1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

chính sách về hàng hóa công cộng vd về tài nguyên khoáng sản

25 255 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 78,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm và thuộc tính cơ bản của hàng hóa công cộng Khái niệm hàng hóa công cộng: Hàng hóa công cộng là những loại hàng hóa mà việc một cá nhân này đang hưởng thụ những lợi ích do

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Cùng với vai trò phân phối lại thu nhập và cơ hội kinh tế cho mọi người

và bắt buộc người dân sử dụng hàng hóa khuyến dụng, những chính sáchchính là cơ sở quan trọng để Chính phủ đưa hang hóa công cộng sử dụng tốtnhằm giúp thị trường hoạt động có hiệu quả hơn và các kết quả kinh tế tạo racông bằng hơn

Một trong những hang hóa công cộng mà ai cũng biết, tiêu dùng nó hàngngày nhưng chưa chắc đã hiểu hết về nó chính là tài nguyên khoáng sản Đó

là các hàng hóa và dịch vụ hữu ích cho xã hội nhưng không thể hoặc rất khókhăn để chia nhỏ hàng hóa đó thành từng đơn vị tiêu dùng

Do đó, việc nghiên cứu những chính sách của nền kinh tế thị trường đặcbiệt là hàng hóa công cộng đang trở thành một vấn đề cần thiết Chính vì

thế, tôi đã lựa chọn đề tài “ Chính sách hàng hóa công cộng Ví dụ về tài nguyên khoáng sản” để thực hiện bài tiểu luận của mình Bài tiểu luận

nhằm mục đích cung cấp một số kiến thức về hàng hóa công cộng như kháiniệm, phân biệt hàng hóa công cộng, thực trạng cung cấp hàng hóa côngcộng … giúp có cái nhìn đầy đủ hơn về hàng hóa công cộng và sự cần thiếtcủa Chính phủ trong cung cấp và quản lý hàng hóa công cộng

1

Trang 2

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Hàng hóa công cộng

1.1.1 Khái niệm và thuộc tính cơ bản của hàng hóa công cộng

Khái niệm hàng hóa công cộng: Hàng hóa công cộng là những loại hàng

hóa mà việc một cá nhân này đang hưởng thụ những lợi ích do hàng hóa đótạo ra không ngăn cản những người khác cùng đồng thời hưởng thụ lợi íchcủa hàng hóa đó

Thuộc tính cơ bản của hàng hóa công cộng:

Không có tính cạnh tranh: nghĩa là khi có thêm một người cùng sử dụnghàng hóa công cộng sẽ không làm giảm lợi ích tiêu dùng của những ngườitiêu dùng hiện có Có thể hiểu hàng hóa công cộng có thể đáp ứng được lợiích của nhiều người không hạn chế số người sử dụng Thực tế, vấn đề lợi íchcủa hàng hóa công không phải lúc nào cũng như nhau đối với nhiều người

mà nó phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của người sử dụng hàng hóa này,

họ có thể khai thác được nhiều hoặc ít lợi ích từ nó, cũng có thể là do sự khácnhau trong nhu cầu của họ

Không có tính loại trừ: được hiểu ngầm là về mặt kỹ thuật là không thểhoặc là chi phí rất tốn kém để ngăn ngừa những người khác cùng sử dụngloại hàng hóa này Có thể hiểu là người tiêu dùng không bị cản trở khi có nhucầu về nó Có những hàng hóa công cộng mà chi phí để duy trì hệ thống quản

lý nhằm loại trừ bằng giá (gọi là chi phí giao dịch) rất tốn kém, ví dụ chi phí

để duy trì hệ thống các trạm thu phí trên đường cao tốc,…thì có thể sẽ hiệuquả hơn nếu cung cấp nó miễn phí và tài trợ bằng thuế

Trang 3

1.1.2 Phân biệt các loại hàng hóa

Hàng hóa công cộng thuần túy và hàng hóa cá nhân thuần túy:

Tất nhiên là hàng hóa cá nhân không có 2 đặc tính này Các bạn có thểthấy rất rõ nếu so sánh 2 hàng hóa Ví dụ nhà ở là hàng hóa cá nhân thì cáinhà đó đã là của bạn thì người khác không được quyền sử dụng nếu khôngđược bạn đồng ý (đây là tính cạnh tranh), bạn có quyền không cho ngườikhác vào (đây là tính loại trừ) Còn công viên là hàng hóa công cộng, trongcùng 1 lúc có rất nhiều người trong công viên nhưng bạn vẫn có thể tập thểdục hoặc đi dạo mà không làm ảnh hưởng đến lợi ích của người khác, vànhân viên công viên cũng không thể cho người khác vào mà không cho bạnvào

Hàng hóa công cộng thuần túy và hàng hóa công cộng không thuần túy:

Như định nghĩa ở trên thì hàng hóa công cộng là hàng hóa có 2 thuộctính cơ bản là tính không cạnh tranh và tính không loại trừ Hàng hóa côngcộng nào mang đầy đủ 2 đặc tính trên thì là hàng hóa công cộng thuần túy.Một lượng hàng hóa công cộng khi cung cấp cho 1 cá nhân thì lập tức có thểtiêu dùng bởi tất cả các cá nhân khác trong cộng đồng ví dụ như :quốcphòng, đài phát thanh, đèn chiếu sáng đường,…Ngược lại là hàng hóa cánhân thuần túy thì nó chỉ tạo ra lọi ích cho người mua nó chứ không phải bất

kỳ ai Nói cách khác hàng hóa cá nhân thuần túy có tính cạnh tranh trong tiêudùng, vừa dễ dàng loại trừ tất cả những ai không sẵn sàng thanh toán theomức giá thị trường

Vì hàng hóa công cộng thuần túy không có tính cạnh tranh trong tiêudùng nên với một lượng hàng hóa công cộng thuần túy nhất định, chi phíbiên để phục vụ thêm một người sử dụng bằng 0 Tuy nhiên chi phí biên đểsản xuất hàng hóa công cộng vẫn lớn hơn 0 vì để sản xuất thêm hàng hóacông cộng đòi hỏi tốn nguồn lực của xã hội

Trang 4

Trong thực tế rất ít hàng hóa công cộng thỏa mãn một cách chặt chẽ haithuộc tính nói trên và hàng hóa công cộng chỉ có 1 trong 2 thuộc tính trênđược gọi là àng hóa công cộng không thuần túy Chúng được coi là trunggian giũa hàng hóa công cộng thuần túy và hàng hóa cá nhân thuần túy Có 2loại hàng hóa công cộng không thuần túy là hàng hóa công cộng có thể tắcnghẽn và hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá.

Hàng hóa công cộng có thể tắc nghẽn là những hàng hóa mà khi có thêmnhiều người sử dụng thì có thể gây ra sự ùn tắc hay tắc nghẽn khiến lợi íchcưa những người tiêu dùng trước đó bị giảm sút

Chi phí để phục vụ cho những người tăng thêm sau một giới hạn nhấtđịnh không còn bằng 0 nữa mà bắt đầu tăng lên Điểm giới hạn đó gọi làđiểm tắc nghẽn Một hàng hóa công cộng có thể là hàng hóa công cộng thuầntúy vào thời điểm này nhưng lại là hàng hóa công cộng có thể tắc nghẽn vàothời điểm khác Ví dụ như ghế đá trong công viên vào những ngày bìnhthường sẽ là hàng hóa công cộng thuần túy vì nó đủ chỗ cho những người cónhu cầu ngồi Tuy nhiên vào những ngày lễ như 14/2 vừa qua hay như mùng8/3, 20/10 rất nhiều đôi muốn đi chơi công viên với nhau vì thế nên tính cạnhtranh để có ghế đá giữa các đôi muốn ngồi tâm sự sẽ tăng lên, chắc chắn ghế

