1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh

92 343 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 657,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tăng cường công tác thanh, kiểm tra, giám sát về khoa học và công nghệ: Thực hiện các cuộc thanh, kiểm tra chuyên đề hoặc đột xuất theo chỉ đạo của Bộ Khoa học và Công nghệ và UBND tỉnh

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

VIỆN CHIẾN LƢỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

VŨ VĂN THIỆN

QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Mã số : 60 34 04 12

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

VŨ VĂN THIỆN

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHUNG

1.2 Khung lý luận quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ 17

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và yêu cầu đối với

2.2 Thực trạng tổ chức quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ tỉnh

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2017

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ESCAP: Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương -Liên Hiệp

Quốc

KHXH&NV: Khoa học xã hội và nhân văn

KHKT&CN: Khoa học kỹ thuật và công nghệ

NC&PT: Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

1 Bảng 2.1 Tình hình triển khai các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh giai đoạn 2011-2015 44

2 Bảng 2.2 Cơ cấu nhiệm vụ và tài chính theo lĩnh vực

3 Bảng 2.3 Tình hình triển khai các nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở giai đoạn 2011-2015 48

4 Bảng 2.4 Cơ cấu nhiệm vụ và tài chính theo lĩnh vực KH&CN cấp cơ sở 49

DANH MỤC HÌNH VẼ

1 Hình 2.1 Quy trình xác định danh mục nhiệm vụ

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời đại hiện nay, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, có tính chất quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia Điều này càng quan trọng đối với những quốc gia đang phát triển, đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa, tiến tới xây dựng một nền kinh tế tri thức trong tương lai như nước ta hiện nay Trên cơ sở nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, ý nghĩa chiến lược to lớn của việc ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề này Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự cố gắng của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, hoạt động khoa học và công nghệ đã có bước chuyển biến, đạt được một số tiến bộ và kết quả nhất định, đóng góp tích cực vào

sự phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã khẳng định: “Khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu” Trong các văn kiện Đại hội trước, Đảng ta

đã khẳng định khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, tuy nhiên, hoạt động khoa học và công nghệ nước ta thời gian qua vẫn chưa thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội Việc huy động nguồn lực của xã hội vào hoạt động khoa học và công nghệ chưa được chú trọng; đầu tư cho khoa học và công nghệ còn thấp, hiệu quả

sử dụng chưa cao Việc đào tạo, trọng dụng, đãi ngộ cán bộ khoa học và công nghệ còn nhiều bất cập Cơ chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ chậm được đổi mới Công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển khoa học và công nghệ chưa gắn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; cơ chế tài chính còn chưa hợp lý Tại Đại hội XII, khi thêm vào hai chữ “thực sự” trước cụm từ “là quốc sách hàng đầu”, Đảng ta muốn nhấn mạnh sự cần thiết phải phát triển khoa học và công nghệ, đặt ra yêu cầu phát triển khoa học và công nghệ của đất nước lên một tầm cao mới, khắc phục những yếu kém trong thời gian qua, coi đây là công việc trọng yếu và thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân

và toàn quân ta “Khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu” cũng có nghĩa là mọi chủ trương, chính sách phát triển đất nước, phát triển kinh tế - xã hội cũng như bảo vệ Tổ quốc đều phải dựa vào khoa học và công nghệ và thực hiện bằng

Trang 7

khoa học và công nghệ; khoa học và công nghệ phải đứng hàng thứ nhất và đi trước một bước trong mọi chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước

Năm năm qua, trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn, song dưới sự quan tâm chỉ đạo kịp thời, đúng hướng, hiệu quả của Trung ương, Đảng

bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ninh đã phát huy khối đại đoàn kết, quyết tâm đổi mới, sáng tạo, có nhiều giải pháp đột phá để khai thác tiềm năng, thế mạnh, khắc phục khó khăn nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đề ra, phấn đấu đến năm 2020, xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh có cơ cấu kinh tế dịch vụ, công nghiệp; là trung tâm du lịch chất lượng cao của khu vực

Kinh tế tiếp tục phát triển toàn diện, quy mô và sức cạnh tranh được nâng lên rõ rệt; tăng trưởng kinh tế đạt mức cao so với cả nước; cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng dịch vụ; thu ngân sách luôn nằm trong nhóm 5 tỉnh, thành phố đứng đầu cả nước Bám sát mục tiêu thực hiện ba đột phá chiến lược gắn với cơ cấu lại kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện và đạt được nhiều kết quả nổi bật Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện rõ rệt; niềm tin của các nhà đầu tư được nâng lên Văn hóa - xã hội được quan tâm, đời sống nhân dân được cải thiện Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, yếu kém cần quyết tâm khắc phục: một số chỉ tiêu của Đại hội XIV đề ra chưa đạt; kinh tế phát triển khá nhanh nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, nhất là một số ngành có lợi thế lớn như du lịch, thương mại, kinh tế biển Hệ thống kết cấu hạ tầng đã được quan tâm đầu tư nhưng vẫn chưa đồng bộ Nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu, nhất là đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành Đời sống văn hoá -

xã hội của nhân dân đã được cải thiện nhưng có mặt chưa tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế, Những hạn chế, yếu kém nói trên có nguyên nhân khách quan là do suy thoái kinh tế thế giới nhất là trong những năm đầu nhiệm kỳ; tình hình chính trị trong khu vực, thời tiết, dịch bệnh diễn biến bất thường đã tác động tiêu cực đến các ngành sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân Nhưng trực tiếp và quyết định vẫn là nguyên nhân chủ quan: Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện của một số cấp ủy đảng; năng lực quản lý, điều hành ở một số cấp chính quyền

Trang 8

chậm được nâng cao, nhất là ở cơ sở Nhận thức, năng lực của một bộ phận cán bộ, đảng viên còn hạn chế Quyết tâm chính trị có mặt chưa cao, thiếu biện pháp hữu hiệu khắc phục triệt để các hạn chế, yếu kém đã được chỉ ra Công tác phân tích, dự báo chiến lược chưa theo kịp tình hình

Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 là xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, trung tâm du lịch quốc tế, là một trong những đầu tầu kinh tế của miền Bắc và cả nước với hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hạ tầng kỹ thuật đô thị đồng bộ, hiện đại, giảm nghèo bền vững, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đảm bảo giữ gìn và bảo vệ môi trường bền vững Giữ gìn và phát huy tốt bản sắc dân tộc, bảo tồn và phát huy bền vững Di sản – Kỳ quan thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long và những khác biệt, đặc sắc của Vịnh Bái Tử Long; phấn đấu trở thành khu vực phòng thủ vững chắc về quốc phòng, an ninh và phòng tuyến hợp tác, cạnh tranh kinh

tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội

Trong những năm qua, các hoạt động khoa học và công nghệ của tỉnh Quảng Ninh được triển khai chủ động, toàn diện và đạt được kết quả nổi bật Nghiên cứu khoa học - Phát triển công nghệ tiếp tục được đẩy mạnh ở cả cấp nhà nước, cấp tỉnh và được đặc biệt quan tâm ở cấp cơ sở; Kết quả nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ bước đầu đã góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền và phục vụ thiết thực cho nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn Tỉnh Các mô hình triển khai đều cho hiệu quả kinh tế cao; giúp nông dân tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác, góp phần vào công cuộc giảm nghèo; tạo điều kiện quan trọng nâng cao năng lực quản lý, trình độ chuyên môn cho cán bộ cơ sở; làm tiền đề cho công tác khuyến nông, khuyến ngư nhân rộng mô hình ở cơ sở, thúc đẩy sản xuất phát triển Tiềm lực khoa học và công nghệ được tăng cường; nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong các cơ quan quản lý, nghiên cứu giảng dạy, các doanh nghiệp tăng về số lượng và trình độ, bước đầu đáp ứng yêu cầu

phát triển ở một số lĩnh vực, ngành nghề trong điều kiện thực tiễn của đơn vị

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động khoa học và công nghệ tại tỉnh Quảng Ninh còn một số hạn chế như:

Trang 9

- Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động đa lĩnh vực, diện rộng, đòi hỏi

có tính mới, tính tiên tiến, gắn liền với các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh đòi hỏi người quản lý các cấp phải thường xuyên cập nhật được thông tin tiến bộ công nghệ Tuy nhiên, hoạt động cung cấp thông tin có chọn lọc còn yếu, chưa sát với thực tiễn;

- Công tác đầu tư ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất gắn liền với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, đầu tư của xã hội Nhà nước không thể quyết định thay hoặc đầu tư cho doanh nghiệp, mà chỉ hỗ trợ để doanh nghiệp mạnh dạn đầu

tư Tuy nhiên, các văn bản hướng dẫn việc tự thực hiện nghiên cứu ứng dụng khoa học

và công nghệ của doanh nghiệp và hướng dẫn doanh nghiệp được hưởng các cơ chế, chính sách ưu đãi khuyến khích chưa đồng bộ và thủ tục còn phức tạp, vì vậy chưa khuyến khích doanh nghiệp thực hiện theo cách thức nghiên cứu ứng dụng khoa học

và công nghệ, mà thực hiện theo các hình thức khác thuận lợi hơn như các hợp đồng kinh tế, dự án đầu tư thông thường

Để đạt được những mục tiêu mà Đảng, Nhà nước đặt ra, tỉnh Quảng Ninh cần tập trung phấn đấu, sự vào cuộc của các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức, doanh nghiệp

và toàn thể nhân dân trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao hiệu quả đầu tư, đổi mới cơ chế quản lý, tạo môi trường thông thoáng trong hoạt động trên tất cả các lĩnh vực, trong đó cần chú trọng, ưu tiên trong lĩnh vực khoa học và công nghệ Cụ thể:

Về nhân lực:

Các Sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý khoa học và công nghệ các cấp, hiện đại hóa, tăng cường cơ sở vật chất phục vụ quản lý

Tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích sự sáng tạo trong nhân dân, nhất là lớp

tr , đội ngũ trí thức, cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao Đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sáng tạo, ứng dụng khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong các cơ sở y tế, giáo dục và đào tạo, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp Nghiên cứu thành lập các câu lạc bộ khoa học kỹ thuật trong các cơ quan, đơn

vị, doanh nghiệp là nơi giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm trong nghiên cứu, ứng

