CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU - ORIGINAL PAPERSCHẨN ĐOÁN VI KHUẨN BODERTELLA PERTUSSIS TRỰC TIẾP TỪ BỆNH PHẨM LÂM SÀNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP KHUẾCH ĐẠI GEN TẠI VIỆT NAM Hoàng Thị Thu Hà 1 *, Ngu
Trang 1CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU - ORIGINAL PAPERS
CHẨN ĐOÁN VI KHUẨN BODERTELLA PERTUSSIS TRỰC TIẾP
TỪ BỆNH PHẨM LÂM SÀNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP
KHUẾCH ĐẠI GEN TẠI VIỆT NAM
Hoàng Thị Thu Hà 1 *, Nguyễn Thùy Trâm 1 , Phạm Thanh Hai 1 , Lương Minh Hòa 1 , Nguyễn Thị Anh Xuân 2 , Hoàng Thị Bích Ngọc 3 , Vũ Ngọc Hà 4 , Đặng Đức Anh 1
1 Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung Ương, Hà Nội
2 Bệnh viện Việt Nam- Cu Ba, Hà Nội
3 Bệnh viện Nhi Trung ương, Việt Nam
4 Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia, Hà Nội
TÓM TẮT
Ho gà, bệnh đường hô hấp, do vi khuẩn Bodertella pertussis gây ra, dễ lây nhiễm, có thể đe dọa tính mạng và là
nguyên nhân chính gây bệnh và tử vong ở trẻ em, đặc biệt trẻ dưới 6 tháng tuổi Ở Việt Nam, mặc dù việc tiêm vắc xin phòng bệnh ho gà đã được triển khai nhiều năm, nhưng số ca mắc ho gà vẫn xuất hiện, có xu hướng mắc ở trẻ trưởng thành và người lớn với triệu chứng ho cấp tính hoặc mạn tính.Phương pháp PCR xác định vi khuẩn bằng cặp mồi đặc hiệu BP-1 và BP2-MOD (thiết kế dựa vào IS481- trình tự cài) có ngưỡng phát hiện 1vk/
pư, độ đặc hiệu cao đã được sử dụng để chẩn đoán trực tiếp từ bệnh phẩm lâm sàng Kết quả cho thấy 23,5% (24/102) bệnh nhi trong nghiên cứu dương tính với PCR, bao gồm trẻdưới 3 tháng tuổi (33,3%), tiêm phòng chưa đủ các liều (58,3%) và đã tiêm đủ liều theo lịch tiêm chủng (8,3%) Hầu hết trẻ đã điều trị kháng sinh và nhập viện với các triệu chứng không điển hình Vì vậy, để chẩn đoán phát hiện bệnh ho gà sớm, các bác sĩ cần quan tâm đến bệnh nhân có triệu chứng ho kéo dài và/hoặc sốt Trong tương lai, việc áp dụng PCR chẩn đoán bệnh ho gà tại các phòng xét nghiệm bệnh viện là cần thiết và khả thi
Từ khóa: B.pertussis, bệnh nhi, PCR, tiêm chủng mở rộng, Việt Nam
*Tác giả: Hoàng Thị Thu Hà
Địa chỉ: Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
Điện thoại: 0904126943
Email: hoangha.nihe@gmail.com
Ngày nhận bài: 22/10/2014 Ngày phản biện: 02/12/2014 Ngày đăng bài: 31/12/2014
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ho gà là bệnh lây nhiễm cao, thường biểu
hiện cấp tính ở đường hô hấp, gây nên bởi vi
khuẩn Bordetella pertussis, là trực khuẩn Gram
âm [1] Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ với các triệu
chứng điển hình như cơn ho kịch phát, làm trẻ
khó thở, thở nhanh, kèm theo tiếng rít ”whoop”
cuối mỗi cơn ho, dễ gây tử vong nếu không được
chẩn đoán và điều trị kịp thời [2] Gần đây, các
nghiên cứu chỉ rarằng tỷ lệ mắc bệnh đã tăng trở
lại do có biểu hiện nhiễm bệnh ở trẻ vị thành niên
