP đã xây dựng riêng Điều 53 quy định trách nhiệm và cơ chế phối hợp của các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong công tác kiểm tra, thanh tra và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Việc kiểm tra, thanh tra và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT phải bảo đảm nguyên tắc không chồng chéo; không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cá nhân, tổ chức vi phạm trong lĩnh vực BVMT
1.2.2.2 Các quy định về xử lý vi phạm trong dân sự
Có thể nói, vấn đề trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
ở nước ta chưa được chú trọng và phát triển Các quy định về trách nhiệm dân
sự trong lĩnh vực này mới chỉ dừng lại ở quy định chung mang tính nguyên tắc, chưa có một văn bản nào cụ thể hướng dẫn rõ ràng về vấn đề này Căn cứ pháp lý đối với vấn đề dân sự trong lĩnh vực BVMT được ghi nhận trong các văn bản như: Bộ luật Dân sự năm 2015 (chương XX từ điều 584 đến Điều 608); Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (chương XIX từ Điều 163 đến Điều 167) và Nghị định 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường 2014 và đặc biệt là Nghị định 03/2015/NĐ-CP ngày 06/01/2015 của Chính Phủ về xác định thiệt hại đối với môi trường thì trách niệm dân sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là một dạng trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm nghĩa
vụ về bảo vệ môi trường Theo đó các tổ chức, cá nhân có hành vi làm môi trường bị ô nhiễm, suy thoái, tổ chức, cá nhân khác có liên quan xâm phạm nghĩa vụ bảo vệ môi trường do pháp luật quy định nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại Các chủ thể có hành vi vi phạm phải có trách nhiệm chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật môi trường [37]
Căn cứ quy đi ̣nh ta ̣i Điều 602 Bô ̣ luâ ̣t dân sự 2015 [49] thì trách nhiệm
bồi thường thiê ̣t hại do làm ô nhiễm môi trường được xác định như sau : “Chủ
Trang 33thể làm ô nhiễm môi trường mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp chủ thể đó không có lỗi” Theo quy
đi ̣nh trên, cá nhân, tổ chức có hành vi làm ô nhiễm môi trường mà gây thiệt hại, ngoài việc phải chịu trách nhiệm theo quy định của luật chuyên ngành thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại , kể cả chủ thể đó không có lỗi Đồng thời, có trách nhiệm khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây sự cố môi trường, suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường gây ra Đối với việc bồi thường thiệt hại về ÔNMT nếu có hành vi vi phạm xảy ra tuân thủ các quy định và căn cứ tại Nghị định 03/2015/NĐ-CP ngày 06/01/2015 của Chính Phủ về xác định thiệt hại đối với môi trường Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại về ÔNMT ở nước ta giai đoạn hiện nay [23]
1.2.2.3 Quy định về xử lý hình sự các tội phạm môi trường
Cùng với Luật bảo vệ môi trường thì tại Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi
bổ sung tại chương XVII từ điều 182 đến Điều 191a quy định 11 tội phạm môi trường là căn cứ pháp lý để xử lý những hành vi vi phạm đã cấu thành tội phạm tương ứng Đây chính là căn cứ để các cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự, định khung và định hình tương ứng với ba mức độ hậu quả đã gây ra Chính sách hình sự về BVMT của Việt Nam đã được cụ thể
hóa bằng quy định 11 hành vi phạm tội về môi trường (bao gồm các điều: Điều 182: Tội gây ô nhiễm môi trường; Điều 182a: Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại; Điều 182b: Tội vi phạm quy định về phòng ngừa
sự cố môi trường; Điều 185: Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam; Điều 186: Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người; Điều 187: Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật; Điều 188: Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản; Điều 189: Tội hủy hoại rừng; Điều 190: Tội vi phạm các
Trang 34quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được
ưu tiên bảo vệ; Điều 191: Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên; Điều 191a: Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại)
Bộ luật hình sự hiện hành đều đã xác định các hành vi phạm tội cụ thể, căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự, định khung và định hình phạt tương ứng với ba mức độ hậu quả gây ra (nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng) Đối với hành vi gây hậu quả nghiêm trọng, các hình phạt được áp dụng bao gồm phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù Đối với hành vi gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì sẽ bị phạt tù, và có thể kèm các hình phạt bổ sung (bao gồm phạt tiền và cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định trong khoảng thời gian xác định) Theo đó mức phạt tiền cao nhất là 01 tỷ đồng (Điều 185)