Trang 10

dụng khoa học và công nghệ Thường xuyên đào tạo và đào tạo lại lực lượng lao động trong tiếp nhận công nghệ; đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, công nghệ thông tin cho đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ tại các cơ sở y

tế, giáo dục

Các doanh nghiệp nghiên cứu hình thành các bộ phận nghiên cứu và phát triển tiến hành các hoạt động khoa học và công nghệ, hợp tác với các tổ chức khoa học và công nghệ bên ngoài để từng bước làm chủ, thích nghi, cải tiến công nghệ nhập, tiến tới tự chủ nghiên cứu, thiết kế công nghệ, sản phẩm mới; gắn hoạt động khoa học và công nghệ với sản xuất và đời sống

Về cơ sở vật chất:

Tiếp tục thực hiện Đề án tăng cường tiềm lực cho các tổ chức KH&CN trên địa bàn tỉnh; Nâng cao năng lực phân tích, kiểm định và thử nghiệm lĩnh vực phân tích, quan trắc môi trường, kiểm soát chất lượng các sản phẩm hàng hóa nhóm 2 Tiếp tục triển khai Đề án nâng cao năng suất, chất lượng cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 đã được phê duyệt tại Quyết định số 480/QĐ-UBND ngày 11/7/2014 để tăng cường khả năng cạnh tranh của các sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ

Xây dựng đề án Trung tâm ươm tạo công nghệ và Doanh nghiệp KH&CN; hỗ trợ hoạt động cho cơ sở ươm tạo công nghệ, doanh nghiệp KH&CN theo mô hình do doanh nghiệp quản lý; Xây dựng vườn ươm khởi nghiệp về công nghệ thông tin để hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ về lĩnh vực công nghệ thông tin

Đầu tư kinh phí cho phát triển khoa học và công nghệ:

Dành tối thiểu 4 tổng chi thường xuyên ngân sách địa phương cho khoa học và công nghệ; ưu tiên nguồn lực đầu tư một số lĩnh vực trọng tâm: dịch vụ du lịch, dịch

vụ thương mại, công nghệ sinh học, quản lý nhà nước, công nghệ thông tin, y tế, giáo dục và đào tạo Tăng cơ cấu chi cho sự nghiệp khoa học, công nghệ theo tỷ lệ bố trí giữa nguồn vốn sự nghiệp khoa học và công nghệ/nguồn vốn đầu tư phát triển tại Quy hoạch phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

Cùng với ngân sách tỉnh, các địa phương chủ động bố trí kinh phí từ nguồn thu ngân sách địa phương để triển khai hoạt động khoa học và công nghệ trên địa bàn Phát huy hiệu quả Quỹ phát triển khoa học và công nghệ cấp tỉnh trong việc hỗ

Trang 11

trợ chuyển giao, ứng dụng, đổi mới công nghệ; hoàn thiện, áp dụng ý tưởng, giải pháp sáng tạo; làm vai trò cầu nối để hướng dẫn doanh nghiệp vay vốn Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia để thực hiện các dự án lớn Các sở, ban, ngành, địa phương hướng dẫn các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực quản lý thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ để đầu tư phòng thí nghiệm, đào tạo, phát triển hoạt động khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp

Các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tăng cường bố trí kinh phí đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ, đảm bảo tổng vốn đầu tư xã hội cho khoa học và công nghệ đạt trên 2 GRDP

Phát triển thị trường, đẩy mạnh hợp tác và mở rộng hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ:

Duy trì và phát triển các sản phẩm đã được xây dựng thương hiệu Đến năm

2020, hỗ trợ xác lập quyền sở hữu trí tuệ, khai thác và phát triển tài sản trí tuệ trong nước, quốc tế cho trên 300 đối tượng sở hữu công nghiệp, trong đó, tối thiểu có 5 sáng chế, giải pháp hữu ích Mỗi huyện, thị xã, thành phố xây dựng và phát triển thêm tối thiểu 01 sản phẩm gắn với địa danh, loại hình dịch vụ có thế mạnh của địa phương Thực hiện các chương trình hợp tác trong nước và quốc tế về khoa học và công nghệ; tạo điều kiện cho các nhà khoa học, chuyên gia, các đơn vị nghiên cứu có uy tín (Viện nghiên cứu, tổ chức khoa học và công nghệ, trường Đại học ở Trung ương và địa phương) trình diễn, giới thiệu sản phẩm khoa học và công nghệ mới; tham gia, phối hợp thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ của tỉnh Nghiên cứu mở rộng hợp tác đầu tư với doanh nghiệp, các tổ chức khoa học và công nghệ ở nước ngoài

Tăng cường công tác thanh, kiểm tra, giám sát về khoa học và công nghệ:

Thực hiện các cuộc thanh, kiểm tra chuyên đề hoặc đột xuất theo chỉ đạo của Bộ Khoa học và Công nghệ và UBND tỉnh Quảng Ninh về các lĩnh vực khoa học và công nghệ (tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm hàng hóa; an toàn bức xạ và hạt nhân, sở hữu công nghiệp) đối với các đơn vị, doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực liên quan Kiểm tra, giám sát việc ứng dụng kết quả các nhiệm vụ khoa học và công nghệ có sử dụng vốn ngân sách

Công tác tuyên truyền, thông tin khoa học và công nghệ:

Trang 12

Xây dựng các chuyên mục về khoa học và công nghệ trên Báo Quảng Ninh, Đài Phát thành và Truyền hình tỉnh Quảng Ninh về các văn bản pháp luật, giới thiệu các thành tựu khoa học và công nghệ, giải pháp, sáng tạo; tuyên truyền về công tác ứng dụng, chuyển giao về khoa học và công nghệ

Tổ chức các phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, sáng tạo khoa học

và công nghệ trong các cơ quan, địa phương, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, sinh viên, học sinh và các tầng lớp nhân dân

Để tận dụng cơ hội hợp tác quốc tế phát triển KH&CN trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu và rộng, rất cần có những chính sách quản lý khoa học hợp lý Năm

2013, Quốc hội đã thông qua Luật KH&CN (thay thế Luật KH&CN năm 2000) để tạo

sự thống nhất trong hệ thống pháp luật Những quy định về cơ chế tài chính và đầu tư cho KH&CN cũng đã có bước thay đổi cơ bản Về đầu tư từ NSNN cho KH&CN, Luật KH&CN khẳng định rõ mức chi ngân sách hàng năm cho KHCN từ 2 trở lên và tăng dần theo yêu cầu phát triển của sự nghiệp khoa học và công nghệ Việc giao kinh phí sẽ áp dụng cơ chế khoán, cơ chế Nhà nước đặt hàng và cơ chế Quỹ để triển khai các nhiệm vụ khoa học công nghệ

Do vậy, để khoa học và công nghệ thực sự là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế

- xã hội của đất nước nói chung cũng như của tỉnh Quảng Ninh nói riêng, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như về quản lý, nhân lực, tài chính, cơ chế, quy định quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ, Thiếu bất kỳ giải pháp nào cũng đồng nghĩa với việc lĩnh vực khoa học và công nghệ của quốc gia, địa phương sẽ không phát

huy được tối đa hiệu quả Chính vì lý do trên tác giả xin chọn vấn đề “Quản lý nhiệm

vụ khoa học và công nghệ từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trên thế giới nói chung cũng như ở Việt Nam nói riêng, việc nghiên cứu hoàn thiện công tác quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được nghiên cứu rất nhiều,

ở các mức độ khác nhau Ở Việt Nam, Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đã được thành lập với nhiệm vụ chính là nghiên cứu xây dựng các chiến lược, chính sách về phát triển khoa học và công nghệ

và quản lý hoạt động khoa học và công nghệ Bên cạnh những nghiên cứu của Viện

Trang 13

Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu nhằm đẩy mạnh hoạt động khoa học và công nghệ, quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ nói chung và đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học và quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học nói riêng, như sau:

+ “Nghiên cứu cơ chế, biện pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu và phát triển sau nghiệm thu” – Nguyễn Lan Anh, 2004

+ “Vấn đề gắn kết nghiên cứu với sản xuất hiện nay” – TS Hoàng Xuân Long (Tạp chí Cộng sản số 57 – 2004);

+ “Ứng dụng công nghệ vào sản xuất: Nghiên cứu phải theo thị trường” – TS.Vũ Đình Nghĩa (Website http://www.nhandan.com.vn/ ngày 13/11/2004);

+ “Nghiên cứu một số giải pháp thúc đẩy chuyển giao công nghệ ở địa phương” – TS Hoàng Xuân Long, 2006

+ “Tác động của cơ chế, chính sách công đến việc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào khoa học và công nghệ” – Nguyễn Việt Hoà, 2007

- “Nghiên cứu đổi mới cơ chế, chính sách tài chính của Nhà nước đối với hoạt động khoa học và công nghệ và hoạt động đổi mới (công nghệ )”- TS Đặng Duy Thịnh, Đề tài cấp bộ, Hà Nội, 2009

- “Đổi mới cơ chế, chính sách phát triển KH&CN địa phương thời gian qua và những định hướng cho thời gian tới”- TS Hồ Ngọc Luật, Tạp chí chính sách và quản

lý KH&CN, số 1, Hà Nội, 2012

Trong các nghiên cứu kể trên, những nội dung cơ bản của đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ: đổi mới hệ thống khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, đổi mới cơ chế tài chính, kế hoạch hóa hoạt động khoa học và công nghệ, xây dựng thị trường khoa học và công nghệ đã được đề cập và phân tích từ các góc độ khác nhau Kết quả những nghiên cứu này đã từng bước làm sáng tỏ các vấn đề về quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ và thúc đẩy quá trình đổi mới nó để đáp ứng nhu cầu của thực tế

Tuy nhiên đây là những nghiên cứu hoặc ở tầm vĩ mô, mang nặng tính lý thuyết hoặc chưa có những nghiên cứu ứng dụng cụ thể về đẩy mạnh quản lý nhiệm vụ khoa

Trang 14

học và công nghệ phù hợp với điều kiện của tỉnh Quảng Ninh

Trong thời gian qua, các nghiên cứu về đổi mới chính sách trong quản lý khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh được thực hiện rất hạn chế Ở phạm vi một địa phương, những vấn đề nghiên cứu về phương pháp luận thường ít được chú ý Những nghiên cứu liên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ của Quảng Ninh trong những năm gần đây có thể kể đến là:

+ “Điều tra, đánh giá và xây dựng cơ sở dữ liệu về trình độ công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” – Trần Mạnh Ẩm, 2006;

+ Năm 2007, tác giả Trần Văn Minh đã thực hiện luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu phương pháp xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ cấp tỉnh, áp dụng cho tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006 ÷2020”;

