Hai điểm hiện trường thử nghiệm này được thành lập nhằm mục đích thể hiện các ý tưởng và tiếp cận của dự án trên thực địa để tìm ra các phương pháp phát triển và quản lý bền vững các lâm
Trang 1Bài 9
Dự án sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ
tại hiện trường huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
Th.S Võ Thanh Giang Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường
Đại học Quốc gia Hà Nội
I Giới thiệu
1.1.Cơ sở của việc phát triển dự án lâm sản ngoài gỗ
Trong vài năm gần đây, nền lâm nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới Năm 1998, Chính phủ đã bắt đầu mở rộng việc thực hiện Chương trình 5 triệu hecta rừng Từ đầu năm 2000, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã hoàn thành xây dựng Chiến lược Quốc gia về Phát triển Rừng từ 2001 đến 2010, hướng tới “đẩy mạnh bảo vệ, phục hồi và phát triển rừng để tăng cường chức năng bảo vệ môi trường,
đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao
đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở các vùng rừng núi, tạo nền tảng quốc phòng vững chắc” Chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp với sự tham gia của trên 19 tổ chức tài trợ quốc tế cũng được soạn thảo kỹ lưỡng Trong tài liệu của những chính sách quan trọng này, lâm sản ngoài gỗ (LSNG) được coi là một phân ngành quan trọng của ngành lâm nghiệp
Trong công cuộc phát triển đất nước, Việt Nam đã thu được rất nhiều các thành quả đáng khích lệ, đặc biệt là các kết quả trong công tác xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng nông thôn
Tuy nhiên, cho đến nay, tại nhiều vùng đệm của các khu bảo tồn và vườn quốc gia, người dân vẫn đang phải đối mặt với những khó khăn trong đời sống hàng ngày Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng cũng phải đề cập đến một nguyên nhân là theo các quy định, người dân không được khai thác các sản phẩm lâm sản trong các khu rừng mà trước kia
họ còn được tự do sử dụng phục vụ cho nhu cầu trước mắt và lâu dài
Một vấn đề được đặt ra là người dân tại đây sẽ lấy gì để thay thế cho các nguồn thu từ rừng rất quan trọng với họ khi các sản phẩm lâm sản bị cấm hoặc hạn chế sử dụng
và khai thác Phải chăng việc sử dụng các lâm sản ngoài gỗ là một phương cách cho câu hỏi này?
Dự án “Sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ” là một dự án thử nghiệm nhằm tìm ra các phương pháp và tiếp cận mới cho việc sử dụng một cách hợp lý các lâm sản ngoài gỗ trên cơ sở phát triển bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học Dự án do Chính phủ Hà Lan tài trợ thông qua sự trợ giúp kỹ thuật của tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới - IUCN
Trang 2Việt Nam Dự án bắt đầu thực hiện từ tháng 7 năm 1998 và đã kết thúc vào tháng 6 năm
2002
Ngoài văn phòng chính được đặt tại Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản thuộc Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Việt Nam, dự án còn được thực hiện tại hai điểm hiện trường thử nghiệm tại vùng đệm Vườn Quốc gia Ba Bể thuộc tỉnh Bắc Kạn và vùng đệm Khu Bảo tồn Thiên nhiên Kẻ Gỗ thuộc tỉnh Hà Tĩnh, lần lượt do hai tổ chức Viện Kinh
tế Sinh thái (ECO-ECO) và Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (CRES) thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội phụ trách Hai điểm hiện trường thử nghiệm này được thành lập nhằm mục đích thể hiện các ý tưởng và tiếp cận của dự án trên thực địa để tìm
ra các phương pháp phát triển và quản lý bền vững các lâm sản ngoài gỗ cho các mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế
II Mục tiêu của dự án
