1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thực thi pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang

100 218 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

4 nghiệp nhà nước” của tác giả Trịnh Thị Bích Thủy, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2006; Luận văn thạc sĩ “Đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta”, của tác giả Đặ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Phan Thị Thanh Thủy

Hà Nội – 2017

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia

Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Văn Thịnh

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, các

cô giáo Khoa Luật, Bộ môn Pháp luật Kinh tế Trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy tôi suốt thời gian qua Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm

ơn sâu sắc tới TS Phan Thị Thanh Thủy – cô đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn

Tôi cũng xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng năm 2017

Trang 5

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN vi

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG 9

1.1 Những vấn đề lý luận chung về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 9

1.1.1 Quan điểm về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 9

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang 12

1.1.3 Vai trò cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang 19 1.1.4 Nguyên tắc thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang 21

1.2 Sự cần thiết phải cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang 23

1.3 Nội dung pháp lý cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang 28

1.4 Kinh nghiệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang một số nước trên thế giới 31

1.4.1 Những bước chuyển đổi, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang của Nga và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 31

1.4.2 Những bước chuyển đổi, cổ phần hóa doanh nghiệp lực lượng vũ trang của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 35

Trang 6

iv

Chương 2: THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG 41 2.1 Thực trạng các quy định của pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam từ năm 2005 đến nay 41

2.1.1 Giai đoạn từ khi Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực đến năm

2010 41 2.1.2 Giai đoạn từ năm 2010 đến nay 42

2.2 Thực trạng thi hành những quy định của Bộ Quốc phòng về việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong Quân đội từ năm 2005 đến nay 44

2.2.1 Giai đoạn từ khi Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực đến năm

2010 44 2.2.2 Giai đoạn từ năm 2010 đến nay 46 2.2.3 Một số kết quả thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong Quân đội 46

2.3 Thực trạng những quy định pháp luật và tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong Công an nhân dân 48

2.3.1 Giai đoạn sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp trong Công an nhân dân (từ năm 2010 đến năm 2015) 48 2.3.2 Giai đoạn thí điểm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong Công

an nhân dân (từ năm 2015 đến nay) 51

2.4 Đánh giá về thực thi pháp luật cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang 52

2.4.1 Tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong Quân đội và Công an 52 2.4.2 Một số bất cập trong các quy định hiện hành về cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước trong lực lượng vũ trang 54

Trang 7

v

2.4.3 Những nguyên nhân dẫn đến sự chậm trễ trong tiến trình cổ phần

hóa các doanh nghiệp lực lượng vũ trang 63

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG 69

3.1 Các yêu cầu pháp lý và thực tiễn đặt ra đối với cổ phần hóa doanh nghiệp lực lượng vũ trang 69

3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang 72

3.2.1 Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện pháp luật cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang 72

3.2.2 Về tổ chức, thực hiện 82

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 8

DNQĐ : Doanh nghiệp Quân đội

DNVT : Doanh nghiệp vũ trang

LLVT : Lực lƣợng vũ trang

VT : Vũ trang

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đến nay, đất nước ta đã chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong bước chuyển đổi này, các doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận trọng yếu của kinh tế nhà nước đã bộc

lộ nhiều bất cập, hoạt động kém hiệu quả, chưa thực sự tương xứng với vai trò chủ đạo của nó trong nền kinh tế nhiều thành phần Trước tình hình đó, Đảng

và Nhà nước đã có các chủ trương về đổi mới các doanh nghiệp nhà nước Hàng loạt các giải pháp đã được tiến hành, trong đó có giải pháp cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mở ra triển vọng xây dựng nền kinh tế thị trường lành mạnh và phong phú Cổ phần hóa cũng tạo điều kiện cơ cấu lại nền kinh tế quốc dân, góp phần cải tiến quản lý kinh tế có hiệu quả hơn, bởi nó xóa đi cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, tạo

cơ hội cạnh tranh lành mạnh và phân phối lợi nhuận theo kết quả lao động Đối với các doanh nghiệp nhà nước thuộc lực lượng vũ trang, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp trước đây, chúng ta đã thành lập quá nhiều doanh nghiệp, nay khi chuyển sang nền kinh tế thị trường phải đứng trước áp lực mở cửa, hội nhập và nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN, thì với quy mô, số lượng “cồng kềnh” của các DN như hiện nay sẽ trở thành gánh nặng cho ngân sách nhà nước, ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng của nền kinh

tế Thực tế thời gian qua đã cho thấy có nhiều DNNN trong LLVT làm ăn thua lỗ kéo dài nhưng không bị “đóng cửa” mà vẫn tiếp tục tồn tại “sống” bằng nguồn chi từ ngân sách; các DN khác thì tuy không bị thua lỗ nhưng kết quả sản xuất kinh doanh, doanh thu và lợi nhuận đều ở mức rất thấp, chỉ đủ để duy trì sự sống “cầm hơi” dẫn tới cuộc sống của cán bộ, chiến sĩ, quân nhân

Trang 10

2

và người lao động trong các DN gặp rất nhiều khó khăn Bên cạnh đó, trong

xu thế phát triển mới, DNNN không cần thiết phải có mặt ở mọi ngành, mọi lĩnh vực mà chỉ nên thành lập và duy trì ở những ngành, những lĩnh vực then chốt, quan trọng; những ngành, lĩnh vực mà bản thân các DN thuộc khu vực

tư nhân chưa đủ khả năng và tiềm lực để vươn tới hoặc những ngành, lĩnh vực đặc thù mà chỉ các DNNN trong LLVT được độc quyền sản xuất, kinh doanh Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về sắp xếp đổi mới các doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước sẽ nắm giữ 100% vốn của các DN an ninh quốc phòng, các DN còn lại sẽ hầu hết thực hiện CPH, nếu chưa kịp tiến hành CPH thì sẽ chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên Trải qua hơn 20 năm tiến hành cổ phần hóa, hầu hết các doanh nghiệp cổ phần đều đạt kết quả kinh doanh đáng khích lệ, các chỉ tiêu chủ yếu như doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách, tỉ suất lợi nhuận trên vốn đều tăng hơn nhiều lần so với trước khi cổ phần hóa Tình hình việc làm ổn định, thu nhập người lao động được cải thiện, các yếu kém mang tính cố hữu của DNNN đã được hóa giải Mặc dù, cổ phần hóa đạt được những kết quả khá khả quan, nhưng kết quả này lại không đồng đều giữa hai lực lượng Quân đội, Công an và đang bị chậm so với mục tiêu đề ra, ngoài những nguyên nhân chung cùa các DNNN, thì các doanh nghiệp lực lượng vũ trang trong diện cổ phần hóa có những nguyên nhân mang tính chất đặc thù như chưa có sự nhận thức thống nhất về CPH DNNN nên các cơ quan, DN và cả người lao động không thấy được trách nhiệm của mình trong việc triển khai thực hiện chủ trương CPH; còn sự luyến tiếc khi rời bỏ DN LLVT vì DN, cán bộ và người lao động trong DN sẽ

“mất” một số đặc quyền, đặc lợi khi còn là DN LLVT

Mặt khác, doanh nghiệp vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp

vũ trang vừa là đối tượng điều chỉnh của các văn bản quy phạm pháp luật như đối với các DNNN trong diện CPH, đồng thời cũng vừa là đối tượng điều

Trang 11

bị kéo dài, cá biệt có những vướng mắc hiện nay được các cơ quan cấp trên cho “khoanh” lại chờ tìm cách giải quyết

Xuất phát từ nhu cầu thực tế nêu trên, việc nghiên cứu thực thi pháp luật

về CPH DNNN trong LLVT nói chung và CPH DNNN trong Quân đội, Công

an nói riêng là rất cần thiết, góp phần đề xuất những cơ sở lý luận, thực tiễn

và kiến nghị những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và đẩy nhanh tiến trình

CPH DNNN trong LLVT Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Thực thi

pháp luật về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang” làm luận văn thạc sĩ của mình

“Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam – lý luận và thực tiễn” của

tác giả Trần Hồng Điệp, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004;

Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện quy định pháp luật về cổ phần hóa doanh

Trang 12

4

nghiệp nhà nước” của tác giả Trịnh Thị Bích Thủy, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2006; Luận văn thạc sĩ “Đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta”, của tác giả Đặng Ngọc Hiếu, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2006; Luận văn thạc sĩ “Bảo vệ quyền lợi người lao động trong và sau quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước”

của tác giả Nguyễn Xuân Vinh, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm

2009; Luận văn thạc sĩ “Thi hành pháp luật cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam” của tác giả Doãn Thị

Dung, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2010; Luận văn thạc sĩ

“Thi hành pháp luật cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong quá trình cổ phần hóa công ty Supe phốt phát và hóa chất Lâm Thao”, của tác giả Hoàng

Thị Hồng Đoan, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2012; hay tác giả

