1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN giải pháp nâng cao hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học trong môn lịch sử ở trường THCS

19 331 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 64,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điểm mới của đề tài: Rèn cho học sinh cách học theo các phương pháp mới, học sinh sẽ được làm chủ kiến thức, tự giải quyết các vấn đề trong chương trình học, khắc phục tình trạng học si

Trang 1

I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài, sáng kiến giải pháp

Là “Thầy dạy của cuộc sống”, là “Tấm gương soi của muôn đời”, bộ môn Lịch

sử trong nhà trường phổ thông làm cho thế hệ trẻ hiểu được cội nguồn dân tộc, quá trình dựng nước và giữ nước của cha ông ta từ xa xưa Từ đó nâng cao tư tưởng sự hiểu biết, kế thừa truyền thống tốt đẹp của cha ông, với lòng tự hào dân tộc, để phát huy tài năng và trí tuệ phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nứơc trong thời bình hiện nay Đây là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với một dân tộc, đặc biết là những con người làm công tác giáo dục

Hiện nay, giáo viên đã từng bước áp dụng rất nhiều phương pháp dạy học như khai thác kênh hình, sử dụng bản đồ tư duy… nhưng hầu hết đều không đạt hiệu quả cao trong giờ học Thực trạng đó bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa đó là hầu hết học sinh đều không mặn mà với bộ môn Lịch sử, nói cách khác là học sinh không có hứng thú học tập môn này

Vậy, làm thế nào nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử, kích thích sự hứng thú học Lịch sử cho học sinh là câu hỏi lớn khiến bản thân tôi – giáo viên dạy Lịch sử

cứ mãi trăn trở

Trong quá trình giảng dạy bộ môn Lịch sử, bản thân tôi đã tìm mọi giải pháp để kích thích học sinh tìm đến với bộ môn nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng môn

Lịch sử nói chung Từ đó, mà tôi mạnh dạn chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học trong môn lịch sử ở trường THCS” để góp phần

nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học môn Lịch sử

2 Điểm mới của đề tài:

Rèn cho học sinh cách học theo các phương pháp mới, học sinh sẽ được làm chủ kiến thức, tự giải quyết các vấn đề trong chương trình học, khắc phục tình trạng học sinh không thích học lịch sử, làm thay đổi nhận thức trong học sinh

Nâng cao các kỹ năng phân tích, đánh giá, tổng hợp vấn đề, biết vận dụng kiến thức lịch sử vào cuộc sống một cách dễ dàng Chính vì thế mà làm thay đổi cách nhìn nhận của phụ huynh về môn Lịch sử

Là nguồn tư liệu để giáo viên sử dụng các giải pháp đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả nhất, giúp giáo viên trau dồi thêm các kỹ năng để điều khiển tốt một giờ dạy học, hướng học sinh theo mục đích để đạt yêu cầu bài học

Tùy theo đơn vị kiến thức bài, giáo viên có thể lựa chọn các giải pháp đó cho phù hợp với nội dung, thời gian của tiết học

3 Phạm vi, giới hạn của đề tài, sáng kiến, giải pháp:

Sáng kiến được áp dụng tại đơn vị tôi công tác từ tháng 9 năm 2016 đến nay

Trang 2

II PHẦN NỘI DUNG

1 Thực trạng:

Có thể nói, trong những năm gần đây việc thực hiện đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đã dấy lên phong trào thi đua sôi nổi ở các Trường trung học cơ sở Đại đa

số giáo viên có tâm huyết với nghề nghiệp, có đam mê đã tích cực vận dụng các phương pháp dạy học mới khá tốt, nên đã khêu gợi được tính tự lực của học sinh, phát huy tốt vai trò của người học Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có một số nguyên nhân cả về phía giáo viên, cả về phía học sinh, cả về phía cơ sở vật chất lẫn cả về phía phụ huynh học sinh dẫn đến chất lượng dạy-học môn Lịch sử vẫn còn nhiều băn khoăn, lo lắng Sau đây là thực trạng ở đơn vị tôi công tác:

* Về phía giáo viên

Việc thay đổi chương trình lẫn phương pháp giảng dạy mới khiến nhiều giáo viên thực sự lúng túng Trong một tiết dạy, nhiều giáo viên thiếu vận dụng linh hoạt, chỉ sử dụng một phương pháp, nhiều giáo viên chỉ nghiêng về nói lại nội dung SGK làm cho tiết học đơn điệu, giờ học diễn ra rất nhàm chán, học sinh không thể phát huy được tính tích cực học tập của mình.Thậm chí chỉ vì lo hoàn thành khối lượng kiến thức mà nhiều giáo viên đã không chú trọng đến đối tượng học sinh yếu (nếu không muốn nói là bỏ qua) Một số giáo viên hầu như có tiết không sử dụng thiết bị dạy học, không cho học sinh khai thác các kênh hình, tư liệu trong SGK.Một số giáo viên chưa có sự đầu tư cho tiết dạy, chưa sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học.Nếu có

sử dụng công nghệ thông tin, thì giáo viên trình chiếu tất cả các kiến thức dẫn đến học sinh thụ động trong việc tiếp nhận tri thức.Từ đó nảy sinh tâm lý chán họcmôn

Lịch sử.Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng dạy- học Lịch sử

còn thấp so với các môn khác

Sau đây là bảng khảo sát việc giáo viên ngại áp dụng phương pháp mới, lo dạy xong kiến thức, chỉ chú ý đối tượng học sinh Khá, Giỏi, bỏ qua đối tượng học sinh Yếu để chứng minh cho những điều tôi phân tích ở trên:

BẢNG KHẢO SÁT MINH CHỨNG VIỆC GIÁO VIÊN NGẠI ÁP DỤNG

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MỚI TRONG MÔN LỊCH SỬ

N.dun

g

GV

Sử dụng PPDH/tiết Khi dạy GV chú ý đến

nghịch

K.thứ c

T.gian

(Trong đó x có sử dụng, - không sử dụng)

Trang 3

* Về phía học sinh

Đã qua nhiều năm thực hiện đổi mới, nhìn chung đại đa số học sinh đã tiếp cận được với nội dung, kiến thức, chương trình và phương pháp dạy học mới, song quá trình tiếp thu của học sinh chưa đồng đều, chưa linh hoạt trong quá trình hoạt động của mình, việc tiếp cận với phương pháp dạy học mới và thiết bị dạy học mới đối với một số học sinh còn khó khăn do đó kết quả tiếp thu của học sinh chưa đạt kết quả cao

Bên cạnh đó nhiều học sinh coi môn Lịch sử là “môn phụ” vì vậy các em ít chú ý nghe giảng; các em ghi chép một cách máy móc những gì giáo viên ghi trên bảng và chỉ học thuộc lòng những gì ghi trong vở thậm chí là không học bài chứ chưa nói đến việc kết hợp với SGK để giải quyết các câu hỏi trong sách Từ đó lại càng không biết phát hiện những vấn đề cần được giải quyết Từ chỗ lười suy nghĩ, không biết phân tích vấn đề, nên càng không biết nêu vấn đề để thảo luận bàn bạc dẫn đến việc chán chê, bỏ bê Và đây là nguyên nhân thứ hai trong nhiều nguyên nhân dẫn đến chất lượng môn Lịch sử thấp trong thời gian qua mà các phương tiện thông tin đại chúng luôn đề cập

Sau đây là bảng khảo sát về thái độ học tập Lịch sử ở trường THCS trong năm học 2017 - 2018 mà tôi đang trực tiếp giảng dạy:

Kh i ối Sĩ sối R t thích ất thích Thích Không thích H ng thú ứng thú

* Về cơ sở vật chất phục vụ dạy học:

Trong những năm gần đây, do yêu cầu của đổi mới sự nghiệp giáo dục, CSVC của nhà trường được tăng trưởng mạnh Song ở một số trường phương tiện dạy học chưa đầy đủ, cơ sở vật chất chưa đảm bảo, phòng học bộ môn Lịch sử chưa có, các bản đồ, tranh ảnh, băng hình chưa đầy đủ Ở một số bài dạy, một số nội dung cần thiết đến sơ đồ, lược đồ nhưng sách giáo khoa và sách giáo viên không thể hiện rõ và không đưa ra định hướng chung để thực hiện nên dễ gây ra sự tuỳ ý trong một số nội dung khi thực hiện Việc học sinh quá đông trong một lớp học cũng dẫn đến khó khăn trong việc phân chia nhóm cũng ảnh hưởng đến rất lớn trong quá trình dạy học

* Về phía phụ huynh học sinh:

Do tâm lý sợ con mình học vất vả (vì phải học thuộc lòng nhiều), lại sợ khó xin việc trong tương lai nên nhiều phụ huynh không cho con mình theo ngành sử Thậm chí khi đã học sử xong xin được việc song lương của các công việc có liên quan đến ngành sử cũng thấp nên tâm lý lo lắng luôn thường trực trong mỗi một phụ huynh khi con em mình học sử nói chung, các môn xã hội nói riêng Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc học sinh thiếu chăm lo học tập, bỏ bê môn Lịch sử

