1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quan điểm của john maynard keynes trong phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường cho VD ở việt nam

22 348 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 108,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự pháttriển của chủ nghĩa xã hội phát triển hưng thịnh đến những năm 70 của thế kỉ XX: Lúc đầu sự thành công của nền kinh tế kế hoạch hóa thu hút sự chú ýcủa các nhà kinh tế tư sản Tóm

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bài phát biểu năm 1954 với tư cách chủ tịch trước Hiệp hội kinh

tế Mỹ, Simon Kuznets đã cho rằng bất bình đẳng thu nhập đầu tiên gia tăngnhưng sau đó giảm xuống khi đất nước công nghiệp hoá (1955) Trongnhững năm sau đó, nhiều nghiên cứu học thuật xác nhận hiệu ứng Kuznets

cho các nước công nghiệp tiên tiến.

Trong khi cuộc tranh luận của các học giả gần như không có tầm quantrọng bên ngoài giới học thuật, việc tìm hiểu các áp lực làm giảm tình trạngbất bình đẳng có tiềm năng mang lại những ảnh hưởng âm vang trong cuộcsống thực tế

Trong bối cảnh khủng hoảng và suy giảm kinh tế toàn cầu , hầu hết cácnước phát triển trên thế giới trong đó có Việt Nam luôn đi tìm một lý thuyếtkinh tế để giải quyết và đưa ra những giải pháp hợp lý nhất để vượt quakhủng hoảng Một trong các học thuyết nổi tiếng ấy, có thể kể đến họcthuyết kinh tế nổi tiếng của John Maynard Keynes, hơn lúc nào hết họcthuyết Keynes lại càng được đề cập và ứng dụng nhiều nhất Trong bài tiểu

luận này chúng ta sẽ đề cập và tìm hiểu: “ Quan điểm của John Maynard Keynes trong phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ; và ứng dụng học thuyết kinh tế Keynes vào thực tiễn Việt Nam hiện nay như thế nào”

1

Trang 2

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Thân thế và sự nghiệp của J.M.Keynes

John Maynard Keynes (1883-1946) là một nhà kinh tế học người Anh;ông học kinh tế tại Đại học Cambridge Keynes đã từng vô cùng say mê toánhọc và lịch sử, nhưng cuối cùng ông đã chuyển sự yêu thích sang Kinh tế học

do sự thuyết phục của một trong những giáo sư giảng dạy ông, nhà kinh tếhọc nổi tiếng Alfred Marshall (1842-1924) Sau khi tốt nghiệp Cambridge,ông đã làm việc tại rất nhiều vị trí trong Chính phủ, tập trung vào việc ápdụng kinh tế học để giải quyết các vấn đề của thế giới thực Ông rất được coitrọng trong Chiến tranh Thế giới I và đã được giao chức vụ là nhà cố vấntrong các cuộc hội thảo chuẩn bị cho Hiệp ước Versailles

Năm 1944 ông đã dẫn đầu đoàn đại biểu Anh đến Mỹ tham dự hội nghịtài chính tiền tệ quốc tế tổ chức tại thành phố Forest, trong hội nghị này ông

đã có tác dụng rất quan trọng, ông đã tích cực vạch kế hoạch thành lập hai tổchức là tổ chức quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới về tái thiết và pháttriển do ông làm thống đốc

Tuy nhiên, chính cuốn sách được xuất bản vào năm 1936 “Lý thuyết vềthất nghiệp, lãi suất và tiền tệ” đã đặt nền móng cho di sản Thế giới của ông:Kinh tế học Keynes

1.2 Hoàn cảnh ra đời học thuyết Keynes

Thời gian: Xuất hiện từ những năm 30 của thế kỉ XX và thống trị đếnnhững năm 70 của thế kỉ XX

Về kinh tế - xã hội ở các nước tư bản: Ở các nước phương Tây khủnghoảng kinh tế, thất nghiệp thường xuyên, nghiêm trọng (điển hình là cuộc

Trang 3

khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933) đã chứng tỏ các lý thuyết ủng hộ tự dokinh doanh (tự điều tiết, “bàn tay vô hình”, lý thuyết “cân bằng tổng quát”)của trường phái cổ điển và phát triển lành mạnh Chủ nghĩa tư bản phát triểnvới lực lượng sản xuất phát triển cao đòi hỏi sự can thiệp của cổ điển mớikhông còn sức thuyết phục, tỏ ra kém hiệu nghiệm, không đảm bảo cho nềnkinh tế