Mục đích chính của dự án là bảo tồn rừng và đa dạng sinh học thông qua việc sử dụng bền vững về kinh tế và sinh thái các lâm sản ngoài gỗ, thông qua các mục tiêu:
Tăng cường năng lực: Tăng cường năng lực cho Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc
sản để trở thành một trung tâm đầu ngành về phát triển và sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ và năng lực cho các cán bộ của dự án tại hiện trường;
Quy hoạch và quản lý lâm sản ngoài gỗ: Tổ chức tại mỗi điểm thử nghiệm của
dự án một hệ thống quản lý thích hợp có sự hợp tác và tham gia của người dân để tăng cường và duy trì việc sử dụng bền vững các lâm sản ngoài gỗ;
Nâng cao nhận thức về bảo tồn và phát triển bền vững lâm sản ngoài gỗ: Phát
triển và thực hiện các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức về lâm sản ngoài gỗ cho những người tham gia tại các điểm thử nghiệm;
Quản lý dự án: Xây dựng và duy trì các hệ thống quản lý của dự án một cách hiệu
quả
Dự án sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ là một dự án nghiên cứu thử nghiệm
Do vậy, dự án đã cố gắng tìm kiếm, nghiên cứu và thử nghiệm các phương pháp bảo tồn
và phát triển bền vững các lâm sản ngoài gỗ trên thực địa các diểm hiện trường Chính vì vậy, các hoạt động của dự án, trên cơ sở các mục tiêu trên đều nhằm thực hiện các thử nghiệm này
Trong các hoạt động của dự án, nhiệm vụ của nhóm hiện trường Kẻ Gỗ là cùng với Văn phòng Dự án tìm kiếm các giải pháp thực tiễn để giải quyết các vấn đề về bảo tồn, phát triển, quản lý và sử dụng bền vững các LSNG, bao gồm:
Trang 3Thử nghiệm và xây dựng các phương pháp nhằm phát triển và khai thác bền vững các LSNG cho mục đích nâng cao đời sống của người dân, đồng thời làm giảm các tác
động xấu lên tài nguyên rừng và đa dạng sinh học
Tìm kiếm và thiết lập một hệ thống quản lý các LSNG một cách bền vững có sự tham gia của người dân
Nâng cao nhận thức của người dân và chính quyền địa phương về phát triển bền vững các LSNG và bảo tồn tài nguyên rừng
III Các tiếp cận của dự án
3 1 Dự án LSNG và mối quan hệ giữa bảo vệ rừng và phát triển nông thôn
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, các yêu cầu về bảo vệ các vùng đất rừng, nhằm nâng cao công tác bảo tồn đa dạng sinh học và các sinh vật quý hiếm đang ngày càng cấp thiết và được Nhà nước quan tâm Cho đến nay, trên cả đất nước có 25 vườn quốc gia và 96 khu bảo tồn thiên nhiên với tổng diện tích đất rừng lên đến 2.449.688 ha Cùng với các hoạt động tích cực của các tổ chức và cá nhân, nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá này đã được bảo vệ tốt và trên đà phát triển
Một vấn đề nẩy sinh là cuộc sống của những người dân sống gần các vườn quốc gia và khu bảo tồn đang gặp rất nhiều khó khăn do bị giảm các nguồn thu từ rừng mà họ
đã bao đời nay vẫn sử dụng Cây gỗ và các nguồn động vật hoang dã hiện bị cấm khai thác trong các vườn quốc gia và các khu bảo tồn và đang ngày càng cạn kiệt tại các vùng
đệm do bị sử dụng quá mức Vậy phải chăng các nguồn lâm sản ngoài gỗ ở các vùng
đệm sẽ là cứu cánh cho cuộc sống của người dân ở đây Sử dụng các nguồn lâm sản ngoài gỗ tại các vùng đệm một cách hợp lý sẽ làm nâng cao đáng kể cuộc sống của người dân trong vùng, làm giảm sức ép lên tài nguyên rừng
3 2 Thử nghiệm các phương pháp khác nhau
Phương pháp thực hiện dự án với hai hợp phần gồm Trung tâm Nghiên cứu Lâm
đặc sản và hai điểm trình diễn do hai cơ quan ECO-ECO và CRES quản lý Phương pháp này là phù hợp trên cơ sở năng lực còn hạn chế của Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản
và sử dụng các kinh nghiệm về phát triển vườn sinh thái của ECO-ECO và quản lý vùng
đệm có sự tham gia của cộng đồng của CRES
Phương pháp gắn nghiên cứu với các giải pháp kỹ thuật cùng với các biện pháp quản lý của cộng đồng được thực hiện tại các điểm hiện trường thông qua phương pháp vừa làm vừa học là phù hợp với mục tiêu của dự án là vừa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên vừa nâng cao đời sống kinh tế của người dân
Trang 43 3 Đối tượng tham gia của dự án
Nhiều hoạt động của dự án tạo điều kiện cho những người dân tham gia vào dự án bằng cách đóng góp đất đai và nhân lực Trong khi phát triển các mô hình mới, người dân phải chịu một số rủi ro Do đó ban đầu dự án lấy đối tượng tham gia là những người nông dân có kinh nghiệm và nhiệt tình thông qua các cuộc họp bình chọn của thôn kết hợp với các hoạt động trợ giúp các hộ nghèo Các hoạt động này có thể phải đối mặt với những thách thức:
(1) Việc tập trung vào những thành viên khá giả hơn trong cộng đồng có thể làm gia tăng khoảng cách giữa người nghèo và giàu
(2) Người nghèo sử dụng ít các LSNG hơn người khá giả và phải sử dụng sức lao
động nhiều hơn Tuy nhiên, người nghèo lại phụ thuộc nhiều hơn vào các nguồn thu nhập từ LSNG trong đời sống hàng ngày của họ
(3) Người nghèo không thể chịu được những rủi ro trong quá trình tham gia dự án
do họ có nguồn lực hạn hẹp và phải lo cho cuộc sống trước mắt Do vậy họ có xu hướng mong muốn tham gia các hoạt động đã được đánh giá là thành công hơn là tham gia vào thử nghiệm các mô hình mới
3 4 Hiện trạng các xã của dự án
Tổng hợp từ các điều tra kinh tế-xã hội các xã vùng đệm của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Kẻ Gỗ, so sánh với các tiêu chí của dự án, dự án đã quyết định thực hiện các hoạt
động hiện trường tại 2 xã Cẩm Mỹ và Cẩm Sơn của huyện Cẩm Xuyên
Cẩm Mỹ và Cẩm Sơn là 2 trong số 7 xã của huyện Cẩm Xuyên nằm trong vùng
đệm của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Kẻ Gỗ Đây là các xã nghèo, sống gần rừng và cuộc sống của người dân phụ thuộc nhiều vào các sản phẩm rừng
3 5 Xã Cẩm Mỹ
Xã Cẩm Mỹ nằm tại vùng đệm của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Kẻ Gỗ và có 6.900
ha đất rừng, trong đó có 3.700 ha rừng nghèo kiệt, 3.200 ha cây bụi Hiện tại chỉ có khoảng 500 ha trong số 3.200 ha cây bụi nói trên được chia cho dân Số diện tích còn lại
do xã quản lý Tuy nhiên, cho đến nay, xã chưa có một chính sách cụ thể nào để quản lý diện tích đất rừng này Vì vậy, rừng bị khai thác và tàn phá nặng nề Tham gia vào khai thác rừng không chỉ có dân trong xã mà cả dân ở các vùng khác Dân khai thác các sản phẩm ở cả rừng ở vùng đệm và trong Khu Bảo tồn Các sản phẩm được khai thác ở vùng
đệm chủ yếu là củi, than đốt, các dược liêu, mây Trong Khu Bảo tồn sản phẩm khai thác chủ yếu là song, hèo, mây, các loại gỗ quý, than củi, các loài động vật hoang dã
Xã có 11 thôn thì có 5 thôn cạnh rừng Dân ở các thôn này sống chủ yếu dựa vào
Trang 5cho dân Chỉ có một số rất ít các hộ thiếu lương thực 1-2 tháng trong năm Tuy nhiên, mỗi vụ dân chỉ làm nông nghiệp khoảng 2 tháng là hết việc, thời gian còn lại dành cho khai thác các sản phẩm rừng để tăng thu nhập Nhìn chung mức sống của dân khá Các gia đình đều có nhà xây kiên cố, đồ dùng và các tiện nghi sinh hoạt thông dụng Rừng
đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong thu nhập của gia đình, trang trải các khoản chi phí ngoài các nhu cầu cơ bản
