Với mong muốn đem lại cho mọi người có được cái nhìn tổng quát vềnhận thức và hành vi tiêu dùng bền vững của dân cư, cũng như đề xuất cácgiải pháp nhằm nâng cao nhận thức và vận động cư
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Sự phát triển của một quốc gia (đặc biệt là kinh tế) gắn liền với bảo vệmôi trường trên toàn Thế giới đã sớm được quan tâm Vào năm 1980, thuậtngữ Phát triển bền vững đã chính thức xuất hiện trong ấn phẩm “ Chiến lượcbảo tồn Thế giới” (của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiênnhiên quốc tế) và khái niệm Phát triển bền vững được phổ biến rộng rãi hơnthông qua báo cáo Brundtland vào năm 1987 của Ủy ban Môi trường và pháttriển Thế giới (nay là Ủy ban Brundtland) và hoạt động “Sản xuất và tiêudùng bền vững” là phần quan trọng và khá được chú trọng Cụ thể vào năm
1994, Hội thảo Tiêu dùng bền vững (diễn ra tại Oslo, Nauy) đã làm rõ hơn vềvấn đề này Theo đó, Tiêu dùng bền vững là cách thức sử dụng sản phẩm cóhiệu quả, tiết kiệm tài nguyên, giảm thiểu chất độc hại và ô nhiễm môitrường, không ảnh hưởng đến nhu cầu thế hệ sau Từ đó, chương trình Môitrường Liên hợp quốc và Tiến trình Marrakech (năm 2003) đã được hưởngứng tích cực từ các quốc gia Với bối cảnh về chính trị, kinh tế, xã hôi củamỗi quốc gia mà chương trình được áp dụng với nhiều cách thức khác nhau.Tính đến năm 2013 thì đã có trên 30 quốc gia thực hiện được Chương trìnhQuốc gia về Sản xuất và Tiêu dùng bền vững Dẫn đầu trong các hoạt độngnày tại khu vực Đông Nam Á là Indonexia và Thái Lan
Với mong muốn đem lại cho mọi người có được cái nhìn tổng quát vềnhận thức và hành vi tiêu dùng bền vững của dân cư, cũng như đề xuất cácgiải pháp nhằm nâng cao nhận thức và vận động cư dân thực hiện Tiêu dùngbền vững, định hướng cho người tiêu dùng hướng tới bảo vệ môi trường và
tài nguyên Vì vậy, tôi đã quyết định chọn đề tài “Hành vi tiêu dùng bền vững và làm sao định hướng cho người tiêu dung hướng tới bảo vệ môi trường và tài nguyên”.
1
Trang 2Mục đích của tiêu dùng bền vững là chú trọng đến toàn bộ vòng đời sảnphẩm làm sao để việc sử dụng các nguồn tài nguyên, năng lượng tái tạo vàkhông thể tái tạo đạt được hiệu quả nhất Nói một cách đơn giản, tiêu dùngbền vững là việc áp dụng một cách thức khác để tiêu dùng mà việc tiêu dùng
đó giúp giảm đi lượng nguyên liệu và mức độ năng lượng sử dụng cho mộtđơn vị sản phẩm Ngoài sản phẩm, tiêu dùng bền vững cũng có thể được mởrộng ra cho các đối tượng khác như dịch vụ, các tài nguyên thiên nhiên, điện,nước, đất,
1.2 Khái niệm năng lượng
Trong cách nói thông thường, năng lượng tái tạo được hiểu là nhữngnguồn năng lượng hay những phương pháp khai thác năng lượng mà nếu đobằng các chuẩn mực của con người thì là vô hạn Vô hạn có hai nghĩa: Hoặc
là năng lượng tồn tại nhiều đến mức mà không thể trở thành cạn kiệt vì sự sửdụng của con người (thí dụ như năng lượng Mặt Trời) hoặc là năng lượng tựtái tạo trong thời gian ngắn và liên tục (thí dụ như năng lượng sinh khối)trong các quy trình còn diễn tiến trong một thời gian dài trên Trái Đất
Trang 3Theo ý nghĩa về vật lý, năng lượng không được tái tạo mà trước tiên là
do Mặt Trời mang lại và được biến đổi thành các dạng năng lượng hay cácvật mang năng lượng khác nhau Tùy theo trường hợp mà năng lượng nàyđược sử dụng ngay tức khắc hay được tạm thời dự trữ