Đỗ Mai Thành viết về “Nhìn lại quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta”, Tạp chí Cộng sản, số 102; Bài viết của tác giả Đặng Quyết Tiến “Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: Chặng đường 2011-2015 và định hướng 2016-2020”, Tạp chí Tài chính, kỳ I, tháng 10/2016

Tuy nhiên, vấn đề CPH DNNN trong LLVT chưa nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu chuyên sâu của các chuyên gia và nhà khoa học Hiện nay, mới chỉ có một số ít các nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề nay như: Luận

văn thạc sĩ “Những vấn đề pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (Qua thực tiễn cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong Quân đội)” của tác

giả Hàn Mạnh Thắng, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2005; Luận

văn thạc sĩ “Những vấn đề pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong Quân đội” của tác giả Nguyễn Gia Trọng, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2009; hay bài viết của tác giả Nguyễn Xuân Phúc “Tái cơ cấu doanh nghiệp quân đội, một số vấn đề đặt ra”, Tạp chí Tài chính, số 12; Bài viết của tác giả Quang Phương “Đẩy nhanh thực hiện cổ phần hóa doanh

Trang 13

5

nghiệp quân đội”, Quân đội nhân dân online, số 12, năm 2016; Bài viết của Thiếu tướng Võ Hồng Thắng “Đẩy nhanh tiến độ tái cơ cấu doanh nghiệp quân đội”, Tạp chí quốc phòng toàn dân, số 08, năm 2016 Các nghiên cứu này,

đã trở thành tiền đề lý luận, là cơ sở đặt “nền móng” để xây dựng lý luận về CPH DNNN trong LLVT Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chỉ đề cập tới CPH DNNN trong Quân đội mà chưa đặt vấn đề nghiên cứu CPH DNNN trong Công an là một trong hai lực lượng, bộ phận nòng cốt, quan trọng của LLVT cũng đang trong tiến trình CPH DN Hai là, những vấn đề về sự mâu thuẫn, không đồng nhất của các quy định pháp luật về CPH DNNN với các văn bản quy phạm pháp luật của LLVT nói chung và địa vị pháp lý kép của người lao động trong các DN LLVT cần tiếp tục được nghiên cứu chuyên sâu hơn Mặt khác, từ năm 2005 đến nay đã có sự phát triển mới của các quy định pháp luật trong tiến trình CPH các DN thuộc LLVT nói chung, vì vậy vấn đề CPH DNNN trong LLVT cần được nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp có tính khả thi nhằm đẩy nhanh và có hiệu quả tiến trình CPH DNNN trong LLVT Tác giả cũng hy vọng rằng với sự đầu tư thích đáng, kết quả nghiên cứu sẽ là một tài liệu tham khảo có giá trị

3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

3.1 Mục tiêu tổng quát

Luận văn tập trung vào nghiên cứu cơ sở pháp lý, việc thực thi pháp luật

về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang nói chung và trong Quân đội, Công an nói riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam; đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn hoạt động này nói chung

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Cung cấp hệ thống cơ sở pháp lý về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà

nước trong lực lượng vũ trang, giúp cho việc tra cứu, thực hiện cổ phần hóa được thuận tiện, đúng quy định pháp luật

Trang 14

6

- Những giải pháp, kiến nghị của Luận văn sẽ là cơ sở quan trọng để các

cơ quan chức năng nghiên cứu, hoàn thiện hành lang pháp lý về cổ phần hóa

doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang trong thời gian tới

- Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước

thực hiện các biện pháp chuyên sâu hơn và toàn diện hơn để thúc đẩy tiến trình

cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang ở Việt Nam

4 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Trên cơ sở kế thừa thành tựu của các công trình nghiên cứu, Luận văn đạt được những kết quả nghiên cứu có tính mới như sau:

- Về tổng quát: Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam

đưa ra cách tiếp cận mới, chuyên sâu, thống nhất và toàn diện về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang Đồng thời, đây cũng là công trình đầu tiên nghiên cứu khái quát thực trạng thực thi pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, đưa ra các kiến nghị toàn diện từ chính sách, định hướng đến các giải pháp cụ thể nhằm tăng cường hiệu quả tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang

- Về chi tiết, Luận văn có một số điểm mới cụ thể nổi bật sau đây:

+ Nghiên cứu chuyên sâu, thống nhất và toàn diện tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong Quân đội và Công an

+ Luận văn sẽ tập trung phân tích môi trường pháp lý gắn với môi trường lịch sử để tìm ra các bất cập của pháp luật Việt Nam về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nói chung và trong lực lượng vũ trang nói riêng

+ Luận văn sẽ đưa ra một số kiến nghị, giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy hiệu quả tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng

vũ trang

Trang 15

7

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước về

cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nói chung và trong lực lượng Quân đội, Công an nói riêng cũng như thực trạng thực thi các quy định này

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những quy định của

pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong Quân đội và Công an

từ khi Luật Doanh nghiệp năm 2005 có hiệu lực đến thời điểm hiện tại và có

sự so sánh với các quy định của pháp luật về cổ phần hóa trong giai đoạn trước đó

Do thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn chỉ tập trung vào tìm hiểu 04 vấn đề lớn sau:

- Tổng quan về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; đánh giá ưu, nhược điểm và rút ra những kinh nghiệm CPH DNNN trong LLVT;

- Thực trạng những quy định pháp luật và những vấn đề pháp lý đặt ra trong tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang

- Nguyên nhân dẫn đến sự chậm trễ trong quá trình cổ phần hóa của các doanh nghiệp trong lực lượng vũ trang;

- Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng phương pháp luận, các quy luật và phạm trù của triết học Mác – Lênin trong quá trình nghiên cứu mà hạt nhân là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra, các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp cũng được vận dụng kết hợp giải quyết những vấn đề mà đề tài tiếp cận nghiên cứu

Tác giả cũng sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, thu thập kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia có những đặc điểm gần giống với Việt

Trang 16

8

Nam trong quá trình sắp xếp, đổi mới DNNN nói chung và DN LLVT nói riêng, từ đó rút ra những ưu điểm trong quy định của pháp luật của một số nước về vấn đề sắp xếp đổi mới DNNN; xem xét tính phù hợp với điều kiện Việt Nam để hướng tới hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt nam và các quy định của LLVT đặc thù nhằm đẩy nhanh tiến độ CPH DNNN hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang

Chương 2: Thực trạng thi hành pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật

cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang

Trang 17

9

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG

1.1 Những vấn đề lý luận chung về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

1.1.1 Quan điểm về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

Theo quan điểm của các quốc gia đã tiến hành CPH như các nước Đông

Âu và Liên Xô cũ… thì việc xem xét vấn đề CPH DNNN đều đặt nó trong một quá trình rộng lớn hơn, đó là quá trình tư nhân hóa Tư nhân hóa theo như định nghĩa của Liên Hợp quốc là sự biến đổi tương quan giữa Nhà nước và thị trường trong đời sống kinh tế của một nước ưu tiên thị trường Theo cách hiểu này thì toàn bộ chính sách, thể chế, luật lệ đều nhằm khuyến khích, mở rộng khu vực phát triển kinh tế tư nhân hay các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, giảm bớt quyền sở hữu và sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào các hoạt động kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở, dành cho thị trường vai trò điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua tự do giá cả, tự do lựa chọn đối tác và ngành nghề kinh doanh [22, tr 13]

Quan niệm về cổ phần hóa của Trung Quốc: Trung Quốc dựa trên những

luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin để tiến hành chuyển hóa DNNN; coi CPH là bộ phận hữu cơ trong tổng thể đổi mới DNNN, luôn khẳng định đây là con đường tìm kiếm hiệu quả kinh doanh chứ không phải là tìm kiếm các hình thức sở hữu khác nhau; đổi mới DNNN là khâu then chốt của cải cách kinh tế, coi tiền đề của cải cách là xây dựng đồng bộ cơ chế thị trường Mục đích căn bản của việc thực hiện CPH DNNN ở Trung Quốc là thay đổi chế độ sở hữu tài sản mà ở đó trước đây, Nhà nước luôn giữ vai trò độc quyền, để hình thành nên kết cấu đa dạng về quyền sở hữu tài sản trong

Trang 18

10

nội bộ DN, tối ưu hóa kết cấu quản trị DN Đây là lợi ích căn bản và lâu dài nhất của việc cải cách, CPH các DNNN ở Trung Quốc [32, tr 27-28]