Các hộ đều có diện tích đất vườn rộng, trung bình khoảng 700-1.000 m2 Nghề làm vườn không phát triển và đóng góp không đáng kể cho kinh tế hộ Một số hộ để vườn hoang Một số hộ khai phá đất đồi để lập trang trại nhưng lúng túng không biết phát triển trang trại theo hướng nào Đất đồi rừng bị thoái hóa và bạc màu nghiêm trọng cho nên năng suất cây nông nghiệp như sắn, khoai rất thấp Các cây lâm nghiệp được trợ giúp qua chương trình 327 và một số chương trình khác là bạch đàn, thông, keo Bạch
đàn đang góp phần làm cho đất thêm nghèo kiệt, còn thông có giá trị kinh tế thấp và mặc dầu vậy cũng chỉ cho thu nhập sau 15-20 năm trồng Một số dự án nhỏ khác (4304
và dự án của phát triển vùng đệm) cung cấp giống cây ăn quả có chất lượng cao cho dân
và bước đầu đã có hiệu quả Tuy nhiên, chỉ có một số ít hộ được hưởng lợi từ dự án Dân không biết kiếm giống ở đâu, trồng cây gì và trồng như thế nào? Vì vậy tiềm năng đất
đai ở trong xã vẫn không được khai phá một cách hữu ích
Kết quả điều tra về vai trò của nghề rừng đối với kinh tế hộ cho thấy:
Đốt than Tất cả các hộ trong thôn 4 (114 hộ) đều có thu nhập từ rừng và chủ yếu
từ nghề đốt than 2/3 số hộ nói trên tham gia đốt than: 1/3 đốt than quanh năm, 1/3 đốt than trong thời gian nông nhàn Cả trẻ em và phụ nữ cũng tham gia đốt than Một học sinh khỏe mạnh có thể kiếm khoảng 2 triệu đồng trong kỳ nghỉ hè Rừng ngay gần làng (5 km), sáng đi rừng, chiều về là có tiền ngay Người khỏe mạnh có thể kiếm 50.000
đ/ngày, người yếu cũng được 30.000 đ/ngày Dân thường dùng cưa để hạ cây Cây có
đường kính thân từ 5 cm trở lên là có thể dùng để đốt than
Than chủ yếu cung cấp cho thị trấn và thị xã Những người buôn than thường đến
điểm thu mua ở ngay trong thôn vào tầm 3-4 giờ chiều bằng xe đạp Họ buôn than về thị trấn hoặc thị xã, bán cho các điểm tiêu thụ thường xuyên và thu lãi khoảng 10.000-12.000 đồng Khoản tiền này được coi là xứng đáng cho 1/2 ngày công đối với những phụ nữ trẻ
Ngành kiểm lâm cũng có luật cấm chặt củi rừng đốt than, nhưng luật không nghiêm, không được kiểm tra thực thi thường xuyên Theo người dân thì trong 2 năm qua, chỉ có một lần, kiểm lâm về cấm người đi mua than Ngay sau ngày đó mọi việc lại diễn ra như cũ, tụ điểm mua bán than vẫn hoạt động hàng ngày
Nhiều người dân trong làng nhận thức rất rõ tác hại của đốt than củi đối với tài nguyên thiên nhiên và tương lai của thế hệ sau Theo tính toán của họ, có được 50 kg
Trang 6than thì phải đốt hết khoảng 700-800 kg củi Nếu tính toàn bộ lượng sinh khối của rừng
bị mất đi để có khối lương than nói trên thì con số còn lớn hơn nhiều Theo ý kiến của trưởng thôn 4 thì chính quyền huyện, xã và kiểm lâm cần phối hợp chặt chẽ để đưa ra biện pháp cấm đốt than có hiệu quả Bằng không, với tốc độ làm than củi như hiện nay thì 10 năm sau rừng ở vùng đệm sẽ hết
Khai thác củi. Củi cũng là sản phẩm rừng quan trọng, đứng hàng thứ 2 sau than Củi được dùng không chỉ cho nhu cầu chất đốt của gia đình, mà còn để bán Tất cả các gia đình đều chặt củi ở rừng cho nhu cầu chất đốt hàng ngày Một số hộ để bán Khai thác củi không phải đi vào rừng sâu như khai thác các sản phẩm khác Các cây bụi to
đều được chặt để làm củi Đốn củi chủ yếu là việc của phụ nữ và trẻ em Trong xã không
có điểm tiêu thụ củi, người hái củi phải đem ra chợ huyện Bình quân một ngày 1 người
có thể kiếm được 20.000 đồng Việc khai thác và bán củi ở đây rất dễ dàng, chưa có một
điều luật rõ ràng và có hiệu lực nào của chính quyền địa phương hay của kiểm lâm về cấm hái củi ở khu rừng ở vùng đệm hay Khu Bảo tồn Vì vậy kiếm củi bán cũng là một nghề quan trọng để tăng thu nhập cho phụ nữ trong những ngày nông nhàn
Khai thác song mây, cây thuốc và quả rừng Việc khai thác song, hèo và mây ngày
