1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

HÌNH THỨC HÀNH NGHỀ của LUẬT sư nước NGOÀI tại VN

28 214 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 32,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, trên con đường hội nhập quốc tế trong khuôn khổ quy định của pháp luật Việt Nam, luật sư nước ngoài cũng như các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài đã là một bộ phận kinh doan

Trang 1

CHƯƠNG 1: TỔ CHỨC LUẬT SƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 41.1.

Dịch vụ pháp lý và thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam 4

Quá trình hình thành tổ chức luật sư nước ngoài ở Việt Nam 6

2.1.1 Các giai đoạn phát triển của chế định về hoạt động của tổ chức luật

sư nước ngoài 72.1.2

Khái niệm về Tổ chức luật sư nước ngoài 9

Trang 2

Thủ tục cấp giấy phép đối với chi nhánh, công ty luật nước ngoài 14

2.1.10 Thay đổi nội dung Giấy phép thành lập, Giấy đăng ký hoạt động của

chi nhánh, công ty luật nước ngoài 182.1.11 Hợp nhất, sáp nhập các công ty luật nước ngoài cùng loại, chuyển đổichi nhánh tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài thành công ty luật trách

nhiệm hữu hạn một trăm phần trăm vốn nước ngoài; chuyển đổi công ty luật

nước ngoài thành công ty luật Việt Nam; tạm ngừng, chấm dứt hoạt động

của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài 19CHƯƠNG 3: LUẬT SƯ NƯỚC NGOÀI HÀNH NGHỀ TẠI VIỆT NAM 233.1

Điều kiện hành nghề của luật sư nước ngoài 24

Trang 3

Quyền và nghĩa vụ của luật sư nước ngoài 24

3.4.1 Luật sư nước ngoài có các quyền sau đây 24

3.4.2 Luật sư nước ngoài có các nghĩa vụ sau đây 25

3.5 Sự bất cập giữa Luật Luật sư và các văn bản pháp luật khác của Việt Nam trong việc điều chỉnh luật sư nước ngoài tại Việt Nam 25

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN 30

TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

DANH SÁCH NHÓM 31 2

LỜI MỞ ĐẦU

Với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới thì việc đảm bảo công lý cho tất cả công

dân của quốc gia đó là một trong những yêu cầu hàng đầu được đặt ra, nhất là khi mức sống ngày một nâng cao Trong công cuộc ổn định an ninh, an toàn xã hội đó thì luật

sư đóng một vai trò vô cùng quan trọng Luật sư là những người biết luật, hiểu luật và thực hành luật, đồng thời, cũng chính vì thế mà luật sư mang trên vai sứ mệnh vô cùng lớn, là nơi mọi người đặt niềm tin, nhất là những người yếu thế để tìm thấy sự công bằng

Có thể nói ở Việt Nam, vai trò của luật sư ngày càng quan trọng trong xã hội,

đặc biệt trong thời điểm hiện nay khi Luật Luật sư 2006 được sửa đổi, bổ sung năm

2012 đã có hiệu lực Ngày càng có nhiều luật sư và tổ chức hành nghề luật sư được thành lập trong cả nước, cùng với đó, người dân cũng dần ý thức được sự cần thiết của luật sư đối với các vấn đề pháp lý mà họ gặp phải trong cuộc sống hằng ngày Họ tìm đến luật sư thường xuyên hơn thay vì giải quyết các vấn đề pháp lý, như vấn đề về thủ tục hành chính, những thỏa thuận hay những hợp đồng kinh tế được kí kết với sự tư vấn của luật sư ngày càng gia tăng Hơn nữa, trên con đường hội nhập quốc tế trong khuôn khổ quy định của pháp luật Việt Nam, luật sư nước ngoài cũng như các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài đã là một bộ phận kinh doanh hoạt động pháp lý song song với luật sư Việt Nam

Trang 4

Đối với luật sư, việc quy định họ hành nghề dưới hình thức nào là vô cùng

quan trọng, điều này ảnh hưởng đến sự phát triển của nghề luật sư cũng như nền tưpháp của cả đất nước, đặc biệt là có sự tham gia hành nghề của luật sư nước ngoài Vìvậy, để làm sáng tỏ vấn đề trên chúng tôi làm bài tiểu này với chủ đề: “Hình thứchành nghề của luật sư nước ngoài tại Việt Nam” Rất mong nhận được sự đánh giá,góp ý của tất cả mọi người để bài viết được bao quát hơn, sâu hơn

Trân trọng cảm ơn!