Việc sử dụng khái niệm "tái tạo" theo cách nói thông thường là dùng đểchỉ đến các chu kỳ tái tạo mà đối với con người là ngắn đi rất nhiều (thí dụnhư khí sinh học so với năng lượng hóa thạch) Trong cảm giác về thời giancủa con người thì Mặt Trời sẽ còn là một nguồn cung cấp năng lượng trongmột thời gian gần như là vô tận Mặt Trời cũng là nguồn cung cấp nănglượng liên tục cho nhiều quy trình diễn tiến trong bầu sinh quyển Trái Đất.Những quy trình này có thể cung cấp năng lượng cho con người và cũngmang lại những cái gọi là nguyên liệu tái tăng trưởng Luồng gió thổi, dòngnước chảy và nhiệt lượng của Mặt Trời đã được con người sử dụng trong quákhứ Quan trọng nhất trong thời đại công nghiệp là sức nước nhìn theophương diện sử dụng kỹ thuật và theo phương diện phí tổn sinh thái
Ngược lại với việc sử dụng các quy trình này là việc khai thác các nguồnnăng lượng như than đá hay dầu mỏ, những nguồn năng lượng mà ngày nayđược tiêu dùng nhanh hơn là được tạo ra rất nhiều Theo ý nghĩa của địnhnghĩa tồn tại "vô tận" thì phản ứng tổng hợp hạt nhân (phản ứng nhiệt hạch),khi có thể thực hiện trên bình diện kỹ thuật, và phản ứng phân rã hạtnhân (phản ứng phân hạch) với các lò phản ứng tái sinh (breeder reactor), khinăng lượng hao tốn lúc khai thác uranium hay thorium có thể được giữ ởmức thấp, đều là những nguồn năng lượng tái tạo mặc dù là thường thì chúngkhông được tính vào loại năng lượng này
1.3 Sản phẩm xanh (sản phẩm thân thiện với môi trường)
Một sản phẩm được xem là xanh nếu đáp ứng được một trong 4 tiêu chídưới đây:
Trang 4Sản phẩm được tạo ra từ các vật liệu thân thiện với môi trường: Nếu
sản phẩm chứa các vật liệu tái chế thay vì sử dụng vật liệu mới, thô, nó cóthể được xem là một sản phẩm xanh Ví dụ, một sản phẩm tái chế nhanh nhưtre hay bần là những sản phẩm thân thiện với môi trường vì là sản phẩmđựơc tạo ra từ vật liệu phế phẩm nông nghiệp như rơm hoặc dầu nôngnghiệp
Sản phẩm đem đến những giải pháp an toàn đến môi trường và sức khoẻthay cho các sản phẩm phẩm độc hại truyền thống: Ví dụ các vật liệu thay thếchất bảo quản gỗ như creosote, được biết là một hợp chất gây ung thư
Sản phẩm giảm tác động đến môi trường trong quá trình sử dụng: ít
chất thải, sử dụng năng lượng tái sinh, ít chi phí bảo trì Ví dụ như việc sửdụng chai nước thủy tinh thay vì sử dụng chai nhựa để có thể tái sử dụng lạinhiều lần, sử dụng túi nylon tự phân hủy thay vì sử dụng túi nylon thường…
Sản phẩm tạo ra một môi trường thân thiện và an toàn đối với sức khoẻ: Vật liệu xây dựng xanh là những sản phẩm tạo ra một môi trường an
toàn trong nhà bằng cách không phóng thích những chất ô nhiễm quan trọngnhư sơn có dung môi hữu cơ bay hơi thấp, bám chắc, loại bỏ hoặc ngăn ngừa
sự lan truyền chất ô nhiễm như sản phẩm từ sự thông gió hoặc bộ lọc khôngkhí trong máy lạnh và cải thiện chất lượng chiếu sáng
1.4 Khái niệm môi trường
Môi trường hiểu theo nghĩa rộng nhất là tổng hợp các điều kiện bênngoài có thể ảnh hưởng đến một vật thể hoặc một sự kiện Bất kì một vật thểhoặc một sự kiện nào cũng diễn biến và tồn tại trong môi trường Khái niệmchung này sẽ được cụ thể hóa tùy mục đích và đối tượng nghiên cứu
Tùy theo nội dung nghiên cứu, Môi trường được chia thành:
- Môi trường tự nhiên : bao gồm các nhân tố vật lí, hóa học, sinh họctồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người Môi trường tự nhiên cung
Trang 5cấp tài nguyên cho con người Môi trường tự nhiên có tính tác động đến conngười và buộc con người phải thích nghi.