Nhà nước vào kinh tế (chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước) Sự pháttriển của chủ nghĩa xã hội (phát triển hưng thịnh đến những năm 70 của thế

kỉ XX): Lúc đầu sự thành công của nền kinh tế kế hoạch hóa thu hút sự chú ýcủa các nhà kinh tế tư sản

Tóm lại: tình hình kinh tế xã hội ở các nước tư bản và trên thế giới yêucầu một lý thuyết kinh tế mới có khả năng thích ứng với tình hình mới bảo

vệ, duy trì và phát triển chủ nghĩa tư bản và học thuyết của Keynes đáp ứngđược, đó là lý thuyết kinh tế về chủ nghĩa tư bản có điều tiết

1.3 Các học thuyết kinh tế Keynes

1.3.1 Lý thuyết chung về việc làm

Theo Keynes: Việc làm không chỉ xác định tình hình thị trường laođộng, sự vận động của thất nghiệp mà còn bao gồm cả tình trạng sản xuất,khối lượng sản phẩm, quy mô thu nhập Việc làm cụ thể hóa tình trạng nềnkinh tế, cơ sở cho việc điều tiết nền kinh tế Khái quát lý thuyết việc làm:Việc làm tăng thì thu nhập thực tế tăng, do đó tiêu dùng tăng (tâm lý chung)nhưng tốc độ tăng tiêu dùng chậm vì khuynh hướng tiết kiệm một phần thunhập tăng thêm Do đó cầu giảm tương đối (so với sản xuất), cản trở việc mởrộng đầu tư của nhà tư bản Nhà kinh doanh sẽ thua lỗ nếu sử dụng toàn bộlao động tăng thêm để thỏa mãn số cầu tiêu dùng tăng (“Khuynh hướng tiêudùng giới hạn”)

Trang 4

Để khắc phục: phải có một khối lượng đầu tư nhằm kích thích quầnchúng tiêu dùng phần tiết kiệm của họ Việc mở rộng đầu tư của các nhà tưbản còn phụ thuộc vào “hiệu quả giới hạn của tư bản”

1.3.2 Các phạm trù cơ bản trong lý thuyết việc làm

Khuynh hướng tiêu dùng giới hạn:

Là khuynh hướng cá nhân phân chia phần thu nhập tăng thêm cho tiêudùng theo tỷ lệ ngày càng giảm dần Đây là quy luật tâm lý của mọi cộngđồng tiêu tiền, nó là nguyên nhân của sự giảm sút tương đối cầu tiêu dùngdẫn đến sản xuất trì trệ, khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp

Theo Keynes: khuynh hướng tiêu dùng giới hạn là một tương quan hàm

số giữa thu nhập và chi tiêu cho tiêu dùng rút ra từ thu nhập đó (C): C = X(R)

Có 3 nhân tố ảnh hưởng đến khuynh hướng này là:

Thứ nhất, thu nhập (R): thu nhập tăng thì tiêu dùng tăng và ngược lại Thứ hai, các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến thu nhập (thay đổi tiềncông danh nghĩa, cho một lao động, lãi suất, thuế khóa, )

Thứ ba, những nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến khuynh hướng tiêudùng Có thể chia làm 2 nhóm như sau:

Nhóm làm tăng tiết kiệm (lập khoản dự phòng rủi ro, đẻ dành cho tuổigià, cho việc học tập của con cái và bản thân, xây dựng tài sản, thậm chíthỏa mãn tính hà tiện đơn thuần) có thể khái quát thành sự thận trọng, nhìn

xa, tính toán, tham vọng, tự lập, kinh doanh, kiêu hãnh và hà tiện, điều nàylàm giảm tiêu dùng

Nhóm thứ hai làm giảm tiết kiệm tăng tiêu dùng (thích hưởng thụ, thiểncận, hào phóng, phô trương, xa hoa, )

Trang 5

Bốn loại động lực là: tiết kiệm kinh doanh (bảo đảm nguồn tài chính đểthực hiện cuộc đầu tư mới mà không mắc nợ) - Tiền mặt (bảo đảm nguồntiền mặt để đối phó với những bất trắc xảy ra - Cải tiến (bảo đảm tăng thunhập nhờ hiệu suất) và động lực thận trọng về tài chính (bảo đảm quỹ dự trữtài chính)

