1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

DSpace at VNU: Công tác tổ chức hoạt động thông tin qua dịch vụ chợ công nghệ và thiết bị tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia

109 125 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 2,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nhiều năm qua Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia đã phát triển nhiều dịch vụ thông tin khác nhau, trong đó có Chợ Công nghệ và Thiết bị tên tiếng anh Technology and Equip

Trang 1

Em xin chân thành cảm ơn cô giáo, PGS.TS Trần Thị Quý, người đã

tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành Khóa luận này

Em xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô trong khoa Thông tin – Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đã tận tình chỉ bảo, dạy

dỗ em trong suốt 4 năm học tập tại Trường

Em xin giửi lời cảm ơn tới các cô chú , anh chị đang công tác tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, đặc biệt là cô Lê Thị Khánh Vân

đã giúp đỡ em trong quá trình thực tập và tìm tài liệu

Em xin cảm ơn gia đình, bạn bè - những người luôn bên em, động viên

và khuyến khích để em có thể hoàn thành Khóa luận và có được kết quả như ngày hôm nay

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà nội, ngày 25 tháng 05 năm 2010

Sinh viên

Trần Thị Kiên K51 Thông tin – Thƣ viện

Trang 2

Bảng từ viết tắt Tiếng Việt

Giải pháp phần mềm Khoa học và Công nghệ Kinh tế - Xã hội

Nghiên cứu và phát triển Thị trường công nghệ

Thông tin – Thư viện

Trang 3

STT Từ viết tắt Nghĩa của từ

Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU 1

1-Tính cấp thiết của đề tài 1

2-Mục đích nghiên cứu 3

3-Đối tượng nghiên cứu 3

4-Phạm vi nghiên cứu 3

4.1-Phạm vi không gian 3

4.2-Phạm vi thời gian 3

5-Nội dung nghiên cứu 3

6-Tình hình nghiên cứu theo hướng đề tài 4

7-Phương pháp nghiên cứu 5

7.1-Phương pháp luận 5

7.2-Phương pháp cụ thể 5

8-Cấu trúc Khóa luận 5

PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: TECHMART MỘT DỊCH VỤ ĐẶC BIỆT CỦA CỤC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA 1.1-Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước 6

1.1.1-Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Cục 6

1.1.2-Chức năng, nhiệm vụ của Cục 6

Trang 5

1.2-Vai trò của các loại dịch vụ thông tin nói chung và dịch vụ Techmart

tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ nói riêng 15

1.2.1-Vai trò của dịch vụ thông tin và thư viện nói chung 15

1.2.2-Vai trò của dịch vụ Techmart 17

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA TECHMART TẠI CỤC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA 2.1-Các khái niệm chung 21

2.1.1-Khái niệm Thị trường công nghệ 21

2.1.2-Khái niệm Giao dịch công nghệ 21

2.1.3-Khái niệm Techmart 24

2.2-Đối tượng của Techmart 24

2.3-Lịch sử ra đời và hoạt động của Techmart 25

2.4-Các loại hình Techmart 30

2.5-Nguyên tắc tổ chức hoạt động Techmart 31

2.6-Nội dung hoạt động của Techmart 31

2.6.1-Trưng bày giới thiệu, chào bán, mua bán công nghệ và thiết bị 31 2.6.2-Giới thiệu các dịch vụ hỗ trợ và tư vấn 33

2.6.3-Hội thảo, hội nghị chuyên đề, Seminar 35

2.6.4-Techmart ảo 36

Trang 6

CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

HOẠT ĐỘNG CỦA DỊCH VỤ THÔNG TIN TECHMART

3.1-Một số nhận xét về tổ chức hoạt động của Techmart 49

3.1.1-Những thành tựu 49

3.1.2-Những khó khăn và hạn chế 54

3.1.3-Nguyên nhân 59

3.2-Kiến nghị và đề xuất 60

3.2.1-Về cơ chế đầu tư 60

3.2.2-Về nâng cao kiến thức 63

3.2.3-Về môi trường pháp lý 63

3.2.4-Về cơ chế tài chính 64

3.3-Các giải pháp thúc đẩy và phát triển Techmart 66

3.3.1-Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong mua- bán và dịch vụ tư vấn giao dịch công nghệ 66

3.3.2-Các giải pháp kích cầu công nghệ 66

3.3.3-Các giải pháp kích cung công nghệ 67

3.3.4-Phát triển các tổ chức trung gian trong giao dịch công nghệ 67

KẾT LUẬN 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC 74

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1-Tính cấp thiết của đề tài

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là của công nghệ thông tin và truyền thông đã tác động sâu sắc đến sự phát triển kinh tế thế giới Thế giới đang chuyển dần từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin với nền kinh tế tri thức Toàn cầu hóa kinh tế được xác định là một xu thế khách quan, tạo cơ hội cho phát triển Khoa học và công nghệ (KH&CN) sẽ có những bước nhảy vọt và những đột phá lớn, tác động nhiều mặt đến tất cả các quốc gia

Sau 20 năm thực hiện đường lối của Đảng, Việt Nam đã lớn mạnh về nhiều mặt, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, kinh tế tăng trưởng khá nhanh, công cuộc Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước đã đạt được những kết quả to lớn Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta vẫn trong tình trạng khó khăn Đặc biệt, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang có tác động không nhỏ đến phát triển kinh tế xã hội (KT-XH) của Việt Nam

Sự đổi mới chính sách và cơ chế quản lý theo hướng phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức dịch vụ công lập

Việc gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO đã mở ra những cơ hội hợp tác và phát triển, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, song cũng cho thấy những thách thức mới, đặc biệt, có thể xuất hiện những dịch vụ thông tin quốc tế với

sự cạnh tranh tăng lên, những vấn đề bản quyền sẽ ngày càng thắt chặt hơn, tác động đến hoạt động thông tin KH&CN trong nước

Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ phát triển rộng khắp cả nước hình thành mạng lưới tổ chức thông tin khoa học và công nghệ trong

Trang 8

thời gian qua Nguồn tin khoa học và công nghệ được phát triển đáng kể, cơ bản đáp ứng những nhu cầu thông tin khoa học và công nghệ trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Thị trường công nghệ là một bộ phận của nền kinh tế, có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội Phát triển thị trường công nghệ là một trong những trọng tâm của chiến lược phát triển KH&CN ở Việt Nam từ nay đến năm 2010 Thị trường công nghệ (TTCN) được hình thành và phát triển mạnh mẽ với đầy đủ các chủ thể tham gia sẽ góp phần quan trọng đưa nước ta đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp

Cục Thông tin KH&CN Quốc gia là tổ chức đứng đầu hệ thống các tổ chức thông tin KH&CN trên cả nước, thực hiện chức năng thông tin, thư viện trung tâm của cả nước về KH&CN Trong nhiều năm qua Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia đã phát triển nhiều dịch vụ thông tin khác

nhau, trong đó có Chợ Công nghệ và Thiết bị tên tiếng anh Technology and Equipment Market (mà sau đây trong suốt Khóa luận xin dùng tên gọi viết tắt

từ tiếng anh Techmart)

Trong nhiều năm qua, hoạt động Techmart đã đi vào nề nếp, góp phần đáng kể giúp người dùng tin KH&CN tiếp cận được với các sản phẩm khoa học phục vụ sản xuất, nghiên cứu và triển khai

Tuy nhiên, để phát triển hiệu quả dịch vụ thông tin Techmart hơn nữa

tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Công tác tổ chức hoạt động thông tin qua dịch

vụ chợ công nghệ và thiết bị tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia” làm đề tài Khóa luận của mình, với mong muốn hoàn thiện hệ thống lý

luận của Techmart và góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động Techmart nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin KH&CN cho người dùng tin, góp phần nâng cao hiệu quả phát triển KT-XH của đất nước trong giai đoạn CNH, HĐH

Trang 9

2-Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu về thực trạng tổ chức hoạt động của chợ công nghệ và thiết

bị, từ đó đưa ra một số nhận xét, kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động chợ công nghệ và thiết bị trong tương lai

3-Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác tổ chức hoạt động của chợ

công nghệ và thiết bị - Techmart

4-Phạm vi nghiên cứu

4.1-Phạm vi không gian

Tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc Gia

4.2-Phạm vi thời gian

Công tác tổ chức hoạt động của Techmart từ năm 2003 đến năm 2009

5-Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, Khóa luận tập trung nghiên cứu một

số nội dung sau:

+ Nghiên cứu khái quát về Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia

+ Nghiên cứu khái quát lịch sử ra đời và phát triển của chợ công nghệ

và thiết bị

+ Tìm hiểu vai trò công tác tổ chức hoạt động của chợ công nghệ và thiết bị

Trang 10

+ Nghiên cứu thực trạng công tác tổ chức hoạt động chợ công nghệ và thiết bị tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia

+ Đánh giá chất lượng hoạt động, đưa ra kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của dịch vụ thông tin Techmart

6-Tình hình nghiên cứu theo hướng của đề tài

Đã từ lâu, Chợ công nghệ và thiết bị đã thu hút được sự quan tâm của nhiều cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước

Ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này: Đề tài

“Giới thiệu chợ công nghệ và thiết bị Việt Nam 2003 (Techmart Việt Nam 2003)” do sinh viên Đỗ Thị Tươi lựa chọn viết khóa luận tốt nghiệp Tác giả

đã đi sâu nghiên cứu hiện trạng hoạt động của chợ công nghệ và thiết bị Việt Nam 2003 và một số giải pháp nhằm phát triển chợ công nghệ và thiết bị Việt

Nam Đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng tiêu chí và phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động chợ công nghệ và thiết bị (Techmart)” do ThS

Lê Thị Khánh Vân làm chủ nhiệm Tác giả đã đi sâu nghiên cứu những thành công của các kỳ Techmart trong 7 năm (2003-2009) ở nước ta để xây dựng tiêu chí và phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động Techmart Các đề tài trên đã đưa ra cái nhìn tổng quan về chợ công nghệ thiết bị năm 2003 và nghiên cứu các kỳ Techmart để đưa ra các tiêu chí và phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động Techmart Tuy nhiên, các đề tài chưa tìm hiểu về tổ chức hoạt động Techmart như là một dịch vụ thông tin Như vậy, đề tài mà tôi lựa chọn làm Khóa luận hoàn toàn mới so với các đề tài trước đó, thể hiện ở cấu trúc và nội dung của Khóa luận

Trang 11

7-Phương pháp nghiên cứu

7.1-Phương pháp luận

Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoạt động thông tin KH&CN,

tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác sách báo, thông tin và thư viện

7.2-Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Để thực hiện Khóa luận này, một số phương pháp nghiên cứu sau đây

đã được sử dụng:

+ Phương pháp phân tích- tổng hợp tài liệu

+ Phương pháp quan sát và điều tra thực tế

+ Phương pháp thống kê

+ Phương pháp mạn đàm, phỏng vấn chuyên gia tại Cục Thông

tin KH&CN Quốc gia

8-Cấu trúc Khóa luận

Ngoài phần lời nói đầu, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục và phụ lục, Khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Techmart một dịch vụ thông tin đặc biệt của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia

Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động Techmart tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia

Chương 3: Một số nhận xét, kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ thông tin Techmart

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 TECHMART MỘT DỊCH VỤ THÔNG TIN ĐẶC BIỆT

CỦA CỤC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA

1.1-Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ với sự nghiệp phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước

1.1.1-Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Cục

Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (nay là Cục Thông tin KH&CN) trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ là tổ chức đứng đầu hệ thống các tổ chức thông tin KH-CN, thực hiện chức năng thông tin, thư viện trung tâm của cả nước về KH-CN

Cục được thành lập ngày 24 tháng 9 năm 1990 theo Quyết định số 487/TCCB của Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước trên cơ sở hợp nhất hai đơn vị: Viện thông tin Khoa học và Kỹ thuật Trung ương với Thư viện Khoa học và Kỹ thuật Trung ương

Thư viện Khoa học Kỹ thuật Trung ương được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ ngày 06 tháng 02 năm 1960 trên nền tảng của Thư viện Học viện Viễn Đông Bác Cổ (do Nhà nước đô hộ Pháp thành lập từ tháng 01 năm 1901 với mục đích nghiên cứu Viễn Đông và Đông Dương) Trải qua quá trình hình thành và phát triển, từ năm 1969, Thư viện Khoa học

và Kỹ thuật Trung ương được coi là Trung tâm tư vấn, điều hòa, phối hợp các hoạt dộng nghiệp vụ cho mạng lưới Thư viện Khoa học Kỹ thuật ở miền Bắc Chức năng và nhiệm vụ của Thư viện Khoa học Kỹ thuật là quản lý tài liệu