và người lớn, ngay cả ở các nước phát triển đã
thực hiện chương trình tiêm phòng đầy đủ [3]
Các triệu chứng biểu hiện thường không điển
hình hoặc kết hợp với bội nhiễmcác vi khuẩn
khác như Hemophilus influenzae, Mycoplasma
pneumoniae, Chlamydia pneumoniae, gây khó
khăn cho việc chẩn đoán, do đó dẫn đến nguy
cơ lây lan cho cộng đồng Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới ước tính, năm 2008 tỷ lệ mắc ho gà là khoảng 16 triệu trường hợp, trong
đó 95% ở các nước đang phát triển, và xấp xỉ 195.000 trường hợp chết do ho gà Tỷ lệ chết / mắc (CFR) ở các nước đang phát triển khá cao, khoảng 4% ở trẻ nhũ nhi Hầu hết các trường hợp mắc ở Châu Phi, Tây Thái Bình Dương và Đông Nam Á [3]
Theo kinh điển, ho gà được chẩn đoán bằng phương pháp nuôi cấy, huyết thanh học, huỳnh quang trực tiếp Các phương pháp này hiện không thiết thực cho chẩn đoán sớm bệnh do bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố: Chất lượng mẫu bệnh phẩm,thời gian vận chuyển bệnh phẩm, do việc tiêm phòng hay sử dụng kháng sinh trước
Trang 2đó [4] Gần đây, nhiều nghiên cứu đã công bố
PCR xác định vi khuẩn B.pertussis bằng cặp
mồi đặc hiệu BP-1 và BP2-MOD (thiết kế dựa
trên IS481- trình tự cài) có ngưỡng phát hiện
1vk/pư, độ đặc hiệu cao (không phản ứng chéo
với các vi khuẩn gây viêm đường hô hấp) và
đã được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán [ 4,
5, 7, 11]
Ở Việt Nam, tỉ lệ bệnh ho gà đã giảm sau khi
thực hiện chương trình tiêm chủng mở rộng,
nhưng vẫn xuất hiện các ca bệnh ở trẻ dưới 3
tháng tuổi và từ 6-12 tuổi Năm 2011, 105 ca
ho gà đã được báo cáo và số ca bệnh trong năm
2012 gần tương tự với 98 ca Trong số này, hơn
50 % số ca bệnh là ở trẻ dưới 1 tuổi, và 10% là
đối tượng dưới 15 tuổi Tuy nhiên, số liệu này
thu thập từ các ca bệnh được chẩn đoán dựa
vào dấu hiệu lâm sàng Hơn nữa, kỹ thuật chẩn
đoán phòng thí nghiệm như nuôi cấy, huyết
thanh học thường âm tính do bệnh nhân đã tự
điều trị kháng sinh dài ngày và chỉ phát hiện
được kháng thể IgG (khó phân biệt với kháng
thể sinh ra do việc tiêm phòng vắc xin) Mặc
dù các phòng thí nghiệm của chúng ta đã thực
hiện các kỹ thuật sinh học phân tử chẩn đoán
nhiều tác nhân gây bệnh nhưng PCR chưa được
ứng dụng trong chẩn đoán B pertussis Vì vậy,
trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành xác
định tỉ lệ bệnh nhi mắc bệnh ho gà tại một số
bệnh viện ở Hà Nội bằng kỹ thuật PCR, góp
phần phát hiện sớm bệnh và tăng hiệu quả điều
trị, tránh lây lan trong cộng đồng
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mẫu bệnh phẩm và tiêu chuẩn chọn
Từ tháng 1 đến tháng 12/2013,cácmẫu dịch
tỵ hầu được thu thập từ các bệnh nhi dưới 1 tuổi
và 6-12 tuổi tại bệnh viện Việt Nam – Cu Ba,
Nhi Trung ương với các triệu chứng: sốt, ho
kéo dài, ho cơn, chảy nước mũi Các mẫu bệnh
phẩm được xử lý, tách ADN và thực hiện phản
ứng PCR với cặp mồi BP1/BP2-MOD