3

CHƯƠNG 1: TỔ CHỨC LUẬT SƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

1.1

Dịch vụ pháp lý và thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam

Về cơ bản thì hoạt động hành nghề của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài làmột loại hoạt động dịch vụ kinh doanh, cụ thể hơn là hoạt động cung ứng dịch vụpháp lý

Như vậy, để có một cái nhìn đầy đủ về “hoạt động hành nghề dịch vụ pháp lý

của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài” ta cần có những kiến thức nền tảng về vấn

đề đó, trước hết là dịch vụ pháp lý và thị trường dịch vụ pháp lý

1.1.1 Dịch vụ pháp lý

1.1.2 Quy định của Liên hợp quốc

Liên hợp quốc không đưa ra định nghĩa dịch vụ mà đưa ra một danh mục theo

phương pháp liệt kê từ đó xác định hành vi nào là dịch vụ

Năm 1991, Liên hợp quốc công bố Bảng phân loại tạm thời các dịch vụ chủ

yếu (PCPC) và đến năm 1997 công bố tiếp Bảng phân loại các dịch vụ chủ yếu (CPC).Theo Danh mục CPC thì dịch vụ pháp lý thuộc loại hình dịch vụ kinh doanh, thuộcnhóm ngành dịch cụ nghề nghiệp (mã CPC 861) và được phân loại như sau:

Dịch vụ tư vấn và đại diện liên quan tới pháp luật hình sự (86111);

Dịch vụ tư vấn pháp luật và đại diện trong các thủ tục tư pháp liên quan tới các

lĩnh vực pháp luật khác (86119);

- Dịch vụ tư vấn pháp luật và đại diện trong các thủ tục pháp lý trước các hội

đồng tư pháp (86120);

- Dịch vụ về văn bản pháp luật và xác nhận (86130); và

- Các thông tin tư vấn pháp lý khác (86190)

1.1.3 Quy định của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)

-Cũng như Liên hợp quốc, WTO đều không đưa ra định nghĩa dịch vụ, các quy

Trang 5

định về dịch vụ được quy định trong Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GeneralAgreement on Trade in Services- GATS) và các phụ lục kèm theo GATS đã lấy BảngCPC của Liên hợp quốc để cụ thể hóa các hoạt động theo GATS, các hoạt độngthương mại trong lĩnh vực dịch vụ được chia làm 12 ngành:

1) Dịch vụ kinh doanh (business services);

2) Dịch vụ viễn thông (communications services);

3) Dịch vụ xây dựng và kỹ thuật (construction and related engineering

services);

4) Dịch vụ phân phối (distribution services);

4

5) Dịch vụ giáo dục (educational services);

6) Dịch vụ môi trường (environmental services);

7) Dịch vụ tài chính (financial services);

1.1.4 Quy định của pháp luật Việt Nam

Ở Việt Nam, khái niệm dịch vụ pháp lý lần đầu tiên được quy định ở Pháp lệnh

Tổ chức luật sư năm 1987 (văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnh hoạt động nghềnghiệp của các luật sư) tại Điều 13 quy định như sau:

“ Các hình thức giúp đỡ pháp lý của luật sư bao gồm:

1 Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc đại

diện cho người bị hại và các đương sự khác trong các vụ án hình sự, kể cả

các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự; đại diện cho các

bên đương sự trong các vụ dân sự, hôn nhân, gia đình và lao động

2 Làm tư vấn pháp luật cho các tổ chức kinh tế Nhà nước, tập thể và tư nhân,

kể cả các tổ chức kinh tế nước ngoài

3 Làm các dịch vụ pháp lý khác cho công dân và tổ chức”

Hoạt động của luật sư trong Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 được gọi là

các hình thức “giúp đỡ pháp lý”, trong đó có dịch vụ pháp lý Tuy nhiên, về thực chấtcác hình thức “giúp đỡ pháp lý” này chính là hoạt động dịch vụ pháp lý theo đúngnghĩa của nó bởi hoạt động của luật sư là hoạt động được trả công, tức là có tínhthương mại

Năm 2001, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh luật sư số

Trang 6

37/2001/PL-UBTVQH10 thay thế Pháp luật tổ chức luật sư 1987 Ngay tại Điều 1

Pháp lệnh luật sư 2001 đã quy định về hoạt động dịch vụ pháp lý của luật sư như sau:

“Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Pháp lệnh này

và tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác

1

hanhnghe-luat-su-nuoc-ngoai-tai-viet-nam-38696/

http://doc.edu.vn/tai-lieu/luan-van-nhung-quy-dinh-cua-phap-luat-ve-hoat-dong-cua-to-chuc-5

theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo về quyền, lợi ích hơp pháp của họ theo

quy định của pháp luật.”

