ĐẠI HỌC QUỐC QIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM VĂN LÂM LIÊN THÔNG ĐÀO TẠO TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LUẬN VĂN THẠC S
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC QIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM VĂN LÂM
LIÊN THÔNG ĐÀO TẠO TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HÀ NỘI, NĂM 2008
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC QIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM VĂN LÂM
LIÊN THÔNG ĐÀO TẠO TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Ngành: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Mã số : 603472
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN VĂN KHÁNH
HÀ NỘI, NĂM 2008
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
3 Mục tiêu nghiên cứu 6
4 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Mẫu khảo sát 7
6 Câu hỏi nghiên cứu 7
7 Giả thuyết nghiên cứu 7
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết 7
9 Kết cấu của Luận văn 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC KH&CN VÀ LIÊN THÔNG ĐÀO TẠO 10
1.1 Khái niện và một số tiêu chí về nguồn nhân lực KH&CN 10
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực 10
1.1.2 Khái niệm về nguồn nhân lực KH&CN 11
1.1.3 Khái niệm về nguồn nhân lực KH&CN 12
1.1.4 Chất lượng nguồn nhân lực KH&CN 12
1.1.5 Tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực KH&CN 14
1.2 Khái niệm liên thông trong đào tạo 15
1.2.1 Hệ thống giáo dục 15
1.2.2 Liên thông trong đào tạo 16
1.2.3 Khái niệm về kế thừa 19
1.2.4 Tính kế thừa 20
1.2.5 Cách kế thừa 24
1.2.6 Tổ chức quản lý đào tạo liên thông 24
1.2.7 Yêu cầu phát triển nguồn nhân lực KH&CN 26
1.2.8 Lợi ích của liên thông đào tạo 27
Trang
Trang 41.2.9 Phát triển nguồn nhân lực KH&CN ở tỉnh Hải Dương 27
Tiểu kết Chương 1 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LIÊN THÔNG ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC KH&CN 30
2.1 Thực trạng nguồn nhân lực KH&CN ở Hải Dương 30
2.1.1 Số lượng và cơ cấu phân theo trình độ đào tạo 30
2.1.2 Phân theo hình thức đào tạo 31
2.1.3 Nhận xét và đánh giá chung 32
2.2 Liên thông đào tạo đối với nguồn nhân lực KH&CN ở tỉnh Hải Dương 35
2.2.1 Số lượng và cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN qua liên thông đào tạo 35
2.2.2 Nguồn nhân lực qua liên thông đào tạo phân theo hình thức đào tạo 40
2.3 Thực trạng đào tạo liên thông ở Trường Cao đẳng nghề Hải Dương và Trường Cao đẳng Công nghiệp Sao Đỏ 43
2.3.1 Một số nét về Trường Cao đẳng nghề Hải Dương 43
2.3.2 Thực trạng đào tạo liên thông từ trình độ Trung cấp nghề lên trình độ Cao đẳng nghề, nghề Điện công nghiệp của Trường Cao đẳng nghề Hải Dương 47
2.3.3 Một số nét về Trường Cao đẳng Công nghiệp Sao Đỏ 58
2.3.4 Đào tạo liên thông từ trình độ Trung cấp nghề lên Cao đẳng nghề, ngành Công nghệ cơ khí của Trường Cao đẳng Công nghiệp Sao Đỏ 62
2.3.5 Nhận xét, đánh giá 72
2.4 Đánh giá của thị trường lao động về nguồn nhân lực KH&CN qua đào tạo liên thông ở tỉnh Hải Dương 74
Tiểu kết Chương 2 77
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP LIÊN THÔNG ĐÀO TẠO ĐƯỢC THỰC HIỆN DỰA TRÊN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NHẰM ĐẠT MỤC TIÊU GẮN VỚI NHU CẦU THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG 78
3.1 Mục tiêu đào tạo gắn với thị trường lao động 78
3.2 Chương trình liên thông xuất phát từ mục tiêu đào tạo 88
3.3 Đổi mới liên thông đào tạo bắt đầu từ giáo viên 89
Trang 53.4 Đổi mới quy trình đào tạo liên thông 92
3.5 Đổi mới phương pháp dạy và học trong liên thông 94
3.6 Đổi mới cách đánh giá trong đào tạo liên thông 96
3.7 Đổi mới về đầu tư và cơ chế tài chính 97
3.8 Thử nghiệm các giải pháp trên 99
Tiểu kết Chương 3 101
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 102
KẾT LUẬN 102
KHUYẾN NGHỊ 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 108