và mức phạt tù cao nhất là 15 năm Chỉ áp dụng trách nhiệm hình sự đối với
cá nhân, không áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân [49]
Hiện nay, cùng với xu thế hội nhập, cùng với việc xuất hiện một số loại tội phạm mới cũng như đặt ra yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân trong vấn đề vi phạm pháp luật về BVMT là điều cần thiết Do vậy, nhằm khắc phục một số hạn chế trong quá trình thực thi, Bộ luật hình sự 2015
đã được ban hành (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) Đối với các tội phạm về môi trường tại BLHS 2015 - chương XIX quy định 12 loại tội phạm Trong đó,
bổ sung 01 tội danh mới là “Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông” [49, Điều 238] Mở rộng phạm vi áp dụng và nâng mức phạt tiền đảm
bảo tính răn đe, trừng trị, phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành
vi phạm tội Sửa đổi cấu thành các tội phạm về môi trường theo hướng cụ thể hóa các hành vi và quy định mức định lượng vi phạm cụ thể nhằm đảm bảo tính cụ thể, rõ ràng, khả thi và thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng Mặt
Trang 35khác, BLHS mới đã quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với một
số loại tội phạm về môi trường Việc quy định như trên đã mở rộng hơn về
phạm vi áp dụng các trường hợp phải xử lý hình sự tội phạm về môi trường Đồng thời, quy định linh hoạt hơn về điều kiện áp dụng đối với pháp nhân thương mại khi có hành vi cấu thành tội phạm trong lĩnh vực này
Đặc biệt, ngày 29/11/2006, Bộ công an đã ban hành quyết định số 1899/2006/QĐ-BCA về việc thành lập Cục cảnh sát môi trường thuộc Tổng cục Cảnh sát để điều tra hình sự và xử lý các vi phạm quy định về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật [4] Đây là cơ quan quan trọng có trách nhiệm kiểm tra việc chấp hành pháp luật về môi trường của các tổ chức, cá nhân trên lãnh thổ Việt Nam; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, trực tiếp tiến hành các mặt công tác điều tra chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường; tiến hành một số hoạt động điều tra theo Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự,
xử lý vi phạm hành chính theo luật xử lý VPHC và các quy định của pháp luật
về bảo vệ môi trường; phối hợp thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư, sản xuất, kinh doanh; thực hiện công tác kiểm định tiêu chuẩn môi trường
Như vậy, có thể thấy pháp luật quy định khá thống nhất và xuyên suốt
về vấn đề bảo vệ môi trường cũng như xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, tạo điều kiện tốt nhất để bảo vệ môi trường hiện nay; khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề bảo vệ môi trường Đồng thời, cùng với hoạt động ban hành các văn bản hướng dẫn nêu trên đã giúp cho quá trình áp dụng những quy định của pháp luật về BVMT ở nước ta được thực hiện một cách hoàn thiện hơn Phù hợp với xu thế phát triển trên thế giới hiện nay là vừa xây dựng và phát triển kinh tế xã hội nhưng đề cao vấn đề bảo vệ môi trường nhằm phát triển một cách bền vững Trên cơ sở tuân thủ các quy định của quốc tế trong hoạt động BVMT, nước ta đã xây
Trang 36dựng và ban hành những quy định nhằm điều chỉnh vấn đề về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn ở nước ta Hình thành nền tảng pháp lý cơ bản trong việc thực thi pháp luật BVMT trong tiến trình phát triển đất nước, góp phần không nhỏ nhằm ngăn chặn những hành vi
vi phạm pháp luật môi trường xảy ra ở nước ta hiện nay và trong tương lai
1.2.3 Vai trò của xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Một là, các quy định về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường đã tạo hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường từ đó hình thành nên các quy tắc xử sự cho con người khi tác động đến môi trường Những quy định này về cơ bản đã đảm bảo xử lý tương đối tốt
các hành vi vi phạm pháp luật BVMT, đảm bảo các hành vi của con người không xâm hại tới môi trường, hạn chế những tác hại, ngăn chặn suy thoái và ô nhiễm môi trường Thông qua các quy định về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường hình thành nên ý thức trong hoạt động bảo vệ môi trường nói chung, tạo tiền đề quan trọng cho hoạt động xây dựng, ổn định phát triển kinh