1.2

Thị trường dịch vụ pháp lý

Hiểu một cách đơn giản thì thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua bán,

trao đổi Xét về đối tượng của hành vi mua bán, trao đổi thì thị trường gồm thị trường

hàng hóa và dịch vụ Đối với thị trường hàng hóa thì thị trường của một loại hàng hóa

nào đó là nơi diễn ra các quan hệ mua bán, trao đổi loại hàng hóa đó ví như thị trường

gạo là nơi mua bán gạo, thị trường xe máy, thị trường giày dép… Đối với thị trường

dịch vụ cũng thế, thị trường dịch vụ là nơi diễn ra các quan hệ cung ứng dịch vụ-thanhtoán đối với một lĩnh vực dịch vụ nhất định

Như vậy thì thị trường dịch vụ pháp lý là sự tổng hòa các mối quan hệ cung

ứng dịch vụ - thanh toán trong lĩnh vực dịch vụ pháp lý

Thị trường dịch vụ pháp lý có đặc điểm là tính bị chi phối nghiêm ngặt hay là

chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước Đặc điểm này thể hiện qua những quy định về

điều kiện, thủ tục rất chặt chẽ đối với nhà cung ứng dịch vụ pháp lý Ví dụ đối với

người cung ứng dịch vụ pháp lý là luật sư thì phải tuân thủ các nguyên tắc hành nghề

tại Điều 5, thỏa mãn các tiêu chuân luật sư ở Điều 10, điều kiện hành nghề tại Điều 11

hay những quy định về các hành vi bị nghiêm cấm ở Điều 9, quy định quyền và nghĩa

vụ của luật sư (Điều 21), phạm vi, hình thức hành nghề của luật sư (Điều 22,23)

những quy định này mang tính chất giới hạn phạm vi thị trường dịch vụ pháp lý trong

khuôn khổ sự quản lý của Nhà nước

Đối với các nhà cung ứng dịch vụ pháp lý nước ngoài thì đặc điểm này thể hiện

ở những quy định khắt khe về điều kiện hành nghề, thủ tục hành nghề, giới hạn phạm

vi hành nghề, hình thức hành nghề Pháp luật Việt Nam có những hạn chế nhất định

đối với các nhà cung ứng dịch vụ pháp lý nước ngoài như không được tham gia tố

tụng với tư là người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Trang 7

của đương sự trước Tòa án Việt Nam hoặc thực hiện các dịch vụ về giấy tờ pháp lý vàcông chứng liên quan tới pháp luật Việt Nam.

CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNHPHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC LUẬT SƯ NƯỚC NGOÀI

TẠI VIỆT NAM

2.1

Quá trình hình thành tổ chức luật sư nước ngoài ở Việt Nam

Nghề luật sư ở Việt Nam chính thức được công nhận và điều chỉnh bằng một

văn bản quy phạm pháp luật từ khi có Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 Tuy nhiênPháp lệnh này chỉ điều chỉnh hoạt động của các luật sư, tổ chức trong nước

6

Đến năm 1988, Quốc hội ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam để thể

chế hóa chủ trương mở cửa nền kinh tế, từ đó đã tạo nên khung pháp lý cho hoạt độngđầu tư nước ngoài Ngay tại Điều 1 của Luật này đã khuyến khích cho hoạt động đầu

tư nước ngoài vào Việt Nam, cụ thể như sau:

“ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoan nghênh và khuyến khíchcác tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn và kỹ thuật vào Việt Nam trên cơ sở tôntrọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam, tuân thủ pháp luật Việt Nam, bình đẳng vàcác bên cùng có lợi”

Từ đó hoạt động đầu tư nước ngoài ở Việt Nam ngày càng phát triển, ngày

càng có nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam hơn và họ “mang theo” các tổchức luật sư ở nước họ đến nhằm hỗ trợ quá trình đầu tư, kinh doanh Việc “mangtheo” các tổ chức luật sư ở nước ngoài này đến Việt Nam thực chất xuất phát từ hainguyên nhân sau:

Thứ nhất, các tập đoàn hoặc các doanh nghiệp lớn đến từ các nền kinh tế phát

triển thường có thói quen sử dụng các văn phòng luật sư hoặc các bộ phận chuyênmôn về tư vấn pháp lý của chính mình Nếu không họ cũng sẽ thuê các công ty luật có

uy tín của nước ngoài hoặc đã có truyền thống làm ăn từ trước (đây được coi là tậpquán thương mại quốc tế)

Thứ hai, thời điểm bấy giờ luật sư Việt Nam chủ yếu chỉ tham gia tranh tụng

tại các vụ án hình sự nên trình độ ngoại ngữ, trình độ chuyên môn, mức độ am hiểupháp luật quốc tế chưa đáp ứng được nhu cầu của nhà đầu tư nước ngoài

Từ những phân tích trên ta thấy “hạt giống” các tổ chức luật sư nước ngoài đã

bắt đầu “nhô” tại giai đoạn này

2.1.1 Các giai đoạn phát triển của chế định về hoạt động của tổ chức

luật sư nước ngoài

2.1.1.1 Giai đoạn thứ nhất: Nghị định 42/CP có hiệu lực (từ năm 1995

Trang 8

đến năm 1998)

Ngày 08/07/1995 Chính phủ ban hành Quy chế hành nghề tư vấn pháp luật của

tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam kèm theo Nghị định 42/CP Nghị định 42/CPvới 6 chương, 44 điều đã mở ra thời kỳ mới cho hoạt động của tổ chức luật sư nướcngoài tại Việt Nam

Tuy nhiên, các tổ chức luật sư nước ngoài chỉ được vào Việt Nam theo các nhà

đầu tư nước ngoài và chỉ được thực hiện tư vấn pháp luật nước ngoài hoặc pháp luật7

quốc tế trong lĩnh vực kinh doanh, đầu tư, thương mại mà không được tư vấn về phápluật Việt Nam.2

Cũng trong giai đoạn này, Bộ tư pháp và Bộ tài chính đã ban hành một số văn

bản có liên quan, điều chỉnh hoạt động của các tổ chức luật sư nước ngoài, ví dụ như:Thông tư số 791/TT-LSTVPL ngày 08/09/1995, Thông tư số 04/TC-TCT ngày

23/01/1997, Thông tư liên tịch Bộ tư pháp- Tài chính số 842/LB-TT ngày 21/09/1995.2.1.1.2

Giai đoạn thứ hai: giai đoạn Nghị định 92/1998/NĐ-CP có hiệu

lực (từ năm 1998 đến năm 2003)

Ngày 10/11/1998 Nghị định của Chính phủ số 92/1998/NĐ-CP về hành nghề tưvấn pháp luật của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam gồm 6 chương, 48 điềuthay thế cho Nghị định 42/CP do nhiều quy định của Nghị định này không còn phùhợp nữa Tuy nhiên, những nội dung cơ bản của Nghị định 42/CP vẫn được giữ lạitrong Nghị định mới

Các văn bản có liên quan tới Nghị định số 92/1998/NĐ-CP bao gồm: Thông tư

số 08/1999/TT-BTP ban hành ngày 13/02/1999 hướng dẫn thi hành một số quy địnhcủa Nghị định số 92/1998/NĐ-CP và thay thế cho Thông tư số 791/TT-LSTVPL;Thông tư số 02/2000/TT-BTP

2.1.1.3

Giai đoạn thứ ba: giai đoạn Nghị định 87/2003/NĐ-CP có hiệu

lực (từ năm 2003 đến năm 2007)

Ngày 22/07/2003 Chính phủ ban hành Nghị định 87/2003/NĐ-CP về hành

nghề của tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam gồm 7 chương,

58 điều thay thế cho Nghị định 92/1998/NĐ-CP

Nghị định này mở rộng phạm vi hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài, cụ thể là

tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện tư vấn về pháp luật

Trang 9

Việt Nam nếu có thuê luật sư Việt Nam hành nghề cho Tổ chức hành nghề luật sưnước ngoài tại Việt Nam hoặc luật sư nước ngoài hành nghề trong Tổ chức hành nghềluật sư nước ngoài tại Việt Nam có bằng tốt nghiệp đại học luật của Việt Nam và đápứng đầy đủ các yêu cầu như đối với một luật sư Việt Nam tương tự.3

