1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

DSpace at VNU: Mạng lưới xã hội của người cao tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

17 233 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 7,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DSpace at VNU: Mạng lưới xã hội của người cao tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay tài liệu, giáo án, bài giảng , luận...

Trang 1

M ẠNC LƯỚI XÃ HỘI CỦA NGƯỜI C A O TUỎ1

Ớ THÀNH PHÓ HÒ CHÍ MINH HIỆN NAV

Nguyễn Thị Thanh Tùng

Khi tìm hiểu vé mạng lưới xã hội, các nhà nghiên cứu thường tập trung vào các đôi tượng yểu thể trong xâ hội như lao động di cư, phụ nữ nghèo và người cao tuôi là m ột trong số các đối tượng được quan tâm Tuổi già trong xã hội thường được xcm xét ở ba câp dộ với cac đặc điểm chung: Ở cấp độ cố nhàn, tuổi già được đánh dấu bởi sự suy giảm sự sắc bén của các giác quail, sụ nhanh nhạy của các dây thân kinh vận dộng và sự suy giám khả năng nhận thức; Ở cấp độ gia đình, tuổi giả được đặc trưng bởi sự tương tác liên thế hệ, về các vai ưò cũng như sự thay đổi khả năng và trách nhiệm trong gia đình; Ở cấp độ mạng lưới xã hội, những đặc trưng là

sự tiêu hao liên tục những mối ràng buộc xã hội, sự gia tăng những khó khăn của những người cao tu ổ i trong việc thực hiện những hoạt dộng xã hội để duy trì nhừng môi liên kêt xã hội, sự suy giảm ca hội phục hồi cảc quan hộ xã hội và thiết lập các quan hệ m ớ i' K êt quả lả khó khăn cho người cao tuổi duy trì sự chủ động cá nhân của họ trong những hoạt động sống hàng ngày, trong dó việc thực hiện nhiệm vụ duy trì mạng lưói xã hội là vô cùng cần thiết để giữ vừng được những m ối quan hệ

và mạng lưới này sẽ có ý nghĩa rất lón dối với cuộc sống của họ

Bài viế t được trích tử một nghiên cứu về người cao tuổi cùa tác giả dựa trên khào sát hai địa bản (nội thành và ngoại thành) tại thành phố H ồ Chí M inh

1 Các đặc trưng mạng lưói *a hội của ngưòi cao tuổi

ì ỉ Gia đình

ì ì ì Quy môsự phan bố không gian

Gia đinh là thảnh tô đâu tiên câu thành nên mạng lưới xã hội của người cao tuôi Đây cũng là thành tố quan trọne trong việc hỗ trợ cuộc sống của họ Xét về

* ĩ h S trường Dại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố n ồ Chí Minh

1 Xem luận văn thạc sỹ N guyễn Hoài Dung 2006, Mạng lưới xã hội của n g ư ờ i cao tuồi ở

th à n h p h u Q u y N h ơ n h iệ n nay. Đại học Khoa học xã hộ] và nhân văn, Thành phá Hồ Chí Minh, trang 15.

779

Trang 2

VIỆT NAM H Ọ C - K Ỷ Y Ế U HỘI T H Ả O Q U Ỏ C TỂ LẦN T H Ứ T Ư

quy mô gia dinh, bài v iể t tỉm hiểu trên các khía cạnh: sổ lượng thành viên hiện có ứong gia đình vả săp xếp dời sống gia dinh ở người cao tuổi

K ết qưả khảo sát cho thấy, số thành viên trung bình trong một gia đình cùa người cao tuổi là 4,78 người Trong dó, gia đình có từ 1-3 người chiếm 34,6%, từ 4­

6 người chiếm 48,8% , từ 7-9 chiểm 13,7% và trên 10 người chi chiếm 2,9% Nhìn chung đại đa số người cao tuổi ở đô thi đang sống trong những gia đình m ột, hai hoặc ha thế hệ (ông bà, cha mẹ và cháu)

K hía cạnh thứ hai khi tìm hiểu về quy mô gia đỉnh đó là sắp xếp đời sống gia dinh ở người cao tuổi, sáp xếp đời sống gia dinh có nghĩa là sự thu xếp hay sáp đặt cho phép người ta sống chung với người khác, chia sẻ và ở cùng với người khác trong cùng m ột mái nhà hoặc chọn cho mình m ột hỉnh thức sống thích hợp Săp xêp dời sống gia đỉnh chịu sụ chi phối của khuôn mẫu văn hóa và xã hội trong một xã hội nhất định K huôn mẫu văn hóa và xS hộì lại liên quan đến một hệ tri thức, giá tri, chuẩn m ục và cấu trúc xã h ộ i1