(IS481-151bp) [6]
Các mẫu bệnh phẩm được lấy bằng stăm
bông vô trùng theo thường qui của bệnh viện,
2.2 Chủng vi khuẩn quốc tế
Chủng vi khuẩn B.pertussis: 1 chủng B.pertussis
ATCC®9340 (nguồn MediMark® Europe, Pháp) được nuôi cấy, tách ADN và làm chứng dương cho phản ứng PCR
2.3 Phân tích phòng thí nghiệm
2.3.1 Nuôi cấy
Chủng B.pertussis ATCC®9340được nuôi
cấy trên môi trường Charcoal có 10% v/v máu cừu và 40mg/mlkháng sinh cephalexin (Thermo Scientific), để trong điều kiện ẩm, ở 350C-370C
từ 3-5 ngày Sau khi quan sát thấy khuẩn lạc mọc, chọn khuẩn lạc điển hình tiến hành định danh bằng nhuộm Gram, thử nghiệm oxidase, catalase (BioMerieux, Pháp)
2.3.2 Tách chiết ADN
Chủng vi khuẩn: Khuẩn lạc B.pertussis trên
môi trường nuôi cấy được cho vào týp effendorf 1,5 ml chứa 1ml muối sinh lý 0,85% vô trùng Trộn đều bằng máy votex tạo huyền dịch Nồng
độ vi khuẩn được xác định 1,5x 108vk/ml, ủ ở nhiệt độ từ 95-990C/30 phút, ly tâm 8000 vòng/ phút trong 5 phút Hút lấy phần dịch nổi, sử dụng làm chứng dương cho phản ứng PCR Bệnh phẩm lâm sàng: Tăm bông lấy bệnh phẩm chuyển từ týp vận chuyển sang týp eppendorf 1,5 ml chứa 1ml nước muối sinh lý 0,85% vô trùng Ủ ở nhiệt độ phòng 5 phút Sau
đó lắc nhẹ trong 60giây, rồi bỏ phần tăm bông
đi (sử dụng kẹp vô trùng gắp), chia làm 2 týp Tiếp tục ủ týp thứ nhất ở nhiệt độ từ 95-990C trong 60 phút Làm nguội ở nhiệt độ phòng trong 5 phút Ly tâm 8000 vòng/phút trong 5 phút Hút lấy phần dịch nổi, sử dụng làm ADN cho phản ứng PCR
Týp thứ hai tiến hành tách ADN theo thường qui của bộ kít tách chiết QIAamp mini kit (QIAgen, Đức)
2.3.3 PCR phát hiện IS481
PCR phát hiện sự có mặt của ADN B.pertussis
trong mẫu bệnh phẩm sử dụng cặp mồi đặc hiệu được thiết kế dựa trên các vùng thuộcchuỗi
trình tự cài (IS 481) của B.pertussis với kích
thước của sản phẩm PCR 151 bp là: BP-1 (GATTCAATAGGTTGTATGCATGGTT) và
Trang 3BP2-(nồng độ 20pM), 1 µl ADN khuôn và 7 µl nước
tinh sạch Chu trình nhiệt: 950C trong 5 phút;
35 chu kỳ tiếp theo gồm 950C trong 15 giây,
560C trong 15 giây, 720C trong 15giây; và 1 chu
kỳ 720C trong 10 phút [6]
8 µl sản phẩm PCR được điện di trên thạch
agarose 1,5% trong dung dịch đệm TBE 0.5X
(Invitrogen) ở 100V/45 phút, nhuộm thạch bằng
dung dịch SYBR®Safe (Invitrogen) và chụp ảnh
gel dưới ánh sáng tia UV
III KẾT QUẢ
102 mẫu bệnh phẩm đã được thu thập bao
gồm 92 mẫu từ bệnh nhi dưới 6 tháng tuổi và 10
mẫu của trẻ 2-12 tuổi Trong đó 75 bệnh nhi có
triệu chứng giống bệnh lý lâm sàng của bệnh ho
gà: chảy nước mũi, ho nhiều từng cơn, ho kéo dài (>7 ngày), mặt đỏ, sốt, nôn, 25 bệnh nhi dưới 2 tháng tuổi chưa được tiêm vắc xin phòng bệnh Hầu hết các bệnh nhi đã được điều trị kháng sinh tại nhà (thời gian điều trị ít nhất 3 ngày) và đến khám sau 2 tuần khi xuất hiện triệu chứng khởi phát Duy nhất một trường hợp chưa dùng kháng sinh là bệnh nhi tại bệnh viện Nhi Trung ương 24 ngày tuổi, có triệu chứng ho liên tục từng cơn, mặt đỏ, sốt nhẹ, suy hô hấp độ 2