một ít hơn vì ngày càng phải đi sâu vào rừng cấm thì mới có Mây tắt do tái sinh nhanh nên trữ lượng ít bị cạn kiệt hơn Thường thì chỉ khi nào có khách mua đến đặt cọc để mua hàng thì dân mới đi khai thác
Nguồn cây thuốc ở trong vùng đệm và Khu Bảo tồn còn khá phong phú Tuy nhiên việc khai thác dược liệu cũng chỉ diễn ra theo mùa vụ và khi có khách đến đặt mua trước Trong bảng tính thu nhập trên của các thông tin viên chủ chốt, nguồn thu nhập từ cây thuốc không cao vì chưa đến thời vụ Theo số liệu điều tra trong tháng 5 năm 2002
từ một người thu gom dược liệu ngay tại trong làng thì ô dược và thạch xương bồ là 2 sản phẩm dân khai thác với số lượng lớn vào tháng 1-2 Ông ta chỉ thu mua các sản phẩm có số lượng nhiều, đủ 1 xe tải trong vài ba ngày Các sản phẩm có số lượng quá ít thì người khai thác tự tiêu thụ Các sản phẩm được khai thác với số lượng lớn thường là loài có khả năng tái sinh nhanh, dễ khai thác Tuy nhiên, vì không có ý thức khai thác bền vững mà chạy theo nhu cầu thị trường cùng với việc tàn phá rừng nên trữ lượng của các loài dược liệu nói chung đều giảm dần
Quả rừng cũng là nguồn thu nhập của các hộ Quả chủ yếu dùng cho nhu cầu của gia dình Dân thường chặt cây để thu quả và sau đó dùng thân cây để đốt than luôn
Săn bắn động vật rừng Săn bắn thú rừng bị cấm Trong xã không ai được quyền sử
dụng súng săn Song dân vẫn bắt động vật rừng bằng bẫy Việc săn bắt này đòi hỏi phải
có kỹ năng tốt Trong thôn chỉ có một số ít các hộ có nguồn thu nhập từ bẫy động vật rừng, chủ yếu là các loài chim, hươu nai, lợn rừng, nhím Chim thường được bán ngoài chợ thị xã và thị trấn, còn thú rừng thì tiêu thụ ở các nhà hàng
Trang 7Tóm lại đánh giá về đời sống kinh tế, các hạn chế và tiềm năng của xã Cẩm Mỹ có thể rút ra mấy nét chính sau:
- Mức sống của dân nhìn chung cao hơn ở các vùng nông thôn khác, và đặc biệt cao so với dân ở xã Khang Ninh, Ba Bể Phần lớn các hộ đều có nhà gạch, với đầy đủ tiện nghi hiện đại như TV, cát sét, quạt điện
- Diện tích lúa bình quân đầu người không cao nhưng cũng cung cấp gần đủ lương thực, nếu có đầu tư thâm canh thì chắc chắn có dư
- Quỹ đất đồi rừng còn rất lớn Đất đồi rộng, ai muốn khai phá trồng trọt bao nhiêu thả sức Địa hình đất bằng phẳng, đồng nhất
- Cơ sở hạ tầng tương đối thuận lợi Tất cả các gia đình có điện lưới Xã gần thị trấn và thị xã nên việc giao lưu văn hóa, lưu thông hàng hóa thuận lợi
3 6 Xã Cẩm Sơn
Là xã giáp ranh với Khu Bảo tồn và có diện tích đất rừng rất lớn: 5.562 ha, trong
đó có 1.200 ha đất trống và số còn lại là rừng nghèo kiệt Đất nông nghiệp rộng, song năng suất không cao nên chỉ đủ ăn chứ không có dư thừa nhiều Toàn xã có 1.126 hộ thì
có trên 250 hộ sống dựa vào rừng, nhiều nhất là ở các thôn 1 và 2
Tương tự như ở Cẩm Mỹ, xã không có một chính sách cụ thể nào về quản lý rừng Quyết định số 1267 của tỉnh cấm khai thác gỗ và đốt than Tuy nhiên không có sự giám sát chặt chẽ trong thi hành luật từ phía kiểm lâm cũng như chính quyền xã nên việc khai thác các mặt hàng trên diễn ra công khai hàng ngày Tham gia vào khai thác rừng không chỉ có dân trong xã mà còn từ nhiều vùng khác đến Tại một điểm trông xe ở cửa rừng vào giữa thời điểm thu hoạch lúa mùa bận rộn mà vẫn có 45 xe đạp của những người khai thác gửi Theo thông tin của người trông xe đạp thì trung bình trong thời gian nông nhàn có 150-200 xe/ngày, lúc cao điểm có tới 300-400 xe Dân khai thác các sản phẩm như gỗ, than, song mây, cây dược liệu, củi, lá nón Người khai thác củi và dược liệu có thể sáng đi chiều về Còn những người khai thác gỗ và song phải đi sâu vào rừng của Khu Bảo tồn 20-30 km và ở trong rừng 3-5 ngày Một người khỏe mạnh đi khai thác gỗ