Biểu thị khuynh hướng tiêu dùng giới hạn (KHTDGH) (toán học): Kíhiệu: KHTDGH = dC / dR Trong đó: C là chi tiêu cho tiêu dùng rút ra từthu nhập, dC là gia tăng tiêu dùng, R là Thu nhập, dR là gia tăng thu nhập Hiệu quả giới hạn của tư bản

Theo Keynes, mục đích của các doanh nhân khi đầu tư là bán có “thuhoạch tương lai” Đó là chênh lệch giữa số tiền bán hàng với phí tổn cần thiết

để sản xuất ra hàng hóa đó Tương quan giữa “thu hoạch tương lai” và phítổn cần thiết để sản xuất hàng hóa đó gọi là hiệu quả của tư bản Cùng với sựtăng lên của vốn đầu tư thì hiệu quả của tư bản giảm dần và Keynes gọi đó làhiệu quả giới hạn của tư bản

Có hai nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là:

Thứ nhất là, đầu tư tăng làm cho khối lượng hàng hóa tăng dẫn đến giá

cả hàng hóa sản xuất thêm giảm

Thứ hai là, cung về hàng hóa tăng (sản xuất tăng) làm cho giá cung tổng

số tư bản tăng

Từ đó làm cho phí tổn sản xuất tăng và “thu hoạch tương lai” giảm vì thếhiệu quả tư bản giảm Như vậy tăng đầu tư sẽ dẫn đến làm giảm hiệu quảgiới hạn của tư bản

Đường biểu diễn mối quan hệ giữa gia tăng đầu tư và hiệu quả giới hạn

tư bản gọi là “đường cong đầu tư” hay “đường cong hiệu quả giới hạn của tưbản” (xem đồ thị)

Trang 6

Lãi suất:

Là phần trả công cho sự chia ly của cải tiền tệ (Số tiền trả cho việckhông sử dụng tiền mặt trong một khoảng thời gian nhất định) Không phảicho tiết kiệm hay nhịn ăn tiêu (vì khi tích trữ tiền mặt dù rất nhiều cũngkhông nhận được khoản trả công nào cả)

Lãi suất chịu ảnh hưởng của hai nhân tố là: khối lượng tiền trong tiêudùng (tỉ lệ nghịch) và sự ưa chuộng tiền mặt (tỉ lệ thuận) Đây là điểm quantrọng để Keynes đưa ra chính sách điều chỉnh kinh tế của Nhà nước (tănghiệu quả giới hạn tư bản và giảm lãi suất) Sự ưa chuộng tiền mặt là khuynhhướng có tính chất hàm số, biều diễn dưới dạng hàm số:

M = M1 + M2 = L1(R) + L2(r) (Hàm số của lãi suất)

M: Sự ưa chuộng TM

M1: Số TM dùng cho động lực giao dịch và dự phòng

M2: Số TM dùng cho động lực đầu cơ

Trang 7

L1: Hàm số TM xác định M1 tương ứng với thu nhập R

L2: Hàm số TM xác định M2 tương ứng với lãi suất r

Thu nhập (R) cũng phụ thuộc 1 phần vào r M1 cũng phụ thuộc r Vì⇒ M1 cũng phụ thuộc r Vìvậy sự ưa chuộng tiền mặt là HS của lãi suất (r)

Số nhân đầu tư:

Là mối quan hệ giữa gia tăng thu nhập (dR) với gia tăng đầu tư (dI) Nóxác định sự gia tăng đầu tư sẽ làm gia tăng thu nhập lên bao nhiêu lần (là hệ

số bằng số nói lên mức độ tăng của sản lượng do kết quả của mỗi đơn vị đầutư)

Cụ thể ta có:

C là chi tiêu cho tiêu dùng rút ra từ thu nhập và dC là gia tăng tiêu dùng

R là Thu nhập và dR là gia tăng thu nhập

I là đầu tư và dI là gia tăng đầu tư

S là tiết kiệm và dS là gia tăng tiết kiệm

Khi đó ta sẽ có công thức sau:

Từ đó công thức tính sự gia tăng sản lượng do đầu tư thêm là:

Q = R = C + I

Trang 9

CHƯƠNG 2 QUAN ĐIỂM CỦA KEYNES ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 2.1 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và ô nhiễm môi trường

Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa kinh tế vàmôi trường dựa trên nền tảng lý thuyết Keynes Các nghiên cứu thực nghiệm

về đường cong Keynes chủ yếu tập trung vào hai chủ đề chính:

Liệu các chỉ thị của suy thoái môi trường có tuân theo mối quan hệ Ungược với các mức thu nhập đầu người không

Tính toán điểm ngưỡng chuyển đổi khi chất lượng môi trường cải thiệntheo sự tăng lên của thu nhập đầu người

Trong thời gian gần đây cũng đã có nhiều quốc gia trên thế giới thựchiện các nghiên cứu về mối quan hệ kinh tế và môi trường đặc thù cho riêngquốc gia mình như Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc Hầu hết cácnghiên cứu này cũng đều tìm ra được mối quan hệ theo quy luật Keynes cũngnhư xác định được mức ngưỡng thu nhập khi chất lượng môi trường bắt đầutăng theo thu nhập đầu người cho riêng quốc gia mình

Đa số các nghiên cứu này tập trung vào lĩnh vực ô nhiễm không khí(SO2, NOx, SPM, CO) Chỉ có một số ít nghiên cứu quan tâm đến lĩnh vực ônhiễm nước và chất thải rắn Xin giới thiệu các kết quả nghiên cứu thựcnghiệm nêu trên cùng với một số bằng chứng thực tế về mối quan hệ Keynesgiữa ô nhiễm môi trường và mức thu nhập đầu người

2.2 Mối quan hệ giữa thu nhập đầu người và ô nhiễm không khí

Có thể nói, mối quan hệ giữa các chỉ tiêu ô nhiễm không khí và thu nhậpđầu người đã và đang được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất Các chỉ tiêu ô

Trang 10

nhiễm không khí được đề cập phổ biến có thể kể đến SO2, NOx, CO, bụi vàkhói.

Tại Đài Loan, các nghiên cứu cho thấy mối quan hệ EKC cho 2 chất ônhiễm NO2 và CO Ngưỡng chuyển đổi của NO2 nằm ở mức thu nhập đầungười 384.000 đài tệ (tương đương 12.800 USD thời điểm 1996) và ngưỡngchuyển đổi của CO ở mức thấp hơn là 205.000 đài tệ (tương đương 6.833USD thời điểm 1996)

Kết quả nghiên cứu này cũng rất phù hợp với thực tế đã diễn ra tại ĐàiLoan trong thập niên 90 Vào năm 1990, Cục BVMT Đài Loan bắt đầu ápdụng quy định mới bắt buộc các xe ô tô mới phải lắp đặt bộ chuyển đổi xúctác giúp làm giảm đáng kể lượng phát thải NO2 và CO từ hoạt động giaothông Quy định này tỏ ra rất hiệu quả Ngưỡng chuyển đổi của NO2 cao hơngấp đôi so với CO do thực tế là hoạt động giao thông tạo ra phần lớn lượngphát thải CO trong khi chỉ tạo ra 1 nửa lượng phát thải NO2 Phải đến năm

1998, Cục BVMT Đài Loan mới bắt buộc các nguồn cố định phải kiểm soátphát thải NO2 do chi phí xử lý khí này rất cao

Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy ngưỡng thu nhập đầu người khichất lượng môi trường bắt đầu được cải thiện là rất cao, dao động trongkhoảng trên 3.000 USD - 15.000 USD Các số liệu thực tế cũng đã chứngminh cho các kết quả nghiên cứu này

- Các thành phố có mức thu nhập đầu người dưới 1.000 USD/nămthường có mức ô nhiễm rất cao và mức độ cải thiện ô nhiễm không đáng kể;Các thành phố nằm trong mức thu nhập đầu người từ trên 3.000 -10.000USD/năm đều có những cải thiện ô nhiễm đáng kể, tiêu biểu như Băng Cốc(Thái Lan), Seoul (Hàn Quốc), Mexico City (Mêhicô); Các thành phố thuộcnhóm nước phát triển có mức thu nhập trên 10.000 USD đều đã đạt đượcchất lượng không khí rất tốt Ví dụ, các TP như: London (Anh) hay Los

Trang 11

Angeles (Mỹ) nồng độ các chất ô nhiễm không khí đều đã đạt tiêu chuẩn củaWHO;