đá sẽ hết chỗ như vậy làm giảm lợi ích của những người trong công viên vàxảy ra hiện tượng tắc nghẽn

Hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá, hay gọi tắt là HHCC có thểloại trừ, là những hàng hóa công cộng mà lợi ích của chúng có thể định giá.Việc đi lại có thể loại trừ bằng giá, nhờ việc đặt các trạm thu phí hai bên đầucầu…

1.2 Khái niệm tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản thường tập trung trong một khu vực gọi là mỏkhoáng sản Tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa rất quan trọng trong sự pháttriển kinh tế của loài người và khai thác sử dụng tài nguyên khoáng sản có

Trang 5

tác động mạnh mẽ đến môi trường sống Một mặt, tài nguyên khoáng sản lànguồn vật chất để tạo nên các dạng vật chất có ích và của cải của con người.Bên cạnh đó, việc khai thác tài nguyên khoáng sản thường tạo ra các loại ônhiễm như bụi, kim loại nặng, các hoá chất độc và hơi khí độc (SO2, CO,CH4 v.v ).

Tài nguyên khoáng sản được phân loại theo nhiều cách:

Theo dạng tồn tại: Rắn, khí (khí đốt, Acgon, He), lỏng (Hg, dầu, nướckhoáng)

Theo nguồn gốc: Nội sinh (sinh ra trong lòng trái đất), ngoại sinh (sinh

ra trên bề mặt trái đất)

Theo thành phần hoá học: Khoáng sản kim loại (kim loại đen, kim loạimàu, kim loại quý hiếm), khoáng sản phi kim (vật liệu khoáng, đá quý, vậtliệu xây dựng), khoáng sản cháy (than, dầu, khí đốt, đá cháy)

1.3 Cung cấp hàng hóa công cộng thuần túy và hàng hóa công cộng

không thuần túy

1.3.1 Cung cấp hàng hóa công cộng thuần túy

Một trong những khó khăn khi cung cấp HHCC là không có một thịtrường để trao đổi mua bán hàng hóa này giống như thị trường tư nhân.Chúng ta có thể cung cấp HHCC, như vậy có thể nói ta có thể vẽ được đườngcung đối với HHCC nhưng lợi ích và mức giá mà mỗi người sẵn sàng trả cholợi ích mà HHCC mang lại là rất khó để đo lường Nhà kinh tế học ThụyĐiển Erik Lindahl đã đưa ra một mô hình nhằm tạo ra một mô hình nhằm tạo

ra một giải pháp theo kiểu thị trường cho HHCC thuần túy Theo mô hìnhnày, việc xác định mức độ sẵn sàng chi trả của các cá nhân cho HHCC,Chính phủ có thể xác định được một cơ chế đánh thuế tối ưu theo mức độ lợiích mà cá nhân nhận được từ HHCC Cân bằng Lindahl được xác định tại

Trang 6

điểm giao giữa đường cung về HHCC và mức thuế người dân sẵn sàng trảcho lợi ích mình được hưởng từ HHCC.

Cân bằng Lindahl cho thấy một tập hợp giá Lindahl và mức cung cấpHHCC hiệu quả được tất cả các thành viên trong xã hội nhất trí và tự nguyệnđóng góp Tuy nhiên, áp dụng nguyên tắc đóng góp tự nguyện đòi hỏi tất cảcác thành viên bỏ phiếu một cách trung thực theo đúng lợi ích biên mà họnhận được từ HHCC mang lại Nếu người A có thể đoán trước số tiền tối đa

mà người B sẵn sàng trả cho HHCC thì anh ta sẽ cố gắng buộc người B phảiđến gần sự phân bổ đó bằng cách bộc lộ nhu cầu của mình về HHCC thấphơn thực tế Tương tự, người B có động cơ như thế, hành vi tính toán của các