có thể kiếm được khoảng 50.000 đ Gỗ quý được khai thác ở trong Khu Bảo tồn chủ yếu
là vàng tâm, chò chỉ, de và dổi, sến Khảo sát thôn 1 và thôn 2 cho thấy thời gian làm ruộng lúa chỉ khoảng 3-4 tháng trong năm Do rất ít người có nghề phụ nên thời gian còn lại họ đều đi rừng Tuy quỹ đất của thôn 1 rất nhiều nhưng chỉ có 12 trong số 145 hộ của thôn làm trang trại rừng 80% số hộ này vào rừng khai thác khi có thời gian Thôn 2
có 70% trong số 140 hộ khai thác rừng bất cứ lúc nào họ có thể Đất lâm nghiệp gần làng hạn chế, nên để xây dựng trang trại rừng họ phải đi 4 km Cả thôn mới chỉ có 1 hộ làm vườn rừng, mặc dù chính quyền xã đã vận động nhiều lần Riêng thôn 2 có 12 hộ đã xây dựng vườn rừng Một số hộ làm vườn rừng đã 3 năm nay và bước đầu có thu nhập từ
Trang 8những cây ăn quả ngắn ngày Cũng như các hộ làm trang trại ở Cẩm Mỹ, họ có rất nhiều khó khăn trong việc vay vốn đầu tư ban đầu, thiếu kiến thức về thị trường, kỹ thuật trồng
và chăm bón cây Họ đều ý thức được rằng việc xây dựng trang trại sẽ có tương lai lâu dài, thu nhập bền vững, còn nghề khai thác rừng sẽ ngày một khó khăn và sẽ chấm dứt trong một tương lai gần
Tóm lại xã Cẩm Sơn cũng có các điều kiện dân sinh kinh tế, các tiềm năng và hạn chế tương tự như ở Cẩm Mỹ Cái khác ở đây chính là xã nằm ở vị trí cửa rừng, thuận lợi cho việc khai thác và vận chuyển hơn Vì vậy dân ở rất nhiều xã không thuộc vùng đệm cũng tập trung về đây khai thác Nếu như ở Cẩm Mỹ dân chỉ tập trung đốt than và thu củi là chính thì ở Cẩm Sơn gỗ quý và song hèo cũng là 2 những mặt hàng được khai thác mạnh vì có điểm tiêu thụ thường xuyên
IV Phân tích các mối đe dọa, tiềm năng, hạn chế và chiến lược phát triển
Cẩm Sơn và Cẩm Mỹ có sức ép đối với rừng quá lớn, rừng đóng góp phần lớn cho thu nhập của gia đình Các mối đe dọa chính đối với rừng ở 2 xã này là:
- Đốt than củi với tốc độ ngày một tăng ở cả rừng thuộc khu vùng đệm và Khu Bảo tồn;
- Khai thác các loại gỗ quý và song mây trong Khu Bảo tồn;
- Khai thác củi ở các khu rừng vùng đệm giáp ranh với Khu Bảo tồn;
- Săn bắn các động vật hoang dã trong Khu Bảo tồn;
- Thu hái quá mức các dược liệu và một số LSNG khác
So sánh dân sinh-kinh tế-xã hội của dân ở Khang Ninh, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
với dân sinh-kinh tế-xã hội của các hộ ở Cẩm Sơn và Cẩm Mỹ trong mối liên quan tới bảo tồn có thể thấy
Tại Khang Ninh
- Mức thu nhập bình quân trên hộ chỉ bằng 1/2 ở 2 xã nói trên Phần lớn các hộ thiếu lương thực 1-2 tháng Có những hộ thiếu ăn 6 tháng/năm Mọi thu nhập đều dành cho các nhu cầu cơ bản
- Quỹ đất rất hạn chế Đất canh tác nông nghiệp rất ít Địa hình xã chia cắt, độ dốc lớn, đất canh tác manh mún nên đòi hỏi chi phí nhiều sức lao động Dân lao động vất vả quanh năm, các gia đình đều thiếu lao động
Trang 9- Tuy nhiên, luật bảo vệ rừng được giám sát thực thi tốt Không có hiện tượng vào khai thác các sản phẩm trong vườn quốc gia công khai
Trong khi đó, tại Cẩm Sơn và Cẩm Mỹ
- Mức sống của dân cao Nhìn chung các gia đình có đủ lương thực, nhà cửa khang trang với đầy đủ các tiện nghi sinh hoạt
- Quỹ đất đồi rừng lớn, không hạn chế đối với các hộ muốn xây dựng trang trại
Đất trồng lúa và màu cung cấp đủ lương thực cho dân, nếu có thâm canh tăng vụ thì còn
có khả năng dư thừa
- Đất nông nghiệp liền bờ liền khoảnh, thủy lợi tốt, một số kỹ thuật canh tác bằng cơ giới được áp dụng, thời gian làm nông nghiệp chỉ 3-4 tháng trong năm Thời gian nông nhàn 7-8 tháng/năm
- Luật bảo vệ rừng không được củng cố thực thi tốt Không chỉ dân địa phương mà cả dân ở vùng khác đến khai thác rừng công khai