+ Năm 2010, Viện Chiến lược và Chính sách khoa học và công nghệ đã chủ trì nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu chính sách hỗ trợ phát triển khoa học và công nghệ cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong điều kiện hội nhập quốc tế”; + Năm 2010, tác giả Trần Văn Minh đã chủ trì thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng Chợ công nghệ và thiết bị tỉnh Quảng Ninh trên mạng Internet”, đây cũng là một phần trong nghiên cứu Luận văn tiến sỹ “Nghiên cứu phát triển thị trường công nghệ cấp tỉnh, áp dụng cho tỉnh Quảng Ninh”

Những nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở tập hợp các số liệu thực ở Quảng Ninh, tuy nhiên nó cũng chỉ ở tầm vĩ mô hoặc chủ yếu nghiên cứu nhằm thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Những nội dung liên quan đến hoạt động quản lý khoa học không nhiều và liên quan đến quản lý nhiệm

vụ khoa học và công nghệ lại càng ít

Về vấn đề quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ, có thể kể đến các công trình nghiên cứu xây dựng quy chế quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của các tỉnh, thành phố trong cả nước như Hà Nội, Hải Phòng, Cao Bằng, Đà Nẵng… Những công trình nghiên cứu này tương đối sát thực và gần gũi với hoạt động quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của tỉnh Quảng Ninh, tuy nhiên do đặc thù điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội khác nhau nên chỉ có thể là tài liệu tham khảo quý trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện công tác quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của tỉnh

Trang 15

Quảng Ninh

Qua những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài tỉnh đã đề cập ở trên, có thể nói, đến nay, chưa có tác giả nào công bố các kết quả nghiên cứu về vấn đề quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ của tỉnh Quảng Ninh

Việc nghiên cứu quy định quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ là nhiệm vụ cấp bách và cần thiết Ở nước ngoài, các quy định quản lý, triển khai nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được chú trọng Các nước phát triển về khoa học và công nghệ như Mỹ, Ấn Độ, Singapor, Nhật Bản, được coi là những nước đi tiên phong và đã giành được nhiều thành công trong việc nghiên cứu, quản lý, ban hành và sử dụng hiệu quả cơ chế chính sách về khoa học và công nghệ

Ở Việt Nam, Chính phủ cũng đã ban hành nhiều văn bản qui phạm pháp luật về đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học vào trong các hoạt động thực tiễn nhằm góp phần công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong đó việc quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ là một trong những nội dung quan trọng

có tính chất quyết định đến sự thành công của các chính sách, cơ chế cũng như các chương trình, đề án Hiện Bộ Khoa học và Công nghệ đang triển khai xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn để triển khai hoạt động khoa học và công nghệ theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 và Nghị định số 08 của Chính phủ

Một số địa phương như Đà Nẵng, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hòa Bình, đã xây dựng những quy định quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ để ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào đời sống và sản xuất, tạo ra những sản phẩm mới, có giá trị kinh tế cao, đủ sức cạnh tranh với thị trường quốc tế

Tuy nhiên, tại Quảng Ninh những quy định quản lý ban hành vẫn còn ở tầm vĩ

mô, chưa thực sự sát với thực tiễn, do đó việc giải quyết, hướng dẫn cũng như triển khai thực hiện quản lý nhiệm vụ KH&CN trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn Trong khuôn khổ đề tài, tác giả xin lựa chọn vấn đề quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh và cấp cơ sở có sử dụng ngân sách sự nghiệp khoa học và công nghệ tỉnh để nghiên cứu

Trang 16

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nhằm đề xuất một số giải pháp quản lý nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh và cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có sử dụng ngân sách từ nguồn sự nghiệp khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Ninh phục vụ cho phát triển khoa học và công nghệ nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung trong giai đoạn 2017-2020 và định hướng đến 2030

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Những vấn đề lý luận và thực tiễn chung về quản lý nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh

và cấp cơ sở

- Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh và cấp cơ

sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011-2015

- Đề xuất một số giải pháp quản lý nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh và cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2017-2020 và định hướng đến 2030

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các quy định quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (nghiên cứu hồi cứu giai đoạn 2011-2015 để làm

cơ sở cho việc xây dựng quy định quản lý nhiệm vụ KH&CN giai đoạn 2017-2020 và định hướng đến 2030)

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát thực tế: Khảo sát thực tế tại các địa phương và một số đơn vị triển khai nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh và cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

- Nghiên cứu tài liệu: Các Nghị quyết và Chính sách của Đảng và Nhà nước về KH&CN; Cơ sở dữ liệu thống kê về kinh tế, hoạt động khoa học của Việt Nam và một

số tỉnh thành cũng như Quảng Ninh về phát triển KH&CN

- Phương pháp phân tích, so sánh

- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các nhà quản lý

Trang 17

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa lý luận: Hệ thống hóa các lý luận về quy định quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ phục vụ cho công tác quản lý và triển khai các nhiệm vụ khoa học

và công nghệ khác liên quan

- Ý nghĩa thực tiễn:

+ Đối với nhà quản lý: Là tài liệu tham khảo hữu ích để các nhà quản lý cụ thể hóa các chính sách cho việc quản lý nhiệm vụ KH&CN phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

+ Đối với người lao động: Là tài liệu tham khảo hữu ích để triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, cũng như cơ chế, chính sách liên quan đến lĩnh vực của mình, phục vụ phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

7 Cơ cấu của luận văn

Toàn bộ nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương, gồm có 6 hình và

Trang 18

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHUNG

VỀ QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Chương này sẽ trình bày một cách có chọn lọc những vấn đề lý luận cũng như các quy định của nhà nước về quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ Đây là những vấn đề lý thuyết cơ bản về đối tượng nghiên cứu, từ đó có thể hệ thống hóa và làm rõ đối tượng nghiên cứu, làm cơ sở cho việc đánh giá và đề xuất các vấn đề về quản lý nhiệm vụ KH&CN trong những chương tiếp theo

1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Khoa học và công nghệ (KH&CN)

Theo UNESCO, khoa học là một tập hợp những hiểu biết về tự nhiên, xã hội và tư duy về các quy luật khách quan, về sự tồn tại và phát triển của chúng trên cơ sở thực tiễn Các lĩnh vực KH&CN bao gồm: Khoa học tự nhiên; Khoa học xã hội, Nhân văn; Khoa học kỹ thuật và công nghệ; Khoa học Nông nghiệp; Khoa học Y dược Theo Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam (2013), khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy

Theo ESCAP: Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Theo Luật chuyển giao công nghệ của Việt Nam (2017), công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm Các thành phần công nghệ gồm các yếu tố: Kỹ thuật (Technoware), Con người (Humanware), Thông tin (Inforware) và Tổ chức (Organware)

1.1.2 Hoạt động khoa học và công nghệ

Theo UNESCO và OECD, hoạt động KH&CN là hoạt động có hệ thống, có liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức KH&CN vào đời sống, xã hội Hoạt động KH&CN bao gồm hoạt động giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (NC&PT) và dịch vụ KH&CN Theo nghĩa hẹp hoạt động KH&CN bao gồm hoạt động NC&PT và dịch vụ KH&CN

Trang 19

1.1.3 Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

Theo UNESCO và OECD, hoạt động NCKH&PTCN là tập hợp các hoạt động có

hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho tàng kiến thức bao gồm các kiến thức có liên quan đến con người, tự nhiên và xã hội, nhằm sử dụng các kiến thức mới để để tạo ra những áp dụng mới Hoạt động NCKH&PTCN bao gồm hoạt động nghiên cứu khoa học và hoạt động triển khai thực nghiệm

Luật Khoa học và Công nghệ (2013) đưa ra quy định, hoạt động KH&CN bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ

1.1.4 Hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH)

Theo UNESCO và OECD: NCKH có thể xác định là tập hợp toàn bộ các hoạt động có hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho tàng kiến thức khoa học và nhằm áp dụng chúng vào thực tiễn NCKH bao gồm hai hoạt động kế tiếp nhau: Nghiên cứu cơ bản (NCCB) và Nghiên cứu ứng dụng (NCƯD) Trong đó, NCCB có thể xác định là bất kỳ công tác thực nghiệm hoặc lý thuyết nào được tiến hành nhằm đạt được những kiến thức mới về các hiện tượng, thực tế quan sát được mà chưa có một NCƯD hoặc vận dụng đặc biệt nào NCƯD được xác định như là một nghiên cứu đầu tiên được tiến hành nhằm đạt được những kiến thức mới nhưng chủ yếu có một mục đích hoặc một mục tiêu thực tiễn đặc thù

1.1.5 Hoạt động triển khai thực nghiệm (TKTN)

Theo UNESCO và OECD, triển khai thực nghiệm có thể xác định như là một hoạt động có hệ thống nhằm vận dụng các kiến thức NCKH đạt được và/hoặc kinh nghiệm thực tiễn có được để tạo ra sản phẩm mới, công nghệ mới, phương pháp tiến hành mới, hệ thống dịch vụ mới và nhằm cơ bản hoàn thiện những gì đã hoặc đang sử dụng hoặc sản xuất Hoạt động triển khai thực nghiệm gồm: chế thử đầu tiên; pilốt; sản xuất thử nghiệm,

1.1.6 Hoạt động sản xuất thử nghiệm

Theo Luật KH&CN (2013), sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất thử nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới

Trang 20

trước khi đưa vào sản xuất và đời sống

1.1.7 Hoạt động phát triển công nghệ

Theo Luật KH&CN (2013), phát triển công nghệ là hoạt động sử dụng kết quả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, thông qua việc triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm để hoàn thiện công nghệ hiện có, tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới

1.1.8 Hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ (DVKH&CN)

Theo UNESCO, DVKH&CN có thể được xác định như là tập hợp tất cả các hoạt động liên quan đến hoạt động NCKH&PTCN và góp phần vào việc tạo ra, truyền bá

và áp dụng các kiến thức KH&CN

Theo Luật KH&CN (2013), DVKH&CN là các hoạt động phục vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức KH&CN và kinh nghiệm thực tiễn

1.1.9 Nhiệm vụ khoa học và công nghệ

Nhiệm vụ KH&CN là những vấn đề KH&CN cần được giải quyết, được tổ chức thực hiện dưới hình thức Đề tài, Dự án sản xuất thử nghiệm, Chương trình do một người hoặc một nhóm người thực hiện Mỗi hình thức có mục đích và công năng khác nhau

Đề tài KH&CN là nhiệm vụ KH&CN có nội dung chủ yếu là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn, bao gồm đề tài nghiên cứu cơ bản, đề tài nghiên cứu ứng dụng, đề tài triển khai thực nghiệm hoặc kết hợp nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm

Dự án sản xuất thử nghiệm là nhiệm vụ KH&CN nhằm ứng dụng kết quả NC&PT để thử nghiệm các giải pháp, phương pháp, mô hình quản lý kinh tế - xã hội hoặc sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống

Dự án KH&CN là nhiệm vụ KH&CN giải quyết các vấn đề KH&CN chủ yếu phục vụ việc sản xuất một sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm trọng điểm, chủ lực có tác động nâng cao trình độ công nghệ của một ngành, một lĩnh vực và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được triển khai dưới hình thức đề tài

Trang 21

KH&CN, dự án sản xuất thử nghiệm và dự án đầu tư KH&CN có mục tiêu, nội dung gắn kết hữu cơ, đồng bộ và được tiến hành trong một thời gian nhất định

Chương trình KH&CN là nhiệm vụ KH&CN có mục tiêu chung giải quyết các vấn đề KH&CN phục vụ phát triển và ứng dụng KH&CN trung hạn hoặc dài hạn được triển khai dưới hình thức tập hợp các đề tài KH&CN, dự án sản xuất thử nghiệm, dự

án khoa học và công nghệ

Các nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định trong Luật khoa học và công nghệ, được tổ chức dưới hình thức chương trình, đề tài, dự án và các hình thức khác Tuy nhiên, hai hình thức nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước thường hay được sử dụng nhất, kể cả các nhiệm vụ KH&CN thuộc chương trình KH&CN là đề tài và dự án sản xuất thử nghiệm

Nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước cấp tỉnh là nhiệm vụ KH&CN đáp ứng các tiêu chí sau đây:

- Có tầm quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi tỉnh;

- Giải quyết các vấn đề KH&CN trong phạm vi tỉnh;

- Có sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp KH&CN của tỉnh

Nhiệm KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước cấp tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ, bao gồm:

- Chương trình khoa học và công nghệ cấp tỉnh;

- Đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh;

- Dự án sản xuất thử nghiệm cấp tỉnh;

- Dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh

1.1.10 Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh

Là nhiệm vụ KH&CN giải quyết những vấn đề KH&CN của Tỉnh do UBND tỉnh phê duyệt [18, Điều 2]

1.1.11 Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp huyện

Là nhiệm vụ KH&CN giải quyết các vấn đề KH&CN của sở, ban, ngành, tổ chức, huyện, thị xã, thành phố (sau đây gọi tắt là ngành/ huyện) do thủ trưởng ngành/ huyện ký hợp đồng thực hiện [18, Điều 2]

Trang 22

1.1.12 Chương trình khoa học và công nghệ

Chương trình KH&CN là nhiệm vụ KH&CN có mục tiêu chung giải quyết các vấn đề KH&CN phục vụ phát triển và ứng dụng KH&CN trung hạn hoặc dài hạn được triển khai dưới hình thức tập hợp các đề tài KH&CN, dự án sản xuất thử nghiệm, dự

án KH&CN [11, Điều 3]

1.1.13 Nhân lực khoa học công nghệ

- Theo cuốn KH&CN Việt Nam 2003 và cuốn “ Cẩm nang về đo lường nguồn nhân lực KH&CN” của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), thì nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây: 1) Đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng và làm việc trong một ngành KH&CN; 2) Đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng không làm việc trong một ngành KH&CN nào;

3) Chưa tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương

Đây chính là khái niệm nhân lực KH&CN theo nghĩa rộng Theo đó, có thể hiểu nhân lực KH&CN bao gồm cả những người đã tốt nghiệp đại học nhưng không làm việc trong lĩnh vực KH&CN Khái niệm này dường như quá rộng để thể hiện nguồn nhân lực hoạt động KH&CN của một quốc gia

Do vậy, các nước thường sử dụng khái niệm nhân lực nghiên cứu phát triển (NCPT), hay còn gọi là R&D (research and development), để thể hiện lực lượng lao động KH&CN của mình

- Theo quan điểm của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), nhân lực khoa học công nghệ là tổng số nhân lực có trình độ hoặc số nhân lực có trình độ hiện đang công tác hoặc trực tiếp tham gia vào các hoạt động khoa học

và kỹ thuật trong một tổ chức hoặc đơn vị, và được trả lương theo quy định cho các dịch vụ của họ Nhóm này gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhóm nhân viên hỗ trợ

1.2 Khung lý luận quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ

1.2.1 Xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ

Việc xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ có thể qua các phương thức sau:

Trang 23

- Dựa theo kế hoạch khoa học và công nghệ 5 năm, hằng năm của trung ương, địa phương, từ đó các tổ chức, cá nhân có thể đề xuất nhiệm vụ khoa học và công nghệ

để triển khai

- Dựa theo chủ đề, vấn đề nghiên cứu: chủ đề, vấn đề nghiên cứu đó có thể nằm trong, được xác định bởi chiến lược phát triển khoa học và công nghệ của địa phương, của đất nước, từ đó lựa chọn nhiệm vụ khoa học và công nghệ phù hợp

- Thông qua các đề xuất tự do của các tổ chức, cá nhân.Ví dụ: đề xuất cho cấp ủy, chính quyền địa phương, quỹ phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới công nghệ,…

Từ đó các cơ quan quản lý, quỹ thành lập Hội đồng lựa chọn nhiệm vụ khoa học và công nghệ phù hợp với các tiêu chí

1.2.2 Tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ

Sau khi xác định nhiệm vụ, việc tiến hành các bước triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ Các bước triển khai chính như sau:

- Phê duyệt nhiệm vụ khoa học và công nghệ và cấp kinh phí triển khai thực hiện

- Định kỳ đơn vị chủ trì, chủ nhiệm nhiệm vụ báo cáo tình hình triển khai thực hiện nhiệm vụ về nội dung và kinh phí với cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ, từ đó cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ có thể phê duyệt, cấp tiếp kinh phí để triển khai thực hiện nhiệm vụ, thay đổi hợp đồng hoặc chấm dứt hợp đồng thực hiện nhiệm vụ

1.2.3 Nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ

Nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ là bước để đánh giá kết quả triển khai thực hiện của một nhiệm vụ khoa học và công nghệ Đơn vị chủ trì lập báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, thành lập Hội đồng cơ sở đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, sau đó nộp về cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ Cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thành lập Hội đồng đánh giá

về nội dung, tài chính của nhiệm vụ, căn cứ kết quả đánh giá cơ quan quản lý có thể thanh lý hợp đồng, xử lý sai phạm theo quy định

1.3 Kinh nghiệm thế giới và trong nước

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của nước ngoài:

1.3.1.1 Kinh nghiệm của CHLB Đức

Trang 24

Nghiên cứu kinh nghiệm của CHLB Đức và các nước phát triển cho thấy có sự tương đồng với các lý luận và thực tiễn quản lý nhiệm vụ KH&CN nêu trên (nội dung

và các bước tổ chức thực hiện nhiệm vụ) Tuy nhiên có sự khác biệt nhất định trong quá trình quản lý nhiệm vụ KH&CN Cụ thể là:

1 Tại khâu xác định nhiệm vụ, các nước này không tiến hành xác định Danh mục các đề tài nghiên cứu trước khi thực hiện tuyển chọn hoặc giao nhiệm vụ mà tiến hành xác định các vấn đề/chủ đề cần nghiên cứu (trong khuôn khổ một chương trình KH&CN) trước khi thông báo rộng rãi cho các nhà khoa học và trên cơ sở đó các nhà khoa học tự xác định các tên các đề tài nghiên cứu cho phù hợp với Vấn đề/Chủ đề nghiên cứu đó và nộp Thuyết minh đề cương cho cơ quan quản lý KH&CN

2 Trong Thuyết minh đề cương nghiên cứu, ngoài các chi khác, công lao động/thù lao cho các nhà khoa học được dự toán theo người/tháng lương, không dự toán theo chuyên đề như Việt Nam

3 Mỗi một Vấn đề/Chủ đề nghiên cứu đều được phân bổ từ đầu một khoản kinh phí nhất định Các đề tài dự tuyển được Hội đồng đánh giá xếp hạng từ cao xuống thấp

và kinh phí được cấp cho các đề tài có điểm từ cao xuống thấp cho đến khi hết kinh phí được phân bổ

4 Khi đề tài kết thúc thì không phải bảo vệ trước Hội đồng nghiệm thu mà phải công bố kết quả dưới dạng các công trình khoa học hoặc các bài báo khoa học để xã hội được thụ hưởng kết quả đó, tức là mọi người (nhà khoa học, nhà chính khách, nhà doanh nghiệp,…) có thể tiếp nhận/cận tri thức đó, vận dụng kết quả đó vào phục vụ công việc của mình

1.3.1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Kinh nghiệm nổi bật của Nhật Bản đó là tuyển chọn cá nhân và tổ chức chủ trì thực hiện đề tài Việc này ở Nhật được thực hiện một cách bài bản và có truyền thống quy củ Tùy theo loại đề tài để áp quy trình tuyển chọn

Thứ nhất, đối với các đề tài thuộc chương trình mục tiêu, hay đề tài lớn do các tập thể tiến hành, được tài trợ từ ngân sách đều phải thông qua tuyển chọn Hai cơ quan lớn thực hiện tài trợ cho nghiên cứu từ ngân sách chính phủ ở Nhật Bản là Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, KH&CN (MEXT) và Quỹ Khuyến khích phát triển

Trang 25

KH&CN Nhật Bản (Japan Society for Promotion of Science and Technology-JSPS) Các đề xuất đề tài thuộc chương trình (kế hoạch 6 năm) được nộp cho bộ phận quản lý (nơi cấp tiền, thường là Bộ MEXT hoặc Hội Khuyến khích khoa học của Nhật

- JSPS) Có hội đồng khoa học theo nhiệm kỳ 2 năm Hội đồng này có trách nhiệm phản biện và tuyển chọn đề xuất, theo quy định chung của Nhật Bản (JSPS) Tùy từng lĩnh vực của đề tài để cử người trong Hội đồng phản biện và xét duyệt đề xuất nghiên cứu Hội đồng chấm điểm để lấy kết quả tuyển chọn Đối với những lĩnh vực chuyên sâu, hội đồng có thể mời chuyên gia bên ngoài Hội đồng tư vấn phản biện nhưng không có quyền bỏ phiếu, cho điểm