Kết quả nghiên cứu cho thấy 23,5% (24/102)
trường hợp dương tính với PCR-B.pertussis Tuy
nhiên, không có sự khác biệt giữa kết quả PCR sử dụng ADN tách từ mẫu bệnh phẩm bằng phương pháp nhiệt (ủ ở 980C/30 phút) vàsử dụng kít thương mại (QIAamp, Đức) (Hình1)
z1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13
500bp
151bp
Hình 1 Kết quả PCR sử dụng cặp mồi BP1/BP2-MOD phân tích ADN tách bằng phương
pháp nhiệt và kít thương mại (QIAamp)
Đường 1: 100 bp ladder; Đường 2: chứng âm;
Đường 3: B pertussis ATCC®9340; Đường 4:
BP25VNCB-13 (ADN tách bằng kít); Đường 5:
BP25VNCB-13 (ADN tách bằng nhiệt); Đường
6: BP56-NPH-13(ADN tách bằng kít); Đường
7: BP56-NPH-13 (ADN tách bằng nhiệt); Đường
8: BP69VNCB-13(ADN tách bằng kít); Đường 9
BP69VNCB-13 (ADN tách bằng nhiệt), Đường 10:
BP76VNCB-13 (ADN tách bằng kít); Đường 11:
BP76VNCB-13 (ADN tách bằng nhiệt); Đường 12: BP92VNCB-14(ADN tách bằng kít); Đường 13: BP92VNCB-14 (ADN tách bằng nhiệt) Tất cả các bệnh nhi được xác định PCR dương tính có biểu hiện ho cơn, ho kéo dài, trong đó 41.7% (10/24) có triệu chứng ho kèm theo sốt và viêm long đường hô hấp, tiếp theo là bệnh nhi với triệu chứng
ho kéo dài, viêm long đường hô hấp, nôn (25%) và bệnh nhi có triệu chứng sốt kèm ho (16.7%) (Bảng 1)
Trang 4Bảng 1 Kết quả PCR và bệnh phẩm lâm sàng
Trong các trường hợp PCR dương tính có
33,3% (8/24) là trẻ chưa được tiêm chủng vắc
xin phòng Bạch hầu – Ho gà – Uốn ván – Bại
liệt; 58.3% (14/24) trẻ chưa tiêm phòng đủ 3 mũi vắc xin và 8.3% (2/24) trẻ đã tiêm đủ 3 mũi
và nhắc lại mũi 4 vào lúc 6 tuổi (Bảng 2)
Bảng 2 Kết quả PCR và tình trạng tiêm phòng vắc xin của bệnh nhi Tiền sử
tiêm chủng
Chưa tiêm vắc xin (N)
Tiêm chưa đủ
3 liều vắc xin (N)
Tiêm đủ 3 liều vắc xin (N)
Tiêm đủ 3 liều vắc xin + mũi 4 lúc 6 tuổi
(N)
Tổng số (N)
IV BÀN LUẬN
Trên thế giới, mặc dù việc tiêm vắc xin
phòng bệnh đã được thực hiện tốt nhưng số ca
mắc ho gà ngày càng tăng và xuất hiện ở cả đối
tượng thanh thiếu niên và người lớn Tuy nhiên,
tỉ lệ mắc và tử vong vẫn chủ yếu ở đối tượng
trẻ dưới 1 tuổi Trong số ca nhập viện, nhóm trẻ
dưới 1 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất, dễ biến chứng
và tử vong vì nhóm này chưa được tiêm vắc xin
phòng bệnh đầy đủ [7]
Gần đây, việc phát hiện axít nucleic đã được
sử dụng như một công cụ chẩn đoán trong
phòng thí nghiệm vi sinhs y học PCR được coi
làkỹ thuật được triển khai rộng rãi nhất do độ
nhạy và đặc hiệu cao cũng như tính đa dạng của
nó [7] Hiện tại các phòng thí nghiệm vi sinh y
học tại Việt Nam đã được trang bị khá đầy đủ
hệ thống PCR phục vụ chẩn đoán các tác nhân
gây bệnh.Tuy nhiên, ở nhiều phòng thí nghiệm
tại bệnh viện, việc chẩn đoán tác nhân gây bệnh
bằng kỹ thuật này chưa phổ biến, đặc biệt với vi
khuẩn B pertussis.