Như vậy ở đây có thể thấy rất rõ là người dân đi khai thác các sản phẩm của rừng không phải do thiếu ăn, mà là để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng khác Nhu cầu này sẽ ngày một tăng cùng với sự phát triển của xã hội Nhờ cơ giới hóa và các kỹ thuật canh tác nông nghiệp tiến bộ cùng với tốc độ gia tăng dân số cao, thời gian nông nhàn ngày càng tăng và vì vậy tốc độ phá rừng cũng sẽ ngày một tăng nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời Để ngăn chặn nạn khai thác rừng bừa bãi cần phải tiến hành một biện pháp tổng hợp và đồng bộ Chính quyền địa phương cần kết hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp, các dự án phát triển nông thôn trên địa bàn để xây dựng chiến lược bảo tồn tổng hợp đồng thời không ngừng nâng cao mức sống cho dân Chiến lược bảo tồn rừng và đa dạng sinh học của dự án sử dụng bền vững LSNG phải nằm trong khuôn khổ chiến lược chung của cả vùng
4.1 Các hoạt động nhằm vào mục tiêu bảo tồn và phát triển các lâm sản ngoài gỗ
Các hoạt động tại hiện trường Kẻ Gỗ trong 3 năm qua được thực hiện dựa vào bản
Kế hoạch hoạt động theo từng năm của Văn phòng Dự án, thông qua bản Kế hoạch hoạt
động từng năm của hiện trường Kẻ Gỗ Các hoạt động đó lại được thể hiện chi tiết hơn tại các bản kế hoạch hoạt động từng quý của hiện trường Kẻ Gỗ
Các hoạt động trong năm 2000 tại hiện trường Kẻ Gỗ là kế tiếp các hoạt động đã
được thực hiện trước đó trong năm 1998 và 1999 và được chỉnh lý dựa trên các đánh giá
và khuyến cáo của các nhóm chức năng của Văn phòng Dự án, các khuyến cáo của các
đoàn đánh giá nội bộ và từ bản thân nhóm hiện trường Các hoạt động đó, cuối cùng,
đều dựa vào các mục tiêu của dự án, thể hiện trong các văn kiện của dự án
Trang 10Vào năm 2001, phát huy các kết quả đã đạt được từ các năm trước tại Kẻ Gỗ, nhóm hiện trường đã tiến hành mở rộng các thử nghiệm phát triển các loài LSNG với cộng đồng người dân trên cả hai bình diện số hộ tham gia, diện tích đất và số loài cây trồng
Sang năm 2002, các hoạt động tại hiện trường tập trung tổ chức cho người dân nghèo vay vốn và củng cố các kết quả thu được trong các năm trước, chuyển giao vốn cho các chi hội phụ nữ thôn và tổ chức tổng kết
4.2 Nâng cao năng lực cho cán bộ hiện trường
Việc nâng cao năng lực lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, giám sát và đánh giá các hoạt động tại hiện trường cho các cán bộ hiện trường là rất cần thiết và quan trọng Đối với hiện trường Kẻ Gỗ, điều đó lại càng quan trọng hơn do đặc thù của các cán bộ hiện trường phần lớn là cán bộ hoạt động tại địa phương, chưa có nhiều kiến thức về các vấn
4.3 Tham gia các đợt tập huấn do Văn phòng Dự án tổ chức
Nhóm hiện trường đã tạo điều kiện cho tất cả các thành viên tham gia các lớp tập huấn do Văn phòng Dự án tổ chức Bao gồm:
4 Khóa tập huấn về phương pháp điều tra nông thôn có sự tham gia tại Ba Bể
5 Tập huấn về phân tích và phát triển thị trường tại Sa Pa
6 Khóa tập huấn về kế hoạch hóa, kỹ năng kiểm tra đánh giá hoạt động và báo cáo tại Vườn Quốc gia Ba Vì
7 Khóa tập huấn về các hoạt động về giới tại huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh
Thông qua các khóa tập huấn này, các cán bộ hiện trường đã được tiếp cận với các phương pháp mới nhằm phục vụ cho các hoạt động tại hiện trường
Mặt khác, các cán bộ hiện trường còn được trao đổi, bàn bạc, rút kinh nghiệm với các nhóm khác của dự án và các cán bộ địa phương nơi tổ chức tập huấn
4.4 Các hoạt động tự đào tạo của văn phòng hiện trường Kẻ Gỗ