Quan niệm về cổ phần hóa của một số nước ASEAN: Một số nước

ASEAN như Brunei, Singapore, Malaisia là các nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh và tương đối ổn định Các DNNN hoạt động theo cơ chế thị trường là chính chỉ có một bộ phận nhỏ là hoạt động công ích, chính vì vậy hiệu quả kinh doanh được đặt lên hàng đầu Nếu các DNNN mà hoạt động không hiệu quả thì sẽ bị giải thể hoặc phá sản Mục đích chính của CPH ở các nước ASEAN là: Nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế Nhà nước nói riêng, của toàn bộ nền kinh tế nói chung, xây dựng lại cơ cấu kinh tế theo hướng ưu tiên kinh tế tư nhân, tạo môi trường kinh doanh tích cực đảm bảo công bằng giữa các thành phần kinh tế, xóa bỏ một phần lối kinh doanh độc quyền kém hiệu quả của kinh tế nhà nước, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước Singapore và Malaisia là hai nước tương đối thành công trong CPH DNNN [22, tr 15]

Chủ trương CPH DNNN ở nước ta lần đầu tiên đã được đề cập trong Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương (BCH TW) khóa VII tháng 11/1991: “Chuyển một số DN quốc doanh có điều kiện thành CTCP và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm, chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng phạm vi thích hợp” Tổng kết sau 6 năm thực hiện CPH và đánh giá những kết quả bước đầu đạt được, Bộ

Chính trị đã có Thông báo số 63/TB-TW về triển khai tích cực, vững chắc việc

CPH DNNN Tư tưởng chỉ đạo cơ bản của Văn bản là CPH phải xuất phát từ yêu cầu phát triển DNNN, phải làm cho tiềm lực kinh tế của Nhà nước tăng lên, có chính sách khuyến khích cán bộ và công nhân trong DN mua cổ phần,

hỗ trợ cho công nhân nghèo mua cổ phần Có thể thấy quan điểm của Đảng về CPH DNNN là tạo ra loại hình DN vốn chỉ có một chủ sở hữu là Nhà nước

Trang 19

11

thành ra loại hình DN có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động và tư nhân tham gia và mục tiêu của CPH DNNN không phải là để tư nhân hóa DNNN – tức là xóa bỏ DNNN hay không nhằm thu hẹp sở hữu nhà nước trong nền kinh tế quốc dân, mà là để tạo ra một loại hình DN có nhiều chủ sở hữu nhằm vừa sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước vừa huy động thêm vốn của xã hội vào phát triển sản xuất, kinh doanh; vừa tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả cho DNNN vừa phát huy vai trò làm chủ thật sự của người lao động, của cổ đông và tăng cường sự giám sát của xã hội đối với DN, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, DN và người lao động

Hội nghị lần thứ 3 BCH TW (khóa IX) tháng 8/2001 đã ra Nghị quyết về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, tiếp tục khẳng định “đẩy mạnh CPH những DN mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn, xem đó là khâu quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả DNNN” Đến Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 BCH TW (khóa IX) tháng 2/2005 thì quan điểm của Đảng về CPH càng thông thóa hơn

“Đẩy nhanh tiến độ CPH và mở rộng diện các DNNN cần CPH, kể cả một số công ty và DN lớn giá trị tài sản DNNN thực hiện CPH, trong đó có giá trị quyền sử dụng đất, về nguyên tắc phải do thị trường quyết định Việc mua bán cổ phiếu phải công khai trên thị trường, khắc phục tình trạng CPH khép kín trong nội bộ DN Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, tổng kết công tác CPH; kịp thời rút kinh nghiệm, uốn nắn những lệch lạc, hoàn thiện cơ chế, chính sách để thực hiện ngày càng tốt hơn”

Những Nghị quyết này đã tạo nên tiền đề chính trị vững chắc cho tiến trình CPH DNNN ở nước ta, thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta

về CPH, đó là cần thiết phải CPH DNNN song song với việc giữ vững nền tảng của Chủ nghĩa xã hội là vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước

Trang 20

Giai đoạn mở rộng thí điểm CPH (5/1996 – 6/1998): Cả nước đã CPH

được 123 DN Tuy nhiên so với yêu cầu đổi mới và số lượng DN trong diện CPH thì kết quả là quá thấp, tốc độ CPH chậm;

Giai đoạn 3 (từ 1998 đến nay): Đây là giai đoạn cho phép đẩy mạnh

CPH CPH được Đảng và Nhà nước quan tâm, tập trung nhiều nhất không chỉ trong hoạch định chiến lược mà cả trong cơ chế, chính sách nhằm làm cho quá trình CPH đạt được những kết quả tốt nhất

Nói tóm lại, quan niệm về cổ phần hóa của các quốc gia đều hướng tới nội dung chung nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Cổ phần hóa chính là phương thức thực hiện xã hội hóa sở hữu – Chuyển hình thức kinh doanh từ một chủ sở hữu là DNNN thành công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu để tạo

ra một mô hình doanh nghiệp phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường và đáp ứng được nhu cầu của kinh doanh hiện đại Mặc dù CPH DNNN là một vấn

đề không còn mới nhưng vẫn rất phức tạp đối với Việt Nam Vì vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm CPH DNNN của các nước trên thế giới đặc biệt là các nước có điều kiện tương đồng như: Trung Quốc, Nga, các nước ASEAN

để tìm kiếm kinh nghiệm có thể vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam là vô cùng quan trọng

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang

1.1.2.1 Doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang

Doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang còn được biết đến với tên gọi khác là doanh nghiệp quốc phòng, an ninh là doanh nghiệp nhà nước

Trang 21

13

được thành lập hoặc tổ chức lại để thực hiện các nhiệm vụ mang tính ổn định, thường xuyên trong những ngành, lĩnh vực, địa bàn trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh hoặc bảo đảm bí mật và an ninh quốc gia [14, Điều 3]

Doanh nghiệp được xác định là doanh nghiệp quốc phòng, an ninh phải bảo đảm các điều kiện sau:

Là doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an

Có ngành, lĩnh vực hoạt động quy định tại Phụ lục về Danh mục ngành, lĩnh vực hoặc địa bàn trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh ban hành kèm theo Nghị định

Được cơ quan có thẩm quyền giao nhiệm vụ sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh hoặc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ổn định, thường xuyên bằng nguồn lực của Nhà nước hoặc nguồn lực của doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu đầu tư, thành lập doanh nghiệp

Cũng theo Nghị định số 93/2015/NĐ-CP ngày 15/10/2015 thì doanh nghiệp quốc phòng, an ninh có những đặc thù sau:

Thứ nhất, về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh thì

ngoài những quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích quy định tại Điều 9 Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh có các quyền và nghĩa vụ đặc thù sau:

Được cơ quan đại diện chủ sở hữu bảo đảm đủ nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được giao

Được sử dụng các nguồn lực được giao để hoạt động kinh doanh bổ sung ngoài kế hoạch sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh hoặc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh khi bảo đảm các điều kiện theo quy định

Tiến hành quản lý nguồn lực được giao để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo các quy định hiện hành về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị vũ trang nhân dân và quy định của pháp luật có liên quan

Trang 22

14

Chấp hành quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu về việc điều chuyển phần vốn hoặc tài sản phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của doanh nghiệp để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở doanh nghiệp khác trong trường hợp cần thiết Cơ quan đại diện chủ sở hữu liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong trường hợp điều chuyển phần vốn hoặc tài sản phục vụ nhiệm vụ quốc phòng,

an ninh của doanh nghiệp

Trường hợp thay đổi hoặc bổ sung ngành, nghề kinh doanh thì phải được

cơ quan có thẩm quyền quyết định

Chấp hành các quy định pháp luật về hợp tác quốc tế và của cơ quan đại diện chủ sở hữu khi thực hiện các hoạt động liên kết với tổ chức, cá nhân nước ngoài để sản xuất, cung cấp sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh hoặc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh

Thứ hai, về cơ cấu tổ chức: Căn cứ vào quy mô và đặc thù hoạt động của

doanh nghiệp, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quyết định áp dụng cơ cấu tổ chức quản lý theo mô hình Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc (Giám đốc), Kiểm soát viên (Ban Kiểm soát) hoặc theo mô hình Chủ tịch công ty, Tổng Giám đốc (Giám đốc), Kiểm soát viên (Ban Kiểm soát) Đối với doanh nghiệp quốc phòng, an ninh hoạt động trong các ngành, lĩnh vực đặc biệt, cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp do Thủ tướng Chính phủ quyết định

Tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng, kỷ luật đối với các chức danh quản lý của doanh nghiệp quốc phòng,

an ninh thực hiện theo quy định của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an

Thứ ba, trong quá trình sản xuất, kinh doanh các doanh nghiệp quốc phòng, an ninh hoạt động theo cơ chế đặc thù sau: Được miễn, giảm tiền thuê

đất, tiền sử dụng đất và thuế sử dụng đất đối với diện tích đất phục vụ nhiệm

vụ quốc phòng, an ninh được giao quản lý và sử dụng; được hạch toán một số

Trang 23

15

khoản chi phí đặc thù vào chi phí sản xuất kinh doanh; được nhà nước cấp kinh phí cho việc duy trì, bảo dưỡng, sửa chữa vận hành các dây chuyền sản xuất quốc phòng, an ninh trong trường hợp tạm ngừng sản xuất mà không có khả năng tự bù đắp chi phí; được nhà nước hỗ trợ quỹ khen thưởng và phúc lợi bằng 02 tháng lương thực hiện, trong trường hợp không đủ nguồn để trích lập hai quỹ đó; được nhà nước hỗ trợ kinh phí nhà trẻ, giáo dục, y tế tại những địa bàn khó khăn; được hưởng chế độ, chính sách ưu đãi và hỗ trợ khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ

Thứ tư, người lao động trong doanh nghiệp quốc phòng, an ninh được hưởng các chế độ, chính sách đặc thù như: Tiền lương của lao động là sĩ quan,

quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan được tính phù hợp với quy định về chế độ, chính sách của pháp luật đối với sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan

và căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; Trong trường hợp khi thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, người lao động nếu bị thương hoặc

bị chết mà đủ điều kiện, tiêu chuẩn thì được xem xét, xác nhận là người có công theo quy định của pháp luật về người có công; người lao động bị tai nạn lao động thì xét hưởng chế độ tai nạn lao động theo quy định của pháp luật về lao động; Nhà nước hỗ trợ trả lương cho số lượng người lao động tối thiểu cần phải duy trì để vận hành các dây chuyền sản xuất quốc phòng, an ninh trong trường hợp tạm ngừng sản xuất mà không có khả năng tự bù đắp chi phí

Những đặc thù trên đây của DNNN trong LLVT đã cho thấy những tác động không nhỏ của nó trong việc “kìm hãm” tiến trình CPH của các DN Bởi

lẽ, ngoài những quyền và nghĩa vụ của một DNNN nói chung thì các DN này còn được “hưởng thêm” các quyền và nghĩa vụ đặc thù chỉ riêng trong LLVT có được Đặc biệt, người lao động trong các DN quốc phòng, an ninh ngoài tiền lương theo ngạch bậc thuộc chế độ LLVT bình thường đã cao hơn so với các ngành nghề khác lại còn được cộng thêm với doanh thu dựa trên kết quả sản xuất

Trang 24

tự quyết về mọi mặt nhưng đi kèm với đó là trách nhiệm nặng nề, phải đối mặt với những bấp bênh, sóng gió của thị trường kinh doanh đầy biến động và rủi ro,

“nay được mai thua” Đây quả thật không phải là một sự lựa chọn, một quyết định dễ nhận được sự đồng tình và chấp nhận của người lao động và DN!

1.1.2.2 Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nuớc trong lực lượng vũ trang

Doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang là một bộ phận của DNNN nói chung, vì vậy tiến trình cổ phần hóa của các DNNN trong LLVT

có quá trình chuyển đổi và những đặc điểm tương đồng như các DNNN khác trong nền kinh tế quốc dân

Thuật ngữ cổ phần hóa xuất hiện ở Việt Nam cuối những năm 1980 đầu những năm 1990, gắn với công cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước Cho đến nay, dường như mọi người mặc nhiên sử dụng thuật ngữ cổ phần hóa,

mà chưa quan tâm nhiều tới việc định nghĩa hay đưa ra một khái niệm đầy đủ cho thuật ngữ này Không chỉ ở Việt Nam mà ngay trên thế giới cũng chưa thấy có học giả hay nhà nghiên cứu khoa học nào đưa ra khái niệm về cổ phần hóa [22, tr 17-18]

Xét về mặt sở hữu, CPH là quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN, chuyển

DN thuộc quyền sở hữu của Nhà nước thành DN có nhiều chủ sở hữu với mục đích bảo đảm sự tồn tại và phát triển không ngừng của DN theo sự phát triển của kinh tế - xã hội [10, Điều 1]

Xét về bản chất kinh tế, CPH là việc nhà nước hoặc giữ nguyên phần vốn

hiện có trong DN nhưng phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn, hoặc bán

Trang 25

17

bớt một phần hay toàn bộ giá trị cổ phần của mình trong DN cho các đối tượng là tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài nước hoặc cho cán bộ quản lý, cán bộ, công nhân viên của DN bằng đấu giá công khai hay thông qua thị trường chứng khoán [10, Điều 4]

Xét về mặt pháp lý, CPH là việc chuyển đổi DNNN sang hoạt động theo

mô hình CTCP hoạt động theo các quy định về CTCP của pháp luật hiện hành CPH DNNN là quá trình thực hiện đa dạng hóa sở hữu, chuyển các DNNN thuộc sở hữu nhà nước thành CTCP thuộc sở hữu của các cổ đông thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia mua cổ phiếu Các chủ sở hữu có quyền lợi và nghĩa vụ của mình tương đương với phần vốn góp đó, được hưởng lợi nhuận, chức vụ và địa vị trong DN tương đương với tài sản mà mình bỏ ra để đóng góp vào DN

Xét về khía cạnh chính trị, CPH DNNN không nhằm mục tiêu tư nhân

hóa nền kinh tế, không nhằm xóa bỏ hoàn toàn sở hữu nhà nước trong các cơ

sở kinh tế công mà chỉ giảm mức độ sở hữu, mà cụ thể hơn là tùy từng DN

mà Nhà nước nắm giữ tỷ lệ phần vốn góp nhất định Quá trình CPH đưa tư nhân vào cùng làm chủ sở hữu, trong đó có cả người lao động từng làm trong

DN, có thể có cá nhân, tổ chức là người nước ngoài… Đây chính là đồng chủ

sở hữu cùng có tiếng nói quyết định đến sự phát triển của DN, đưa nền kinh tế của đất nước dần dần phát triển và hội nhập quốc tế theo đúng định hướng tiến lên xã hội chủ nghĩa

Xét về mặt xã hội, CPH góp phần nâng cao sự minh bạch trong quản trị

và điều hành DN, tạo ra cơ chế thực hiện sự công bằng đối với các nhà đầu tư, người lao động CPH DNNN, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý xã hội đối với các lĩnh vực mà trước đây nhà nước (độc quyền) quản lý thông qua việc chuyển giao vốn, “thoát vốn” nhà nước tại các DNNN sau CPH

Trang 26

18

Như vậy có thể thấy, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng

vũ trang là quá trình chuyển doanh nghiệp có 100% vốn Nhà nước thuộc Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an quản lý từ hình thức sở hữu độc nhất của Nhà nước sang hình thức sở hữu đa thành phần thông qua việc thu hút thêm vốn từ các thành phần kinh tế khác nhau hoặc bán toàn bộ hay một phần tài sản của doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước để thành lập công ty cổ phần

• Từ khái niệm trên đây, ta có thể rút ra được một số đặc điểm của CPH DNNN trong LLVT:

Thứ nhất, cổ phần hóa là biện pháp chuyển DN từ sở hữu nhà nước sang hình thức nhiều sở hữu hay còn gọi là đa sở hữu Doanh nghiệp được CPH sẽ

không chỉ có một chủ sở hữu độc quyền quyết định mọi vấn đề về đầu tư, kinh doanh mà sẽ có các chủ sở hữu khác – được gọi là các cổ đông cùng đóng góp vốn và đều có quyền tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Quyền và lợi ích của doanh nghiệp không chỉ là của một chủ sở hữu

mà là của nhiều chủ sở hữu tham gia góp vốn đầu tư vào doanh nghiệp

Thứ hai, cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi hình thức pháp lý từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sang công ty cổ phần Đây là hình thức chuyển

đổi loại hình doanh nghiệp, liên quan đến nguồn luật điều chỉnh doanh nghiệp Sau khi chuyển đổi, doanh nghiệp sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành theo hình thức công ty cổ phần chứ không nằm trong sự điểu chỉnh của Luật Doanh nghiệp nhà nước

Thứ ba, quá trình cổ phần hóa được tiến hành thông qua hình thức nhà nước bán một phần hoặc toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại DN cho các cá

nhân, tổ chức khác nhau như: Người lao động trong doanh nghiệp, nhà đầu tư chiến lược, bán công khai ra công chúng Thông qua việc bán cổ phần của DN

ra công chúng, DNNN sau khi CPH có thể thu hút sự tham gia mua cổ phần của những người có trình độ và kinh nghiệm về kỹ thuật; tài chính, quản lý và

Trang 27

19

thương mại Họ là những nhà quản lý giỏi, có tinh thần trách nhiệm cao và hoạt động thực sự vì lợi ích của DN

1.1.3 Vai trò cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang

Doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang là một bộ phận trong thành phần kinh tế nhà nước Việc sắp xếp, đổi mới, CPH DNNN trong LLVT là nhằm trực tiếp nâng cao hiệu quả của DN, đảm bảo DNNN làm tốt nhiệm vụ nòng cốt, phát huy vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước, qua

đó, phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế khác Do vậy CPH DNNN trong nền kinh tế quốc dân có những vai trò chủ đạo sau:

Thứ nhất, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tạo ra sự bình đẳng pháp

lý, cạnh tranh lành mạnh, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế cùng tham gia thị trường, thúc đẩy khu vực tư nhân phát triển CPH DNNN là xử lý về mặt quan hệ sản xuất để phát triển lực lượng sản xuất, kết hợp chặt chẽ lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, góp phần thực hiện chủ trương đa dạng hóa sở hữu Trước đây, chúng ta xây dựng một cách cứng nhắc chế độ công

hữu, thể hiện ở một số lượng quá lớn các DNNN mà không nhận thấy quan hệ sản xuất này không phù hợp với lực lượng sản xuất còn nhiều yếu kém, lạc hậu CPH là tiến trình nhằm xã hội hoá lực lượng sản xuất mà thực chất là đa dạng hóa sở hữu nhằm thu hút các nguồn lực vào sản xuất Các DN huy động

và tập trung được nguồn tài chính lớn để đổi mới dây chuyền công nghệ, đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực, phát huy và tận dụng tối đa những ưu điểm của lực lượng sản xuất vào sản xuất kinh doanh để chiếm lĩnh thị trường và tìm kiếm lợi nhuận Đồng thời, CPH cũng không ngừng cải thiện quan hệ sản xuất, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới phương thức quản lý, quản trị; doanh nghiệp sẽ trở nên năng động, tự chủ hơn trong sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Đây là mối quan hệ không thể tách rời

Trang 28

20

Thứ hai, cổ phần hóa góp phần tích cực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn

bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế -

xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao Thực hiện CPH là một trong những giải pháp quan trọng để cơ cấu lại nền kinh tế trong quá trình đổi mới nhằm huy động các nguồn lực trong và ngoài nước vào phát triển kinh tế Với việc huy động được các nguồn lực, các doanh nghiệp cổ phần có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh; đầu tư đổi mới công nghệ, đưa dây chuyền máy móc kỹ thuật cao vào quá trình sản xuất hàng hóa, tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng cường khả năng cạnh tranh của DN trên thị trường trong nước và quốc tế Bên cạnh đó, cổ phần hoá còn tác động tích cực đến đổi mới quản lý

ở cả tầm vĩ mô và vi mô Chuyển từ DNNN sang công ty cổ phần không những chỉ là sự thay đổi về sở hữu, mà còn là sự thay đổi căn bản trong công tác quản lý ở cả phạm vi doanh nghiệp và ở cả phạm vi nền kinh tế quốc dân

Thứ ba, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước còn góp phần làm thay đổi

tư duy kinh tế cũ theo chế độ bao cấp lỗi thời lạc hậu, thay vào đó là tư duy năng động, nhạy bén trước tình hình biến đổi của kinh tế thế giới Chế độ một

chủ sở hữu là nhà nước thực hiện chính sách bao cấp đã lỗi thời, lạc hậu, cần thay vào đó là chế độ đa chủ sở hữu cùng hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận trước nhiều thách thức và khó khăn của nền kinh tế Từ đó, mau chóng chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang công nghiệp và dịch vụ, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo mục tiêu của Đảng và Nhà nước đề ra

Cuối cùng, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước còn góp phần làm chuyển dịch các thành phần kinh tế, cụ thể: Từ việc DNNN do Nhà nước làm

Trang 29

21

chủ, được xếp trong thành phần kinh tế nhà nước, do Nhà nước quản lý và chi phối, thì sau khi CPH, DN được cổ phần sẽ có sự thay đổi chuyển dịch về các thành phần kinh tế khác Trong những DN cổ phần có 3 chủ sở hữu, nếu sở hữu của tập thể người lao động chi phối thì DN thuộc thành phần kinh tế tập thể Nếu sở hữu nhà nước và sở hữu tư bản tư nhân chi phối thì DN thuộc thành phần kinh tế tư bản nhà nước Còn trường hợp sở hữu tư bản tư nhân chi phối thì DN thuộc thành phần kinh tế tư bản tư nhân Như vậy, thành phần kinh tế nhà nước về mặt quy mô sẽ bị giảm đi, thay vào đó là sự gia tăng về quy mô của các thành phần kinh tế khác, góp phần vào quá trình chuyển dịch thành phần kinh tế, theo đó Nhà nước dần rút bớt đi sự “chi phối” của mình,

mà thay vào đó là sự “xâm nhập” tư nhân hóa

1.1.4 Nguyên tắc thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang

Quá trình thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng

vũ trang phải luôn bám sát và quán triệt các nguyên tắc theo tinh thần Nghị

định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 cụ thể như sau:

Thứ nhất, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc

đa dạng hóa về sở hữu Theo nguyên tắc này, DNNN được CPH sẽ thay đổi

hình thức sở hữu từ một chủ sở hữu sang đa chủ sở hữu Chủ sở hữu DN không phải chỉ mỗi Nhà nước mà còn có rất nhiều cá nhân, tổ chức khác, ngay cả người lao động cũng đều có quyền làm chủ Các chủ sở hữu DN đều

có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của DN

Thứ hai, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc bảo đảm quyền lợi của người lao động Quyền lợi của người lao động trong

DN CPH rất dễ bị vi phạm nếu không có sự điều chỉnh và can thiệp của pháp luật Trong quá trình CPH, người lao động trong DN là những cá nhân “thấp

cổ bé họng”, dễ bị xâm phạm quyền và lợi ích nếu như không có pháp luật

Trang 30

22

bảo hộ và can thiệp Vì thế các DNNN tiến hành CPH phải đảm bảo nguyên tắc bảo đảm quyền lợi của người lao động trong việc hưởng chính sách ưu đãi mua cổ phần, hưởng lợi tức, hưởng lương, thưởng và các chế độ phúc lợi khác, ngay cả chế độ trợ cấp thôi việc, mất việc cho những người lao động không đủ khả năng và trình độ làm việc cho DN sau khi được CPH

Thứ ba, cổ phần hóa phải đảm bảo nguyên tắc công ty cổ phần kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp nhà nước Theo nguyên tắc này,

DN sau khi được CPH phải kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ để đảm bảo quyền và lợi ích cho người lao động; xử lý những vấn đề tài chính của DN, có trách nhiệm về toàn bộ tài sản và nguồn vốn của DN Từ đó, DN cổ phần sẽ được kế thừa những thành quả của DNNN, đồng thời cũng phải thực hiện trọn vẹn những nghĩa vụ của DNNN còn chưa hoàn thành, tiếp tục xây dựng những cơ sở để phát triển DN sau CPH

Thứ tư, cổ phần hóa phải đảm bảo nguyên tắc thực hiện công khai, minh bạch thông tin và niêm yết trên thị trường chứng khoán

DN CPH phải thực hiện công khai, minh bạch thông tin về DN, về phương án CPH, tình hình quản lý và sử dụng lao động, đất đai theo đúng quy định của Luật Doanh nghiệp và các quy định khác của pháp luật

DN CPH có tình hình tài chính đáp ứng đủ điều kiện niêm yết theo quy định của pháp luật về chứng khoán, phải xây dựng phương án CPH để đảm bảo cơ cấu cổ đông thực hiện niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm Giao dịch chứng khoán

Cơ quan quyết định CPH quy định việc CPH đồng thời với việc niêm yết trên thị trường chứng khoán trong phương án CPH để công bố cho các nhà đầu tư biết trước khi bán cổ phần lần đầu Người đại diện phần vốn nhà nước tại DN có trách nhiệm biểu quyết tại Đại hội cổ đông lần đầu để thông qua Nghị quyết về việc niêm yết

Trang 31

23

Trên đây là những nguyên tắc cơ bản để thực hiện CPH DNNN Bên cạnh đó, khi tiến hành CPH DNNN cần phải tuân thủ thêm một vài nguyên tắc khác như nguyên tắc thị trường, nguyên tắc thực hiện bán cổ phần cho các nhà đầu tư và người lao động trong DN theo đúng quy định của pháp luật

1.2 Sự cần thiết phải cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang

Có thể nói, DNNN trong LLVT nói chung và DNNN trong Quân đội, Công an nói riêng là một bộ phận của thành phần kinh tế nhà nước Nhiệm vụ chủ yếu, thường xuyên của DNNN trong LLVT là tăng cường và củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc đồng thời tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Các DNNN trong LLVT phần lớn được thành lập trong thời kỳ bao cấp, trước đổi mới có 100% vốn của Nhà nước tham gia sản xuất và phục vụ dân sinh; đảm bảo sẵn sàng chuyển sang chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu khi có yêu cầu Các DN này không có vai trò to lớn trong việc điều tiết nền kinh tế như các DNNN lớn thuộc các Bộ ngành khác, nhưng nó lại đảm bảo cho việc phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh Tuy nhiên, cũng như các DNNN nói chung, do nền kinh tế nước ta trong một thời gian dài duy trì cơ chế kế hoạch hóa tập trung, vì vậy các DNNN trong LLVT đã phát triển một cách nhanh chóng, với rất nhiều DN được thành lập để phục vụ nhiệm vụ an ninh, quốc phòng và sản xuất hàng dân sinh trong các lĩnh vực bất kể hiệu quả hoạt động của nó như thế nào