N ghiên cứu về tu ổ i già ở khu vực Đ ông N am Á năm 2007 đã chỉ ra ràng, đối với người cao tuối, sắp xếp đời sống gia đỉnh có tầm quan trọng đặc biệt Trong đó, sắp xếp dời sống gia đình theo kiểu truyền thống là m ột trong những biện pháp an sinh mạnh nhất và an toàn nhất cho người cao tuổi Khảo sát về sắp xếp đời sống gia đình ở người cao tuổi, tác giả thu được con sổ như sau: gần m ột nửa người cao tuổi đang sống vớ i vợ/chồng và con cái, tiếp dến là sống ừong m ột đại gia dinh, bao gồm: vợ/chồng, con cái và cháu (22,5% ); chi sống vởi con (trong trường hợp góa

bụa hoặc ]y h ô n/ly thân) (2,5% ) Như vậy, kiều sàp xếp p h ổ biến hiện nay vân ìà

sống chung vớ i người bạn đ ờ i và con châu Trong đỏ, sống tro n g g ia đình họt nhân (gồm bổ mẹ và con cái) chiếm đa sổ Tư tưởng "trô cậy cha, già cậy con" vẫn còn in

dậm trong quan điểm sống của hầu hết người cao tuổi - dặc biệt là các cụ ở ngoại

thành vì "ngày xưa ỉàm nóng dân thì lây đầu ra tiên vê già N u ô i nó lớn đên khi các

cụ g ià con cha ụ nó n u ôi lọ i" (Nam, 73 tuổi).

Cũng giống như ở đồng bằng sông Hồng, khuynh hướng thiên về họ nội vẫn phổ biến Gần 2/3 ý kiến trong mẫu nghiên cứu cho biết là hiện đang sông với con trai Như vậy trên thục tế, bố mẹ sống vớ i con trai - nhất là vớ i con dã ket hôn - vân chiếm số lượng dông nhất ở người cao tuổi tại dja bàn khảo sát Người cao tuôi cho ràng chỉ trong trường họp hy hữu như con trai không có thì mới phải ở vớ i con gái

mặc dù họ đều thừa nhận con gái là người chăm sóc, yêu thương bô mẹ nhẩl: 'Bác

thì p h ả i ờ với con tr a i rồ i chớ không ở vớ i con g á i được Thí dụ nhu bác bây g iờ

] Đùi Thế Cường, 2005, Trong miền an sinh xã hội - Nghiên cứu về tuổi già ở đồng băng sòng

Hồng, Nxb Dại học quổc gia Hả Nội, trang 59.

780

Trang 3

M A N G LƯỚI XA HỒI CỦA NGƯỜI CAO TUỔI Ở TH Ả N H P H Ố HỒ C H l MINH

ỉa họ Nguyên, Sanh dứa con gái, nó có chồng, chồng nỏ họ Bùi Ba đ ờ i sau, hon dpi sau c á i dòng họ Nguyền này không còn biết nữa, mà ngieòi ta biết họ Bùi th ô i"

(N am , 78 tuổi) T u y nhiên, tại thời diểm khảo sát, kết quả phân tích cũng cho thấy khủng ít người cao tuổi hiện đang sống với con gái Theo các cụ, con gái lả người

gân gũi de bô Tĩiẹ chia sè, tâm tình, là người "thương bổ mẹ", săn sàng "quan tâm,

chăm sóc bố m ẹ" (Nam , 68 tuổi) lúc ốm dau, ]o miếng cơm miếng nước, có gì ngon

cũng mang cho bố mẹ.

Sống riêng cũng là hình thức săp xếp gìa đình hiện dang tồn tại Khảo sát chi

ra, hiện có tới 10% các cụ đang sông riêng củng với vợ/chông, 33% các cụ sống

một minh vả 16,3% các cự sống dưới hình thức khác (sống nhờ bà con, làng xóm,

trong các cơ sở tôn giáo) Có nhiều lý do dẫn tới thực tế kiểu sáp xếp này như những mâu ihuẫn trong sinh hoạt gia đình, người cao tuổi thích tự do hay bị con cái ruồng bò

K iểu sẳp xếp dời sống gia dinh "m ột m inh" lẩn lơợl xuất hiện ở cả ba nhóm

tuổi, trong đó chiếm tỷ lệ trộ i hơn ở nhóm tuồi lem: " Tích cóp ph òn g cơ, dưỡng nhi

để lão - nghĩa là n u ôi con lớn để rồ i con lợ i nuôi mình Nhung mà nuôi con ỉớn là nghĩa vụ của cha mẹ còn n u ôi lọ i mình không p h ả i là nghĩa vụ cùa con Cổ trường hợp cha mẹ có nhà đất nhưng mà con vẫn bó cha, bò mẹ ra chuồng bó ngủ Cũng không thiểu các trư ờng hợp cha mẹ sau khi chia đắt cát cho con, chuyến sở hữu cho con r ồ i thì alê, đì ra ngoài, ở đáu thì ở " (Chủ tịch H ội người cao tuổi trong m ột

phường nội thành)