Thứ hai, đối với đề tài cá nhân loại này được thực hiện chủ yếu trong trường đại học cá nhân tự đăng ký, nộp đề xuất (đề cương) trong đó có giải trình sự cần thiết nghiên cứu, nội dung, cách thức tiến hành, tiến độ, dự kiến công bố (ở đâu) và nhu cầu kinh phí Trường tổng hợp các đề xuất và xét chọn Việc công bố trên tạp chí nổi tiếng hay hội nghị cấp cao được đánh giá cao khi xem xét đề xuất nghiên cứu Trình độ của người nghiên cứu khác nhau cũng được đánh giá khác nhau Gần đây, một tiêu chí để xem xét trong xét chọn đó là đề xuất nghiên cứu gắn với nhu cầu xã hội Các sản phẩm của đề tài để xem xét trong xét chọn thường là ấn phẩm, đăng tải, công bố kết quả tại hội nghị

1.3.1.3 Kinh nghiệm Trung Quốc

Quản lý đề tài ở Trung Quốc gồm 3 giai đoạn: giai đoạn đầu, giai đoạn giữa và giai đoạn kết thúc Giai đoạn đầu gồm: lập kế hoạch, nộp đơn, rà soát và thẩm định của chuyên gia, thẩm định tài chính và phê duyệt đơn xin tài trợ Giai đoạn giữa gồm rà soát hàng năm, quản lý và giám sát tài chính Giai đoạn cuối chủ yếu là đánh giá, rà soát cuối cùng gồm: tổ chức hội thảo, đánh giá của chuyên gia (thông qua trực tiếp trao đổi hoặc gửi nhận xét phản biện); xuất bản kết quả nghiên cứu chính và quyết toán

Các đề tài nghiên cứu khi kết thúc được đánh giá trên hai phương diện: thứ nhất, tiêu chí chất lượng khoa học của cộng đồng nghiên cứu trong lĩnh vực của đề tài như: mức độ về tính mới, khám phá, độ chín, sâu sắc, giá trị học thuật và các tác động xã hội mong đợi Phương diện thứ hai, mục tiêu mong đợi và đáp ứng mong muốn của người sử dụng đã thỏa thuận trong hợp đồng nghiên cứu

Trang 26

Phương pháp đánh giá: Khác với nước ta, phương pháp đánh giá kết quả nghiên cứu của Trung Quốc không thực hiện theo hội đồng mà thực hiện giống như đánh giá

đề cương đề xuất, sử dụng chuyên gia thuộc chuyên ngành với đề tài đánh giá Chuyên gia được giao đánh giá có thể tiến hành đánh giá kín hoặc công khai Cho dù là đánh giá kín hay công khai, các chuyên gia đánh giá đều phải chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá của mình Nếu có hiện tượng đánh giá không khách quan hoặc không chính xác do nguyên nhân khác, nhà đánh giá có thể bị loại khỏi ngân hàng (danh sách) chuyên gia hoặc sẽ không được tham gia đánh giá các dự án, đề tài quan trọng

Tuy nhiên, hiện nay các nhà phân tích chính sách của Trung Quốc đang đặt ra vấn đề là làm thế nào để có đánh giá khách quan của chuyên gia Hai vấn đề cần quan tâm, đó là cần có các chỉ số và tiêu chí đánh giá hợp lý và khoa học; thứ hai là tính trung thực và tin tưởng của hệ thống các chuyên gia đánh giá

Hình thức đánh giá của chuyên gia được áp dụng rộng rãi trong những năm 80 Tuy nhiên, đến những năm 90, hệ thống này bộc lộ những hạn chế như việc thiếu các tiêu chí được mọi người chấp nhận, những các yếu tố khoa học và phi khoa học như kinh nghiệm và trình độ chuyên môn, quan điểm, sở thích cá nhân và đạo đức của chuyên gia đánh giá đã tác động đến quá trình đánh giá làm cho chúng trở nên bất ổn Sang thế kỷ 21, cộng đồng nghiên cứu và các tổ chức tài trợ đề xuất những cải tiến trong đánh giá Phương pháp đánh giá của chuyên gia được coi là phương pháp đánh giá chủ đạo và được hoàn thiện Chuyên gia đánh giá có quyền tự chủ trong đánh giá Tiêu chí định lượng được đưa vào như phương pháp lượng hóa được áp dụng vào cuối những năm 90 Tuy nhiên, điểm khó ở đây là nhiều tạp chí của Trung Quốc không thuộc hệ thống SSCI (Social Science Citation Index) Để khắc phục tình trạng này, Trung Quốc đã áp dụng phương pháp lượng hóa trên cơ sở sử dụng máy tính để xây dựng cơ sở dữ liệu về trích dẫn Có hai loại cơ sở dữ liệu về trích dẫn của KHXH:

Cơ sở dữ liệu về trích dẫn KHXH và NV của Trung Quốc (Chinese Humanities and Social Sciences Citation Database; CHSSCD) do Trung tâm Thông tin Tư liệu của Viện Hàn lâm KHXH lập, và Chỉ số trích dẫn KHXH của Trung Quốc của Đại học Nam Kinh Các chỉ số này là cơ sở để đánh giá về mặt lượng đối với các đề cương cũng như kết quả nghiên cứu trong KHXH, làm căn cứ để chọn được người tài chủ trì

Trang 27

nghiên cứu

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của một số địa phương

1.3.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của tỉnh Nam Định

Tại Nam Định, quy trình quản lý nhiệm vụ KH&CN được thực hiện theo quy trình chung của Bộ KH&CN quy định Sở KH&CN tỉnh Nam Định đã ban hành văn bản quy định áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 hướng dẫn về quy trình xác định nhiệm vụ, tuyển chọn, xét chọn, nghiệm thu… đối với các nhiệm vụ KH&CN của tỉnh Tỉnh cũng đã thực hiện tiến hành phê duyệt danh mục đề tài, dự án thực hiện hằng năm làm 02 đợt (đợt 1 trước tháng 10, đợt

2 trước tháng 4 hằng năm) Do đó, tỉnh Nam Định đã không phụ thuộc vào năm ngân sách khi phân bổ cho các đề tài, dự án

1.3.2.2 Kinh nghiệm quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của tỉnh Hòa Bình

Việc xác định, lựa chọn, quản lý các nhiệm vụ KH&CN của tỉnh Hòa Bình được tiến hành hằng năm theo văn bản hướng dẫn của Bộ KH&CN Việc xác định nhiệm vụ KH&CN được giao cho Hội đồng KH&CN của tỉnh thực hiện Công tác nghiệm thu nhiệm vụ KH&CN được tiến hành 3 bước, trong đó đặc biệt có bước Kiểm tra trước nghiệm thu là một bước chính thức được đưa vào quy trình quản lý thực hiện nhiệm vụ KH&CN của tỉnh

1.3.2.3 Kinh nghiệm quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của thành phố Đà Nẵng

Đà Nẵng ngoài việc tuân thủ các quy định của Bộ KH&CN về quản lý nhiệm vụ KH&CN thì còn là địa phương quy định hình thức xử lý vi phạm rất nghiêm khắc trong công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN Đối với các nhiệm vụ KH&CN được đánh giá “không đạt” thì nguồn kinh phí nộp trả ngân sách nhà nước 50 và chủ nhiệm nhiệm vụ không được đăng ký thực hiện nhiệm vụ KH&CN trong 02 năm tiếp theo tính từ thời điểm nghiệm thu Ngoài ra, Đà Nẵng còn áp dụng mức phạt tiền khác nhau đối với việc vi phạm về đăng ký, giao nộp kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước; vi phạm quy định trong hoạt động KH&CN; vi phạm quy định về quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước dành cho hoạt động KH&CN

1.3.3 Bài học kinh nghiệm về công tác quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ

Trong khuôn khổ, phạm vi của đề tài thì kinh nghiệm công tác quản lý nhiệm vụ

Trang 28

KH&CN của các địa phương là quan trọng và gần gũi với công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN của Quảng Ninh Một số kinh nghiệm rút ra đó là:

- Trong xây dựng kế hoạch khoa học và công nghệ hằng năm, cần xác định những nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng tâm, trọng điểm, những nhiệm vụ giải quyết những vấn đề cấp bách của địa phương, điểm nghẽn trong kỹ thuật cần khoa học

và công nghệ giải quyết;

- Trong bảo vệ ngân sách cho nhiệm vụ KH&CN cần chủ động và Tỉnh cần có cơ chế đặc thù khi cấp phát, chuyển nguồn kinh phí trong năm để phù hợp với tình hình thực tiễn khi triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ

- Trong cơ chế quản lý nhiệm vụ KH&CN, UBND tỉnh chỉ phê duyệt những định hướng nghiên cứu và những vấn đề trọng tâm trong công tác quản lý mà không trái các thông tư hướng dẫn Luật, Nghị định của Bộ KH&CN, còn đối với hướng dẫn nghiệp

vụ quản lý, thủ tục hành chính cụ thể như biểu mẫu, mẫu hợp đồng, biên bản…các quy trình quản lý, trình tự thực hiện nhiệm vụ, nên giao cho Giám đốc Sở KH&CN ban hành thực hiện

- Trong quản lý nhiệm vụ KH&CN cần linh hoạt nhưng cần có các hình thức xử

lý vi phạm nghiêm khắc trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ KH&CN để hoạt động quản lý nhiệm vụ KH&CN trên địa bàn được nghiêm túc hơn

Trang 29

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2011-2015

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và yêu cầu đối với quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Ninh

2.1.1 Vị trí địa lý

Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu phía Đông Bắc Việt Nam

Địa giới Quảng Ninh trải rộng từ 106025’ đến 108025’ kinh độ đông và từ 20040’ đến 21040’ vĩ độ bắc Bề ngang từ Đông sang Tây, khoảng dài nhất là 195 km;

bề dọc từ Bắc xuống Nam, khoảng dài nhất là 102 km Phía Bắc giáp Lạng Sơn, phía Tây và Tây Bắc giáp Bắc Giang, phía Tây và Tây Nam giáp Hải Dương, phía Nam giáp Hải Phòng

Diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh là 6.110 km2, trong đó đất nông nghiệp

622 km2, đất chuyên dùng 267 km2, đất ở 68 km2, đất chưa sử dụng 2.669 km2, đất lâm nghiệp là 2.484 km2

Quảng Ninh có biên giới quốc gia và hải phận giáp với nước Cộng Hoà Nhân dân Trung Hoa: Trên đất liền, có đường biên giới với chiều dài khoảng 132 km Về phía biển, giáp vùng biển Trung Quốc ở phía Đông, có chiều dài bờ biển khoảng 125 km

2.1.2 Điều kiện tự nhiên

2.1.2.1 Địa hình – địa mạo

Quảng Ninh là một tỉnh biên giới, miền núi và hải đảo Địa mạo của Quảng Ninh rất phong phú và đa dạng Cảnh quan của Quảng Ninh là hình ảnh thu nhỏ của cảnh quan Việt Nam bởi có núi, có đồi, có đồng bằng và hải đảo