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Việt Nam đã chính thức là thành viên của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra cho nước ta những cơ hội và thách thức mới Phát triển kinh tế - xã hội bền vững là nhiệm
vụ trọng tâm, phấn đấu đến năm 2020 đất nước ta trở thành nước công nghiệp Với vai trò to lớn của KH&CN cùng với giáo dục và đào tạo, Đại hội
X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Phát triển KH&CN cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, nước ta có cơ hội thuận lợi để tận dụng những thành tựu của cách mạng KH&CN hiện đại, tiếp thu tri thức, các nguồn lực và kinh nghiệm của nước ngoài; đi thẳng vào những công nghệ hiện đại để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã liên tục có tốc độ tăng trưởng cao Đây là điều kiện thuận lợi để tăng đầu tư cho phát triển KH&CN, đồng thời thúc đẩy đổi mới công nghệ và ứng dụng thành tựu KH&CN trong nền kinh tế
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất đối với sự phát triển KH&CN nước ta hiện nay là phải nhanh chóng phát triển nguồn nhân lực KH&CN cả về số lượng và chất lượng để nâng cao năng lực KH&CN, rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước Hiện nay, trình độ chuyên môn, khả năng nghiên cứu, hiệu quả sử dụng nhân lực khoa học công nghệ còn hạn chế
Nghiên cứu khoa học và tham gia đào tạo là chức năng, nhiệm vụ chính của đội ngũ cán bộ KH&CN chất lượng cao Nhưng tỷ lệ nhân lực tham gia trực tiếp vào quá trình nghiên cứu khoa học còn thấp Cụ thể: ở đề tài cấp nhà nước chỉ có 30% cán bộ được tham gia, tương ứng đề tài cấp bộ có 48,1% và
Trang 7đề tài cấp cơ sở là 65,1% Điều này hợp lý ở chỗ cấp đề tài càng cao, càng đòi hỏi khả năng nghiên cứu của số cán bộ có trình độ chuyên môn cao Tuy nhiên, xét tổng thể thì số lượng cán bộ KH&CN được tham gia nghiên cứu khoa học mới đạt 65,1%, còn lại 34,9% không tham gia, đó là sự lãng phí rất lớn
Các đề tài nghiên cứu KH&CN của nước ta còn nhiều điểm chưa tiếp cận được trình độ KH&CN thế giới, khả năng hội nhập còn hạn chế Việc tham gia hội thảo và các kết quả nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học có danh tiếng trên thế giới còn ít Số bằng phát minh, sáng chế của Việt Nam rất hạn chế Thời kỳ 2001- 2005, Việt Nam chỉ có 11 đơn đăng ký sáng chế ở nước ngoài Trong khi đó Indonexia có 36, Thái Lan có 39, Philipin có 85, Hàn Quốc có 15.000, Nhật Bản có 87.620 và Mỹ có 206.710 Nếu căn cứ vào số lượng các công trình nghiên cứu khoa học được đăng trên tạp chí quốc tế và bằng sáng chế được quốc tế công nhận thuộc 27 môn khoa học, thì Việt Nam chưa lọt vào danh sách của 50 nước được tính đến (Singapo, Malaisia và Thái Lan đã có tên trong danh sách này) Điều đó có nghĩa là, trình độ nguồn nhân lực KH&CN nước ta còn rất thấp
Hệ thống giáo dục và đào tạo ở mỗi quốc gia có vai trò đòn bẩy phát triển nền kinh tế và quyết định sự phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực KH&CN Chỉ có hệ thống giáo dục và đào tạo phát triển, tiên tiến mới tạo ra nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao
Công cuộc đổi mới đất nước, giáo dục và đào tạo luôn được Đảng, Nhà nước và cả xã hội quan tâm Ngành giáo dục cũng đã qua nhiều lần chấn hưng
và đổi mới nhưng kết quả đạt được rất hạn chế Để đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho CNH, HĐH, nền giáo dục nước ta cần phải nhanh chóng đổi mới
và phát triển, đặc biệt là giáo dục nghề nghiệp Sự lạc hậu, trì trệ kém phát triển của giáo dục nước ta so với các nước trong khu vực như: Thái Lan, Trung Quốc, Malaisia, Singapore, Philipin, Indonexia, đã thấy được vị trí giáo dục Việt Nam còn khoảng cách rất xa so với các nước phát triển Trong
xu thế hội nhập, phát triển nền kinh tế tri thức, nguồn nhân lực không chỉ còn