/ Ị 2 M o i quan hệ tro n g g ia đình

Đ ối với người cao tu ổ i, quan hộ trong gia dinh là m ối quan hệ đầu tiên và gần gùi nhất Xem xét m ối quan hệ này, tác giả dựa trên ba tiéu chí: thời gian sống chung giữa các thành viên, giao tiáp trong gia đình và quyết định, hỏi ý kién các công việc quan trọng

• Thời gian sổng chung

T ìm hiểu về thời gian sổng chung với con của người cao tuổi, khảo sát cho thây, tỳ lệ người cao tuổi sống cùng con trên 10 nảm chiếm số lượng nhiều nhất (54,3% ), sau đó là từ 3-6 năm (23,7%), dưới 1 năm chiếm số lượng rất it (3,5% ) Sụ

di chuycn chỗ ở từ người con này sang người con kia, hoặc từ sổng m ột mình nhưng

do sức khóe yếu phài theo con là nguyên nhân giải thích vẩn đề K hông ít các cụ

gặp một số trường hợp đau lỏng; "Binh thường mà còn khỏe, ăn nhiều, nó đ u ổi cồ

đi Đên khi làm có tiên nó lọ ỉ bào tu i là (ra i írirờng đỏ, tu i cá quyên tu i nuôi Rôi cái lúc bệnh đau nó không nuôi đâu Chết á, chuân hị lây tiền cúng viếng thì nổ rước vể nhà đế nỏ ỉ à con trai, nó đứng ra nó đề tang" (Nam, 78 tuổi).

781

Trang 4

VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘ I T H Ả O Q UỐ C TÊ LẲN T H Ứ T ư

Thời gian sống chung với con còn có sự khác biệt kh i chia theo nhỏm tuôi, nghề nghiệp và dịa bàn cư trú của nguời cao tuổi trong mẫu Các cụ tuổi càng cao thì có thời gian sống chung vớ i con càng lâu thể hiện qua tỷ lệ cao nhất ờ cảc cụ

nhóm tuổi 80-89 sống với con trên 10 năm Những cụ trong nhóm nghê nghiệp chính thức và phi chính thức có thời gian sống chung vởi con ngản hơn so với nhóm nghề nghiệp còn lại Nguyên nhân xuất phát từ sự phụ thuộc vào kinh tế cùng như

mối quan hệ giữa các thành viên trong gia dinh '."Người cao tu ồ i phường mình ngày

xưa làm nâng dân í h i lắy đâu ra liề n về già G iờ m ọi thứ p h ụ thuộc vào con D o đó, người cao tuổi ờ phường mình có qưy luật là con cháu n u ôi không N u ô i nó lớn đén khi các cụ g ià con cháu nó n u ôi lọ i" (Chủ tịch H ội người cao tuổi ở m ột phường

ngoại ihành),"Neu là ở thành phó th ì chăc ỉà không đâu Ở nông thôn thì cỏ Nêu

các óng bà g ià mốt sức lao động r ồ i thì làm vườn ru ộ ng chắc phụ thuộc vào con Tói là cán bộ cổng nhân viên, nếu mà n ó i trong khoảng này th i bố mẹ không phụ thuộc con Nhưng nếu mà anh thất nghiệp thì chắc p h ả i theo c o n " (Nữ, 62 tuổi).

• Giao tiếp trong gia đình

Giao tiếp là nhu cầu càn th iế t của con người nhằm xác lập m ối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng xã hội Thông qua giao tiếp, m ọ i tình cảm, xúc cảm trong các m ối quan hệ biểu hiện rỡ ràng hơn Đ ối với người cao tuổi, nhu cằu giao tiếp càng cao hơn bao giờ hểt N g h i hưu đồng nghĩa với cẳt đứt nhiều m ối quan hệ: công việc, dồng nghiệp, bạn bè; có thời gian rỗi nhiều hơn v ì vậy cũng có nhu cầu được tâm tình, chia sè nhiều hơn Người cao tuổi cần có con cháu quay quần, cần một không khí giao tiáp thân mậí, ấm củng trong gia dinh

Kết quả nghiên cứu cho thấy con cái đi thăm bố mẹ hàng ngày cao hơn bố mẹ

lớ i thăm con (41,3% so vớ i 39,6% ) Tuơ ng tự, tỷ lệ cũng cao hcm vớ i con di thăm bố mẹ 1-2 lần7tuần (20% so v ó i 13,3%) Các cụ cho b iế t: thứ nhất, do con cái sống gần nhà nên có chuyện gì cũng chạy qua chạy lạ i; thứ hai, cho dù con có sống ở xa nhưng cháu thl vẫn gửi ở nhà ông bà dể đón đưa di học, lo ăn uổng, thứ ba, dường xá ở thành phổ xe cộ nguy hiểm nên dù ông bà có muốn tới thăm con cải cũng không được, chỉ cỏ cuối tuần hoặc cuối tháng th ỉ con cái ghé vê thăm, họp mặt gia đinh