Việc phải đảm bảo 100% vốn nhà nước đối với các ngành, lĩnh vực trong LLVT như thương nghiệp; dịch vụ khách sạn, nhà nghỉ dưỡng; sản xuất và sửa chữa máy móc thiết bị; đồ nội thất, văn phòng… đã không còn phù hợp trong nền kinh tế thị trường Bởi lẽ hiện nay các DN khu vực tư nhân đang thực hiện

Trang 32

24

rất tốt nhiệm vụ này, thậm chí còn đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn các DNNN trong LLVT Thực tế cho thấy ngay cả các sản phẩm đặc biệt chuyên dùng cho quốc phòng, an ninh như: Hệ thống giám sát hành trình; hệ thống định vị vệ tinh GPS; thiết bị bay không người lái; thiết bị lặn ngầm; camera giám sát an ninh; các thiết bị ghi âm, ghi hình… cũng đã được các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khu vực tư nhân tham gia nghiên cứu, sản xuất, chế tạo, thương mại hóa sản phẩm cung ứng ra thị trường trong nước và xuất khẩu đi quốc tế Từ thực tế đó, các DN LLVT cần phải được thu hẹp về quy

mô, ngành nghề, lĩnh vực hướng tới chỉ phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh

và sản xuất các loại hàng hóa tối quan trọng mà các DN khu vực tư nhân chưa

đủ sức “đảm đương” hoặc bị cấm tham gia sản xuất, kinh doanh

Bên cạnh đó, các DNNN trong LLVT còn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém như: quy mô nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý, trình độ công nghệ lạc hậu, quản lý còn yếu kém, chưa thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh; kết quả sản xuất kinh doanh chưa tương xứng với các nguồn lực đã có và sự hỗ trợ, đầu tư của Nhà nước; hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, nợ không có khả năng thanh toán tăng lên, lao động thiếu việc làm và dôi dư còn lớn

Sự yếu kém của DNNN trong LLVT do nhiều nguyên nhân tác động, trong đó nổi lên một số nguyên nhân như:

DNNN trong Quân đội và Công an rất dàn trải, được bố trí hầu hết các địa bàn trong cả nước, bao quát nhiều ngành, nghề, lĩnh vực nên sự đầu tư đối với từng DN là không nhiều Nguồn vốn của Nhà nước đã hạn hẹp lại đầu tư vào nhiều DN nên không tập trung đầu tư được công nghệ mới, DN trở lên lạc hậu khi chuyển đổi cơ chế

Các DN hoạt động chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận, việc xây dựng

kế hoạch để sản xuất kinh doanh không phải theo nhu cầu thị trường mà bằng

Trang 33

25

chỉ tiêu, mệnh lệnh, DN hoàn toàn không có quyền tự chủ trong quản lý và phân phối sản phẩm cũng như quy định giá cả Vì vậy chưa kịp thích nghi kịp với cơ chế thị trường nên tính năng động và linh hoạt của DNNN trong LLVT thường kém

Các DNNN trong LLVT ít tham gia cung cấp dịch vụ công cộng, chủ yếu phục vụ cho quốc phòng và an ninh, do đó khi chuyển đổi cơ cấu, việc sử dụng lao động không theo đúng khả năng thực tế và không khuyến khích được người lao động sáng tạo Điều này làm cho số lao động làm việc trong các DN tăng, kéo theo chi phí sản xuất tăng lên mà hiệu quả sản xuất không cao

Kinh nghiệm sản xuất kinh tế của các DNNN trong LLVT thường không nhiều, sản phẩm hàng hóa phần lớn chưa khẳng định được uy tín thương mại, việc chiếm lĩnh và mở rộng thị trường có nhiều khó khăn Các DN lại thường đóng quân vùng sâu, vùng xa ảnh hưởng đến lợi nhuận khi tham gia hoạt động kinh doanh của các DN này

Là DNNN mang tính “đặc thù” nên nguồn vốn dành cho các DN để tái đầu tư hầu như không có từ bên ngoài đặc biệt là các nguồn vốn có yếu tố quốc tế Vì vậy các DNNN trong LLVT chủ yếu nhận sự bảo trợ, ưu đãi từ ngân sách Nhà nước

Năng lực và trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý trong các DN chưa theo kịp với sự phát triển của các DN ngoài LLVT như khả năng tiếp cận công nghệ, thông tin, kỹ năng quản lý kinh doanh còn nhiều hạn chế Trong khi đó việc đào tạo, bổ sung nguồn cán bộ cho phát triển khoa học kỹ thuật đang thiếu cả công nhân lành nghề, kỹ thuật viên lẫn nhà khoa học, đây

là hạn chế rất lớn có ảnh hưởng đến sự cạnh tranh và xu hướng phát triển của các DN

Cũng như các DNNN khác, các DNNN trong LLVT có hiệu quả sản xuất thấp và tình trạng thua lỗ kéo dài Tuy nhiên, do vẫn nặng quan điểm bao cấp

Trang 34

26

nên các DNNN trong LLVT vẫn được duy trì hoạt động, các DN làm ăn thua

lỗ vẫn được ngân sách Nhà nước nuôi và duy trì sự sống Với quan điểm chính là phục vụ quốc phòng, an ninh Đó cũng là đặc thù làm cho các DNNN trong LLVT không năng động và tự chủ, không phát huy hết khả năng của mình, luôn ỷ lại và thụ động

Từ khi Đảng và Nhà nước chủ trương thực hiện thí điểm chương trình CPH DNNN theo Quyết định 143/HĐBT ngày 10/5/1990, Quyết định 202/HĐBT ngày 8/6/1992, Chỉ thị 84/TTg ngày 4/3/1993 và Luật DNNN tháng 4 năm 1995, các DNNN trong LLVT đã chủ động cải cách, sắp xếp lại

hệ thống các DN, tập trung tiến hành chuyển đổi các DN trong diện CPH

Trong Công an, hiện có 10 DN với 5000 người lao động, trong đó có

khoảng 500 đồng chí là biên chế Công an Cũng như thực trạng chung của các DNNN, các DN trong Công an còn tồn tại nhiều bất cập, nhiều đầu mối, bộ máy chưa tinh gọn, một số ngành nghề chưa được sắp xếp tập trung, thống nhất; các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn phải cạnh tranh trong tìm kiếm việc làm, đơn hàng để sản xuất Thực hiện chủ trương CPH của Đảng và Nhà nước, các DN Công an đã tiến hành sắp xếp, chuyển đổi mô hình DN, thu gọn lại các đầu mối; đồng thời Bộ Công an cũng đã thành lập Ban chỉ đạo CPH DNNN, thành lập Tổ giúp việc cho Ban chỉ đạo và phê duyệt chủ trương thí điểm CPH một số DN trong Công an [1] Tuy nhiên, quá trình này đang gặp nhiều khó khăn, bị kéo dài và cho đến nay tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả như mong đợi, vẫn chưa có DN Công an nào thực hiện CPH thành công và đi vào hoạt động Những khó khăn trong sản xuất kinh doanh của các

DN Công an vẫn chưa được giải quyết

Trong Quân đội, Bộ Quốc phòng tham gia vào quá trình CPH DNNN từ

năm 1993 với việc thành lập Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội, đến tháng 6/2003 đã có 3 DN và 1 xí nghiệp phụ thuộc thực hiện CPH xong và đi

Trang 35

27

vào hoạt động theo mô hình Công ty cổ phần Đó là công ty Gốm sứ Bát Tràng, công ty Thuốc bảo vệ thực vật, Nhà máy Nhựa bao bì Vinh thuộc Công ty Hợp tác kinh tế và Xí nghiệp nhựa xốp thuộc Công ty Điện tử Sao Mai đến nay cả 3 công ty đều làm ăn có hiệu quả; Giai đoạn 2003 – 2005, Bộ Quốc phòng đã triển khai sắp xếp, đổi mới công ty nhà nước theo Quyết định

số 80/2003/QĐ-TTg ngày 29/4/2003 và công văn số 455/CP-ĐMDN của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh, bổ sung phương án sắp xếp DNNN thuộc Bộ Quốc phòng Theo đó, trong giai đoạn này Bộ Quốc phòng đã tiến hành sắp xếp 15 DN của thuộc diện CPH; Giai đoạn 2005 – 2010, thực hiện Quyết định

số 98/2005/QĐ-TTg ngày 09/5/2005, Quyết định số 339/2008/QĐ-TTg ngày 31/3/2008 và Nghị quyết số 71/NQ-ĐUQSTW của Đảng ủy quân sự trung

ương về nhiệm vụ xây dựng kinh tế của quân đội trong thời kỳ mới Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp quân đội, Bộ