Trang 8ở mỗi quốc gia, mà là nguồn nhân lực toàn cầu Những lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ đã nhường chỗ cho lợi thế về nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn giỏi, có năng lực sáng tạo Nếu không sớm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sẽ không có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực về thu hút đầu tư và các công nghệ tiên tiến từ bên ngoài Trước những cơ hội và thách thức trong thời kỳ hội nhập, nếu không có những quyết sách đột phá về đổi mới giáo dục, đặc biệt là giáo dục nghề nghiệp để tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và những biện pháp mạnh mẽ tăng cường năng lực KH&CN quốc gia, thì nguy cơ tụt hậu về kinh tế - xã hội ngày càng xa là khó tránh khỏi
Chất lượng nguồn nhân lực KH&CN được đánh giá qua hệ thống giáo dục: Giáo dục yếu kém, lạc hậu không thể tạo ra nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao Vì vậy, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN rất cần phải đổi mới và phát triển giáo dục, đặc biệt là giáo dục nghề nghiệp
Liên thông đào tạo trong giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN đã được các nước phát triển thực hiện và có hiệu quả từ nhiều năm Sự kế thừa kiến thức, kỹ năng, phương pháp ở các bậc học đã được thực hiện hoàn hảo, nên chất lượng và hiệu quả của giáo dục rất cao
Ở Việt Nam, liên thông đào tạo đã được triển khai và thực hiện từ lâu, nhưng chất lượng và hiệu quả còn rất thấp và có quá nhiều vấn đề bất cập Tác giả của luận văn cũng như rất nhiều người khác đã trải qua quá trình giáo dục ở Việt nam từ mầm non đến sau đại học, có rất nhiều lý do để khẳng định tính kế thừa của quá trình giáo dục không tốt, kỹ năng và phương pháp đều lạc hậu Chẳng hạn: môn Chính trị, được đề cập đến từ chương trình THPT, trong giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, các lớp lý luận trung cấp, cao cấp đều dập khuôn một chương trình và lý luận gần như tương tự Những lý luận đó sau 20, 30 năm thay đổi không đáng là bao Kết quả là người học khó tiếp thu, nhàm chán với những lý luận lạc hậu, chất lượng đào tạo không cao Môn ngoại ngữ, được giảng dạy từ THCS đến sau đại học, ở cấp học nào
Trang 9cũng học ngoại ngữ, thời gian học mất trên chục năm, nhưng số đông vẫn chưa nghe, nói được Trong khi đó người ta có thể học thời gian 09 tháng đến
01 năm ở cơ sở giáo dục chất lượng là có thể nghe, nói, viết Môn toán học, ở THPT học vi phân, tích phân, lên đại học học lại vi phân, tích phân Người học như một anh thợ giải toán, giải hết cách này đến cách khác, nhưng không
hề biết ứng dụng bài toán, cách giải toán đó vào đâu Môn vật lý, ở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học đều học lại các định luật, quy tắc ở phổ thông đã học Cử n hân kinh tế không cần thiết phải học môn hoá học ở THPT nhiều đến vậy Rất nhiều môn học khác cũng ở tình trạng tương tự Chương trình đào tạo không thống nhất nên liên thông gặp rất nhiều khó khăn Chẳng hạn như cùng trình độ Trung cấp ngành kế toán, nhưng mỗi trường đào tạo theo một chương trình nên khi liên thông lên Cao đẳng hay Đại học rất khó, vì không biết nên kế thừa nội dung của trường nào Liên thông ở các cấp học rất yếu kém nên kết quả đào tạo chất lượng không cao, không đáp ứng được yêu cầu Cụ thể, phần lớn các kỹ sư, cử nhân khi ra trường không làm việc được,
mà phải qua quá trình đào tạo lại Mặc dù, giáo dục đã nhiều lần cải cách, thí điểm, đề án này chưa xong, đề án khác lại ra đời, tiêu tốn biết bao tiền của nhưng chất lượng giáo dục vẫn đang trong thời kỳ chấn hưng
Hải Dương là tỉnh có trên 1,7 triệu dân, nằm ở phía đông thủ đô Hà Nội, có 8 khu công nghiệp và 13 cụm công nghiệp phát triển, nhu cầu lao động kỹ thuật có chất lượng hàng năm lên đến trên 60 ngàn người Nhưng thực tế nguồn lao động kỹ thuật ở Hải Dương trình độ còn thấp, nên nhiều doanh nghiệp phải sử dụng lao động kỹ thuật ở nơi khác đến Đào tạo nguồn nhân lực ở Hải Dương còn nhiều hạn chế, đặc biệt là liên thông đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực KH&CN và thị trường lao động