Do sự giống nhau về đặc điểm gen của các
loài Bordetella gây nhiễm trùng đường hô hấp
có nghiên cứu cho rằng PCR sử dụng cặp mồi thiết kế dựa trên vùng trình tự cài đặc hiệu cho
B pertussis (IS481) có phản ứng chéo với B
holmesii [9] Trong nghiên cứu trên bệnh nhân
mắc ho gà tại Hà Lan và Đan Mạch cho thấy B
holmessi không phải là nguyên nhân gây bệnh
trên người [8,9] Hầu hết các phòng thí nghiệm
sử dụng PCR với cặp mồi thiết kế thuộc IS481 đều cho độ nhạy cao và thấy rằng sự liên quan
của B holmessi với nhiễm trùng ở người vẫn
chưa rõ ràng [8, 9] Hơn nữa, nhiều nghiên cứu
đã chỉ ra rằng PCR đã tiến hành với 14 chủng
B.bronchiseptica, 1 chủng B parapertussis và
3 chủng B pertussis, cho thấy các đoạn ADN
151bp chỉ được xác định với ADN khuôn của
B pertussis Theo kết quả nghiên cứu năm
2008, nhóm tác giả đãchỉ raPCR sử dụng cặp mồi BP1/BP2-MOD được thiết kế dựa trên vùng IS481, đảm bảo độ nhạy của phương pháp bằng phát hiện tác nhân với 1vk/phản ứng và độ đặc hiệu của cặp mồi BP1/BP2-MOD cho quá
trình khuếch đại B pertussis khi các mẫu ADN
của các vi khuẩn gây bệnh hô hấp khác như
K pneumoniae, H influenzae, M pneumoniae, S
Trang 5biệt giữa việc tách chiết bằng kít thương mại
và tách bằng nhiệt (Hình 1) Do vậy, việc sử
dụng phương pháp nhiệt để tách ADN trực tiếp
từ bệnh phẩm dịch tỵ hầu có thể thay thế cho
việc sử dụng kít thương mại, góp phần giảm giá
thành và thời gian chẩn đoán bệnh
Việc sử dụng PCR cho chẩn đoán B pertussis
có thể phát hiện sớm bệnh ho gà trong vòng
1-2 ngày, đặc biệt là ở nhóm trẻ sơ sinh [ 7, 11],
trong khi B.pertussis là vi khuẩn rất khó phân
lập trong phòng thí nghiệm [ 4, 6, 7] Phương
pháp nuôi cấy và huyết thanh học có thể phát
hiện được vi khuẩn ở tuần thứ 3 hoặc 4 của
bệnh, nhưng rất khó xác định nếu bệnh nhân
đã dùng kháng sinh và/hoặc được tiêm phòng
trước đó [7] Hơn nữa, trẻ nhỏ dưới 1 năm tuổi
là nhóm tuổi chưa được tiêm phòng vắc xin
đầy đủ, triệu chứng lâm sàng thường biểu hiện
không điển hình Do vậy, ở đây, PCR được coi
là phương pháp chẩn đoán nhanh B.pertussis và
có độ nhạy hơn so với nuôi cấy và huyết thanh
học [1, 4, 6] Mặt khác, PCR ít bị ảnh hưởng
khi xác định tác nhân ở đối tượng đã dùng
kháng sinh Kết quả trong nghiên cứu nàycho
thấy 23,5% PCR dương tính với B.pertussis
chứng tỏ PCR có giá trị khi phát hiện bệnh ở
giai đoạn muộn; bệnh nhi ở độ tuổi > 6 tuổi;
bệnh nhân đã điều trị kháng sinh và bệnh nhi
đã và đang tiêm phòng vắc xin Thông thường,
trong các trường hợp này, số lượng vi khuẩn tập
trung ở vùng hầu họng là rất thấp, việc sử dụng
kháng sinh cũng ảnh hưởng đến sự phát triển
của vi khuẩn nên kết quả chẩn đoán bằng nuôi
cấy thường là âm tính [7] Trong khi đó, PCR
sử dụng cặp mồi BP1/BP2-MOD có khả năng
phát hiện tác nhân với ngưỡng phát hiện là
1vk/pứ và vi khuẩn ở tình trạng sống hoặc chết
Điều này cũng được chứng minh trong nghiên
cứu bằng tỉ lệ phát hiện B.pertussis ở bệnh nhi
đã điều trị kháng sinh (95,8%) và tiêm phòng