tế một cách bền vững, ngăn chặn các hành vi hủy hoại môi trường [1]
Hai là, thông qua các quy định xử lý vi phạm pháp luật BVMT đã ràng buộc con người thực hiện những đòi hỏi của pháp luật để bảo vệ môi trường
Trên thực tế, nhiều chủ thể khi tham gia hoạt động kinh tế xã hội thường chỉ chú
ý tới lợi ích của mình mà bỏ qua lợi ích chung của cộng đồng trong đó có môi trường Các chủ thể có thể vì lợi ích kinh tế mà không quan tâm đến môi trường,
ví dụ: Tại các khu công nghiệp một số chủ thể không đầu tư hệ thống xả thải chất thải công nghiệp mà trực tiếp thải ra môi trường, gây ảnh hưởng đến môi trường sống của sinh vật, người dân… Để có thể điều chỉnh các hành vi trên thì việc ban hành các quy định về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường đồng thời các chế tài pháp lý là điều vô cùng quan trọng trong vấn đề BVMT [3] Đây không chỉ là biện pháp xử lý vi phạm pháp luật môi trường, ngăn ngừa, giáo dục
Trang 37cải tạo chủ thể vi phạm mà còn mang tính chất răn đe chủ thể khác để họ tự giác tuân theo các quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, qua đó ngăn ngừa và hạn chế tác động xấu do con người gây ra cho môi trường
Ba là, thông qua xử lý vi phạm pháp luật BVMT mà NN đã thực hiện chức năng quản lý trong lĩnh vực này Như ta đã biết, tất cả các lĩnh vực đời
sống xã hội đều cần phải có sự quản lý của nhà nước và môi trường cũng không là ngoại lệ Hơn thế, bảo vệ môi trường còn là một lĩnh vực hoạt động, nhiệm vụ phức tạp bởi môi trường có phạm vi rộng lớn và kết cấu phức tạp Các quy định về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường có vai trò to lớn trong việc tạo ra cơ chế hoạt động cho các tổ chức, cơ quan bảo vệ môi trường [15] Cụ thể là thông qua các quy định pháp luật về BVMT thì NN
đã tiến hành các hoạt động: Kiểm soát ô nhiễm, suy thoái môi trường; bảo tồn
đa dạng sinh học, đánh giá tác động môi trường và đánh giá môi trường chiến lược; kiểm soát ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, suy thoái đất, suy thoái rừng, nguồn thủy sinh, nguồn gen và kiểm soát ô nhiễm đối với các hoạt động
có ảnh hưởng đặc biệt tới môi trường; thanh tra và kiểm tra xử lý và giải quyết tranh chấp về môi trường; thực thi các Công ước quốc tế về kiểm soát ô nhiễm ở Việt Nam, thực thi các Điều ước quốc tế về đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam [18]; [19]; [21]
Bốn là, môi trường có tác động, ảnh hưởng đến mọi chủ thể nên cần phải được duy trì ổn định để đảm bảo sự phát triển của xã hội Môi trường
tác động mạnh mẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của mỗi một quốc gia và không thể thay thế được bằng bất kỳ hình thức nào Do đó, cùng với quá trình bùng nổ khoa học kỹ thuật như hiện nay, con người cùng với việc tạo nên những thành tựu nổi bật thông qua những nghiên cứu mang tầm vóc quốc tế thì đồng thời với đó đã nhận thức được những tác động tích cực lẫn tiêu cực của môi trường đối với sự phát triển của xã hội loài người [22] Từ
Trang 38đó, việc yêu cầu bảo vệ và sử dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật trong hoạt động này là điều vô cùng cần thiết nhằm ngăn chặn những tác động tiêu cực của yếu tố môi trường đến sự phát triển của mỗi một quốc gia Vì vậy, việc ban hành các quy định về vấn đề này là điều hoàn toàn cần thiết
Thực tế đã chứng minh rằng môi trường có những chức năng quan trọng nhất đối với sự phát triển của mỗi một quốc gia Môi trường trong sạch chính là tiền đề để con người có những điều kiện thuận lợi để phát triển nền kinh tế - xã hội của các quốc gia đó Ngược lại, môi trường ô nhiễm sẽ tác động tiêu cực và có những hệ lụy nghiêm trọng đến sự phát triển đối với những quốc gia trên thế giới Tại một số quốc gia, vấn đề xây dựng các quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường rất được quan tâm bởi Chính phủ các quốc gia đó đặt vấn đề bảo vệ môi trường trong việc phát triển quốc gia một cách bền vững Đơn cử như ở Singapore, chỉ một hành vi vứt rác không đúng nơi quy định thì mức phạt sẽ bị phạt đến 200 USD [73] Song không phải quốc gia nào cũng có thể thực hiện vấn đề này đạt hiệu quả cao nhất Quá trình thực hiện có thể tùy vào từng điều kiện của mỗi quốc gia