Quốc phòng đã sắp xếp 31 DN đưa vào danh sách thuộc diện CPH, nâng tổng

số DNNN trong Quân đội thuộc diện CPH là 46 DN Sau khi chuyển đổi, nhiều

DN phát triển tốt, hoạt động có hiệu quả, nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường, các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu như: doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách,

tỷ suất lợi nhuận trên vốn đều tăng hơn so với trước khi CPH Tình hình việc làm ổn định, thu nhập của người lao động được cải thiện, các yếu kém mang tính cố hữu của DNNN được hóa giải như các công ty: CTCP Nhựa bao bì Vinh, CTCP NICOTEX, CTCP Phú Tài, CTCP Thanh Bình… [38]

Những kết quả CPH DN trong Quân đội thời gian qua đã khẳng định tính tích cực trong quá trình sắp xếp, đổi mới DN góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và vị thế của DN LLVT trong nền kinh tế quốc dân Vì vậy, cũng như CPH DNNN nói chung, CPH DNNN trong Quân đội và Công an nói riêng là quy luật tất yếu, là con đường phát triển đi lên đúng đắn mà các DNNN cần đi theo để tồn tại và phát triển trong thời kỳ kinh tế mở cửa, hội nhập

Trang 36

28

1.3 Nội dung pháp lý cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang

Thực hiện Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ

về chuyển DN 100% vốn nhà nước thành CTCP trong đó đã quy định rất cụ thể

về đối tượng, hình thức CPH, nội dung CPH Quá trình CPH của các DNNN trong LLVT luôn được xác định: Việc CPH DN 100% vốn nhà nước phải chấp hành đầy đủ các quy định của Chính phủ cụ thể là Nghị định số 59/2011/NĐ-

CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ và Thông tư của các bộ, ngành hướng dẫn thực hiện Nghị định số 59/2011/NĐ-CP

Trên cơ sở quy định của Chính phủ, Bộ Quốc phòng đã ban hành Thông

tư số 31/2008/TT-BQP ngày 17/3/2008 hướng dẫn chuyển DN 100% vốn nhà nước trong Quân đội thành CTCP trong đó có một số quy định mang tính đặc thù sau:

• Về Ban Chỉ đạo cổ phần hóa

Theo quy định trước đây gồm có 5 thành viên bao gồm: Trưởng Ban chỉ đạo (Bộ Quốc phòng ủy quyền cho một thủ trưởng Cục Kinh tế đảm nhiệm); Ủy viên thường trực (cán bộ Cục Kinh tế); các ủy viên khác là cán bộ Cục Tài Chính, cán

bộ đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng có DN CPH, một lãnh đạo DN CPH

Thông tư số 31/2008/TT-BQP ngày 17/3/2008 đã quy định mới về Ban chỉ đạo theo đó không ghi cụ thể là bao nhiêu thành viên mà quy định thêm một số thành viên sau: Đại diện cơ quan văn phòng Bộ Quốc phòng, Cục Cán

bộ, Cục Quân lực; Đại diện Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước đối với trường hợp DN CPH thuộc đối tượng chuyển giao quyền đại diện chủ

sở hữu vốn Nhà nước về Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước

• Về xác định giá trị doanh nghiệp

Theo quy định của Bộ Quốc phòng tại Thông tư số 31/2008/TT-BQP ngày 17/3/2008 hướng dẫn thực hiện chuyển DN 100% vốn nhà nước trong

Trang 37

29

Quân đội thành CTCP theo các quy định tại Nghị định số 189/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 của Chính phủ và Thông tư số 127/2014/TT-BTC ngày 05/9/2014 của Bộ Tài chính quy định thì các DN không tính giá trị quyền sử dụng đất quốc phòng vào giá trị doanh nghiệp khi thực hiện cổ phần hóa Sau khi chuyển thành công ty cổ phần, nếu có đất quốc phòng do công ty quản lý và sử dụng thì được Bộ Quốc phòng cho thuê, trong khi chờ hướng dẫn mới, thủ tục thuê đất quốc phòng áp dụng theo hướng dẫn số 2164/BQP ngày 26/5/2005 của Bộ Quốc phòng trên cơ sở công văn 1231/CP-ĐMDN ngày 12/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc xử lý đất quốc phòng ở các DNQĐ thực hiện CPH Đây là căn cứ pháp lý để các DNNN trong quân đội

và các cơ quan của Bộ Quốc phòng triển khai thực hiện, đồng thời đây cũng

là vấn đề còn nhiều tranh luận, ảnh hưởng đến tiến trình cũng như thực hiện các quyền của DN cổ phần sau khi thuê đất của Bộ Quốc phòng

• Về giải quyết chính sách cho người lao động

Người lao động trong các DN LLVT rất đặc thù, địa vị pháp lý của họ là

“địa vị pháp lý kép”, nghĩa là họ vừa là đối tượng điều chỉnh của pháp luật lực lượng vũ trang và pháp luật lao động Từ đó các mối quan hệ lao động bên trong DN LLVT cũng phải được điều chỉnh bằng các chế độ chính sách đặc thù, tính đặc thù này được thể hiện ở trước và sau khi DN sắp xếp, đổi mới Chính vì tính đặc thù, trong một số trường hợp, cùng một quan hệ lao động có

DN thì áp dụng theo Bộ luật Lao động, có DN áp dụng theo luật quân sự

Để đảm bảo chế độ, quyền lợi của người lao động trong các DNQĐ, Bộ Quốc phòng đã ban hành các quy định như Thông tư số 114/2015/TT-BQP ngày 28/9/2015 quy định về bố trí, sử dụng và chế độ chính sách đối với các đối tượng làm việc tại doanh nghiệp quân đội thực hiện cổ phần hóa và tại công ty cổ phần có vốn góp của Nhà nước do Bộ Quốc phòng làm chủ sở hữu; Thông tư số 113/2016/TT-BQP ngày 23/8/2016 quy định chế độ nghỉ

Trang 38

30

của quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng… Nội dung chủ yếu của các văn bản là bảo lưu chế độ “nghỉ chờ hưu”, chi phí Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, tiền quân trang, tiền chi cho nghỉ phép hàng năm, tiền lương khi nghỉ ốm… của cán bộ chiến sĩ Theo đó, trường hợp DN mà Nhà nước còn nắm giữ cổ phần thì căn cứ vào nhu cầu của DN và nguyện vọng của người lao động sẽ bảo lưu chế độ của cán bộ, chiến sĩ trong 05 năm Sau khi hết thời hạn thì giải quyết chính sách cho người lao động theo quy định hiện hành

• Việc giải quyết trang bị quân sự khi thực hiện CPH

Theo Thông tư số 31/2008/TT-BQP ngày 17/3/2008 quy định đối với các trang bị quân sự khi thực hiện CPH cụ thể như sau:

Thu hồi 100% vũ khí đạn dược các trang bị đặc thù quân sự về cơ quan, đơn vị cấp trên của DN quản lý;

Công ty cổ phần nào mà Nhà nước không còn nắm giữ cổ phần chi phối, thì không được sử dụng biển số quân sự kể từ ngày CTCP được cấp giấy phép chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu Đối với xe mang biển số quân sự đã được tính vào giá trị DN, thì phải đăng ký chuyển biển số xe

• Về con dấu của công ty cổ phần và kí tên đóng dấu

Trong thời gian vừa qua, có CTCP sau khi đi vào hoạt động vẫn sử dụng danh nghĩa là đơn vị quân đội, uy tín của quân đội để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Tuy nhiên, với lượi thế này tạo ra sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các DN, trong một số ít trường hợp vi phạm pháp luật làm giảm uy tín của quân dội Do vậy, Thông tư số 31/2008/TT-BQP ngày 17/3/2008 quy định nội dung về con dấu và sử dụng mốt số cụm từ liên quan đến quân đội Đó là:

Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, CTCP tiến hành khắc dấu theo quy định của pháp luật Trong con dấu và tên của CTCP không

Trang 39

31

được dùng cụm từ “Quân đội” hoặc “Bộ Quốc phòng”, trừ trường hợp Bộ Quốc phòng cho phép bằng văn bản Các công ty nào còn sử dụng con dấu có cụm từ “Quân đội” hoặc “Bộ Quốc phòng” mà không được Bộ Quốc phòng cho phép thì phải thay bằng con dấu khác;

Trong các văn bản giao dịch của CTCP, nơi ghi tên đơn vị ban hành văn bản, không được ghi tên đơn vị quân đội chủ quản cấp trên trực tiếp của DNNN; đối với quân nhân là người đại diện phần vốn nhà nước trong CTCP, không được dùng cấp bậc hàm (trừ công văn báo cáo Bộ Quốc phòng)