Trang 4

Tôi cũng đã tiến hành điều tra ý kiến của phụ huynh học sinh đối với môn Lịch sử và nhận được kết quả như sau:

BẢNG THỐNG KÊ Ý KIẾN CỦA PHỤ HUYNH VỀ MÔN LỊCH SỬ:

Tổng

số phụ

huynh

Lịch sử khó

thuộc, dài

dòng

Chỉ là môn phụ

Ra trường khó xin việc

Thích các môn KHTN

Thích môn Lịch

sử vì biết cội nguồn dân tộc,

tổ tiên

8

Tóm lại, từ tháng 9 năm 2016 cho đến nay qua giảng dạy, phân tích, điều tra tôi đã nhận thấy chất lượng dạy học môn Lịch sử còn thấp là do nhiều nguyên nhân, trong đó tôi chú ý đến các nguyên nhân đã phân tích trên

Sau đây là kết quả khảo sát chất lượng môn Lịch sử so với một số môn khác:

- Kết quả học tập bộ môn qua thống kê của một số môn cuối năm học 2016-2017 ở đơn vị tôi công tác:

Môn

Kết quả

- Kết quả bài kiểm tra số 1 qua thống kê của một số môn đầu năm học 2017-2018 ở đơn vị tôi công tác:

Môn

Kết quả

Qua số liệu khảo sát trên, tôi nhận thấy: đúng như tình trạng đã điều tra, phân tích, học sinh nắm kiến thức lịch sử không chắc chắn, có nhiều điểm yếu, tỉ lệ điểm yếu kém cao, kĩ năng vận dụng kiến thức để làm bài tập lịch sử của nhiều em còn

Trang 5

yếu, có quá nhiều chỗ hỏng về kiến thức ….Chất lượng học lịch sử thấp hơn các môn khác về số lượng Giỏi, Khá ………

2 Giải pháp:

Cũng như các môn học khác, môn học Lịch sử cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ sở, nên đòi hỏi học sinh không chỉ nhớ mà còn phải hiểu và vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống Cho nên, việc học tập các môn nói chung, Lịch sử nói riêng đòi hỏi phải phát huy khả năng tư duy, thông minh, sáng tạo của cả thầy lẫn của cả trò Để làm được việc đó cần phải kết hợp nhiều yếu tố trong một quá trình dạy học từ khâu thiết kế bài soạn, tổ chức hoạt động cho học sinh, sử dụng thiết bị đến cả việc kiểm tra đánh giá

Giải pháp 1:

Xây dựng và thiết kế giáo án khoa học

Xây dựng giáo án là một trong những yếu tố tạo nên sự thành công của bài giảng Những bài giảng có khi là một giáo án chuẩn bị chu đáo, cũng có khi là những

ý tưởng bất ngờ nảy đến Không cứng nhắc như nhiều giờ học khác, trong giờ học Lịch sử bạn có thể tổ chức nhiều hoạt động như đóng kịch, chơi trò chơi, học Lịch sử qua sự kiện, qua tem… Nhưng điều quan trọng nhất là gì? Là mục tiêu giảng dạy? Vậy thì một giáo án như thế nào là hiệu quả? Và một giáo án cần những đặc điểm tiên quyết gì để có thể đạt được mục tiêu giảng dạy?

Dưới đây, tôi xin đưa ra 8 vấn đề cần lưu ý mà tôi đã thực hiện để xây dựng một giáo án hiệu quả để chúng ta có thể hướng tới mục tiêu cao nhất của mỗi người giáo viên Đó là nâng cao hiệu quả giờ dạy đồng thời đánh giá chính xác quá trình học tập của học sinh Kể cả khi không cần thiết phải thiết kế giáo án trên giấy thì 8 bước đó cũng sẽ luôn nhắc nhở chúng ta nhằm đạt hiệu quả tốt nhất trong công việc giảng dạy hàng ngày

Vấn đề 1 Mục tiêu bài dạy

Trong mỗi một giờ lên lớp hãy đề ra mục tiêu mà cả lớp phải hoàn thành Và

dù chúng ta có tiến hành hoạt động nào hay tổ chức trò chơi gì cho giờ học thêm sôi nổi thì vẫn phải hướng đến mục tiêu của bài giảng

Vấn đề 2 Dẫn dắt.