- Môi trường xã hội:( Social Environment):là tổng thể mối quan hệ giữacon người với con người bằng luật lệ, thể chế, cam kết,… có thể tạo ra điềukiện thuận lợi hoặc gây cản trở cho sự phát triển của cá nhân hoặc cộng đồngcon người
- Môi trường nhân tạo ( Artificial Environment): bao gồm các nhân tố docon người tạo nên, phục vụ cho con người và chịu sự chi phối của con ngườinhư nhà ở, công sở, khu đô thị, công viên, khu vui chơi giải trí,…
1.5 Khái niệm tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên là toàn bộ giá trị vật chất có trong tự nhiên mà ởmột trình độ nhất định của sự phát triển lực lượng sản xuất chúng được sửdụng hoặc có thể được sử dụng làm phương tiện sản xuất và đối tượng tiêudùng
Mỗi loại tài nguyên có đặc điểm riêng nhưng nó có hai thuộc tính chung:
- Tài nguyên tự nhiên phân bố không đồng đều giữa các vùng trên TráiĐất và trên cùng một lãnh thổ có thể có nhiều loại tài nguyên tạo ra sự ưu đãicủa tự nhiên của từng vùng và từng quốc gia
- Đại bộ phận tài nguyên thiên nhiên có giá trị kimh tế cao thường đượchình thành qua các quá trình lịch sử tự nhiên lâu dài
Chính hai thuộc tính này tạo nên tính quý hiếm của Tài nguyên và lợi thếphát triển của lãnh thổ vùng hoặc quốc gia giàu tài nguyên
Phân loại tài nguyên:
Tài nguyên thường phân thành hai dạng chính:
Trang 6- Tài nguyên tự nhiên gắn liền với các nhân tố tự nhiên như tài nguyênđất, tài nguyên rừng, tài nguyên nước, tài nguyên khí hậu, tài nguyên biển,tài nguyên khoáng sản, tài nguyên cảnh quan.