vắc xin (62,5%) Mặt khác, kết quả nghiên cứu
cho thấy 100% bệnh nhi có PCR dương tính
có triệu chứng lâm sàng ho cơn, kéo dài, trong
đó 41.7% bệnh nhi có biểu hiện ho kèm sốt và
viêm long đường hô hấp Không thấy sự khác
biệt giữa nhóm bệnh nhi PCR dương tính và
âm tính về biểu hiện lâm sàng chỉ có ho cơn,
ho kéo dài Nhóm bệnh nhi có triệu chứng sốt,
kèm ho cơn, ho kéo dài thì tỉ lệ PCR dương
tính chiếm 7,7% (4/52) Điều này chứng tỏ, tỉ lệ bệnh nhi mắc ho gà không phải là phổ biến so với các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp khác Tuy nhiên, việc chẩn đoán bệnh sẽ giúp các bác
sĩ lâm sàng sàng lọc để đưa ra phác đồ điều trị phù hợp Mặt khác, việc phát hiện các bệnh nhi
đã tiêm phòng vắc xin có triệu chứng lâm sàng
và kết quả PCR dương tính với B.pertussis cần
được tiếp tục theo dõi, nghiên cứu sâu và với số mẫu lớn hơn để có kết luận cụ thể, chính xác Thêm nữa, thông thường trẻ nhỏ không biểu hiện triệu chứng điển hình của bệnh ho gà, vì vậy nếu các bác sĩ lâm sàng lưu tâm đến bệnh
và yêu cầu xét nghiệm sớm thì khả năng chẩn đoán sàng lọc sẽ cao, giúp tăng hiệu quả điều trị, phòng ngừa bệnh lây lan trong cộng đồng,
và bổ sung số liệu cho công tác giám sát bệnh dịch Ngoài ra, với sự biến đổi về triệu chứng lâm sàng của bệnh, ho gà cũng cần được quan tâm để chẩn đoán ở trẻ trưởng thành và người lớn khi có triệu chứng hokéo dài [12] Đồng thời, việc chẩn đoán phân biệt bệnh ho gà và các bệnh nhiễm trùng hô hấp do các tác nhân khác cũng rất cần thiết Trong trường hợp này, PCR rõ ràng là công cụ chẩn đoán nhanh, đơn giản và hữu hiệu Tuy nhiên, một bệnh nhân có kết quả PCR dương tính cũng cần có sự kết hợp với triệu chứng lâm sàng để đưa ra quyết định chính xác hoặc có thể kết hợp với kết quả huyết thanh học
V KẾT LUẬN
Bằng kỹ thuật PCR sử dụng cặp mồi BP1/
BP2-MOD thuộc vùng IS481 của B.pertussis,
23,5% bệnh nhi có biểu hiện viêm đường hô hấp đã được chẩn đoán mắc bệnh ho gà tại mộ
số bệnh viện ở Hà Nội Trong tương lai, việc áp dụng PCR chẩn đoán bệnh ho gà tại các phòng xét nghiệm bệnh viện là cần thiết và khả thi Thêm nữa, việc phát triển PCR đa mồi để phát
hiện B.pertussis và các tác nhân vi khuẩn gây
bệnh hô hấp trong cùng một phản ứng là hướng nghiên cứu tiếp theo cần được quan tâm
Lời cảm ơn:
Nhóm tác giả chân thành cám ơn các cán
bộ y tế khoa Nhi, khoa Hô hấp, bệnh viện Việt Nam Cu Ba và bệnh viện Nhi Trung ương đã hỗ trợ cho việc thu thập mẫu bệnh phẩm
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Cherry JD1, G.E., Guiso N, Heininger U,
Mert-sola J, Defining pertussis epidemiology:
Clin-ical, microbiologic and serologic perspectives
Pediatr Infect Dis 2005, 24 (5 Suppl): 25-34
2 Jusot, V., et al., Prevalence of Bordetella
infec-tion in a hospital setting in niamey, niger J Trop
Pediatr, 2014 60(3): 223-30
3 WHO, Pertussis vaccines: WHO position paper
Wkly Epidemiol Rec., 2010 85(40): 385-400
4 Fry, N.K., et al., Laboratory diagnosis of