Trước khi đi sâu vào nội dung của bài, nên có một vài lời dẫn dắt bằng cách liên hệ giữa các kiến thức cũ và mới hoặc tạo ra một lý giải hợp lý cho việc thực hiện mục tiêu bài giảng ngày hôm đó Việc đó khiến học sinh thích thú, tập trung vào vấn

đề cần đạt hơn hẳn

Ví dụ: Giáo viên có thể tạo hứng thú cho học sinh bằng một trò chơi trên lược

đồ (GV treo bản đồ Đông Nam Á nhưng đã che khuất các nước trong khu vực Đông Nam Á GV yêu cầu học sinh đoán xem trong mỗi mảnh ghép từ ô số 1 đến ô số 11 là

Trang 6

nước nào? Sau đó học sinh đưa ra một câu hỏi có vấn đề: Hầu hết các nước ở châu

Á, cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX đều bị các nước phương Tây xâm lược đó là Ấn

Độ, Trung Quốc Vậy theo các em, khu vực Đông Nam Á có phải là đối tượng tiếp theo mà các nước tư bản phương Tây đang tiếp tục xâm lấn?)

Vấn đề 3 Hướng dẫn trực tiếp.

Khi thiết kế giáo án, chúng ta hãy đưa ra một cách cụ thể và chi tiết để làm sao truyền tải được các khái niệm của bài học hôm ấy với các học sinh Có rất nhiều cách khác nhau và chúng ta có thể thay đổi theo từng đề tài

Ví dụ: Ở bài 11 này, học sinh phải nắm được khái niệm thế nào là nửa thuộc địa, nữa phong kiến GV cho học sinh suy nghĩ, sau đó gọi cá nhân học sinh trả lời GV gợi ý và chốt lại đầy đủ về khái niệm: Những nước bị các nước đế quốc chủ nghĩa cai trị, bóc lột Về thực chất đó là một nước thuộc địa, nhưng vẫn được duy trì chế độ phong kiến bằng cách nuôi dưỡng, sử dụng bọn tay sai phong kiến bản địa để tăng cường thống trị, đàn áp nhân dân

Vấn đề 4 Luyện tập theo hướng dẫn.

Chuẩn bị các bài luyện tập các kiến thức mới vừa học để củng cố kiến thức cho học sinh đồng thời áp dụng các kỹ năng mà chúng ta vừa truyền đạt thông qua các chỉ dẫn trực tiếp Tất nhiên là chúng luôn phải có một sự theo dõi sát sao quá trình làm việc của học sinh trong lớp mình

Ví dụ: Giáo viên có thể củng cố bài học bằng cách cho học sinh chơi trò chơi giải đáp ô chữ

Vấn đề 5 Kết thúc.

Kết thúc bài học cũng là khởi đầu cho những kiến thức tiếp theo Vậy sẽ rất hữu ích nếu chúng ta có thể đặt ra những câu hỏi đầy tính gợi mở để khuyến khích sự

tự nghiên cứu thêm của học sinh cũng như sự chuẩn bị của họ cho bài học tiếp theo

Ví dụ: Khi kết thúc bài học, giáo viên có thể cho học sinh khái quát lại nội dung bài học Giáo viên có thể đưa ra một câu hỏi để học sinh chuẩn bị cho bài học tiếp theo: Ngoài Xiêm, thì có một nước ở châu Á, không bị sự thôn tính của các nước phương Tây Đó là Nhật Bản Em hãy tìm những nguyên nhân để cho thấy Nhật Bản không bị các nước phương Tây xâm lấn?

Vấn đề 6 Tự luyện.

Khi hoàn thành các bài tập về nhà hoặc các bài luận cá nhân, học sinh có thể thể hiện mức độ tiếp thu những kiến thức đã học Thông qua việc trả bài, chúng ta sẽ xác định được rằng mình đã thực hiện được mục tiêu giảng dạy hay chưa

Ví dụ: GV có thể cho học sinh thảo luận nhóm, vẽ sơ đồ tư duy bài học

Vấn đề 7 Tài liệu và thiết bị cần thiết.

Hãy chuẩn bị những nguồn tài liệu cần thiết giúp chúng ta giảng bài hiệu quả

Và nếu có thể, chúng ta nên giới thiệu cho học sinh tài liệu tham khảo cho từng mục kiến thức khác nhau để học sinh tự tìm tòi

Trang 7

Ví dụ: Trước khi học mỗi bài, giáo viên có thể cho học sinh sưu tầm các tài liệu về khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn này Cho học sinh tìm đọc Lịch sử thế giới cận đại của Nguyễn Văn Minh, Vũ Dương Hồng, NXB Giáo dục Giáo viên có thể cho học sinh tự vẽ bản đồ các nước Đông Nam Á

Vấn đề 8 Đánh giá.