cá nhân có thể ngăn cản việc đạt được một mức HHCC hiệu quả

Ở một mức độ cực đoan, nếu cá nhân nhận thấy rằng việc mình có trảtiền để được tiêu dùng HHCC thuần túy hay không không ảnh hưởng tới việchưởng thụ lợi ích của HHCC đó thì lúc đó họ đã trở thành những kẻ ănkhông Kẻ ăn không là những người tìm cách hưởng thụ lợi ích của HHCC

mà không đóng góp một đồng nào cho chi phí sản xuất và phân phối HHCCđó

Nếu chỉ có một số ít người muốn trở thành kẻ ăn không thì thị trườngvẫn cung cấp được hàng hoá này mà không cầ Chính phủ Trong thực tế, ởnhững cộng đồng nhỏ, mọi người hầu như đã biết hết nhau, việc che giấu lợiích cá nhân là rất khó thì dư luận xã hội là một biện pháp rất tốt để cá nhânđóng góp đầy đủ cho HHCC Vì thế ở các thôn xóm nhỏ hoặc các khu tậpthể, ta vẫn thấy cá nhân có thể tự thỏa thuận với nhau về mức đóng góp chocác công trình công cộng như đường làng, ngõ xóm, các công trình cui chơicho trẻ em, đường điện, đường nước…

Tuy nhiên, khi cộng đồng càng lớn thì việc che giấu ý muốn cá nhâncàng dễ dàng, sự phát hiện và trừng phạt của xã hội đối với những kẻ ănkhông càng khó khăn thì động cơ trở thành kẻ ăn không càng lớn Nếu tất cả

Trang 7

các cá nhân trong cộng đồng đều chọn chiến lược hành động như những kẻ

ăn không thì kết cục sẽ không có HHCC nào được cung cấp Điều này đặcbiệt khó khăn khi tư nhân đứng ra cung cấp HHCC, vì họ không có khả năngcưỡng chế các cá nhân phải trả tiền sử dụng HHCC mà họ cung cấp Đâycũng chính là lý do khiến khu vực tư nhân không muốn tham gia cung cấpHHCC thuần túy

Chính phủ có thể khắc phục được vấn đề này bằng cách buộc các cánhân phải đóng góp bắt buộc thông qua thuế

1.3.2 Cung cấp hàng hóa công cộng không thuần túy

Đối với những hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá:

Với những HHCC có thể loại trừ bằng giá thì quan điểm chung là nêndùng giá để loại trừ bớt việc tiêu dùng nhằm tranh gây ra tắc nghẽn, đồngthời đảm bảo các cá nhân sẽ sử dụng hiệu quả hàng hóa này

Tuy quan điểm này là đúng đối với những hàng hóa nhanh bị tắc nghẽn,nhưng nó có thể vẫn gây tổn thất phúc lợi cho xã hội nếu việc tiêu dùng hànghóa đó chưa đạt đến điểm tắc nghẽn Lý do là khi chưa đến điểm tắc nghẽnnghĩa là việc tiêu dùng chúng không có tính cạnh tranh và vẫn tạo ra phúc lợi

xã hội

Trang 8

(Lưu ý: Qe và Q* đều chỉ lượng cầu cân bằng, E là giao điểm của đườngcầu và trục tung, A là giao điểm của đường cầu và đường giá)

Công suất thiết kế qua cầu là Q c thì điểm tắc nghẽn là Qc Nếu số lượtqua cầu tối đa là Qm thì không có hiện tượng tắc nghẽn, tức là chi phí phục

vụ thêm một lượt qua cầu là bằng 0

Nếu việc qua cầu được thực hiện miễn phí thì số lượt qua cầu sẽ đạt Qm

và lợi ích thu được từ toàn bộ cây cầu là toàn bộ tam giác OEQm Nhưng nếumột hãng tư nhân đứng ra xây dựng và thu phí qua cầu tại mức P* thì số lượtqua cầu là Q* Một số lượt qua cầu mà lợi ích biên lớn hơn chi phí biên sẽkhông được thực hiện (Qm – Q*), cho dù hãng tư nhân thu được một doanhthu từ phí bằng diện tích OP*AQ* Tổn thất phúc lợi đối với xã hội là diệntích tam giác AQ*Qm