- Tại các nước phát triển, vấn đề ô nhiễm bắt đầu gia tăng từ cách mạngcông nghiệp và lên đến đỉnh điểm vào đầu thập niên 70 và sau đó bắt đầuđược cải thiện Nhưng phải đến cuối thập niên 90, đầu thập niên 2000, tức làsau 30 năm, chất lượng không khí mới đạt chất lượng tốt

Trong khi đó, một số nước đang phát triển đã có những cải thiện ô nhiễmđáng kể trong thời gian ngắn hơn và ở một mức thu nhập thấp hơn, tiêu biểu

là trường hợp của Thái Lan chỉ mất khoảng 10 năm (từ đỉnh điểm năm 1991 2000) đã giảm được nồng độ SPM xuống hơn 50%

-2.3 Mối quan hệ giữa thu nhập đầu người và ô nhiễm nước

So với lĩnh vực ô nhiễm không khí, mối quan hệ giữa phát triển kinh tế

và ô nhiễm nước ít được quan tâm nghiên cứu hơn

Tại Hàn Quốc, các nghiên cứu đã tìm ra được mối quan hệ đường congEKC đối với nồng độ BOD của sông Hàn Theo đó, nồng độ BOD trên sôngHàn đạt đỉnh vào năm 1984, khi mức thu nhập đầu người của Hàn Quốc đạtkhoảng hơn 4.000 USD rồi sau đó giảm liên tục khi mức thu nhập tăng lên.Các nghiên cứu dữ liệu trên 64 nguồn nước thuộc bang Louisiana (Mỹ)cũng đã tìm được mối quan hệ EKC cho các chỉ tiêu ô nhiễm Nitơ vàPhopho Ngưỡng chuyển đổi của Nitơ nằm ở mức thu nhập đầu người 11.375

- 12.981 USD/năm, của Phot pho là 6.773 — 14.312 USD/năm (tỉ giá năm1996) Đây là mức thu nhập đầu người của Louisiana vào thập niên 80, hiệnnày thu nhập bình quân đầu người của bang Louisiana đã đạt mức trên37.000 USD/năm

Như vậy, ngay cả đối với các chỉ tiêu ô nhiễm nước, mức thu nhập khiđạt đến ngưỡng chuyển đổi cũng rất cao, đặc biệt là đối với các chỉ tiêu ô

Trang 12

nhiễm hữu cơ như N, P, BOD, COD, dao động từ mức 4.000 — trên 15.000USD.

2.4 Mối quan hệ giữa thu nhập đầu người và phát sinh chất thải rắn

Có rất ít nghiên cứu về phát triển kinh tế và vấn đề chất thải rắn Trong

số các nghiên cứu tiên phong về Keynes, chỉ sử dụng một dữ liệu đa quốc gia

đề cập đến vấn đề chất thải rắn sinh hoạt Nghiên cứu này không tìm thấyđỉnh của đường cong Keynes, thay vào đó nghiên cứu này khẳng định lượngchất thải sinh hoạt phát sinh tăng liên tục theo mức thu nhập Có một nghiêncứu tìm thấy mối quan hệ tuyến tính giữa thu nhập đầu người và chất thải rắncông nghiệp của Hàn Quốc

Đối với chất thải sinh hoạt, đường cong Keynes đạt ngưỡng chuyển đổivào năm 1991, khi mà mức thu nhập đầu người tại Hàn Quốc đạt khoảng trên7.500 USD/năm Xu hướng giảm vẫn còn tiếp tục cho đến nay Xu hướnggiảm chất thải sinh hoạt từ những năm 90 đến nay là do có sự đóng góp rấtlớn của chương trình cấp quốc gia “Hệ thống thu phí rác thải dựa vào thểtích” bắt đầu vào đầu năm 1995 Chương trình này đã giúp giảm 31 % lượngrác sinh hoạt trong năm 1995 Đối với chất thải rắn công nghiệp, lượng phátthải tăng đều theo thu nhập đầu người được giải thích là do sự gia tăng liêntục của các hoạt động công nghiệp, đặc biệt là do sự tăng lên nhanh chóngcủa rác thải xây dựng

Các nghiên cứu tiến hành trên 30 tỉnh/thành phố ở Trung Quốc, đã tìm rangưỡng chuyển đổi đối với chất thải rắn công nghiệp ở mức thu nhập đầungười là 34.040 tệ, tương đương 4.525 USD (tỷ giá năm 2000)

Ngày đăng: 15/12/2017, 20:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w