Bài học chỉ có thể coi là đã được hoàn thành khi bạn thành công trong việc đánh giá quá trình học của học sinh trong từng tiết dạy Phần đánh giá này là một trong những phần quan trọng nhất, là tiền đề để chúng ta đặt ra những mục tiêu mới trong giờ học tiếp theo.Ví dụ: Giáo viên có thể cho học sinh làm một bài khảo sát theo dạng trắc nghiệm và tự luận về các vấn đề đã học Các câu hỏi có thể ra theo mức độ từ dễ đến khó, phân hóa đối tượng học sinh

Giáo viên có thể cho học sinh lược đồ Đông Nam Á trống Yêu cầu các nhóm học sinh lên điền tên các nước chiếm đóng và khu vực chiếm đóng

Tóm lại, trong suốt quá trình giảng dạy, giáo án sẽ luôn là một cuốn cẩm nang tin cậy mỗi khi chúng ta đứng trước lớp Như vậy, một giáo án phải có một mục đích

rõ ràng, lôi cuốn được sự tham gia tích cực của học sinh, có thể áp dụng với nhiều phương pháp học khác nhau và đưa học sinh đến những chân trời kiến thức mới Với việc chú ý 8 bước trên, tôi tin rằng, chúng sẽ thành công trong việc xây dựng một giáo án thực sự hiệu quả

Giải pháp 2:

Tổ chức linh hoạt hoạt động nhóm

Việc khuyến khích học sinh hợp tác với các thành viên khác trong lớp góp phần tạo lập nên cộng đồng, gia tăng sự đoàn kết và khiến việc học trở nên tích cực hơn Tuy nhiên, quyết định xem có nên cho hoạt động nhóm hay không và tổ chức như thế nào, việc đó có thể làm bạn cảm thấy mệt mỏi

Bởi vì làm việc nhóm có thể là một thách thức và phức tạp, nhiều giáo viên hoặc là tránh không cho hoạt động nhóm hoặc giữ học sinh ở những nhóm cố định Duy trì các “nhóm cố định” trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng Họ không có sự điều chỉnh thường xuyên tùy theo mục đích của bài tập và hồ sơ đánh giá học sinh Điều này có thể tước đi cơ hội cho học sinh được học hỏi và phát triển các mối quan hệ với tất cả các bạn trong lớp.Ngược lại, nhóm linh hoạt, sắp xếp học sinh một cách có chủ

ý và thay đổi thường xuyên tùy theo các trải nghiệm học tập trong một khoảng thời gian tương đối ngắn (ví dụ: một hoặc hai tuần) Hoạt động nhóm kết nối với nhiệm

vụ học tập và dựa trên kết quả đánh giá lớp học cũng như các đặc điểm khác của học sinh

Qua quá trình tổ chức hoạt động nhóm linh hoạt tôi nhận thấy có ba lợi thế so với hoạt động nhóm cố định, cụ thể như sau:

Thứ nhất: Hoạt động nhóm linh hoạt kết nối các học sinh với nhau: Bất cứ khi

nào học sinh hoạt động trong một nhóm nhỏ, họ tách biệt với phần còn lại của lớp Với nhóm linh hoạt, sự tách biệt là tạm thời Sau một khóa học kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng, học sinh cộng tác với nhiều người khác theo những cách mới

Trang 8

mà không phải thực hiện những buổi hoạt động cả nhóm, cá nhân hoặc tương tác trong một nhóm nhỏ cố định Hoạt động nhóm linh hoạt củng cố tình cảm trong lớp học