Có sự khác nhau tương dối khi chạy bảng so sánh vớ i biến địa bàn N hìn chung, ở ngoại thành, tỷ !ệ con cháu tới thăm ông bà cũng như ông bà tởi thăm con cháu cao hơn số liệu cho thấy mật độ con cháu rất ít/hầu như không tói thăm ông

bà lên lới 44,2% ở phường nội thành so với 14,2% ở ngoại thành N guycn nhân phụ

thuộc vào nghề nghiệp của con cũng như khoảng cách gần x a :"C on cái đẻ ra g iờ

sống, lảm nông ờ đày luỏn G iờ nói chung, hai thằng con tra i lớn thì ở bên, sáí vách luôn, thằng con tra i út thì ở chung" (Nam , 70 tuồi), tro n g khi phường nội Ihành

7 8 2

Trang 5

M A N G LƯỚI X Ã HỔI CỦA NGƯỜI C A O TUỔI Ở T H À N H PHỐ HỒ C H l m i n h

"Anh ira i không sống gãn đáy Em nó sấm* xa Xa lắm Nó à Rình Chánh cơ " (Nữ,

65 tuổi)

• Quyết dịnh và hói ý kién các công việc trong gia dinh

Sự nhìn nhận của người khác - dặc biệt là người thân - đối với người cao tuổi

lả vân dề quan trọng M ộ t trong những nỗi lo sợ cùa họ khi đến tu ổ i nghỉ hưu là mất

di vai trò, dịa vj trong gia dinh, sông phụ thuộc và là gánh nặng cho con cái V ì vậy, liếng nói trong gia dinh, quyết dịnh các công việc quan trọng trong gia dinh là tiêu chí mà các cụ đánh giá sự tồn tại của địa vị, vai trò, quyền lực, vần cảm thấy mình

có ích k h i đã già

Đo những vấn dề liên quan lởi trong gia dinh ai là người quyáí định chính các công việc dã dược liệt kê nhằm dánh gia vai trò của người cao tuổi, tác giả thu nhận những con số như sau;

Đ ối vởi những công việc thuộc VỂ kinh tể, chi tiêu tiền bạc lớn hầu nhu con cái

giữ vai trò là nguời quyết định chính Các kêt quả xử lý cho thấy, cách làm ăn kinh

tế trong gia đình, con cái quyết dịnh chiêm tói 40,8%; mua bán cảc đồ dùng dăt tiền

(41,6% ); xây nhả, sửa nhà (36,4%), Đ iều này dược các cụ giải thích "M ọ i thứ trong

nhà, chi tiêu tụ i nó lo hết Nỏ lớ tĩ có cõng việc, tiền bạc nó chịu M ình g iả r ồ i đ i làm

ờ phường cho v u i vậy th ỏ i" (Nam 70 tuổi).

Có sụ khác biệt khá rõ khi phân tổ ai ià người quyết định chính các công việc này v ó i dịa bàn khảo sát Nêu như nguời cao tuổi ò ngoại thành, những việc liên quan tởi tiền bạc, mua sấm vật dụng lớn hay sửa nhà cửa, quyết dịnh công việc làm

ăn con cái là người nắm giữ vai trò chính, nếu có sụ xuất hiện của bố mẹ thì người nam can tuổi chiếm tỷ lệ cao hơn nữ thì ở phường nội thành, vj trí này lại chuyển sang cho bố mẹ N goại thành đa số là nông dân, thu nhập đủ ăn đủ sống, v ỉ vậy người cao tuổi không có đủ tích cóp lúc tuổi già Trong khi phường nội thành đa số các cụ trước dây là công nhân viên Nhà nưởc, lúc về giả có lương hưu Bên cạnh, trình độ học vấn của người cao tuổi, rứiất là nữ, ở ngoại thành rất thấp, thường họ chí đóng vai trò là người nội trọ trong gia dinh

Ngược lại, người cao tuồi có cẩn sự "đỏng góp'* ý kiến cùa con cái khi quyêt định các công việc quan trọng? số liệu chì ra răng hẩu hết các cụ dêu có hỏi qua ý

các con khi quyết dịnh công việc (82,9%) bởi các cụ cho răng: "Nhưng có cái n g tỉờ i

già cũng p h á i nghe người nho Chưa chắc gì chú lớn tuổi r o i cá i g ì củng đúng Nó đúng mình p h ả i theo" (Nam , 78 tuổi).

Qua những phán tích trên cho thây hiện người cao tu o i và các thành viên trong g ia đình có m ối quan hệ rát gằn gùi Phần lởn ngirời cao lu ổ i và con chau đã sống v ớ i nhau tro n g khoảng thời gian dài, %IŨ0 tiếp vớ i nhau khá thường xuyên,

7 8 3

Trang 6

VIỆT NAM H Ọ C - KỶ YẾU HỘ I T H Ả O Q UỒ C TẺ LẢN T H Ứ T ư

biếu hiện sự tin cậy cao, tôn trọ n g lẫn nhau giữ a các thành viên, c ỏ thề nhộn dinh, mối quan hệ trong g ia đình người cao tu ổ i là quan hệ mạnh.