- Tài nguyên con người gắn liền với các nhân tố con người và xã hội nhưtài nguyên lao động, tài nguyên trí tuệ, tài nguyên thông tin,…
Hiện nay cách phân chia tài nguyên tái tạo, không tái tạo, vô tận khôngcòn hợp lý nữa vì do tác động của con người đến tài nguyên vượt quángưỡng dẫn đến một số tài nguyên tái tạo trở thành không tái tạo (ví dụ đadạng sinh học bị tuyêt chủng); một số tài nguyên vô tận trở thành không vôtận xét về chất lượng
Trang 7CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TIÊU DÙNG BỀN VỪNG TẠI VIỆT NAM 2.1 Thực trạng hành vi tiêu dùng của người dân trong thời gian qua 2.1.1 Thực trạng sử dụng năng lượng
Điện và nước có vai trò quan trọng trong cuộc sống sinh hoạt của conngười từ chiếu sáng, nấu ăn, phục vụ nhu cầu giải trí… tuy nhiên ở nhữngnhóm nghề lao động khác nhau thì có những hành vi tiết kiệm khác nhau.Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, xây dựng dân dụng và giao thôngvận tải tình trạng lãng phí điện là rất lớn Năng lượng tiêu hao cho một đơn
vị sản phẩm ở nhiều ngành công nghiệp của Việt Nam cao hơn Thái Lan vàMalaysia khoảng 1,5- 1,7 lần
Chỉ tính riêng các khu công nghiệp- khu chế xuất (KCN- KCX) ở thànhphố Hồ Chí Minh thì lượng điện tiêu thụ chiếm gần 20% sản lượng điện tiêuthụ toàn thành phố Có thể nói, lượng tiêu thụ điện ở KCN- KCX là khá lớn,ảnh hưởng trực tiếp đến lượng điện năng của thành phố Nguyên nhân chủyếu là do trang thiết bị của các doanh nghiệp cũ kỹ làm tiêu hao năng lượngtrong quá trình sản xuất
Theo đánh giá của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) thì việc sử dụnglãng phí điện năng hiện nay đã đến mức báo động Đặc biệt là ở các công ty,
cơ quan nhà nước như: không tắt đèn, quạt khi ra ngoài, để điều hòa ở nhiệt
độ thấp hơn 25 độ C Hệ thống đèn chiếu sáng công cộng ở một số nơi còn
sử dụng bóng đèn thủy ngân cao áp, đây là loại đèn có hiệu suất thấp nhưngtiêu hao năng lượng rất lớn Lượng điện hoang phí còn phải kể đến đèn củacác nhà hàng, khách sạn hay các biển quảng cáo trên cả nước
Từ một nước xuất khẩu năng lượng nhưng đến năm 2009, nước ta đãphải nhập khẩu điện lên 4,84% năm 2009 Thực trạng đó đã đặt ra nhiều
Trang 8thách thức cho các ngành chức năng là làm thế nào để giảm tải lượng điệnnăng tiêu thụ, đảm bảo và duy trì nguồn điện ổn định cho các lĩnh vực.
Hiện nay, nguồn nước bị thất thoát đã giảm đáng kể, nhưng tình trạng
sử dụng nước không hợp lý, sử dụng lãng phí nguồn nước ở nhiều nơi, nhiềulúc vẫn xảy ra đang làm cho trữ lượng nước bị giảm mạnh Ở vùng nôngthôn, tình trạng người dân khoan, đóng giếng tùy tiện không đúng kỹ thuật
để phục vụ sinh hoạt và tưới tiêu trong nông nghiệp đã gián tiếp gây ô nhiễm
và sút giảm trữ lượng nước ngầm, ảnh hưởng lớn đến việc khai thác có mụcđích như xây dựng các công trình cung cấp nước sạch cho người dân vùngnông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng cao Bên cạnh đó, do nhận thức về bảo
vệ nguồn tài nguyên nước kém và người dân còn thiếu kinh nghiệm sử dụnghiệu quả nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp, nên đã gây lãng phí nước
và kém hiệu quả đối với cây trồng Mặt khác, do quan niệm sai lầm: "nước làcủa trời cho vô tận, không bao giờ cạn", lại không phải trả tiền điện bơmnước (múc tay hoặc quay tay), không phải trả tiền nước (nguồn cung cấp tựnhiên từ sông suối hoặc giếng đào) nên nhiều người sử dụng rất thoải máinguồn tài nguyên này
2.1.2 Thực trạng sử dụng sản phẩm xanh
Để bảo vệ sức khỏe của chính mình thì người dân phải tự bảo vệ mìnhbằng cách tự trồng các loại rau xanh cho riêng gia đình mình hay tiêu dùngnhững sản phẩm xanh cũng như các sản phẩm thân thiện với môi trường nhưtúi nilon tự phân hủy, xăng sinh học để bảo vệ môi trường, tại vì nếu môitrường bị ảnh hưởng thì sức khỏe của chính bản thân người dân cũng bị ảnhhưởng
Trên thị trường hiện nay đã có nhiều các sản phẩm xanh, có thể bảo vệsức khỏe của con người, bảo vệ môi trường như các loại rau sạch, đạt cácchuẩn như VietGap, rau oganic, túi nilon tự phân hủy hay xăng sinh học E5
sử dụng cho phương tiện giao thông Tuy nhiên giá cả của các loại sản phẩm
Trang 9này thường cao hơn các sản phẩm thông thường và người dân có sẵn sàng trảtiền để sử dụng các sản phẩm xanh này không, điều này phụ thuộc vào nhậnthức cũng như hành vi của người dân.