Trang 13

khoa học kỹ thuật trong cả nước, hướng dẫn, giúp đỡ về tài liệu cho các ngành các cấp

Thư viện Thông tin Khoa học và Kỹ thuật Trung ương được thành lập theo quyết định số 187 – CP ngày 04 tháng 10 năm 1972, tiền thân là phòng Thông tin Khoa học được thành lập vào tháng 08 năm 1961 theo nghị định số 89/CP Viện cán bộ lãnh đạo, các cơ quan tham mưu của Đảng và Chính phủ, lãnh đạo các ngành và cơ sở nghiên cứu khác

Khi thành lập, tên gọi của Cục có sự thay đổi theo các giai đoạn từ năm

1990 đến nay Cụ thể như sau:

+ Thư viện Khoa học và kỹ thuật Trung ương, 1960-1990

+ Viện Thông tin Khoa học và Kỹ thuật Trung ương, 1972-1990

+ Trung tâm Thông tin Tư liệu Khoa học và Công nghệ Quốc gia

Trang 14

lượng; 42 cơ quan thông tin của các Bộ/ngành, các cơ quan thuộc Chính phủ, các tổ chức chính trị xã hội

+ 63 cơ quan Thông tin KH&CN cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương

+ Một số cơ quan Thông tin KH&CN thuộc các cơ quan Trung ương của Đảng và Đoàn thể ở Trung ương

+ Hơn 400 cơ quan TT-TV tại các Viện/Trung tâm nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng; hàng chục Trung tâm thông tin ở các Tổng công

ty 90, 91

Nhiều cơ quan TT-TV đã được Nhà nước và các Bộ/ngành, địa phương chú trọng phát triển trục sở, nhà xưởng, điều kiện làm việc, đảm bảo trang thiết bị kỹ thuật hiện đại Điều kiện làm việc của nhiều cơ quan thông tin KH&CN được liên tục cải thiện

Quyết định thành lập Cục Thông tin KH&CN Quốc gia là một quyết định đúng đắn và kịp thời, đã tạo ra một bước ngoặt mới cho hoạt động thông tin KH&CN trong cả nước, cho sự hình thành và phát triển của một cơ quan thông tin KH&CN đầu ngành trong cả nước với những thế và lực mới trong giai đoạn hiện nay

Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia đã vinh dự được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất

1.1.2-Chức năng, nhiệm vụ của Cục

Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (sau đây gọi tắt là Cục) trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ là đơn vị quản lý nhà nước và đơn vị sự nghiệp Toàn bộ chức năng, nhiệm vụ của Cục được quy định cụ thể

Trang 15

tại Điều 8 của Nghị định 159/2004/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động thông KH-CN, Quyết định số 21/QĐ-TTKHCN ngày 30 tháng 03 năm 2010 của Cục trưởng Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia về việc quy định chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trực thuộc Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Quy định của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về

tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia với các tổ chức dịch vụ thông tin KH-CN Theo đó, Cục thực hiện các chức năng, nhiệm vụ sau:

 Về chức năng

Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ có 4 chức năng chính sau:

+ Là Trung tâm thông tin, phổ biến và tuyên truyền về khoa học và công nghệ

+ Tổ chức hoạt động và quản lý Chợ công nghệ và thiết bị Việt Nam, Thư viện Trung ương về khoa học và công nghệ, mạng Thông tin Khoa học

và Công nghệ Quốc gia

+ Là cơ quan thực hiện việc đăng ký chính thức các tài liệu, kết quả thực hiện các chương trình, đề tài, dự án nghiên cứu triển khai và phát triển khoa học và công nghệ, điều tra cấp Nhà nước và cấp Bộ

+ Là cơ quan Thư viện đa phương tiện công cộng Quốc gia về khoa học, công nghệ, là nhà cung cấp Internet dùng riêng và cung cấp nội dung (ICP) về KH-CN quy mô quốc gia

 Về nhiệm vụ

+ Tham gia xây dựng và tổ chức thực hiện các chủ trương, chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động

Trang 16

thông tin khoa học và công nghệ Phát triển nguồn lực thông tin khoa học và công nghệ của đất nước

+ Thu thập, chọn lọc, xử lý, lưu trữ và phát triển các nguồn tin khoa học và công nghệ trong nước và thế giới, đặc biệt nguồn tin về tài liệu điều tra

cơ bản, luận án trên đại học, tài liệu hội nghị, hội thảo khoa học, các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đang tiến hành

+ Tổ chức và thực hiện đăng ký, lưu giữ kết quả nghiên cứu khoa học

và công nghệ

+ Thực hiện nhiệm vụ thư viện trung tâm của cả nước về khoa học và công nghệ

+ Tổ chức và thực hiện việc cung cấp thông tin phục vụ lãnh đạo, quản

lý, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, giáo dục, đào tạo, sản xuất, kinh doanh

+ Xuất bản "Sách khoa học và công nghệ Việt Nam"; tạp chí "Thông tin Tư liệu", ấn phẩm thông tin Công bố danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ nói trên

+ Phát triển mạng thông tin khoa học và công nghệ Việt Nam (VISTA), Chợ ảo Công nghệ và Thiết bị Việt Nam

+ Tổ chức và thực hiện công tác thông tin tuyên truyền khoa học và công nghệ, đưa tri thức khoa học đến với mọi người, đặc biệt là thông tin khoa học và công nghệ phục vụ phát triển KT-XH nông thôn, miền núi, phục

vụ các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V)

+ Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, áp dụng các chuẩn trong lĩnh vực thông tin, thư viện KH-CN

Trang 17

+ Phối hợp tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiệp vụ thông tin KH-CN

+ Phối hợp thực hiện các nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thông tin KH-CN

+ Được thực hiện các dịch vụ trong lĩnh vực thông tin khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật

+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ giao

+ Quản lý tổ chức, cán bộ, tài sản và hồ sơ tài liệu của Cục theo sự phân cấp và qui định của Bộ