1.2 H ọ hàng

1.2 ỉ Qưy mô và sự phân bó không gian

Người V iệ t có câu "m ộ t g iọ t máu dào hơn ao nước lã", v l thế ngoài m ối qưan

hộ tinh cảm ừong gia đình thì m ối quan hệ với anh chị em ruột, họ hàng cũng dược

các cụ rất xem trọng và không ngừng được gản kết, thất chặt "G iao tiếp trong quan

hệ họ hàng là giao tiểp tình cảm, nổ mang không khí sinh hoọí g ia đình mở rộng, ở

đỏ có trậ t tự trên ra trên, dưới ra dưới, người cao tu ồ i đươc tôn trọng do gắn g ũ i với đ ờ i sống tình cảm người cao tuổi Giao tiếp huyết thống, v ỉ vậy cũng góp phần quan trọng trong việc cân bằng tâm lỷ đ ổ i vởi người cao tuổi"* Đây cũng là rrạng

lưới xã hội quan trọng thứ hai ở người cao tuổi

Phần lớn (50,8% ) người cao tu ổ i ữong mẫu khảo sát hiện nay đều có ít ĩỉh it một anh/chị em ruột còn sống và có họ hàng xa N hìn chung, tuổi càng cao thì tỷ lệ các cụ còn anh/chị em ruột cũng như họ hàng xa cảng giảm

Nghiên cứu về sự phân bố không gian sống cho thấy hơn phân nữa các cu có

họ hàng sổng ờ các quận khác nhau ưong thành phố và các tinh/thành trong cả nước Trong đó người cao tuổi có họ hàng sổng cùng nhà hoặc khác thành phố chủ yếu rơi về phường nội thảnh Con số này có liên quan đến nguyên quán cùa người cao tuổi - là nơi cỏ số dân nhập cư lớn, nhất là ở các tỉnh phía Bẳc sau năm 1954 và

1975 Họ hàng ở xa k h i vào thành phổ học hành, làm việc nhưng chưa có diều kiện mua nhà cửa có thể ở chung T uy nhiên, khoảng cách cũng ảnh hưởng tới sự qua lại thăm hỏi giữa người cao tuổi và họ hàng

1.2.2 M ố i quan hệ trong họ hàng

Với câu hỏi "H ọ hàng có hay tới thăm âng/bà khỗng?", xử lý số liệu cho 'hây trật tự sẳp xểp theo chiều hướng giảm dần với rất ít/hầu như không (chiếm 49,í% ) Tiếp đến là ]-2 lần/tháng (38,4%) M ức dộ 1-2 lần/tuần chiếm tỳ lệ rất nhỏ (7,4% )

và cuổỉ cùng gần như hàng ngày chỉ 4,7% M ức dộ người cao tuổi tới thăm họ tà n g

cũng tương tự vớ i 44,2% các cụ rất ít/hầu như không, 48,4% là 1-2 làn/tháng, 4 7%

1 -2 lần Irên tuần và thấp nhất 2,2% gàn như hằng ngày

M ức dộ "thưa thớt" trong di thăm hỏi giữa người cao tuổi và họ hàng bi c h i phối bởi nhiều yếu tố, Ưong dó liên quan dến số anh chị em, họ hàng còn sống; sức

1 Nguyễn Phương Lan, 2000, T iế p c ậ n v ã n h ó a ngư ời cao tu ồ i, Nxb Văn hỏa - Thòng til, H à Nội, trang 125.

7 84

Trang 7

M AN G LƯỚI XÃ HỘI CỦA NGƯỜI CAO TUỔI Ở TH À N H P H Ố HỒ C H l MINH

khỏe; khoảng cách; phương tiộn di chuyền, mối quan hệ gần gũi trong họ hàng: "có

ông anh mất cỏn cỏ em ở dưới Rạch Giá lậ n " (Nữ, 75 tu ổ i).

M ú c độ thăm hôi qua lại giữa người cao tuổi vả họ hàng có ảnh hưởng nhất định tới hỏi ý kiến các công việc quan Irọng T ỷ lệ "rất ít/hầu như không" người cao tuổi hói họ hàng cùng như họ hang hỏi người cao tuổi chiém tỷ lệ khá cao (62,4%

và 64%) T u y nhiên, tùy từng việc và thông Ihường lả những việc liên quan tói dòng

họ, xây mô mả, hiếu h ỷ ,.,

Họ hàng là m ôi quan hệ quan trọng bén ngoài g ia đình của người cao tuồi

D ặc hiệt ở các vừng nông thổn, m oi qimn hệ than tộc càng mạnh mẽ hơn bao g iỏ hét Nhưng ờ đỏ th ị, do nhiéu nguyên nhân khác nhau: sức khỏe yêu lúc về già, khoảng cách đ i lọ i xa, điêu kiện kinh tế không cho phép đã làm cho m ẩì quan hệ này ngày càng xa ra Khảo sá í cho thay tỳ lệ người cao iu ẩ i đ i thăm họ hàng và ngược lạ i rấ t ít G iao tiếp va hỏi ỷ kiến lẫn nhau không thường xicyên Đ iều đó cho thấy m ỏi quan hệ giữ a họ hàng và người cao tuổi không p h ả i là m ối quan hệ mạnh Tuy nhiên, trong thâm tâm các cụ vẫn rấ t nhấn mạnh đến m ổi quan hệ này.