Có thể nói, nếu hàng hóa mà chi phí của việc cung cấp bằng 0 thì hànghóa đó nên được cung cấp miễn phí, còn chi phí để sản xuất ra chúng có thểđược trang trải thông qua các nguồn thu khác, ví dụ từ thuế…

Đối với những hàng hóa công cộng có thể tắt nghẽn:

Trường hợp thứ hai ta xem xét ở đây là những hàng hóa công cộng cóthể tắc nghẽn, do đóc nên loại trừ bớt việc tiêu dùng để tránh tình trạng tắcnghẽn, nhưng chi phí để thực hiện việc loại trừ này quá lớn khiến chính phủphải chấp nhận cung cấp công cộng hàng hóa này Gọi tất cả các chi phí liênquan đến việc điều hành một hệ thống giá cả để loại trừ việc tiêu dùngHHCC là chi phí giao dịch Đó là toàn bộ những chi phí cần thiết để hoànthành một giao dịch kinh tế, chẳng hạn chi phí để duy trì hệ thống trạm thuphí trên đường cao tốc

Xét một ví dụ về việc đi lại trên đường cao tốc trường hợp này được mô

tả trong hình sau Trục hoành thể hiện số lượt người đi lại trên đường đótrong một ngày, trục tung thể hiện mức giá Việc đi lại trên đường cao tốc có

Trang 9

thể gây tắc nghẽn, tức là chi phí biên cảu việc cung cấp sẽ lớn hơn 0 trướckhi đạt mức tiêu dùng tối đa Điều này được mô tả bằng việc Qc (công suấtthiết kế cảu con đường) nhỏ hơn Qm (mức tiêu dùng tối đa khi việc đi lạitrên đường là miễn phí) Như vậy, mức tiêu dùng tối ưu nên dùng lại ở Q*,khi chi phí biên bắng lợi ích biên.

Nếu chính phủ cung cấp công cộng dịch vụ này thì tổn thất mà xã hộiphải gánh chịu là phẩn diện tích EFQm Đây là phẩn tổn thất xảy ra do tiêudùng quá mức Để tránh phần tổn thất này, cần dùng một cơ chế loại trừ bằnggiá nào đó, chẳng hạn đặt trạm thu phí ở tất cả các ngả đường dẫn vào conđường này Tuy nhiên điều đó làm chi giao dịch để làm điều đó tăng rất cao,làm mức lệ phí tăng lên mức Po và số lượng đi lại trên tuyến đường này giảmxuống còn Qo

Việc loại trừ bằng lệ phí sử dụng đã áp đặt thêm cho xã hội một khoảntổn thất, đó là phần diện tích EAQcQo Đây là phần lợi ích mà xã hội nhậnđược do tăng mức tiêu dùng từ Qo lên Q*, vì chi phí biên vẫn nhỏ hơn lợi íchbiên mà xã hội nhận được

Như vậy, quyết định cung cấp HHCC theo hình thức nào: Công cộng haythu phí cần phải so sánh giữa tổn thất khi cung cấp công cộng (diện tíchEFQm) và tổn thất gây ra do cung cấp tư nhân (diện tích AEQcQo) Nếu diệntích EFQm nhỏ hơn thì cung cấp công cộng có thể là một hình thức cung cấphiệu quả hơn