Thực tế nước ta hiện nay, tiêu thụ bền vững còn chưa được quan tâm,các hoạt động triển khai còn hạn chế Ở Việt Nam, thói quen tiêu dùng bị chiphối bởi phong tục, tập quán và khả năng kinh tế Với đà phát triển kinh tếmạnh mẽ trong hơn 10 năm gần đây, nhiều thói quen tiêu dùng, nhất là ở thế
hệ trẻ, đã trở thành một trong những nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếpkhiến cho các nguồn tài nguyên bị khai thác và môi trường bị ô nhiễm, gâymất cân bằng sinh thái và phát triển không bền vững Các hoạt động đã triểnkhai mới dừng ở nâng cao nhận thức cộng đồng trong sử dụng các sản phẩmsinh thái, túi nilon sinh thái, 3R và chỉ là những hoạt động đơn lẻ, chưa kếtnối với nhau, phạm vi tác động chỉ nằm trong khuôn khổ của một nhóm đốitượng hưởng thụ trực tiếp, vì vậy chưa có tính phổ biến và tính bền vững.Hiện nay, việc cung cấp sản phẩm xanh khá hạn chế, sản phẩm xanhđược bày bán ở siêu thị lớn hoặc những cửa hàng riêng tại những thành phốlớn và giá cả của những sản phẩm này cao hơn so với những sản phẩmthường Vì thế, việc tuyên truyền kêu gọi sử dụng sản phẩm xanh cũng gặpnhiều khó khăn đối với những người tiêu dùng thuộc nhóm đối tượng có thunhập thấp
2.2 Thực trạng về môi trường và tài nguyên tại Việt Nam
2.2.1 Thực trạng về môi trường
Sự phát triển đô thị, khu công nghiệp, du lịch và việc đổ bỏ các loại chấtthải vào đất, biển, các thuỷ vực đã gây ô nhiễm môi trường ở quy mô ngàycàng rộng, đặc biệt là các khu đô thị Nhiều vấn đề môi trường tác độngtương tác với nhau ở các khu vực nhỏ, mật độ dân số cao Ô nhiễm khôngkhí, rác thải, chất thải nguy hại, ô nhiễm tiếng ồn và nước đang biến nhữngkhu vực này thành các điểm nóng về môi trường
Trang 10Hiện nay, CTR phát sinh từ các đô thị chiếm khoảng 46% tổng lượngCTR của cả nước và tăng trung bình 10-16% mỗi năm Việc xử lý và quản lýCTR chưa hợp lý, không hợp vệ sinh không những gây ảnh hưởng tới môitrường mà còn ảnh hưởng tới phát triển kinh tế – xã hội và sức khỏe ngườidân Bên cạnh đó, CTR y tế nguy hại phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hếtcác địa phương là nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh và hóa chất độc hại cho conngười.