1.3 Bọn bè

1.3.1 Quy mỏ và sự phân bố không gian

Ngoải phạm v i các m ối quan hệ bên trong gia đình, dòng họ thì nguời cao tuổi cũng cố nhu cầu được giao du, kết bạn, mở rộng các m ối giao tiếp bên ngoài xã hội Hạn hè ở đây được hiểu lá những người được thiết lập quan hệ thông qua các hoạt động kinh tế, văn hóa, chính tri, *3 hội- Đây là thành tố quan trọng thứ ba trong mạng lưới xã hội của người cao tuổi

N hìn chung, mối quan hệ bạn bè cùa người cao tuổi khá đa dạng, từ đồng nghiệp (26,5% ) đến đồng hưcmg (17%), bạn dồng ngũ (8,9% ) cũng như các mổi quan hộ bạn bè khac (chung câu lạc bộ, chung tỉn ngưỡng, ) (17,7% )

Phân bố không gian sống cho thấy, bạn bè ở cùng khu vực/phường chiếm tỷ lệ cao nhất (22,5% ) Tỳ lệ cùng thành phổ nhưng khác quận dứng v j tri thứ hai (17,5% ) Có tới 15,9% người cao tuổi có bạn bè gần dây Đặc biệt có 13,1% các cụ

có bạn ngay hên cạnh nhà Đây là diều kiện thuận lợi để lăng cưòmg mối quan hệ thân lình, qua lại thường xuyên giữa người cao tuổi và bạn hè

Do còn mang đặc điểm dậm tính nông nghiộp nên sự phân bố không gian bạn

bé của người cao tuổi à ngoại thành khá gán gũi T ỳ lệ có bạn bè sống ngay bên

cạnh nhà chiếm tỷ lệ 18,6% trong khi con số này ờ phường nội thành là 6,8% s ố ở gần dây (cùng tổ ) cùng cao hcm gấp ha lần (23.3% so với 7,4%) Tưomg tự, cùng khu vực/phưởng ở ngoại thành là 27,9%, hom 11% (phường nội thành là 16,2%)

785

Trang 8

VIỆT NAM H Ọ C - KỲ YỂU H Ộ I T H Ả O Q U Ố C TÉ LẰN T H Ứ T Ư

Nguợc lại, sổ cụ cỏ bạn bè "xa" như khác thành phố/tinh ở phường nội thành lại

chiếm sổ lượng vượt ư ội (20,9% so với 6,4% )

1.3.2 M ố i qiưin hệ vớ i bọn bè

Để tìm hiểu về mối quan hệ bạn bè, khi dược hỏi "Ô ng/bà có thích kết bạn

không?", phần lớn người được hỏi chọn câu trà lời "cỗ" (65,4% ) T ỷ lệ thích kểt bạn

của các cụ ở hai phuờng là tương dương nhau Cũng không có sụ khác biệt giữa nam và Tiữ

Các hình thức kết bạn của người cao tuổi chủ yếu thông qua các cuộc họp tổ,

khu phổ và phường (27,4% ); sinh hoạt ừong các câu lạc bộ (27% ); tham gia các hoạt động xã hội (19,7% ); hoạt động tín ngưỡng (12,4% ).

Giao tiếp là yếu tổ không thể thiếu nhằm củng cố tỉn h thân giữa bạn bè vó i

nhau Đ ể đo m ức độ giao tiếp bạn bè của Tiguời cao tuổi, tác giả dựa ừên hai tiêu

chí: mức độ thăm hỏi của nguời cao tuổi với đồng nghiệp, bạn bè và mức dộ thàm hỏi của dồng nghiệp, bạn bè vớ i người cao tuổi

Kết quả khảo sát cho thấy, da số người cao tuổi đều cho ràng bạn bè, dồng nghiệp rất ít/hầu như không tới thăm (47,9% ) Nếu có tới thăm thì cũng thinh thoảng, 1-2 lẩn/tháng (27,1% ) Tỷ lệ tới thàm gẩn như hàng ngày hoặc 1-2 lần/tuần thấp (10% và 15%) do khoảng cách, sức khỏe cũng như mức độ gặp nhau ihường xuyên tại các câu lạc bộ hàng ngày hoặc hàng tuần Mức độ người cao tuổi tới thăm dồng nghiệp, bạn bè cũng tương tụ.