Tuy nhiên có một điểm cần lưu ý là hình thức cung cấp HHCC khôngliên quan gì đến việc ai là người cung cấp nó Ngay cả khi xem xét xemHHCC có nên được cung cấp hay không thì cũng chỉ có nghĩa là hàng hóa đó

có nên hay không nên thu phí sử dụng Còn chính phủ cũng không nhất thiếtphải là người đứng ra sản xuất mà có thể tài trợ tư nhân sản xuất HHCC

Trang 10

CHƯƠNG 2 CHÍNH SÁCH HÀNG HÓA CÔNG CỘNG VỀ TÀI NGUYÊN

KHOÁNG SẢN 2.1 Tổng quan về tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam

Theo kết quả điều tra địa chất, thăm dò khoáng sản đến nay đã phát hiệnđược trên 5000 mỏ và điểm quặng với trên 60 loại khoáng sản khác nhau.Đây là tài sản thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý và làmột trong những nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước, nhất là tronggiai đoạn “Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá” Theo trữ lượng và tài nguyên đãđược điều tra, thăm dò, khoáng sản rắn ở nước ta được chia thành 3 nhómsau:

- Nhóm khoáng sản có quy mô lớn, tầm cỡ thế giới, có thể khai thác lâudài và xuất khẩu gồm: bauxit, đất hiếm, đá vôi, cát thuỷ tinh, đá xây dựng;

- Nhóm khoáng sản có tổng tài nguyên không lớn, đủ để khai thác sửdụng trong nước trong thời gian hạn chế gồm: than đá, quặng sắt, titan, crom,mangan, đồng, thiếc, chì kẽm, wonfram, vàng, antimon, felspat, kaolin, talc,fluorit, barit, graphit, dolomit, photsphorit, bentonit, diatomit, đá ốp lát cácloại

- Nhóm khoáng sản mới ghi nhận được các dấu hiệu, nhưng chưa pháthiện được mỏ như: platin, tantan, niobi, liti, volastonit, zeolit, keramzit,vecmiculit, nephelin Kết quả điều tra đến nay cũng cho thấy ở Việt Nam ít

có khả năng phát hiện mỏ thạch cao, muối mỏ, ít có khả năng phát hiện thêmcác mỏ than mỡ Hiện trạng tài nguyên khoáng sản đã điều tra, thăm dò ởnước ta được trình bày trong Bảng 1

Ngoài ra, trên địa bàn cả nước đã phát hiện khoảng 400 nguồn nướckhoáng và nước nóng thiên nhiên, trong đó có 287 nguồn đã được điều tra,

Trang 11

có kết quả tương đối đầy đủ, đáng tin cậy Các nguồn nước có thành phần vànhiệt độ tương đối đa dạng; phân bố tương đối đều tại các vùng, miền.

Như vậy, so với tỷ lệ diện tích, có thể nói: Việt Nam là Quốc gia giàu tàinguyên khoáng sản và phân bố không đồng đều ở các địa phương

2.2 Chính sách của Nhà nước về tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam

Trước đây, trong thời kỳ bao cấp, hoạt động khai thác khoáng sản chủyếu do các tổng công ty, công ty của Nhà nước thực hiện tại các mỏ đã đượctìm kiếm, thăm dò bằng nguồn vốn của Nhà nước như apatit, quặng sắt, than,

đá vôi, sét làm nguyên liệu xi măng, thiếc, antimon, vonfram v.v với sốlượng khoảng gần 200 mỏ, khu vực khai thác trong cả nước Sau năm 1996,khi Luật Khoáng sản được ban hành, với chính sách khuyến khích đầu tư củaNhà nước, hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản đã phát triển nhanh cả

về quy mô và thành phần kinh tế tham gia hoạt động khoáng sản, nhất làtrong vài năm trở lại đây Theo thống kê, giá trị công nghiệp ngành khai tháckhoáng sản (trừ dầu khí) đã tăng từ 4,8% (năm 1995) lên đến trên 10% GDPhàng năm của Việt Nam trong những năm gần đây Tình hình hoạt động thăm

dò, khai thác, chế biến khoáng sản Việt Nam có thể khái quát như sau:

2.2.1 Chính sách trong hoạt động thăm dò

Từ năm 1990, Nhà nước chủ trương không thực hiện công tác thăm dòkhoáng sản bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước Chính vì vậy, sau khi LuậtKhoáng sản ban hành, hoạt động thăm dò khoáng sản được thực hiện chủ yếubằng các nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước Theo thống kê, từ năm 1997đến tháng 12 năm 2008, trên cả nước đã có 524 đề án thăm dò được Bộ Côngnghiệp (trước đây), Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định, cấp giấy phépthăm dò Ngoài ra, từ khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoángsản có hiệu lực vào tháng 10 năm 2005 đã có 331 đề án thăm dò khoáng sảnlàm VLXDTT được thực hiện theo giấy phép do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thànhphố cấp

Trang 12

Phần lớn các mỏ sau khi kết thúc thăm dò, phê duyệt trữ lượng đãchuyển sang giai đoạn khai thác Trong các năm 2007, 2008 hoạt động thăm

dò khoáng sản diễn ra khá sôi động đối với các loại khoáng sản làm nguyênliệu xi măng, quặng titan sa khoáng, đá hoa trắng, đá làm VLXDTT, cát, sỏilòng sông v.v… Có thể nói, từ Luật Khoáng sản ban hành đến nay, với việctích cực tham gia hoạt động thăm dò khoáng sản của các tổ chức, cá nhân từmọi thành phần kinh tế đã góp phần đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư cho hoạtđộng thăm dò khoáng sản, góp phần làm rõ và gia tăng đáng kể trữ lượngmột số loại khoáng sản

2.2.2 Chính sách trong hoạt động khai thác khoáng sản

* Về loại hình khoáng sản được khai thác Tính riêng các mỏ khoáng sản

do cơ quan Trung ương cấp giấy phép, đến ngày 31 tháng 12 năm 2008 đã cókhoảng 350 mỏ/khu vực mỏ thuộc 10/12 nhóm khoáng sản và 68 điểm nướckhoáng, nước nóng đang khai thác Tính riêng cho khoáng sản rắn thì nhómkhoáng sản vật liệu xây dựng (sét xi măng, đá vôi xi măng, đá ốp lát các loại,

đá phiến lợp, cát silic phụ gia xi măng, nguyên liệu phụ gia xi măng v.v…)chiếm tỷ lệ 36,96 % Nhóm khoáng sản nhiên liệu (than mỡ, than antraxit)chiếm tỷ lệ 22,11 % Nhóm khoáng sản nguyên liệu sứ, gốm, thuỷ tinh, chịulửa, bảo ôn (kaolin, fenspat, sét gốm sứ, sét chịu lửa, đôlômit, quăczit, cátthuỷ tinh) chiếm tỷ lệ 15,84 % Nhóm khoáng sản kim loại cơ bản thôngthường (thiếc, anitmon, đồng, chì - kẽm và nikel) chiếm tỷ lệ 4,29 % Nhómkhoáng sản sắt và hợp kim của sắt (sắt, mangan, crômit và wonfram) chiếm

tỷ lệ 5,61 % Nhóm khoáng sản kim loại nhẹ (bauxit, ilmenit) chiếm tỷ lệ7,59 % Nhóm khoáng sản nguyên liệu kỹ thuật (tacl, đá vôi trắng, các khuônđúc, sét bentonit) chiếm tỷ lệ 4,29 % Nhóm khoáng sản quý hiếm (đá quý,saphia) chiếm tỷ lệ: 0,66 % Nhóm khoáng sản hoá chất và phân bón (apatit,fluorit, secpentin) chiếm tỷ lệ: 1,65 % và nhóm khoáng sản kim loại quý(vàng) chiếm 0,99 %

Ngày đăng: 15/12/2017, 20:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w