Tại hầu hết các đô thị đều chưa có hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tậptrung Một số đô thị đã có một số trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung tỷ
lệ xử lý còn rất thấp so với yêu cầu
Ngoài ra, khí thải, bụi phát sinh từ hoạt động giao thông vận tải, xâydựng, cơ sở sản xuất không được kiểm soát chặt chẽ đã và đang gây ô nhiễmmôi trường nghiêm trọng tại các thành phố, đô thị lớn
Ở khu vực nông thôn, chất thải từ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt củangười dân chưa được thu gom, xử lý đúng quy cách, hợp vệ sinh; tình trạng
sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật tràn lan dẫn đến ô nhiễmmôi trường nông thôn ngày càng gia tăng, một số nơi rất nghiêm trọng
Ước tính mỗi năm tại khu vực nông thôn ở nước ta phát sinh khoảng 7triệu tấn rác thải sinh hoạt, hơn 14.000 tấn bao bì hóa chất bảo vệ thực vật,phân bón các loại, 76 triệu tấn rơm rạ và khoảng 47 triệu tấn chất thải chănnuôi (chưa kể một khối lượng lớn chất thải sản xuất từ các làng nghề) trongkhi tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt chỉ vào khoảng 40 – 50% Việc thu gom, xử
lý chất thải từ bao bì, chai lọ hóa chất bảo vệ thực vật hiện cũng còn nhiềuhạn chế Các loại vỏ bao bì, vỏ chai hóa chất bảo vệ thực vật thường bị vứtbừa bãi tại ruộng, góc vườn hoặc nguy hiểm hơn, có trường hợp còn vứt ngayđầu nguồn nước sinh hoạt, gây ra nhiều ảnh hưởng nguy hiểm tới sức khỏecon người và môi trường xung quanh
Trang 11Hiện nay, theo số liệu thống kê, đến hết năm 2015, cả nước có tới 5.096làng nghề và làng có nghề, trong đó, số làng nghề truyền thống được côngnhận hiện nay là 1.748 làng nghề Số lượng làng nghề được quy hoạch trongkhu/cụm công nghiệp làng nghề là rất ít, tình hình xử lý môi trường tại cáclàng nghề nhiều nơi còn bị bỏ ngỏ Các làng nghề đa số chưa xây dựng các
hệ thống xử lý chất thải, các loại khí thải, nước thải đều xả trực tiếp ra môitrường, đặc biệt là nước thải tại các làng nghề tái chế kim loại, chế biến nôngsản và thủy sản,… đang là vấn đề hết sức bức xúc gây ảnh hưởng đến môitrường và sức khỏe người dân, hình thức xử lý chất thải rắn cũng chỉ bằngcách chôn lấp và đốt là chủ yếu
Hoạt động của các làng nghề đã và đang gây áp lực cục bộ rất lớn đếnchất lượng môi trường Kết quả khảo sát 52 làng nghề điển hình trong cảnước cho thấy, 46% trong số đó có môi trường bị ô nhiễm nặng (về khôngkhí hoặc nước hoặc đất, hoặc cả ba dạng), 27% ô nhiễm vừa và mức độ ônhiễm của các làng nghề không giảm mà còn có xu hướng gia tăng
2.2.2 Thực trạng về tài nguyên
Tài nguyên thiên nhiên (sau đây gọi là tài nguyên) có trong các thànhphần môi trường, tồn tại dưới dạng tự nhiên, không phụ thuộc vào ý chí củacon người Tài nguyên là thành phần không thể thiếu, được khai thác, sửdụng phục vụ cuộc sống và sự phát triển của xã hội loài người Vì vậy, vớimỗi quốc gia, dân tộc, tài nguyên là nguồn tài sản, nguồn lực, nguồn vốn tựnhiên đặc biệt quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước
Việt Nam có diện tích tự nhiên khoảng 331.698km2, bờ biển dài hơn3.260km, được xếp ở quy mô trung bình, đứng thứ 59 trong tổng số 200 quốcgia và vùng lãnh thổ trên thế giới Tuy nhiên, do dân số đông (hơn 90 triệungười, xếp thứ 13 trên thế giới) nên bình quân diện tích tự nhiên trên đầungười rất thấp (khoảng 0,38 ha), chỉ bằng 1/5 mức bình quân của thế giới(1,96 ha) Việt Nam có sự đa dạng về địa chất, địa hình, tài nguyên khoáng