Các cụ ở phường ngoại thành có bạn bè tới thăm nhiều hơn là ở phường nội thành Tỷ lệ người cao tuổi tới thăm bạn bè cũng cao hơn và mang tính thường xuyên hơn với mức 1-2 lần/tuần là 30% so với 1,7% ở phường nội thành Nguyên

nhân phụ thuộc vào sự phân bổ không gian sống như đã phân ttch N ữ cao tuổi có bạn bè tởi thăm và tới thăm bạn bè nhiều hom nam vì nữ có nhiều m ối quan hệ bạn

bè hơn, thông qua các hình thức dễ gặp nhau nhiều hơn như di chùa, nhà thờ, Các

cụ càng cao tuổi ít có bạn bè tới thăm hơn và ngược lại.

Tìm hiểu việc hỏi ý kiến những việc quan ừọng đối với bạn bè, kết quả cho

thấy hầu hết người cao tuổi rất ít khi/hầu như không hỏi ý kiến bạn bè (79,6%)

Ngược lại bạn bè cũng rất ít khi/hầu như khồng hỏi ý kiến người cao tuổi (79,2%) Các cg lý giải bạn bè chi là tâm sự chia sẻ này kia, còn những công việc hệ trọng

trong gia đình thì gia dinh m ình tụ giải quyết, không nên nói cho người ngoài Bên cạnh tâm lý "sợ" người ta biết chuyện nhà mình rồi cười chê cũng là nguyên nhân

làm cho tỷ lệ hỏi ý kiến nhũng công việc quan trọng qua lại giữa người cao tuổi và

bạn bè thẩp: "Ở một c á i tu ổ i tự nhiên thấy thần thiết là thân íhiêt, bạn thân khõng

gộp nhau vắng nhau lò nhớ nhưng ngồi đảnh cờ với nhau, thuũ m ội ván cờ vé buói

7 8 6

Trang 9

M AN G LƯỚI X Ã HỒI CỦA NGƯỜI C A O TUỔI Ở T H À N H PHỐ HỒ C H Í MINH.

kháng ăn được C ái đó là đặc đỉém cùa nguờì cao tuổi Thành ra những chuyện Irong g ia đinh mà có van để ngươi ta đâu cỏ nói cho nhau nghe" (N ữ, 70 tuổi).

N gười cao tuổi à đô th ị ván đang duy trì những mói quan hệ vớ i bạn bè Phản lớn nhửriỌ, quan hệ bạn hè đã được thiết lập từ trước khi người cao tuoi cỏn làm việc chính thức M ội sò íi mở rộng moi quan hệ này sau khi n g h i hưu thông qua các sinh hoạt tin ngưỡng hoăc xã h ộ i Mức độ giao tiếp không cao, có sự phán hóa theo địa bàn khảo sái Vũ mức sông Tỳ lệ hỏi ý kiên lan nhau không thường xuyên - nếu

cỏ chủ yếu r ơ i vào nhóm các cụ trước đáy làm các công việc thuộc nhóm chỉnh thức

và có mức sống từ tru n g bỉnh trờ lên N hu vậy, cỏ thể n ó i m oi quan hệ giữa người cao tu ồ i và bạn hè tro n g mẫu khảo sát là mối quan hệ yếu.

1.4 H àn g xóm , láng giềng

ỉ 4 Ị Quy mô và sự phân bố khổng gian

Ngoài m ối quan hệ gia dinh, bạn hè thì hàng xóm láng giềng cũng là m ối quan

hệ quan trọng đối với người cao tuổi Người V iệ t Nam có câu "B à con xa không bàng xóm giềng gần" vì họ là những người "tảt lửa tối đèn có nhau’1 Đây là thành tố

thứ tư trong mạng lưới xã hội của người cao tuổi.

I ìm hiếu về mức dộ quen biết hàng xóm của nguời cao tuổi, tác giả nhận thấy

có sự mở rộng mức độ quen biết hàng xóm theo phạm vi phân bổ không gian sống

của họ Theo đó, các cụ từ chỗ biết những người sổng cạnh nhà (43,8% ) đến biết những người sổng trong xóm/tổ (34,9%) rồi biết cả những người sống ưong cùng khu phố (7,6% ) Như vậy, nhln chung mức độ quen biết hàng xóm của người cao

tuổi ở đô thị tio n g địa bàn khảo sát là khá cao

Các cụ ở ngoại thành nhln chung "biết" hàng xóm cao hơn so vớ i phường nội

thành Sổ liệu thu được cho thấy, số lượng các cụ chọn câu trả lời "hầu như không biết ai cảM chi rơi vào dja bàn phường nội thành (27,4%) Tỳ ]ệ các cụ biết "những

người sổng ngay cạnh nhà m inh" ở ngoại thành là 51,3% , cao hơn phường nội thành