pertus-sis infections: the role of PCR and serology J
Med Microbiol, 2004 53(Pt 6): 519-525
5 J R Lingappa, W.L., S West-Keefe , Diagnosis of
Community-Acquired Pertussis Infection:
Com-parison of Both Culture and
Fluorescent-Anti-body Assays with PCR Detection Using
Elec-trophoresis or Dot Blot Hybridization Journal
of Clinical Microbiology 2002, p 2908–2912
Vol 40, No 8., 2002 40(8): 2908–2912
6 Dragsted, D.M., et al., Comparison of culture
and PCR for detection of Bordetella
pertus-sis and Bordetella parapertuspertus-sis under routine
laboratory conditions J Med Microbiol, 2004
53(Pt 8): 749-754
7 Leber, A.L., Pertussis: Relevant Species and Diagnostic Update Clin Lab Med, 2014 34(2): 237-255
8 Cherry., S.M.a.J.D., Molecular Pathogenesis, Epidemiology, and Clinical Manifestations of Respiratory Infections Due to Bordetella per-tussis and Other Bordetella Subspecies Clinical Microbiology Reviews, 2005 18(2): 326-382
9 Van Loo Inge HM, M.F., Changes in the Dutch Bordetella pertussis population in the first 20 years after the introduction of whole-cell vac-cines Microbiology, 2002 148: 2011-2018
10 H.T.T.H., Ứng dụng kỹ thuật PCR chẩn đoán vi khuẩn Bodertella pertussis tại Việt Nam Đề tài cấp Viện, 2008
11 Heininger, U., et al., A controlled study of the relationship between Bordetella pertussis in-fections and sudden unexpected deaths among German infants Pediatrics, 2004 114(1): 9-15
12 De Schutter, I., et al., Molecular typing of Bor-detella pertussis isolates recovered from Bel-gian children and their household members Clin Infect Dis, 2003 36(11): 1391-1396
DIRECT PCR FOR DETECTION OF BORDETELLA PERTUSSIS FROM
CLINICAL SPECIMENS IN VIETNAM
Hoang Thi Thu Ha 1 , Nguyen Thuy Tram 1 , Pham Thanh Hai 1 , Luong Minh Hoa 1 Nguyen Thi Anh Xuan 2 , Hoang Thi Bich Ngoc 3 , Vu Ngoc Ha 4 , Dang Duc Anh 1
1 National Institute of Hygiene and Epidemiology, Hanoi, Vietnam
2 Vietnam-Cuba Hospital, Hanoi, Vietnam
3 National Peadiatric Hospital, Hanoi, Vietnam
4 Medical Faculty, National University, Hanoi, Vietnam
Pertussis, caused by Bordetella pertussis,
is a highly contagious, potentially
life-threat-ening respiratory illness and a major cause of
childhood morbidity and mortality, especially
in children under 6 months of age Despite the
long history of pertussis vaccination in
Viet-nam, thenumber ofreportedpertussiscasesstill
occur and and tend to appear in adolescents or
adults with acute or chronic cough A
conven-tinal PCR using specific primers BP1 and
BP2-showed 23.5% (28/102) of pediatric patients
were B.pertussis -PCR positive, including
chil-dren were less than 3 months (33,3%), not fully immunized (58,3%) and completely vaccina-tion schedule (8,3%) Most of the children pre-sented atypical symptoms and treated by anti-biotics when they hospitalized For the purpose
of early diagnosis, therefore, the general prac-titioners should be considered in patientswith persistent cough and/or fever In the future, the