1.1.3-Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Cục

 Cơ cấu tổ chức của Cục

Theo quyết định số 21/QĐ-TTKH&CN về việc quy định chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trực thuộc Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, cơ cấu tổ chức của Cục gồm các đơn vị thực hiện chức năng quản

lý nhà nước và các đơn vị sự nghiệp

Cơ cấu tổ chức của Cục thể hiện ở sơ đồ dưới đây:

Trang 18

* Sơ đồ cơ cấu các đơn vị giúp Cục trưởng thực hiện chức năng quản

Văn phòng

Phòng

Hợp tác Quốc tế

Phòng Hành chính- Quản trị

Phòng

Tổ chức cán bộ

Phòng In-Sao

Trang 19

* Sơ đồ cơ cấu các đơn vị sự nghiệp

 Đội ngũ cán bộ của Cục

Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia có gần 160 cán bộ,

trong đó có 8 tiến sĩ, 14 thạc sĩ, 91 cử nhân và kỹ sư thuộc nhiều lĩnh vực

1.1.4-Đặc điểm người dùng tin của Cục

Nhu cầu thông tin KH&CN là một trong những nhu cầu cơ bản của con người, xuất phát từ lòng ham hiểu biết và khám phá thế giới khách quan Nhu cầu thông tin KH&CN nói riêng, nhu cầu tin nói chung là nguồn gốc, mục tiêu hướng tới hoạt động TT-TV

Trung tâm Giao dịch Thông tin CNVN

Trung tâm Quản lý mạng NC

và Đào tạo Việt Nam

Trung tâm Tin học và Đào tạo

Tạp chí Thông tin

Tư liệu

Trung tâm Thông tin phát triển

Thư viện KH&CN Quốc gia

Phòng

Phát triển Nguồn tin

Phòng Phân loại Biên mục

Phòng Tra cứu chỉ dẫn

Phòng đọc Tạp chí

Phòng Đọc sách

Trang 20

Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ là tổ chức đứng đầu cả nước về các lĩnh vực KH&CN Vì vậy, người dùng tin tại Cục hết sức đa dạng và phong phú Ta có thể chia người dùng tin tại Cục thành 4 nhóm chủ yếu sau:

+ Nhóm Cán bộ lãnh đạo quản lý

+ Nhóm Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy

+ Nhóm Người dùng tin là người trực tiếp sản xuất, kinh doanh

+ Nhóm Học sinh, sinh viên

Mỗi nhóm người dùng tin có một nhu cầu thông tin KH&CN đặc thù riêng

Nhóm cán bộ lãnh đạo quản lý là những người có trình độ học vấn cao

và được đào tạo có hệ thống về một lĩnh vực nhất định Họ cần những thông tin về lãnh đạo quản lý, thông tin có bề sâu, chính xác, phản ánh đúng đối tượng, thông tin mới, mang tính thời sự cao

Nhóm cán bộ nghiên cứu, giảng day… họ có nhu cầu thông tin để hoàn thành các đề tài nghiên cứu khoa học, các luận án tiến sĩ, các luận văn thạc sĩ…

Nhóm người dùng tin là những người sản xuất, kinh doanh cần những thông tin về thị trường, giá cả, thông tin về những công nghệ, thiết bị và giải pháp kinh doanh mới, thông tin về kỹ năng quản lý doanh nghiệp, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, nhất là thông tin về thị trường tiêu thụ sản phẩm Họ luôn cần những thông tin nhanh, chính xác

Nhóm người dùng tin là sinh viên, học sinh Nhóm đối tượng này là những người còn trẻ chưa, có kinh nghiệm trong nghiên cứu, đang học tập, tìm hiểu về ngành nghề, nên việc tìm kiếm thông tin của họ chủ yếu là phục

Trang 21

vụ cho công tác học tập, hoàn thiện quá trình tự học, tự nghiên cứu Vì thế họ cần tài liệu phục vụ cho học tập và giải trí

Như vậy, để triển khai hệ thống thông tin KH&CN phù hợp với mỗi nhóm người dùng tin, đòi hỏi Cục phải nghiên cứu và tìm hiểu sâu hơn về nhu cầu của mỗi nhóm người dùng tin Từ đó, cán bộ tại Cục mới có thể tác động giúp cho người dùng tin xây dựng được những nhu cầu đúng đắn, hợp lý Cục Thông tin KH&CN cần phải đặt ra những kế hoạch phát triển mới trong hoạt động của mình, nắm rõ nhu cầu tin của người dùng tin và đáp ứng tốt thông tin cho họ, đảm bảo cung cấp thông tin luôn mới, kịp thời, chính xác

1.2-Vai trò của các loại dịch vụ thông tin nói chung và dịch vụ Techmart tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia nói riêng

1.2.1 Vai trò của dịch vụ thông tin và thƣ viện nói chung

Khoa học và công nghệ ngày nay không những ở nước ta mà trên toàn cầu đã trở thành một thứ hàng hóa chiến lược, một công cụ cạnh tranh gay gắt mang ý nghĩa sống còn trong nền kinh tế Vì vậy, muốn chiếm lĩnh được nhiều thông tin, đặc biệt là thông tin KH&CN thì cần phát triển KH&CN, phát triển con người có trình độ cao Để làm tốt điều này phải phát triển các dịch vụ thông tin, trong đó đáng chú ý nhất là dịch vụ trao đổi thông tin KH&CN

Nhằm mục đích chuyển thông tin một cách nhanh nhất, đầy đủ nhất, phù hợp nhất với nhu cầu của người dùng tin Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia đã có hệ thống các dịch vụ thông tin khá phong phú Một

số dịch vụ thông tin KH&CN đã và đang triển khai để nhằm đảm bảo thông tin cho người dùng tin sau:

Trang 22

+ Dịch vụ phổ biến thông tin có chọn lọc (SDI)

+ Cung cấp nội dung thông tin trực tuyến (ICP) trên Internet

+ Dịch vụ tổ chức các khoá đào tạo nghiệp vụ theo yêu cầu

+ Dịch vụ tư vấn về công tác xây dựng, tổ chức, điều hành thư viện, cơ quan thông tin

+ Dịch vụ tổ chức các đoàn nghiên cứu, khảo sát và học tập ở nước ngoài về thông tin KH&CN