Địa hình của Quảng Ninh được phân chia ra các kiểu địa hình sau:

+ Địa hình núi chiếm khoảng 60 diện tích địa hình lục địa

+ Địa hình đồi chiếm khoảng 30 diện tích địa hình lục địa

+ Địa hình đồng bằng chiếm 10 diện tích phần lục địa, phân bố chủ yếu ven theo bờ biển và hạ lưu các sông

Ngoài ra, Quảng Ninh có vùng biển rộng lớn trong phần bắc vịnh Bắc Bộ, có nơi

Trang 30

độ sâu đến trên 20m (huyện đảo Cô Tô)

2.1.2.2 Khí hậu, thời tiết

Khí hậu Quảng Ninh vừa mang đặc điểm chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam, vừa có nét riêng của một tỉnh miền núi ven biển

Nhiệt độ không khí ở Quảng Ninh thường cao Nhiệt độ trung bình mùa hạ từ 27 đến 300C, nhiệt độ trung bình mùa đông từ 15 đến 200C

Số ngày mưa trung bình trong tỉnh Quảng Ninh thường từ 90÷170 ngày/năm Lượng mưa trung bình khá cao (>2.000 mm/năm) Mùa mưa từ tháng 5 đến đầu tháng 10

Số giờ nắng trung bình của Quảng Ninh là 1.600÷1.800 giờ/năm Tỷ suất giờ nắng cao nhất vào tháng 9 và tháng 10

Độ ẩm trung bình cả năm từ 80÷85

2.1.2.3 Tài nguyên khoáng sản

Quảng Ninh là một trong những tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản Theo kết quả tìm kiếm thăm dò đã xác định trên vùng lãnh thổ của tỉnh có 140 mỏ và điểm quặng, thuộc nhiều loại khoáng sản khác nhau Quảng Ninh có khá đầy đủ các loại khoáng sản trên bản đồ khoáng sản Việt Nam, trong đó có những loại khoáng sản đặc biệt có giá trị kinh tế là khoáng sản nhiên liệu (than đá, đá dầu), khoáng sản kim loại (antimon, sắt, inmenit…), nguyên liệu chịu lửa (alumin, silic và manhezi), nguyên liệu gốm sứ, thuỷ tinh (caolin pyrophilit và sét trắng), vật liệu xây dựng (đá vôi, sét xi măng, sét gạch ngói, đá xây dựng, cát, sỏi, cuội), nguyên liệu hoá chất và phân bón (barit, pyrit, phophorit, thạch anh tinh thể)

2.1.2.4 Thuỷ văn

Là một tỉnh ven biển, Quảng Ninh có số lượng sông suối khá lớn, mật độ trung bình biến đổi từ 1 đến 1,9 km/km2, có nơi tới 2,4 km/km2 Phần lớn các sông là nhỏ, ngắn và dốc; thung lũng sâu hẹp, xâm thực mạnh, nhưng xâm thực ngang yếu và hầu như không có bồi tụ

Để phục vụ những mục đích kinh tế, Quảng Ninh đã xây dựng 30 hồ đập nước lớn với tổng dung tích các hồ đập là 195,53 triệu m3 Số hồ đập này nằm rải rác khắp tỉnh

Bờ biển Quảng Ninh khúc khuỷu, có nhiều vụng ăn sâu vào đất liền, phía ngoài biển có hệ thống các đảo, tạo thành một vòng cung gần song song với bờ Địa hình đáy

Trang 31

biển tương đối bằng phẳng, đơn giản và có độ sâu không lớn (20÷25m)

2.1.2.5 Thổ nhưỡng

Về địa lý thổ nhưỡng, tại Quảng Ninh có các vùng sau :

– Vùng cát và cồn cát ven biển có diện tích 65 km2, chiếm 0,9 đất tự nhiên – Vùng đất mặn có diện tích 510 km2, chiếm 8,35 đất tự nhiên, phân bố dọc theo ven biển

– Vùng đất phù sa bao gồm phù sa cổ và phù sa mới, là nơi tiếp nối giữa vùng đất mặn ven biển với vùng đất đồi núi thấp, diện tích khoảng 401 km2

– Vùng đất đồi núi thấp (độ cao < 700 m) có diện tích 5.041 km2, độ che phủ kém, phần lớn là cây lùm, cây bụi, đất bị xói mòn, rửa trôi nhiều nên đại bộ phận có tầng mỏng nghèo dinh dưỡng, nghèo các chất kiềm, đất phản ứng chua

– Vùng đất núi (độ cao 700÷1800 m) có diện tích 593 km2, chủ yếu trên cánh cung Đông Triều – Móng Cái

– Vùng đảo đất và núi đá vôi phân bố thành các dải bao quanh phía vịnh, có diện tích 465 km2

2.1.2.6 Tài nguyên sinh vật

Quần thể thực vật và động vật ở Quảng Ninh vô cùng phong phú và đa dạng do cấu tạo địa hình, đất đai, khí hậu và tác động của con người Mỗi vùng sinh thái khác nhau tạo nên những nét độc đáo của từng hệ thực vật và động vật Có những loài đặc trưng trong đất liền và những loài đặc trưng ngoài đảo biển, trên cạn, dưới nước, nơi thuỷ vực nước ngọt, nước lợ cửa sông hay nước mặn Hệ thực vật và động vật ở Quảng Ninh có vị trí đặc biệt trong kinh tế và đời sống Sự phong phú của thực vật tự nhiên

và động vật hoang dã, sự đa dạng của vật nuôi, cây trồng gắn liền với sản xuất và đời sống Chính chúng đã là một biểu hiện sinh động của sự giàu có của vùng đất Đông Bắc và là một tiềm năng lớn cho sự phát triển

2.1.3 Giáo dục – đào tạo

Công tác giáo dục – đào tạo tại Quảng Ninh có những chuyển biến tích cực Số người đi học ở các cấp học đều tăng đáng kể, chất lượng dạy và học không ngừng được nâng lên Quảng Ninh đã hoàn thành và duy trì vững chắc mục tiêu xoá mù chữ

và hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi từ năm 2007, phổ cập trung học cơ sở từ

Trang 32

năm 2006 Kết thúc năm học 2009÷2010, quy mô trường lớp ở các cấp học tiếp tục được củng cố và phát triển, toàn tỉnh có 586 trường, tăng 07 trường so với năm học 2008÷2009; cuối năm 2009, toàn tỉnh có 162/586 trường đạt chuẩn quốc gia (đạt 27,6 ) và đến tháng 8/2010 có 45 số trường đạt chuẩn quốc gia

Giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề tiếp tục có sự đổi mới và phát triển, đào tạo sát với yêu cầu thị trường lao động Hệ thống trường đào tạo nghề, các trung tâm đào tạo và giới thiệu việc làm được sắp xếp, củng cố, nâng cấp đã đáp ứng tốt nhu cầu dạy

và học nghề, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 38

Ngân sách đầu tư cho sự nghiệp giáo dục tăng bình quân 14,8 /năm và chiếm

17 /năm tổng chi ngân sách hàng năm

2.1.4 Sự nghiệp y tế và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân

Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế được tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện đạt kết quả Công tác y tế và chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân được quan tâm Đã tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế; đẩy mạnh y tế dự phòng, không để dịch lớn xảy ra; công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân tiếp tục được củng cố và nâng cao chất lượng Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố

và tăng cường, 100 các trạm y tế có bác sĩ công tác, 100 thôn, khe, bản có nhân viên y tế Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các cơ sở khám chữa bệnh, đồng thời quan tâm đào tạo, đào tạo lại để nâng cao trình độ đội ngũ thầy thuốc Công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình được củng cố, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2010 đạt 1,1 Tuổi thọ bình quân năm 2010 đạt 73,1 tuổi Tỷ lệ tr em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng đã giảm từ 24,3 năm 2005 xuống còn dưới 18 năm 2010, tỷ lệ

tr em dưới 1 tuổi được tiêm phòng đầy đủ 7 loại vắc xin đạt 96 ; tỷ lệ dân số được tiếp cận dịch vụ y tế đạt trên 92 Xã hội hóa công tác y tế đạt được nhiều kết quả

2.1.5 Hiện trạng khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Ninh

2.1.5.1 Hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ

Trên địa bàn Quảng Ninh hiện nay có mặt một số tổ chức thuộc các tổng công ty lớn của nhà nước, nổi bật có thể kể ra là: Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam, Tổng Công ty Xi măng Việt Nam, Tổng công ty Viglacera, Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam

Trang 33

Để đảm bảo về hoạt động khoa học và công nghệ, các Tổng Công ty này có hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc

- Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam có các cơ quan chuyên hoạt động khoa học và công nghệ như: Viện Khoa học – Công nghệ Mỏ, Viện Máy mỏ, Công ty Tư vấn Thiết kế Mỏ… Bên cạnh đó, tại các cơ sở sản xuất trực thuộc, có các phòng kỹ thuật để đảm bảo duy trì sự hoạt động thường xuyên, có hiệu quả các hệ thống công nghệ của các cơ sở đó Những nghiên cứu về tiềm lực khoa học và công nghệ của các

tổ chức khoa học và công nghệ phục vụ ngành than cho thấy:

+ Các tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam có đội ngũ cán bộ nghiên cứu được đào tạo bài bản, một bộ phận khá lớn trong số họ có trình độ khoa học và công nghệ cao, có kinh nghiệm làm việc nhiều năm Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ của các tổ chức này đủ sức để tiếp cận, làm chủ, cải tiến các loại hình công nghệ trình độ cao trong khai thác, chế biến than trên thế giới Nguồn nhân lực này cũng đang được tr hoá một cách mạnh mẽ, đào tạo

bổ sung, đào tạo mới liên tục, hướng tới mục tiêu sáng tạo công nghệ

+ Các tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam hiện nay đã có tiềm lực vật chất tương đối lớn, một phần đã được hiện đại hoá (các phòng thí nghiệm, trang thiết bị nghiên cứu), đủ để phục vụ các nhiệm vụ nghiên cứu – triển khai lớn của ngành

Ngoài ra, các nhiệm vụ khoa học và công nghệ được xác lập theo yêu cầu của ngành than còn có sự hỗ trợ của những trường đại học lớn: Đại học Mỏ – Địa chất, Đại học Bách Khoa… là các cơ sở đào tạo, nghiên cứu – triển khai mạnh

Một cách tổng quát nhất, có thể đánh giá, hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc ngành than và hỗ trợ trực tiếp ngành than là vững chắc, đảm bảo cho quá trình phát triển nhanh, bền vững của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam

- Tổng Công ty Xi măng Việt Nam cũng có hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc và hỗ trợ tương đối mạnh, để đảm bảo cho hoạt động của Tổng Công ty Trong số đó, phải kể đến: Công ty Tư vấn Thiết kế Xi măng, Viện Khoa học Vật liệu Xây dựng, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Xây dựng Hà Nội Trong

Trang 34

những năm gần đây, Tổng Công ty Xi măng Việt Nam đã tiếp cận công nghệ sản xuất

xi măng lò quay công suất lớn, trình độ tự động hóa cao Công nghệ mới này đã được lắp đặt, vận hành, sản xuất thành công tại nhiều nhà máy xi măng của Việt Nam, thay thế dần công nghệ sản xuất xi măng lò đứng, hiệu suất thấp, gây ô nhiễm môi trường ở mức khó khắc phục Cũng cần kể đến sự có mặt của các chuyên gia nước ngoài làm việc trong các dự án đầu tư trực tiếp sản xuất xi măng Các dự án sản xuất xi măng theo hình thức đầu tư trực tiếp 100 vốn nước ngoài, không chỉ làm thay đổi cơ cấu sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm của ngành xi măng, mà còn mang đến những công nghệ mới trong quản lý, trong sản xuất, trong phân phối lưu thông các sản phẩm xi măng

- Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam là một Tập đoàn kinh tế đặc biệt, trực thuộc Chính phủ, được hưởng quy chế đặc biệt trong việc phát triển, kể cả việc thuê giám đốc điều hành người nước ngoài Ngành công nghiệp đóng tàu của Việt Nam mới thực sự được xác định là một ngành công nghiệp trọng điểm trong những năm gần đây Tuy nhiên, để có được ngày hôm nay, công việc chuẩn bị cho nó đã được bắt đầu từ cách đây trên 30 năm Tại Quảng Ninh, với sự giúp đỡ của nước Cộng hòa Ba Lan, đã xây dựng Nhà máy Đóng tàu Hạ Long Quá trình phát triển của nhà máy này diễn ra một cách từ từ trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung Đến nay, với sự khởi sắc của ngành đóng tàu Việt Nam, với quyết tâm của Lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh, Nhà máy đang có một triển vọng phát triển mạnh mẽ

Về hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc và hỗ trợ cho Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam, trước hết cần nhắc tới: Viện Khoa học – Công nghệ Tàu thuỷ, Trường Đại học Hàng Hải – Hải Phòng, các khoa cơ khí, chế tạo máy, điện, điện tử, tự động hoá thuộc trường Đại học Bách Khoa – Hà Nội Các tổ chức khoa học và công nghệ này cũng có tiềm lực nghiên cứu – triển khai khá mạnh Và vì thế, sự đảm bảo về mặt khoa học và công nghệ cho sự phát triển của Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam cũng là khá chắc chắn Tuy nhiên, lĩnh vực công nghiệp đóng tàu trên thế giới hiện nay đã phát triển ở trình độ rất cao, người ta đã và đang hoàn thiện công nghệ sản xuất những con tàu thông minh Công nghiệp đóng tàu của Việt Nam, vào thời điểm hiện nay, dù sao cũng chỉ mới đạt đến mức trình độ công nghệ tương ứng với đầu pha 3 trong lịch sử phát triển công nghệ đóng tàu gồm 4 pha

Trang 35

của thế giới

2.1.5.2 Hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ của Quảng Ninh

* Về tổ chức khoa học và công nghệ

Hiện nay, trên địa bàn Quảng Ninh có 11 tổ chức khoa học và công nghệ, trong

đó có 06 tổ chức công lập và 05 tổ chức ngoài công lập, cụ thể:

– Tổ chức khoa học và công nghệ công lập:

+ Trung tâm Quan trắc và Phân tích môi trường Quảng Ninh (thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ninh);

+ Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Quảng Ninh (thuộc Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ninh);

+ Trung tâm Khoa học và Sản xuất lâm nông nghiệp Quảng Ninh (thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Ninh);

+ Trung tâm Khoa học và Sản xuất Giống thuỷ sản Quảng Ninh (thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Ninh);

+ Trung tâm Tư vấn chuyển giao công nghệ mỏ và công trình (thuộc Đại học Công nghiệp Quảng Ninh);

+ Trung tâm Y tế Dự phòng (thuộc Sở Y tế Quảng Ninh)

– Tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập:

+ Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ cao (thuộc Xí nghiệp

cơ khí Quang Trung);

+ Trung tâm Phân tích FPD; Trung tâm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cơ khí (thuộc Công ty cổ phần chế tạo máy – Vinacomin);

+ Trung tâm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ gốm sứ Quang Vinh (thuộc Chi nhánh Công ty TNHH Quang Vinh);

+ Vườn cây thuốc Yên Tử (thuộc Công ty Cổ phần Phát triển Tùng Lâm);

+ Trung tâm An toàn mỏ (thuộc Viện Khoa học – Công nghệ Mỏ)

Hiện nay, tại Quảng Ninh có 02 trường đại học: Trường đại học Hạ Long; Trường đại học Công nghiệp Quảng Ninh, 01 cơ sở đào tạo của trường Đại học ngoại thương và 5 trường cao đẳng Các trường này làm công tác giảng dạy là chủ yếu Họ cũng có một năng lực khoa học và công nghệ nhất định, tuy nhiên, năng lực này chưa

Trang 36

được phát huy mạnh mẽ

* Về doanh nghiệp khoa học và công nghệ:

Hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có 10 doanh nghiệp khoa học và công nghệ,

đó là:

- Công ty TNHH Long Hải;

- Công ty CP Ngọc trai Hạ Long;

- Công ty Cổ phần giống cây trồng Quảng Ninh;

- Công ty TNHH Đạt Minh Hà;

- Công ty CP Terranique;

- Chi Nhánh Công ty TNHH Quang Vinh;

- Công ty Cổ phần Thiết bị điện Cẩm Phả;

- Công ty thương mại dịch vụ khoa học Thái Dương;

- Công ty TNHH nuôi trồng, sản xuất và chế biến dược liệu Đông Bắc;

- Công ty cổ phần Dược vật tư y tế Quảng Ninh

2.1.5.3 Hệ thống quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ

Hệ thống quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ của Quảng Ninh đang được thực hiện theo mô hình chung của Việt Nam

Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ cấp tỉnh Cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh hiện nay gồm 5 phòng (Văn phòng Sở, Quản lý Khoa học, Quản lý Công nghệ và Thị trường công nghệ, Quản lý chuyên ngành, Thanh tra), 1 chi cục (Chi cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng), 3 Trung tâm (Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng, Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học – Công nghệ và Trung tâm Thông tin

và Thống kê Khoa học và Công nghệ) Sở đã có nhiều nỗ lực để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao Các hoạt động quản lý khoa học và công nghệ diễn ra trên diện rộng, với khối lượng lớn và được thực hiện một cách có trách nhiệm

Ở cấp huyện, chức năng quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ được giao cho phòng Kinh tế/Kinh tế và Hạ tầng huyện Cho đến thời điểm này, chỉ có 03 địa phương của Quảng Ninh (Hạ Long, Móng Cái, Ba Chẽ) có cán bộ chuyên trách làm công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ Một số huyện có bố trí cán bộ

Trang 37

kiêm nhiệm nhưng ít được đào tạo nghiệp vụ quản lý chuyên ngành, thường xuyên bị điều chuyển công tác, do đó hiệu quả công việc còn thấp

Ở các ngành đã thành lập các hội đồng khoa học và công nghệ ngành Tuy nhiên, hoạt động của các hội đồng khoa học và công nghệ này không thường xuyên, chất lượng và hiệu quả chưa đạt được mức mong muốn

Có thể rút ra những nhận xét như sau :

- Hệ thống quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ của Quảng Ninh chưa được hoàn thiện từ cấp tỉnh xuống cấp huyện theo chiều dọc Sự liên kết theo chiều ngang trong hệ thống này cũng còn rất yếu

- Năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý về khoa học và công nghệ chưa thực sự tương xứng với yêu cầu được đặt ra, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ cấp huyện – họ thiếu về số lượng, yếu về trình độ quản lý, không có tính chuyên nghiệp

- Trang thiết bị phục vụ công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ thiếu, mức độ tin học hóa thấp

2.1.5.4 Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ

Trong những năm gần đây, đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ của Quảng Ninh đã được tăng cường về số lượng và chất lượng Tính đến năm 2012, Quảng Ninh

có khoảng 43.600 cán bộ có trình độ cao đẳng trở lên (cao đẳng: 8.085 người; đại học: 32.812; trên đại học: 2.649 người)

Theo định nghĩa nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của OECD, sẽ tính thêm

số người chưa có bằng cao đẳng nhưng đang làm việc trong một lĩnh vực khoa học và công nghệ đòi hỏi chứng chỉ tương đương vào tổng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của tỉnh Theo kinh nghiệm, bộ phận này chiếm khoảng 12 của con số 43.600 vừa nêu ở trên Nghĩa là, sẽ tính thêm 5.232 người vào tổng số nhân lực khoa học và công nghệ của tỉnh Quảng Ninh Tổng cộng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ của tỉnh Quảng Ninh vào khoảng 48.832 người

Tuy nhiên, có thể thấy, đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ trên đại học của Quảng Ninh là rất nhỏ (2.649 người), mặt khác cơ cấu ngành nghề của đội ngũ này cũng còn bất hợp lý (số cán bộ chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật ít) Đây cũng là một

Trang 38

khó khăn trong phát triển khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội ở Quảng Ninh

Hoạt động khoa học và công nghệ trên địa bàn Quảng Ninh cũng được thực hiện trong hệ thống các phòng kỹ thuật thuộc các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh Nhìn chung, đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ thuộc các phòng kỹ thuật nói trên có đủ năng lực để đảm bảo cho dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp hoạt động bình thường

Họ cũng có thể tiếp cận các công nghệ mới khi doanh nghiệp nhập mới công nghệ Trong trường hợp đó, vào giai đoạn đầu, họ cần đến sự hỗ trợ của các tổ chức tư vấn Hoạt động khoa học và công nghệ trên địa bàn Quảng Ninh, trong nhiều trường hợp, được thực hiện bởi lực lượng cán bộ khoa học và công nghệ làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước

Có thể rút ra những nhận xét:

- Mạng lưới các tổ chức khoa học và công nghệ của Quảng Ninh còn mỏng

- Các tổ chức khoa học và công nghệ nhà nước trên địa bàn Quảng Ninh có tiềm lực khoa học và công nghệ nhỏ, năng lực nghiên cứu – triển khai chưa mạnh