(36,3%) T ỷ lệ biết những người sổng trong xóm, tổ và ừong khu phố ở ngoại thành

cũng cao hơn, lần lượt 39,9% và 8,9% so với 29,9% và 6,4% Điều này được lý giải

ở phường ngoại thành, người dân chủ yểu làm nông nghiệp, sống à đây qua bao thế

hệ Vì vậy mối quan hệ hàng xóm vẫn còn mang dáng dấp nông thôn, hai nhà chỉ

cách hời cải bờ rào: "Ở đây hàng xóm biết nhau hết chớ, Thí dụ như đám ma, nghe

tiếng trống hoặc treo cờ thế là hỏi nhau ai chết? Neu mà chưa biết th ì h ò i ai? c ỏ n nêu biêt th ì điện cho người ta đên Cái phong tục tập quản đố h ồ i xưa đến nay C ái nhà thành phố, song bên sát vách con chưa biết họ làm gì Cho nên sổng ở nâng thôn mình ván hay hơn Thương yêu nhau, đùm bọc nhau" {đại diện H ội người cao

tuôi phường ngoại thành)

7 8 7

Trang 10

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÊU HỘI T H Ả O Q UỐ C T Ê LẰN T H Ứ T Ư

Ị 4.2 M ố i quan hệ với hàng xóm, láng giềng

M ố i quan hệ giữa người với người sẽ trở nên găn bó hơn khi có sự giao tiép thường xuyên V i thông qua giao tiếp (chia sẻ, tâm sự, quan tâm ) người ta sẽ hiẻu nhau hom Do đó, mức độ qua lại thăm hỏi giữa người cao tu ổ i vả hàng xóm sẽ là thước đo độ "đậm nhạt" của mối quan hệ này

Phần lớn người cao tuổi và hàng xỏm vẫn còn giữ hình thức qua lại thăm hỏi nhau với mức độ 1-2 lần/tuàn chiếm tỳ lệ cao nhất T uy nhiên, khi xét trên địa bàn khảo sát, số lượng các cụ ở ngoại thành thăm hỏi hàng xóm nhiều hơn các cụ ờ phường nội thành ("rấ t ít/hầu như không" ở phường nội thảnh lả 45%, gấp hơn hai lần so với ngoại thảnh với 19,2%) Tương tự, tỳ lệ các cụ được hàng xổ m thăm hỏi

ở phường nội thành ít hơn ngoại thành ("rất ít/hầu như không" ở phường nội thanh

là 45%, gấp gần ba lần so với ngoại thành với 17,5%)

Với hỏi ý kiến những công việc quan trọng, kết quả khảo sát cho thấy, da số người cao tuổi ít khi hỏi ý kiến hàng xóm những công việc quan trọng và ngược lại (77,9% và 76,7%) Neu có hỏi thì cũng chỉ tùy theo việc

Xã hội càng vàn minh, hiện đ ạ i, ỉố i sấng đô th ị càng p h á i triển thì tiể p xúc lảng giềng càng b ị m ai một dần Những nghiên cứu về đỏ th ị đ ã c h ỉ ra ră n g , đô th ị là nơ i

có tính "nặc da nh " cao hơn so vớ i ở nông thôn, do đó người dân ở đô th ị ít quen biết với những người hàng xổm , thậm chí có người cỏn không biết người hàng xóm bên cạnh nhà mình là ai Đ iều này dường như đúng với phường n ộ i thành qua khảo sát và phán tích Riềng tạ i phường ngoợi thành' ngicời cao tu ổ i vần còn g iữ nhiều môi quan hệ truyền thống, không sổng khép mình với những người xung quanh, đề cao tình ỉàng nghĩa xóm cũng như nhu cầu giao luv hàng xóm Đ áy cũng là m oi quan hệ yểu tro n g mạng ìướì xã hội của người cao luổỉ.

1.5 Tổ chức xâ hội (Đoàn thể, H ộ i, Câu lọc bộ)

1.5.1 Quy mô và sự phân bố không gian

Hoạt động cộng dồng, xã hội ở người cao tuổi là sự tham gia sinh hoạt các tổ chức đoàn thể, hội, câu lạc bộ chính thức và phi chính thức Nếu như ở nông thôn, mạng lưới

xã hội (gia đình, thân tộc, hàng xóm) dày dặl thì ở thành thi, sự xuất hiện của cảc tổ chức này thật sự rat cần thiét nhàm dáp ứng nhu cầu tinh thần của con nguòi lúc về già

Cho dến thời điềm khảo sát thì tại địa bàn đang có các H ội, Câu lạc bộ phi

chính thức như các tổ thơ ca văn nghệ trong từng tồ dân phố hoạt dộng thường

xuycn mỗi tháng m ột lần Phong ưào chơi cờ tướng, cờ vua, các câu lạc bộ sinh vậl cảnh, câu lạc bộ những người làm nghề nuôi bò sữa do H ội cùng người dân lập ra

đc đáp úng nhu cầu của ngưòi cao tuổi

788

Ngày đăng: 15/12/2017, 22:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w