mà pháp luật về bảo vệ môi trường được thực hiện triệt để hay mang tính chất tương đối Theo một số nhà nghiên cứu thì vấn đề bảo vệ môi trường ngày càng trở nên cấp thiết bởi vấn đề ô nhiễm môi trường có tác động mạnh mẽ đến quá trình tồn tại và phát triển của con người Điều này gây nên thực trạng đáng lo ngại trong tương lai Thực trạng xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, tuy nhiên một trong những nguyên nhân chính là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xuất phát từ việc không có ý thức hoặc cố ý vì mục đích cá nhân, tổ chức mà gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường Do đó, để cho đất nước phát triển một cách bền vững, đòi hỏi phải
có những chính sách, quy định phù hợp nhằm đảm bảo về vấn đề bảo vệ
Trang 39môi trường; xử lý nghiêm khắc các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường; bảo đảm việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường một cách nghiêm chỉnh trong suốt quá trình xây dựng và phát triển của mỗi quốc gia trong tình hình hiện nay
Năm là, đảm bảo cân bằng giữa hoạt động xây dựng, phát triển và bảo
vệ môi trường trong giai đoạn mới Trong thực tế rất khó để vừa xây dựng và
phát triển vừa bảo vệ môi trường cũng như để các chủ thể tự giác đề ra và thực hiện Vấn đề bảo vệ môi trường trước các nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường sống của con người là việc làm lâu dài và cần có chiến lược cụ thể Tuy nhiên, trên thực tế, việc một số chủ thể sẵn sàng vì mục đích mang tính chất riêng tư
mà từ bỏ đi yêu cầu của việc bảo vệ môi trường là điều dễ hiểu Do đó, có rất nhiều vụ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng không chỉ riêng ở Việt Nam mà rất nhiều quốc gia trên thế giới phải gánh chịu những hậu quả nặng nề mà để khắc phục nó phải mất đến hàng trăm năm hoặc thậm chí là không thể khắc phục được [24]; [25] Do đó, để cân bằng lợi ích giữa các bên, đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước, bảo vệ được môi trường sống, đảm bảo lợi ích của cộng đồng dân cư cũng như sinh vật trên trái đất thì việc ban hành và hoàn thiện các quy định về bảo vệ môi trường, đảm bảo sự phát triển bền vững thì cần có những quy định phù hợp nhằm bảo vệ môi trường một cách toàn diện và
cụ thể Việc bảo vệ môi trường phải đặt trong mối quan hệ với lợi ích của các quốc gia, đất nước để vừa thực hiện tốt việc xây dựng và phát triển đất nước vừa đảm bảo lợi ích của môi trường sống của những cộng đồng dân cư, cũng như sự bảo tồn của môi trường xung quanh chúng ta
1.3 Kinh nghiệm xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường ở một
số quốc gia trên thế giới
Vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay đã và đang trở thành vấn đề được các quốc gia trong khu vực và trên thế giới quan tâm, chú trọng Hiện nay,
Trang 40hầu hết quốc gia trên thế giới đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về lĩnh vực này Có thể kể đến hệ thống văn bản pháp luật của Liên Bang Nga Những quy định về bảo vệ môi trường đã được đưa vào hệ thống pháp luật của Liên bang Nga từ rất sớm, đồng thời, hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường của Liên bang Nga được đánh giá là tương đối phức tạp và chặt chẽ,
đã đáp ứng, thậm chí vượt qua nhiều các tiêu chuẩn chung của thế giới Vấn
đề về BVMT của Liên Bang Nga được ghi nhận tại Hiến pháp và hơn 20 đạo luật liên bang quy định về BVMT [20] Trong đó, có thể kể đến như: Luật Bảo vệ môi trường (2002); Luật Kiểm định sinh thái (1995); Luật Vệ sinh dịch tễ (2001); Luật về Các khu vực được bảo vệ đặc biệt (1995); Luật Bảo vệ
hồ Baikal (1998)… Đặc biệt, trong thời gian gần đây vấn đề nghiên cứu và pháp điển hóa luật về BVMT, tạo điều kiện về sự thống nhất, tập trung những quy định về BVMT, nước này đang tiến hành pháp điển hóa để cho ra đời Bộ luật Sinh thái Bộ luật này là tổng hợp các quy định của 4 luật bao gồm: Luật Bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ không khí, Luật Chất thải công nghiệp và sinh hoạt, Luật Kiểm định sinh thái Đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong vấn đề BVMT và xử lý các hành vi vi phạm về BVMT tại Liên Bang Nga trong hiện tại và tương lai
Trong pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức thì lĩnh vực bảo vệ môi trường rất được coi trọng Đặc biệt là các tội phạm môi trường của Cộng hòa liên bang Đức được quy định chủ yếu tại Bộ luật Hình sự năm 1998 Theo đó, pháp luật hình sự của Đức có một chương riêng về tội phạm môi trường bao gồm:
Tội gây ô nhiễm nước; Tội gây ô nhiễm đất; Tội gây ô nhiễm không khí; Tội gây ra tiếng ồn, gây rung và các chất phóng xạ không ion hóa; Tội xử lý trái phép các chất thải nguy hại; Tội vận hành trái phép nhà máy điện; Tội xử lý trái phép các chất phóng xạ
và các vật liệu hàng hóa nguy hại khác; Tội đe dọa các khu vực cần