Vậy việc chỉ ra những nguyên nhân yếu kém và đề ra các biện pháp liên thông đào tạo trên cơ sở đổi mới tư duy đào tạo, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động là rất cần thiết
Đó là lý do tôi chọn đề tài “Liên thông đào tạo trong việc nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực KH&CN ”
Trang 101.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
* Ý nghĩa lý thuyết:
- Làm rõ ý nghĩa và triết lý của liên thông đào tạo đối với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động
- Bổ sung thêm lý luận về:
+ Liên thông đào tạo ở các cấp trình độ
+ Kế thừa trong liên thông đào tạo về chương trình, kiến thức, kỹ năng, hành vi, tổ chức quản lý, phương pháp dạy, phương pháp học
* Ý nghĩa thực tiễn:
Góp phần phát triển giáo dục và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN để đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN của các nước phát triển
có nền kinh tế thị trường năng động được thực hiện rất hiệu quả bằng biện pháp liên thông đào tạo
Liên thông trong đào tạo đã có lịch sử gần 100 năm Xuất phát từ nhu cầu người học muốn tiếp tục học lên mà không phải học lại những gì đã học Đây là một hình thức đào tạo tiết kiện thời gian, tiền bạc và công sức mà vẫn đảm bảo chất lượng
Trên thế giới, việc liên thông giữa các cơ sở đào tạo được ghi nhận ở một số nước như: Anh, Đài loan, Nhật bản, New Zealand, Australia và Hoa
kỳ Lịch sử của sự liên thông đào tạo được nhắc đến Giáo sư William R Harper (1856 - 1906), Viện trưởng Đại học Chicago Năm 1907 Đại học California - Berkeley đào tạo liên thông “nới rộng” Những năm tiếp theo liên thông đào tạo được hoàn thiện và rộng khắp ở nhiều trường của Hoa kỳ và các nước có nền giáo dục phát triển
Trang 11Ở Việt Nam, trước năm 1975 liên thông được đề cập đến ở hầu hết các trường đại học ở miền Bắc theo mô hình trường đại học chuyên ngành, đào tạo theo yêu cầu của ngành Việc liên thông diễn ra thường dưới hình thức tổ chức các lớp chuyên tu, hoàn chỉnh Ở miền Nam áp dụng theo mô hình các viện đại học đa ngành của Viện đại học Đông dương do người Pháp thành lập
Đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, chỉ thị của Chính phủ, đào tạo liên thông được đặt ra, nhất là khi thực hiện chương trình đào tạo hai giai đoạn và việc thành lập hai đại học quốc gia và ba đại học vùng Cuối thập niên 90, việc liên thông giáo dục đại cương và chuyên nghiệp trở thành bình thường trong một nhà trường Ngoài ra, một số trường thực hiện liên thông cấp bằng hai hoặc tiếp tục cấp bằng chuyên tu, tại chức hoặc hoàn chỉnh Năm 2005 Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp chỉ tiêu đào tạo thí điểm liên thông cho 31 trường
Liên thông đào tạo ở nước ta còn rất nhiều hạn chế, mỗi trường đào tạo theo một chương trình khác nhau, thiếu tham khảo và thống nhất Phần lớn đào tạo xong mới tính chuyện liên thông Đào tạo theo tín chỉ thuận lợi cho đào tạo liên thông, nhưng số ít trường đủ điều kịên làm và làm chưa tốt Chỉ tiêu đào tạo liên thông bó hẹp, vì liên thông là sự linh hoạt trong đào tạo để thích nghi với nền kinh tế thị trường năng động Tuy nhiên, liên thông ở nước ta mới chỉ đề cập ở các cấp giáo dục nghề nghiệp và đại học
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp liên thông dựa trên chương trình đào tạo nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo gắn với nhu cầu thị trường lao động
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi quy mô không gian: nghiên cứu về liên thông đào tạo ở chuyên ngành Điện công nghiệp ở Trường Cao dẳng nghề Hải Dương và Công nghệ cơ khí
ở Trường Cao đẳng Công nghiệp Sao Đỏ trên địa bàn tỉnh Hải Dương
- Phạm vi thời gian: 05 năm trở lại đây