+ Tổ chức các đoàn nghiên cứu, khảo sát, học tập ở nước ngoài về thông tin KH&CN

Các dịch vụ trên giữ vị trí quan trọng trong hoạt động thông tin của Cục Thông tin KH&CN Quôc gia Đây là cầu nối quan trọng giúp người dùng tin tiếp cận đến thông tin

Trang 23

Các dịch vụ thông tin phát triển là nhằm mục đích tổ chức và sử dụng được một cách thích hợp nguồn lực thông tin để có thể kích thích đổi mới, thúc đẩy nhanh việc phát triển KT-XH

Như vậy, các dịch vụ mà Cục Thông tin KH&CN tạo ra đã trở thành nhu cầu phát triển của nền kinh tế hiện đại Bởi vì, phát triển hệ thống các sản phẩm và dịch vụ thông tin chính là phát triển một bộ phận của nền kinh tế trong xã hội mà hoạt động của nó trực tiếp tác động tới thông tin

Tóm lại, các dịch vụ kể trên có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động thông tin, đặc biệt là thông tin KH&CN Techmart với tư cách là một dịch vụ trao đổi thông tin đặc biệt cũng có vai trò to lớn

1.2.2- Vai trò của dịch vụ Techmart

Dịch vụ Techmart do Cục Thông tin KH&CN Quốc gia tổ chức phục

vụ người dùng tin có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước Bởi lẽ, dịch vụ Techmart giúp tạo cơ hội kết nối giữa cung và cầu về thành tựu KH&CN, lớn hơn là góp phần thúc đẩy phát triển mạnh mẽ KT-XH của mỗi quốc gia, khu vực và thế giới

 Tạo cơ hội kết nối cung và cầu

Đối với bên cung

- Thúc đẩy liên kết nghiên cứu KHCN với sản xuất kinh doanh, hoạt động KHCN với kinh tế và xã hội

- Có cơ hội hiểu rõ nhu cầu, xác định khách hàng tiềm năng, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, chủ động phát triển giải pháp công nghệ mớí

Trang 24

Đối với bên cầu

- Thúc đẩy chuyển giao công nghệ Techmart trở thành địa chỉ tin cậy

để các đơn vị có nhu cầu công nghệ có thể tìm thấy công nghệ thích hợp cho

mình

- Đánh giá đúng năng lực nhà cung cấp, đặt hàng, tạo liên kết với đối tác bền vững, nâng cao khả năng cạnh tranh

Đối với các tổ chức trung gian/môi giới

- Nắm bắt nhu cầu, tham gia hỗ trợ quá trình giao dịch công nghệ như: đánh giá, thầm định và giám định công nghệ, tư vấn pháp lý, kỹ năng đàm

phán hợp đồng chuyển giao công nghệ

- Nâng cao trình độ nghiệp vụ tư vấn

Đối với các tổ chức tài chính

- Thu nhận thông tin, đánh giá đúng hơn các dự án

- Hỗ trợ tài chính đúng đối tượng

Đối với cơ quan quản lý

- Thêm kênh thông tin để điều chỉnh hướng ưu tiên, quản lý

- Phát hiện khó khăn, vướng mắc để đưa ra cơ chế chính sách thích hợp hơn

Đối với quần chúng

- Hiểu rõ hơn về hoạt động KHCN, cập nhật các kiến thức mới về KHCN…

 Tác dụng đối với xã hội và nền kinh tế

- Xúc tiến ứng dụng rộng rãi kết quả KHCN

Trang 25

- Thương mại hóa sản phẩm KHCN, tăng cường năng lực nội sinh của các tổ chức KH&CN

- Thúc đẩy lưu thông trí tuệ và nhân tài

- Đẩy mạnh liên kết nhà khoa học, nhà quản lý và nhà sản xuất - kinh doanh

- Thúc đẩy các chuyển dịch trong phát triển KT-XH, phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ Xuất hiện quá trình tương tác giữa các ngành sản xuất vật chất (công nghiệp và nông nghiệp) và quá trình tăng trưởng các ngành phi sản xuất vật chất (ngành dịch vụ sản xuất và dịch vụ xã hội)

- Làm thay đổi cơ cấu sản xuất và tiêu dùng

- Môi trường pháp lý cho phát triển và vận hành thị trường công nghệ được cơ bản được hình thành Việc ban hành các Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Chất lượng hàng hóa, Luật Công nghệ cao… đã hình thành cơ sở pháp luật quan trọng cho thị trường công nghệ ở nước ta

Có thể nói, Thị trường công nghệ ở nước ta đã được hình thành, từng bước mở rộng về quy mô, nội dung và hình thức hoạt động Các hoạt động của Techmart đã thể hiện tính thiết thực, phát triển tương đối đều ở các vùng miền Thông qua Techmart, các viện nghiên cứu, các trường đại học, các cơ quan quản lý nắm bắt được tốt hơn nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp, của địa phương để có thể điều chỉnh hướng nghiên cứu cho phù hợp với thị trường cũng như cho công tác quản lý KH&CN được hiệu quả hơn

Kết quả điều tra, khảo sát việc thực hiện các ghi nhớ, hợp đồng đã ký kết trong các kỳ Techmart đã cho thấy gần 20% hợp đồng ký kết đã được triển khai tốt Các doanh nghiệp trong nước đã thực sự quan tâm đến việc sử

Trang 26

dụng công nghệ trong nước để đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo ra sản phẩm mới

Tóm lại, thị trường công nghệ là một phần của nền kinh tế thị trường có vai trò lớn trong việc phát triển kinh tế-xã hội Sự phát triển thị trường công nghệ phụ thuộc vào mối quan hệ cung - cầu công nghệ, thị trường này chỉ có thể phát triển được nếu trên thị trường có cầu thực sự về công nghệ

Trang 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA TEHCMART TẠI CỤC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA

2.1-Các khái niệm chung

2.1.1-Khái niệm Thị trường công nghệ

Theo định nghĩa về thị trường công nghệ của Hàn Quốc trong Luật xúc tiến chuyển giao công nghệ được ban hành ngày 31/12/2004 được định nghĩa như sau:

Thị trường công nghệ là hệ thống giao dịch qua đó các công nghệ vô

hình và hữu hình được trao đổi mua bán giữa người cung công nghệ và người

tiêu dùng công nghệ thông qua việc mua và bán công nghệ

Đề án phát triển thị trường công nghệ đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 214/2005/QĐ-TG ngày 30/8/2005 đã định nghĩa

như sau: "Thị trường công nghệ (TTCN) được hiểu là tổng hòa các mối quan

hệ mua bán, trao đổi, môi giới, giám định, khiếu kiện giữa các bên giao dịch Hay nói cách khác TTCN là phương thức thương mại hóa các thành quả KH&CN, thúc đẩy gắn kết KH&CN với sản xuất"

2.1.2-Khái niệm Giao dịch công nghệ

Giao dịch công nghệ: là sự trao đổi giữa bên mua và bán về hàng hoá

công nghệ có thể là hữu hình (thiết bị, hồ sơ kỹ thuật ….) hoặc vô hình (ý

tưởng, bí quyết công nghệ, giải pháp kỹ thuật …)

Giao dịch công nghệ khác với giao dịch hàng hoá ở chỗ, giao dịch hàng hoá tiêu dùng là cái hữu hình, vật chất hiện hữu Còn giao dịch công nghệ là

Trang 28

giao dịch hàng hoá hình thái ý thức, vô hình Mặt khác, công nghệ có giá trị tiềm năng, phải trải qua thời gian triển khai Giao dịch công nghệ là rất khó,

cả hai bên phải nhận thức được về hàng hoá công nghệ: từ nhận thông tin về công nghệ đến xác định được giá cả của hàng hoá công nghệ, rồi đi tới thống

nhất ký kết hợp đồng là cả một quá trình

 Các phương thức giao dịch

Các phương thức giao dịch là cách thức hay kiểu cách giao dịch mua bán trên thị trường Mỗi cách thức hay kiểu cách giao dịch mua bán như vậy

đều có đặc điểm và kỹ thuật tiến hành riêng

Phương thức giao dịch giữa hàng hoá thông thường với phương thức giao dịch công nghệ rất khác nhau Giao dịch hàng hoá vật chất là "tiền trao, cháo múc", tay giao hàng, tay trao tiền Còn giao dịch công nghệ là cả quá trình chuyển đổi của một công nghệ, nhất thiết phải tiến hành ký kết văn bản hợp đồng, làm rõ quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan trong hợp đồng Trong cả quá trình giao dịch công nghệ này, đều phải có sự phục vụ của bên môi giới cho đến khi thực hiện toàn diện hợp đồng

Ngoài ra, quan hệ giao dịch cũng không giống nhau Hai bên trong giao dịch hàng hoá tiêu dùng là quan hệ giữa mua và bán, còn hai bên quan hệ trong giao dịch công nghệ vừa có quan hệ giữa mua và bán, nhưng lại có quan

hệ bạn hàng hợp tác với nhau, chỉ có sự hợp tác chặt chẽ của cả hai bên mới

có thể thực hiện toàn diện hợp đồng, bảo đảm được thực hiện tốt lợi ích của

Trang 29

Khái niệm: Giao dịch trực tiếp là phương thức giao dịch trong đó bên

Bán và Bên Mua trực tiếp quan hệ với nhau bằng cách gặp mặt trực tiếp trao đổi, bàn bạc và thoả thuận với nhau về hàng hoá, giá cả, phương thức thanh toán và các điều kiện giao dịch khác

- Giao dịch trực tuyến: Là giao dịch được tiến hành thông qua mạng

internet

Khái niệm: Giao dịch trực tuyến (hay còn gọi là giao dịch điện tử):

là giao dịch được tiến hành dựa trên việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại, mạng Internet, các phần mềm hiện đại có thể lưu giữ cơ

sở dữ liệu về công nghệ và thiết bị, văn bản pháp luật về KH&CN, hồ sơ các thành viên tham gia giao dịch, tin tức, thị trường của các lĩnh vực và những phương tiện thông tin khác như thư từ, điện tín, thư điện tử

- Giao dịch qua trung gian, môi giới

Khái niệm: Giao dịch qua trung gian trong giao dịch công nghệ là

phương thức giao dịch, trong đó mọi việc kiến lập quan hệ giữa người Mua với người Bán và việc quy định các điều kiện giao dịch đều phải thông qua một người thứ ba Người thứ ba này gọi là người trung gian mua và bán hay còn gọi là người môi giới

Ở đây, người trung gian được hiểu có thể là một cá nhân, một tổ chức hay một doanh nghiệp Người trung gian mua và bán trên thị trường có nhiều loại, song phổ biến là đại lý và môi giới

Hiện nay, TTCN của nước ta đang ở giai đoạn hình thành và đã từng bước đi vào hoạt động trên cơ sở pháp lý, được quản lý bằng pháp luật với sự

ra đời của một loạt văn bản như Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Quy chế Chợ công nghệ và thiết bị, Thông tư hướng dẫn quản lý tài

Trang 30

chính tổ chức chợ công nghệ và thiết bị, Những hoạt động xúc tiến hình thành và phát triển thị trường công nghệ đang được triển khai rộng rãi; hệ thống các hoạt động nghiệp vụ đang dần hình thành Tuy nhiên, hệ thống cơ quan tư vấn và môi giới chưa được hình thành

2.1.3-Khái niệm Techmart

Techmart là loại hình chợ, được tổ chức nhằm hỗ trợ và thúc đẩy giao

dịch mua, bán công nghệ và thiết bị Thông qua việc cung cấp hạ tầng và dịch

vụ cần thiết để người mua, người bán tiếp xúc, thoả thuận và thực hiện giao dịch mua bán công nghệ, thiết bị thuận lợi trong một thời gian và không gian nhất định Techmart thường được tổ chức trong thời gian từ 3 đến 5 ngày

Chợ công nghệ và thiết bị (CN&TB) đang được xã hội đánh giá là một trong những hình thức hoạt động có hiệu quả để thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu KH&CN thông qua số lượng các đơn vị tham gia và hợp đồng, biên bản ghi nhớ được ký kết ngay trong thời gian tổ chức Techmart

2.2-Đối tƣợng của Techmart

Đối tượng được đăng ký tham gia bao gồm các đơn vị trong và ngoài nước như:

+ Các tổ chức nghiên cứu và phát triển

+ Các trường đại học, cao đẳng, học viện

+ Các tổ chức dịch vụ KH&CN

+ Các doanh nghiệp Việt Nam có công nghệ tiên tiến chào bán

+ Các tổ chức KH&CN và doanh nghiệp nước ngoài chào bán CN&TB hiện đại

Trang 31

+ Các tổ chức, tập thể, cá nhân có nhu cầu mua, bán công nghệ và thiết

bị …

2.3-Lịch sử ra đời và hoạt động của Techmart

Trước đây, các kết quả nghiên cứu sau khi nghiệm thu được chuyển giao vào sản xuất mang tính tự phát Chủ trì các đề tài nghiên cứu phải tự tìm kiếm nơi áp dụng kết quả nghiên cứu của mình Thực tế này đã làm cho kết quả nghiên cứu không được ứng dụng nhiều, không được sản xuất kiểm chứng kết quả nghiên cứu, giúp đề tài hoàn thiện hơn cả về tính thực tiễn và giá trị của nó Ngược lại, các doanh nghiệp phải mất nhiều thời gian tìm kiếm công nghệ thích hợp để giải quyết các vấn đề của sản xuất

Thị trường công nghệ dù đã có nhưng vẫn là một lĩnh vực mới mẻ với bên cung và cầu công nghệ Bên cung là những tổ chức nghiên cứu KH&CN không có thói quen tiếp thị, chau chuốt hàng hoá chất xám của mình Bên cầu rất lúng túng trong việc lựa chọn công nghệ thích hợp cho mình và không có thói quen tìm kiếm thông tin trước khi quyết định, không biết cách định giá, đánh giá công nghệ cần mua

Theo Nghị định số 159/2004/NĐ-CP, ngày 31/8/2004 về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ cũng đó chỉ rõ tổ chức hoạt động và quản lý chợ công nghệ và thiết bị là một trong những nội dung hoạt động quan trọng của các tổ chức dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ trong giai đoạn hiện nay

Từ những năm đầu của thập kỷ 90, nhận thức được chuyển giao công nghệ là con đường ngắn nhất để đẩy nhanh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước,

Bộ Khoa học và Công nghệ đã cử nhiều cán bộ tham gia Chợ công nghệ quốc

Trang 32

tế để học hỏi kinh nghiệm và phối hợp với nước ngoài tổ chức tại Việt Nam

Chúng ta có thể kể đến các Chợ công nghệ như:

+ Năm 1994, với sự giúp đỡ của UNIDO, Trung tâm Thông tin Khoa học Kỹ thuật Quốc tế và Trung tâm Chuyển giao công nghệ Châu Á - Thái Bình Dương (APCTT), lần đầu tiên Cục Thông tin KH&CN Quốc gia đã tổ chức Techmart 1994 tại Hà Nội với sự tham gia của 130 đơn vị trong đó 90%

là đơn vị nước ngoài và 10% là viện, trường và doanh nghiệp trong nước; trưng bày và giới thiệu trên 300 công nghệ và thiết bị

+ Chợ Công nghệ và thiết bị xử lý nước thải năm 1999 được Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia phối hợp cùng Tập đoàn của Hoa

Kỳ tổ chức tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

+ Chợ Công nghệ Belarus 2000 với tên gọi là: “Những ngày Khoa học

và Kỹ thuật của Cộng hoà Belarus tại Việt Nam” do Uỷ ban Khoa học và Công nghệ Belarus phối hợp với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường Việt Nam tổ chức tại Hà Nội

+ Chợ Công nghệ Trung Quốc 2001 giới thiệu các thành tựu thuộc Chương trình “Đốm lửa” được Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc tổ chức tại Hà Nội

+ Chợ Công nghệ Hàn Quốc 2002 được phối hợp tổ chức bởi Công viên Công nghệ Busan, Hàn Quốc và Cục Thông tin KH & CN Quốc gia với

22 gian hàng của các viện nghiên cứu và doanh nghiệp Hàn Quốc

+ Chợ Công nghệ Hàn Quốc 2004 là sự hợp tác rất thành công giữa Công viên công nghệ Busan Hàn Quốc với Cục thông tin KH&CN Quốc gia với sự tham gia trực tiếp của 24 viện nghiên cứu và doanh nghiệp Hàn Quốc

Trang 33

Thông qua việc phối hợp tổ chức Chợ công nghệ nước ngoài và khu vực để học hỏi kinh nghiệm tổ chức Năm 2003, Bộ Khoa học và Công nghệ lần đầu tiên đã phối hợp với các bộ, ngành và các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức rất thành công chợ công nghệ và thiết bị ở quy mô quốc gia Đây là một dấu mốc quan trọng cho sự hình thành và phát triển của Thị trường công nghệ

Cho đến nay, hơn 50 kỳ Techmart đã được tổ chức trong đó có 4 kỳ Techmart quy mô quốc gia và quốc tế, hàng chục Techmart quy mô vùng và địa phương đã được tổ chức huy động được hơn 4.073 đơn vị tham gia với số lượng 5.934 gian hàng, giới thiệu và chào bán 19.785 công nghệ và thiết bị Qua Techmart, các đơn vị tham gia đã ký được 6.789 biên bản ghi nhớ và hợp đồng mua bán công nghệ với tổng giá trị 6.971,1 tỷ đồng Như vậy, Techmart

đã trở thành một trong những hoạt động cần thiết để thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ

Trang 34

Bảng 1: Số liệu thống kê các kỳ Techmart khu vực và quốc gia

Số gian hàng

Số lƣợng CNTB, GPPM,

DV chào bán

Số lƣợng

HĐ biên bản ghi nhớ

Tổng giá trị đó ký kết (tỷ đồng)

6 9/2006 Techmart Hanoi Chuyên

ngành Quốc gia

158 222 1000 258 92,5

7 11/2006 Techmart

Angiang

Vùng Đồng bằng sông cửu Long

141 170 1000 35 194

10 12/2007 Techmart

Thainguyen

Vùng núi phía Bắc

160 220 800 115 90,6

Trang 35

0 100 200 300 400 500 600 700 800

Năm 2003 N ă m 2 0 0 5 Nă m 2 0 0 7 Nă m 2 0 0 9

Số đơn vị tham gia

300 305 1000 50 68,3

14 09/2008 Techmart Hanoi 285 305 1200 100 500

15 11/2008 Techmart Cantho Vùng Đồng

bằng sông Cửu Long

175 205 800 600 395

16 09/2009 Techmart

Vietnam SEAN+3

Trang 36

Những thành công của các kỳ Techmart trong những năm qua có thể khẳng Chợ công nghệ và thiết bị là hoạt động xúc tiến thiết thực, hiệu quả trong việc gắn kết khoa học và công nghệ với phát triển kinh tế xã hội, thúc đẩy ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất, đời sống đồng thời khẩn trương hình thành và phát triển thị trường công nghệ ở nước ta