Dựa theo yêu cầu công việc, nhóm hiện trường đã tổ chức (nhiều khi có sự trợ giúp của các nhóm của Văn phòng Dự án) các đợt nâng cao năng lực cho các cán bộ về các
Trang 11phương pháp tiếp cận, điều tra, thu thập thông tin, các kỹ thuật nông lâm nghiệp Các hoạt động này được thực hiện trong các cuộc điều tra hiện trường, trong các đợt trao đổi tại văn phòng hiện trường, hay trong các đợt tập huấn kỹ thuật cho người dân tham gia, cũng như trong các đợt đi tham quan, bao gồm:
1 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và đánh giá nông thôn có người dân tham gia (PRA)
2 Phương pháp lập kế hoạch hoạt động tại thôn cho phát triển LSNG
3 Phương pháp giám sát đáng giá các hoạt động
4 Phương pháp điều tra đa dạng sinh học ngoài thực địa
5 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu về giới
6 Kỹ thuật ươm và chăm sóc cây ươm cho cây mây tắt
7 Kỹ thuật trồng và chăm sóc sắn dây qua các giai đoạn sinh trưởng
8 Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây khoai mài
9 Kỹ thuật nuôi ong mật
Ngoài ra, văn phòng hiện trường còn được cung cấp các tài liệu, sách báo khoa học kỹ thuật phục vụ cho các hoạt động Các tài liệu này được được bổ sung theo thời gian
Các hoạt động trồng các cây LSNG đã được sự hợp tác và trợ giúp rất nhiều của Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện, các UBND xã, các cán bộ thôn và các chi hội phụ nữ thôn Các hoạt động của dự án đã được đưa ra bàn bạc trong các cuộc họp tại huyện
và các xã tham gia dự án Tuy các hoạt động này không tác động trực tiếp đến các hoạt
động của dự án, nhưng chúng có tác động gián tiếp, tạo động lực và tạo sự dễ dàng cho các cán bộ hiện trường tại các điểm trình diễn
Trang 12Việc thành lập và đưa vào hoạt động mô hình KNTS đã được các cấp chính quyền
địa phương ủng hộ hết lòng, từ UBND huyện và các xã, Phòng Địa chính, Kiểm lâm, Ban Quản lý Khu Bảo tồn, Hội Cựu chiến binh huyện và các hội cựu chiến binh các xã
và thôn Các văn bản liên quan đến mô hình phát triển KNTS đã giúp cho hoạt động này của dự án có một hành lang pháp lý để hoạt động và góp phần làm cho các công việc đi
đúng hướng
5.1 Các hoạt động tuyên truyền
Các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ tài nguyên, phát triển bền vững các LSNG của dự án đã được nhóm hiện trường Kẻ Gỗ thực hiện theo các hướng:
1 Xây dựng 6 biển tường ở 3 xã trên các tuyến đường có nhiều người dân đi vào rừng để tuyên truyền về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và về dự án Ngoài ra, tại các trại của khu KNTS ở 2 xã cũng xây dựng được 3 biển tường để nêu mục tiêu của các hoạt động KNTS
2 Các tuyên truyền về sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên LSNG nói riêng được lồng ghép trong các đợt tập huấn kỹ thuật, trong các đợt đi tham quan và trong các cuộc gặp mặt người dân tham gia dự án và người dân trong thôn
3 Việc tuyên truyền phổ biến về các hoạt động của dự án tại Cẩm Xuyên cũng
được đài truyền hình Hà Tĩnh phát 4 lần, trên đài truyền hình trung ương 1 lần
Đã có 3 bài báo và tạp chí của Hà Tĩnh đề cập đến các hoạt động của dự án tại hiện trường Kẻ Gỗ
Từ các hoạt động trên, sự hiểu biết của người dân trong vùng về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, về các hoạt động của dự án được nâng cao hơn Các hoạt động của
dự án tại hiện trường qua đó đã được người dân hưởng ứng, tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm hiện trường hoàn thành nhiệm vụ
Một điều cần phải suy nghĩ là các hoạt động nâng cao nhận thức của dự án nói chung và nhóm hiện trường nói riêng tại Kẻ Gỗ còn chưa có tính hệ thống Chính vì vậy, kết quả của công tác này còn ở một mức độ khiêm tốn