Ngoài ra Nghị định này còn mở rộng hình thức hành nghề của tổ chức luật sư

nước ngoài tại Việt Nam như là thành lập Chi nhánh, Công ty luật nước ngoài hoặcCông ty luật hợp danh giữa tổ chức luật sư nước ngoài và Công ty luật hợp danh ViệtNam.4

Điều 20 và Khoản 1 Điều 6 Nghị định 42/CP

[Có thể nói là những quy định của của Pháp lệnh luật sư 2001 và Nghị định

87/2003/NĐ-CP đã đặt mốc cho sự phát triển của thị trường dịch vụ pháp lý ở ViệtNam.]5

Các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Nghị định số 87/2003/NĐ-CP bao

gồm: Thông tư số 06/2003/TT-BTP hướng dẫn một số quy định của Nghị định số87/2003/NĐ-CP và thay thế cho Thông tư số 08/1999/TT-BTP; Quyết định số

75/2004/QĐ-BTC ngày 16/09/2004

2.1.1.4

Giai đoạn thứ tư: giai đoạn Luật Luật sư và các văn bản hướng

dẫn thi hành có hiệu lực (từ năm 2007 đến nay)

Năm 2006 Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) bắt đầu

thực hiện cam kết gia nhập WTO về mở cửa thị trường dịch vụ, trong đó có thị trườngdịch vụ pháp lý

Ngày 29/06/2006 Quốc hội ban hành Luật Luật sư số 65/2006/QH11 gồm 9

chương, 94 điều thay thế cho Pháp lệnh luật sư năm 2001 Luật Luật sư 2006 đã bổsung thêm Chương VI về hành nghề của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, luật sưnước ngoài tại Việt Nam

Ngày 26/02/2007 Chính phủ ban hành Nghị định số 28/2007/NĐ-CP quy định

chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Luật sư, thay thế cho Nghị định số87/2003/NĐ-CP và Thông tư số 06/2003/TT-BTP Ngày 25/04/2007 ban hành Thông

tư số 02/2007/TT-BTP hướng dẫn một số quy định của Luật Luật sư, Nghị định quyđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Luật sư được ban hành Đến

Trang 10

ngày 14/10/2013 Chính phủ ban hành Nghị định số 123/2013/NĐ-CP hướng dẫn và

biện pháp thi hành Luật Luật sư, thay thế cho Nghị định số 28/2007/NĐ-CP

2.1.2 Khái niệm về Tổ chức luật sư nước ngoài

Trước khi Luật Luật sư 2006 được ban hành thì chế định và hoạt động của tổ

chức luật sư nước ngoài đã trải qua ba giai đoạn phát triển trên cơ sở của ba văn bản là

Nghị định 42/CP năm 1995, Nghị định 92/1998/NĐ-CP và Nghị định 87/2003/NĐCP Tuy nhiên

cả ba Nghị định này đều không có khái niệm “tổ chức luật sư nước

ngoài” nhưng khái niệm này được nêu trong các Thông tư hướng dẫn thi hành của Bộ

Tư pháp

Cụ thể như sau:

5

hanhnghe-luat-su-nuoc-ngoai-tai-viet-nam-38696/

sư nước ngoài tại

Việt Nam ban

Trang 11

luật sư nước ngoài

quy định tại Quy

Trang 12

Như vậy khái niệm về tổ chức luật sư nước ngoài của ba Thông tư về bản chất

đều giống nhau ở hai điểm sau:

-Thứ nhất, tổ chức đó phải là tổ chức hành nghề luật sư được thành lập hợp

pháp theo pháp luật của nước nơi đặt trụ sở chính của tổ chức hành nghề luật

sư đó

Thứ hai, tổ chức luật sư này vẫn phải đang hoạt động hợp pháp theo pháp luật

nước nơi đặt trụ sở chính của tổ chức hành nghề luật sư đó

Sau khi Luật Luật sư 2006 được ban hành và tiếp sau đó là những loạt Nghị

định, Thông tư mới được ban hành như là Nghị định số 28/2007/NĐ-CP, Thông tư số10

02/2007/TT-BTP và hiện tại là Nghị định số 123/2013/NĐ-CP, tuy nhiên khái niệm tổchức luật sư nước ngoài không được đề cập đến trong những Nghị định, Thông tư này.2.1.3 Điều kiện hành nghề của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài

Tổ chức luật sư nước ngoài muốn hành nghề tại Việt Nam thì phải đáp ứng đầy

đủ những điều kiện sau:

-Cam kết và bảo đảm tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam;

Trang 13

Cam kết và bảo đảm có ít nhất 02 luật sư nước ngoài, kể cả Trường chi nhánh,

Giám đốc công ty luật nước ngoài có mặt và hành nghề tại Việt Nam từ 183

ngày trở lên trong khoảng thời gian liên tục 12 tháng;

Trưởng chi nhánh, Giám đốc công ty luật nước ngoài phải có ít nhất 02 năm

liên tục hành nghề luật sư;6

So với trước đây thì điều kiện hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài tại

Việt Nam đã có phần rõ ràng và chặt chẽ hơn khi bổ sung nhiều điều kiện trong khitrước đây tổ chức luật sư nước ngoài chỉ cần có thiện chí đối với Nhà nước Việt Namthì được phép hành nghề tại Việt Nam.7Những điều kiện bổ sung này có thể nhằmđảm bảo các luật sư nước ngoài vào hành nghề tại Việt Nam là những luật sư thực sự

có trình độ và kinh nghiệm

2.1.4 Hình thức hành nghề của tổ chức hành nghề luật sư nước

ngoài

Tổ chức luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam dưới hai hình thức đó là

chi nhánh và công ty luật nước ngoài Trong đó, công ty luật nước ngoài bao gồmcông ty luật trách nhiệm hữu hạn một tram phần trăm vốn nước ngoài, công ty luậttrách nhiệm hữu hạn dưới hình thức liên doanh, công ty luật hợp danh giữa tổ chứchành nghề luật sư nước ngoài và công ty luật hợp danh Việt Nam.8 Công ty luật hợpdanh giữa tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài và công ty luật hợp danh Việt Nam làmột hình thức hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam được bổ sungthêm trong Luật Luật sư sửa đổi năm 2012 nhằm phù hợp với Nghị quyết của Quốchội số 71/2006/QH11 ngày 29/11/2006 phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp địnhthành lập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam Thêm vào đó Luật còn bổ sung thêm quy định giao Chính phủ quy địnhviệc hợp nhất, sáp nhập các công ty luật nước ngoài cùng loại, chuyển đổi chi nhánh

tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài thành công ty luật trách nhiệm hữu hạn mộtĐiều 68 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2012

Trang 14

luật về đầu tư.

2.1.5 Chi nhánh của tổ chức luật sư nước ngoài

Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, được

thành lập tại Việt Nam theo quy định của Luật Luật sư

Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài và chi nhánh của mình chịu trách nhiệm

về hoạt động của chi nhánh trước pháp luật Việt Nam

Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài cử một luật sư làm Trưởng chi nhánh

Trưởng chi nhánh này có thể là luật sư Việt Nam thực hiện việc quản lý, điều hànhhoạt động của chi nhánh tại Việt Nam, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của

tổ chức luật sư nước ngoài

2.1.6 Công ty luật nước ngoài

Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một tram phần tram vốn nước ngoài là tổ

chức hành nghề luật sư do một hoặc nhiều tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài thànhlập tại Việt Nam

Công ty luật trách nhiệm hữu hạn dưới hình thức liên doanh là tổ chức hành

nghề luật sư liên doanh giữa tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài và tổ chức hànhnghề luật sư Việt Nam

Công ty luật hợp danh là tổ chức hành nghề luật sư hợp danh giữa tổ chức hành

nghề luật sư nước ngoài và công ty luật hợp danh Việt Nam

Giám đốc công ty luật nước ngoài là luật sư nước ngoài hoặc luật sư Việt Nam

2.1.7 Phạm vi hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài

Căn cứ vào Điều 70 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH thì tổ chức luật sư

nước ngoài được thực hiện tư vấn pháp luật và các dịch vụ pháp lý khác, không được

cử luật sư nước ngoài và luật sư Việt Nam trong tổ chức hành nghề của mình tham gia

tố tụng với tư cách là người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của đương sự trước Tòa án Việt Nam hoặc thực hiện cac dịch vụ về giấy tờpháp lý và công chứng liên quan tới pháp luật Việt Nam, được cử luật sư Việt Namtrong tổ chức hành nghề của mình tư vấn pháp luật Việt Nam

Ngày đăng: 16/12/2017, 08:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w