2.2 Thực trạng tổ chức quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011-2015

Trong những năm qua, việc triển khai các nhiệm vụ KH&CN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã có sự chuyển biến theo chiều hướng tốt: Có sự quan tâm của các ngành, các cấp; có sự đầu tư tương đối thỏa đáng cho nhiệm vụ nghiên cứu; số lượng đề tài, dự án

đề xuất và thực hiện ngày một tăng và ở nhiều lĩnh vực, nhiều đơn vị từ cơ quan quản lý đến

cơ sở sản xuất; có sự phối hợp giữa các tổ chức KH&CN, các Trường, Viện ở Trung ương với địa phương, cơ sở; có sự đầu tư từ nhiều nguồn vốn cho việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN Nhu cầu về nghiên cứu khoa học, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới, đổi mới công nghệ, tạo sản phẩm mới ngày càng tăng từ các đơn vị KH&CN, các cơ quan quản

lý nhà nước đến doanh nghiệp; các nhiệm vụ KH&CN được đề xuất đều có cơ sở thực tiễn, nhiều vấn đề bức xúc của xã hội đã được lãnh đạo tỉnh đưa vào nghiên cứu

Để có cơ sở lý luận và thực tiễn đề xuất với tỉnh những khuyến nghị bổ sung, sửa đổi cơ chế quản lý nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh, cũng như ban hành mới quy chế quản lý các nhiệm vụ cấp cơ sở theo hướng đổi mới, hiệu quả; khuyến khích được mọi tổ chức, cá

Trang 39

nhân tham gia nghiên cứu và sản phẩm nghiên cứu mang lại hiệu quả thiết thực phục vụ sản xuất và đời sống, cần đánh giá thực trạng công tác tổ chức quản lý và thực hiện nhiệm

vụ KH&CN trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn vừa qua (chủ yếu là các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh và cấp cơ sở có sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách)

2.2.1 Công tác tổ chức quản lý nhiệm vụ KH&CN của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011- 2015

Trong 5 năm qua, công tác tổ chức quản lý hoạt động KH&CN nói chung và quản lý nhiệm vụ KH&CN nói riêng đã đạt được nhiều kết quả rất đáng ghi nhận, có nhiều kết quả nghiên cứu được ứng dụng phục vụ sản xuất đời sống, yếu tố khoa học đã dần chiếm hàm lượng cao trong việc xây dựng các chủ trương, ban hành các quyết định trong công tác lãnh đạo và quản lý; công tác quản lý ngày càng đi vào nề nếp, bước đầu đã có sự gắn kết giữa nghiên cứu với thực tiễn Nhưng, nhìn chung thì KH&CN chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, thể hiện: Các đề tài, dự án nghiên cứu cấp tỉnh hầu hết thực hiện ở các

cơ quan quản lý, một số đơn vị sự nghiệp và chủ yếu đầu tư từ kinh phí ngân sách; số lượng đề tài, dự án đặt hàng hoặc ký hợp đồng giữa doanh nghiệp với các tổ chức KH&CN, các nhà khoa học hầu như không có; số lượng đề tài được áp dụng vào thực tiễn (theo báo cáo của Đơn vị chủ trì nghiên cứu là cao), nhưng áp dụng ở qui mô nào, có được mở rộng không lại là vấn đề chưa đánh giá được

Công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN nói chung trong cả nước và riêng ở các địa phương trong đó có Quảng Ninh là vấn đề đã được quan tâm từ nhiều năm nay Trong đó công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN được coi là một trong những nội dung chủ yếu của đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN của Quảng Ninh trong giai đoạn 2015 -2020 Hiện nay Quảng Ninh đã ban hành quy định riêng của tỉnh về quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ triển khai trên địa bàn tỉnh, vận dụng các quy định về quản lý các hoạt động nghiên cứu khoa học của Trung ương để quản lý các nhiệm vụ KH&CN của mình Qua thực tiễn triển khai áp dụng trong những năm gần đây dễ dàng nhận thấy có một số điểm chưa thật sự phù hợp do quy mô và đối tượng quản lý khác nhau Đây chính là một điểm còn hạn chế, làm ảnh hưởng tới hiệu quả công tác quản lý các nhiệm vụ KH&CN của Quảng Ninh

Yêu cầu đặt ra đối với việc xác định các nhiệm vụ KH&CN của tỉnh thời gian qua là

Trang 40

tập trung vào xác định các nhiệm vụ KH&CN sát với yêu cầu thực tiễn, hiện nay Quảng Ninh đang thực hiện được trình bày chi tiết sau đây:

2.2.1.1 Đối với nhiệm vụ cấp tỉnh:

a Xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ

Cụ thể là xác định các đề tài nghiên cứu đổi mới công nghệ, ứng dụng các thành tựu KH&CN tại các doanh nghiệp; các đề tài nghiên cứu ứng dụng, các dự án sản xuất thử nghiệm Đồng thời xác định các nhiệm vụ KH&CN nhằm tạo ra cơ sở khoa học cho các quyết định của tỉnh về quản lý, lập dự án đầu tư,

Với yêu cầu trên, việc xác định nhiệm vụ KH&CN của tỉnh Quảng Ninh đã được thực hiện theo hướng dẫn của các văn bản quy phạm pháp luật của trung ương và của tỉnh Quảng Ninh, cụ thể gồm các bước sau (xem Hình 2.1):

- Căn cứ hướng dẫn của Bộ KH&CN và phương hướng mục tiêu nghiên cứu KH&CN hàng năm của tỉnh, Sở KH&CN thông báo đến các tổ chức/cá nhân để đề xuất nhiệm vụ KH&CN

- Sở KH&CN tổng hợp các đề xuất, lập danh mục tổng hợp sơ bộ các đề tài, dự án; thành lập các hội đồng tư vấn theo chuyên ngành để tư vấn xác định Danh mục đề tài, dự án

- Căn cứ ý kiến tư vấn của Hội đồng khoa học chuyên ngành, Sở KH&CN tổng hợp danh mục đề tài, dự án trình UBND tỉnh họp Hội đồng KH&CN cấp tỉnh xác định danh mục lần nữa Sau đó, Sở KH&CN tổng hợp danh mục trình UBND tỉnh phê duyệt danh mục nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh

Ngày đăng: 15/12/2017, 15:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Khoa học và Công nghệ + Bộ Nội vụ (2014), Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT–BKHCN–BNV ngày 15/10/2014 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về khoa học và công nghệ thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 29/2014/TTLT–
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ + Bộ Nội vụ
Năm: 2014
8. Bộ Khoa học và Công nghệ (2014), Thông tư 10/2014/TT-BKHCN ngày 30/5/2014 về việc Quy định tuyển chọn, giao trực tiếp tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ KH&amp;CN cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 10/2014/TT-BKHCN ngày 30/5/2014 về việc Quy định tuyển chọn, giao trực tiếp tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ KH&amp;CN cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2014
12. Hồ Chí Minh (18/5/1963), Bài phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Hội phổ biến khoa học, kỹ thuật Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Hội phổ biến khoa học, kỹ thuật Việt Nam
Tác giả: Hồ Chí Minh
Năm: 1963
13. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá X (2000), Luật Khoa học và Công nghệ, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Khoa học và Công nghệ
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá X
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
15. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh (2014), Báo cáo kết quả hoạt động KH&amp;CN thực hiện kế hoạch 5 năm giai đoạn 2011-2015 và phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch 5 năm giai đoạn 2016-2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả hoạt động KH&amp;CN thực hiện kế hoạch 5 năm giai đoạn 2011-2015 và phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch 5 năm giai đoạn 2016-2020
Tác giả: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh
Năm: 2014
19. Viện Chiến lược và Chính sách KH&amp;CN (2004), Khuyến nghị tiêu chuẩn thực tiễn cho điều tra nghiên cứu và phát triển (Tài liệu hướng dẫn FRASCATI 2002 của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế -OECD), NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến nghị tiêu chuẩn thực tiễn cho điều tra nghiên cứu và phát triển (Tài liệu hướng dẫn FRASCATI 2002 của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế -OECD)
Tác giả: Viện Chiến lược và Chính sách KH&amp;CN
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2004
2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2012), Thông tư 06/2012/TT-BKHCN ngày 12/3/2012 về việc xác định nhiệm vụ KH&amp;CN thuộc các Chương trình trọng điểm cấp nhà nước Khác
3. Bộ Khoa học và Công nghệ, Thông tư 08/2012/TT-BKHCN ngày 2/4/2012 về việc tuyển chọn, giao trực tiếp tổ chức và cá nhân chủ trì thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, dự án SXTN cấp nhà nước Khác
4. Bộ Khoa học và Công nghệ (2012), Thông tư 09/2012/TT-BKHCN ngày 2/4/2012 về việc tuyển chọn, giao trực tiếp tổ chức và cá nhân chủ trì thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn cấp nhà nước Khác
5. Bộ Khoa học và Công nghệ (2009), Thông tư 07/2009/TT-BKHCN ngày 3/4/2009 về việc hướng dẫn đánh giá nghiệm thu nhiệm vụ KH&amp;CN cấp nhà nước Khác
6. Bộ Khoa học và Công nghệ (2009), Thông tư 12/2009/TT-BKHCN ngày 8/5/2009 về việc hướng dẫn đánh giá nghiệm thu đề tài KH&amp;CN và dự án SXTN cấp nhà nước Khác
7. Bộ Khoa học và Công nghệ (2014), Thông tư 07/2014/TT-BKHCN ngày 25/8/2014 về việc Quy định trình tự, thủ tục xác định nhiệm vụ KH&amp;CN cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước Khác
9. Bộ Khoa học và Công nghệ (2014), Thông tư 11/2014/TT-BKHCN ngày 28/5/2014 về việc Quy định đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&amp;CN cấp quốc gia Khác
10. Bộ Khoa học và Công nghệ (2014), Thông tư 09/2014/TT-BKHCN ngày 27/5/2014 về việc Quy định quản lý các nhiệm vụ KH&amp;CN cấp quốc gia Khác
11. Chính phủ (2013), Nghị định 08/2014/NĐ-CP ngày 27/01/2014 hướng dẫn thi hành Luật Khác
16. Trường nghiệp vụ quản lý KH&amp;CN (2005), Tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ quản lý khoa học và công nghệ, chuyên đề quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ ở địa phương Khác
17. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2017), Nghị quyết số 07/NQ-TU ngày 13/3/2017 của Ban Chấp hành đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 Khác
18. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2017), Quyết định số 1372/2017/QĐ-UBND ngày 03/5/2017 về việc ban hành Quy định quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Ninh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w