1.4 Kinh nghiệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang một số nước trên thế giới

Do Việt Nam có nhiều điểm tương đồng về thể chế chính trị, kinh tế, xã hội với Liên Bang Nga (Liên Xô cũ) và Trung Quốc là những nước XHCN trước đây, hiện nay cả hai nước đều thực hiện nền kinh tế thị trường, đã tiến hành tư nhân hóa, CPH DNNN trong LLVT trước Việt Nam, mỗi nước đều

có phương pháp, mục đích riêng và đã đạt được những thành công nhất định

Vì vậy, tác giả lựa chọn nghiên cứu hai quốc gia này với mong muốn từ quá trình thực hiện CPH DNNN trong LLVT ở Nga và Trung Quốc sẽ rút ra được những bài học, kinh nghiệm cho Việt Nam

1.4.1 Những bước chuyển đổi, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang của Nga và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Thực tế vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX, nền kinh tế kế hoạch XHCN ở Nga có hơn 90% các Xí nghiệp quốc doanh thuộc sở hữu nhà nước Quan điểm của các nhà lãnh đạo Nga ở giai đoạn này tin tưởng rằng một nền kinh tế phồn thịnh chỉ có thể thiết lập trên cơ sở tư hữu tư nhân Nhiệm vụ

được các nhà cải cách Nga đặt ra là: Thiết lập một khu vực kinh tế tư nhân có khả năng thâu tóm phần lớn nền kinh tế đất nước

Trang 40

32

Ngày 29/01/1992, Tổng thống Nga ký Sắc lệnh số 66 chuẩn y “Chương trình tư nhân hóa năm 1992” với nội dung của Chương trình bao gồm: Cấm

tất cả hình thức tư nhân hóa khác ngoại trừ hình thức đã được dự kiến trước;

Ấn định tư nhân hóa nhanh và miễn phí phần lớn các DN lớn và vừa; những

DN lớn và vừa được chuyển đổi thành CTCP dạng mở; tư nhân hóa theo cổ phần được phát cho tất cả công dân Nga; giá ban đầu của DN được ấn định theo giá trị tổng thể tài sản DN; thiết lập cơ sở hạ tầng cho thị trường vốn thông qua việc thành lập quỹ đầu tư séc, Ủy ban tài sản quốc gia và quỹ tài sản Liên bang Chương trình đã đưa ra các mô hình, phương án ưu đãi cho tập thể người lao động nhằm tìm mối thỏa hiệp tư tưởng tư nhân hóa theo séc và

sự phân phối chung theo quan niệm lúc đó là đất đai cho nông dân và xí nghiệp cho công nhân Kết quả trong giai đoạn 1994 -1997, thông qua công cuộc tư nhân hóa theo các cuộc lựa chọn đầu tư Nga đã CPH thành công được 421 DN [38, tr 42]

Sắc lệnh số 66 đã tạo ra điều kiện và môi trường pháp lý thuận lợi để các

DN LLVT của Nga tiến hành tư nhân hóa, cải tổ ngành công nghiệp quốc phòng Trong số những nhiệm vụ quan trọng nhất mà các DN LLVT Nga cần giải quyết sớm phải kể đến việc hình thành những cơ chế hữu hiệu trong quản

lý và kiểm tra; đảm bảo sự thống nhất phối hợp trong hệ thống các tổ hợp công nghiệp quốc phòng, cải tổ sự cồng kềnh hệ thống, nâng cao hiệu quả kinh tế của sở hữu nhà nước Bắt đầu từ năm 1992-1998, hướng đi của Nga là tiến hành cải tổ, thay đổi các chủ sở hữu xí nghiệp, DN, thu gọn và giảm số xí nghiệp quốc phòng

Kết quả đầu tiên về cải tổ ngành công nghiệp quốc phòng dẫn đến sự hình thành khoảng 50 CTCP từ 1700 xí nghiệp công nghiệp quốc phòng Một trong những nguyên tắc để tái cơ cấu theo hướng tập trung là sự liên kết về công nghệ trong khuôn khổ sự hợp tác đã hình thành do lịch sử và yếu tố địa

Ngày đăng: 16/12/2017, 09:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2012), Thông tư số 33/2012/TT- BLĐTBXH ngày 20/12/2012 hướng dẫn thực hiện chính sách đối với người lao động theo Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 33/2012/TT-BLĐTBXH ngày 20/12/2012 hướng dẫn thực hiện chính sách đối với người lao động theo Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Năm: 2012
3. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2015), Thông tư số 44/2015/TT- BLĐTBXH ngày 22/10/2012 hướng dẫn thực hiện của Nghị định số 63/2015/NĐ-CP ngày 22/7/2015 của Chính phủ quy định chính sách với người lao động dôi dư khi sắp xếp lại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 44/2015/TT-BLĐTBXH ngày 22/10/2012 hướng dẫn thực hiện của Nghị định số 63/2015/NĐ-CP ngày 22/7/2015 của Chính phủ quy định chính sách với người lao động dôi dư khi sắp xếp lại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Năm: 2015
4. Bộ Quốc phòng (2015), Thông tư số 114/2015/TT-BQP ngày 28/9/2015 quy định về bố trí, sử dụng và chế độ chính sách đối với các đối tượng làm việc tại doanh nghiệp quân đội thực hiện cổ phần hóa và tại công ty cổ phần có vốn góp của Nhà nước do Bộ Quốc phòng làm chủ sở hữu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 114/2015/TT-BQP ngày 28/9/2015 quy định về bố trí, sử dụng và chế độ chính sách đối với các đối tượng làm việc tại doanh nghiệp quân đội thực hiện cổ phần hóa và tại công ty cổ phần có vốn góp của Nhà nước do Bộ Quốc phòng làm chủ sở hữu
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Năm: 2015
5. Bộ Quốc phòng (2016), Thông tư số 113/2016/TT-BQP ngày 23/8/2016 quy định chế độ nghỉ của quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 113/2016/TT-BQP ngày 23/8/2016 quy định chế độ nghỉ của quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Năm: 2016
8. Bộ Tài chính (2014), Thông tư số 127/2014/TT-BTC ngày 05/9/2014 hướng dẫn xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 127/2014/TT-BTC ngày 05/9/2014 hướng dẫn xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2014
9. Chính phủ (2010), Nghị định số 91/2010/NĐ-CP ngày 20/8/2010 quy định chính sách đối với người lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty TNHH MTV do Nhà nước là chủ sở hữu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 91/2010/NĐ-CP ngày 20/8/2010 quy định chính sách đối với người lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty TNHH MTV do Nhà nước là chủ sở hữu
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
10. Chính phủ (2011), Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
11. Chính phủ (2013), Nghị định số 189/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 189/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
12. Chính phủ (2014), Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
13. Chính phủ (2015), Nghị định số 63/2015/NĐ-CP ngày 22/7/2015 quy định chính sách với người lao động dôi dư khi sắp xếp lại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 63/2015/NĐ-CP ngày 22/7/2015 quy định chính sách với người lao động dôi dư khi sắp xếp lại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
14. Chính phủ (2015), Nghị định số 93/2015/NĐ-CP ngày 15/10/2015 về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 93/2015/NĐ-CP ngày 15/10/2015 về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
15. Chính phủ (2015), Nghị định số 106/2015/NĐ-CP ngày 23/102015 về quản lý người đại diện phần vốn Nhà nước giữ các chức danh quản lý tại doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 106/2015/NĐ-CP ngày 23/102015 về quản lý người đại diện phần vốn Nhà nước giữ các chức danh quản lý tại doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
16. Chính phủ (2015), Nghị định số 116/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 116/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
17. Doãn Thị Dung (2010), Thi hành pháp luật cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi hành pháp luật cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam
Tác giả: Doãn Thị Dung
Năm: 2010
18. Vũ Dương (2006), Công nghiệp quốc phòng Trung Quốc nhìn từ góc độ lưỡng dụng, Phòng Thông tin Khoa học Công nghệ Môi trường – Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp quốc phòng Trung Quốc nhìn từ góc độ lưỡng dụng
Tác giả: Vũ Dương
Năm: 2006
19. Vũ Dương (2006), Những vấn đề cấp bách của công nghiệp quốc phòng Nga và giải pháp, Phòng Thông tin Khoa học Công nghệ Môi trường – Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cấp bách của công nghiệp quốc phòng Nga và giải pháp
Tác giả: Vũ Dương
Năm: 2006
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Thông báo số 63-TB/TW ngày 4/4 của Bộ Chính trị về tiếp tục triển khai tích cực và vững chắc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo số 63-TB/TW ngày 4/4 của Bộ Chính trị về tiếp tục triển khai tích cực và vững chắc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1997
21. Trần Hồng Điệp (2004), Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam – lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam – lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Hồng Điệp
Năm: 2004
22. Hoàng Thị Hồng Đoan (2012), Thi hành pháp luật cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong quá trình cổ phần hóa công ty Supe phốt phát và hóa chất Lâm Thao, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi hành pháp luật cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong quá trình cổ phần hóa công ty Supe phốt phát và hóa chất Lâm Thao
Tác giả: Hoàng Thị Hồng Đoan
Năm: 2012
23. Đặng Ngọc Hiếu (2006), Đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta
Tác giả: Đặng Ngọc Hiếu
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w