Techmart đã trở thành một công cụ hữu hiệu nhắm xúc tiến chuyển giao công nghệ, các kết quả nghiên cứu KH&CN cho doanh nghiệp Quảng

bá, tuyên truyền các thành quả KH&CN, giảm chi phí cho quảng cáo và tiếp thị, hỗ trợ và nắm bắt kịp thời các thông tin mới nhất Tìm đối tác và bạn hàng nhanh chóng Tăng cường khả năng lựa chọn công nghệ thích hợp để đổi mới công nghệ và hoàn thiện các kết quả nghiên cứu công nghệ

Hiện nay Techmart đã trở thành một nội dung công tác KH&CN của quốc gia và địa phương, là một công cụ thiết thực để liên kết nghiên cứu với sản xuất kinh doanh, là kênh quan trọng để doanh nghiệp có thể tiếp cận, lựa chọn công nghệ thích hợp và đổi mới công nghệ Đây cũng là hoạt động có thể thu hút được đông đảo mọi lực lượng xã hội từ tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp đến người dân ở các địa phương tham gia

2.4-Các loại hình Techmart

- Dựa vào phạm vi các lĩnh vực hoạt động Techmart gồm 2 loại sau:

+ Techmart đa ngành

+ Techmart chuyên ngành

- Dựa vào phương thức tổ chức Techmart gồm 2 loại:

+ Hội chợ triển lãm truyền thống

+ Techmart ảo

- Dựa vào quy mô tổ chức của Techmart gồm 3 loại:

+ Techmart trên quy mô quốc gia

Trang 37

+ Techmart trên quy mô vùng

+ Techmart trên quy mô địa phương

2.5-Nguyên tắc tổ chức hoạt động của Techmart

Techmart chỉ được tổ chức khi đảm bảo một số nguyên tắc sau:

+ Việc tổ chức Techmart phải được thực hiện trên cơ sở kế hoạch và đề án

tổ chức Techmart được cơ quan chỉ đạo, quản lý phê duyệt

+ Có số lượng gian hàng và công nghệ thiết bị đăng ký tham gia giao dịch, mua bán CN&TB đạt trên 60% số lượng dự kiến trong Đề án tổ chức Techmart

+ Cơ quan tổ chức thực hiện Techmart gửi báo cáo tổng kết Techmart và các hoạt động tiếp nối sau Techmart đã tổ chức về Bộ Khoa học và Công nghệ

+ Các giao dịch mua bán công nghệ, thiết bị và dịch vụ chuyển giao công nghệ tại Techmart được thực hiện theo quy định của Bộ Luật dân sự, Luật chuyển giao công nghệ, Luật sở hữu trí tuệ và các quy định khác của pháp luật có liên quan

2.6-Nội dung hoạt động của Techmart

2.6.1-Trƣng bày giới thiệu, chào bán, mua bán công nghệ và thiết bị

Các tổ chức sẽ trang trí trưng bày giới thiệu sản phẩm, thiết bị, công nghệ chào bán, chủ yếu bằng các hiện vật cụ thể hoặc mô phỏng, hình ảnh, poster, thông tin mô tả, các sản phẩm demo nhằm tạo ấn tượng trực quan hiệu quả nhất đối với khách hàng

Trang 38

Hình ảnh gian hàng 1VS Techmart ASEAN +3, 2009

Gian trưng bày triển lãm của Sở KH&CN Quảng Trị tại Techmart ASEAN +3, 2009

Trang 39

Trong hoạt động trưng bày, chào bán công nghệ các chuyên gia của các bên tham gia chào bán công nghệ và thiết bị có vai trò quan trọng Họ là những người có trình độ, năng lực và trách nhiệm để thường trực tiếp xúc, trao đổi, hướng dẫn, thương thảo và tiếp nhận các yêu cầu của khách hàng về các loại CN&TB có thể đáp ứng, cung cấp, chuyển giao

Ban tổ chức Techmart có trách nhiệm giữ vai trò trung gian kết nối các hoạt động của Techmart, đảm bảo cho thúc đẩy và hỗ trợ cho bên chào bán và tìm mua công nghệ và thiết bị

Như vậy, hoạt động giới thiệu, chào bán, mua bán công nghệ và thiết bị

sẽ nhằm mục đích phục vụ nhu cầu tư vấn trong quá trình tìm hiểu, thương thảo, đặt hàng, ký kết, ghi nhớ, thỏa thuận các hợp đồng mua – bán, chuyển giao công nghệ và thiết bị

2.6.2-Giới thiệu các dịch vụ hỗ trợ và tƣ vấn

Tại Techmart sẽ tổ chức Khu Tƣ vấn Tại đây, các đối tượng có nhu

cầu sẽ được tư vấn các vấn đề liên quan đến lựa chọn công nghệ, sản phẩm, giao dịch, chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, thương hiệu, bản quyền, tiêu chuẩn, chất lượng Trên website của Techmart ảo cũng có dịch vụ hỗ trợ và tư vấn này

Ngoài ra, tại Techmart 2009 có một hình thức tư vấn rất độc đáo Đó là hình thức café Công nghệ miễn phí cho khách hàng tham quan Nếu ai đó có dịp đến hội chợ Techmart 2009 tại Giảng Võ trong những ngày 18 đến 21 tháng 9 năm 2009 chắc chắn không thể bỏ qua Gian hàng Số 140,141 Nhà D của triển lãm Giảng Võ, bởi đến đó Quý khách không những được thưởng thức café miễn phí mà còn được các nhân viên của Công ty ATO tư vấn miễn phí

Trang 40

Hình ảnh quán café Công nghệ

Hình ảnh tư vấn giới thiệu về những giải pháp quản lý Nhà hàng

Ngày đăng: 16/12/2017, 00:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w