Thứ hai: Hoạt động nhóm linh hoạt đưa học sinh đến với những quan điểm mới

và khác biệt: Cũng như người lớn, trẻ em ở mọi lứa tuổi bị lôi cuốn bởi những người

giống họ – người chia sẻ quan điểm với họ, có cùng trải nghiệm, sở thích và dường như cùng có sự đánh giá cao với một số thứ Nhu cầu kết bạn là chuyện bình thường

và rất có ích Tuy nhiên, học sinh có thể rất thoải mái hoặc có xích mích với cùng những thành viên trong nhóm ở trong hoặc ngoài không gian lớp học Nhóm linh hoạt tách học sinh ra khỏi vùng thoải mái và buộc họ làm việc chung với những người mà

họ không thể từ chối để trải nghiệm những mối quan hệ mới

Thứ ba: Nhóm linh hoạt chống lại sự khác biệt: Khi tiến hành hoạt động nhóm linh

hoạt giáo viên đã gửi thông điệp mạnh mẽ đến học sinh về vai trò của giáo viên đối với lớp học Khi được sắp nhóm, hầu hết học sinh sẽ đặt ra các câu hỏi: Ai cùng nhóm với mình? Chúng tôi sẽ làm gì? Họ sẽ làm gì?… Học sinh đang tiến hành một dạng thức kiểm tra “độ cứng của giáo viên” cũng như niềm tin của giáo viên đối với năng lực học tập của học sinh Nhóm linh hoạt làm đã thử thách người học ở chỗ họ

bị sắp xếp làm việc với người khác theo những mục đích của giáo viên Các nhóm đôi khi được chia dựa trên độ sẵn sàng của học sinh hoặc cấp độ kĩ năng nhưng các thành viên trong nhóm kết nối với nhau dựa trên mối quan tâm, sở thích học tập, trải nghiệm,…Từ những yếu tố trên, chúng ta phải xây dựng kế hoạch tổ chức nhóm linh hoạt Để giải quyết tốt vấn đề này, giáo viên phải trả lời được các câu hỏi sau: Học sinh có nên ở trong nhóm lớn hay là làm việc theo cặp? Cho tự đọc hay đọc theo nhóm ba? Nhóm bốn người quá to hay quá nhỏ cho trò ghép hình? Học sinh có thể tự chọn nhóm không, hay là giáo viên nên chọn?

Có phải cấp độ kĩ năng ảnh hưởng phần lớn đến các bài tập nhóm, hay là sở thích? Trong dạy học, để xây dựng kế hoạch hoạt động nhóm linh hoạt, tùy theo từng bài học, giáo viên có thể chia các nhóm:

Nhóm nhỏ ( 2 học sinh): thường dùng khi cần học sinh trao đổi những vấn đề cụ thể, đơn giản, thời gian ngắn

Nhóm đôi: Dùng để nghiên cứu, trao đổi vấn đề phức tạp đòi hỏi sự cộng tác cao Nhóm 4 – 6 học sinh: Dùng khi trao đổi ý kiến hoặc thực hiện công việc cụ thể đòi hỏi sự nổ lực chung của cả nhóm

Để hoạt động nhóm tốt, giáo viên có thể ghi trên bảng theo dõi quá trình của nhóm

Giải pháp 3:

Tăng cường khai thác thiết bị dạy học hiệu quả

Đổi mới PPDH đang là một vấn đề vô cùng quan trọng trong việc quyết định dến chất lượng giáo dục Muốn vậy cần phải nâng cao, cải tiến đồng bộ các thành tố liên quan, trong đó phương tiện dạy và học là một thành tố quan trọng

Trong quá trình dạy học, các PTDH giảm nhẹ công việc của giáo viên và giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi Có được các phương tiện thích hợp, người giáo viên sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng

Trang 9

dạy, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn, tạo

ra cho học sinh những tình cảm tốt đẹp với môn học

Do đặc điểm của quá trình nhận thức, mức độ tiếp thu kiến thức mới của học sinh tăng dần theo các cấp độ của tri giác: nghe - thấy - làm được (những gì nghe được không bằng những gì nhìn thấy và những gì nhìn thấy thì không bằng những gì

tự tay làm), nên khi đưa những phương tiện vào quá trình dạy học, giáo viên có điều kiện để nâng cao tính tích cực, độc lập của học sinh và từ đó nâng cao hiệu quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình thành kỹ năng, kỹ xảo của các em Có rất nhiều loại phương tiện dạy học với các hình thức và chức năng khác nhau, trong

đó có: phương tiện tạo hình ảnh (bảng đen, bảng trắng, tranh ảnh, bảng biểu, ), những phương tiện khuếch đại hình ảnh (máy chiếu), phương tiện thu/phát khuếch đại âm thanh (máy quay, máy ghi âm, )

Vì vậy người giáo viên khi sử dụng phương tiện dạy học phải bảo đảm các nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học Phương tiện dạy học có tác dụng làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức của học sinh, giúp cho học sinh thu nhận được kiến thức về đối tượng thực tiễn khách quan Tuy vậy, nếu không sử dụng phương tiện dạy học một cách hợp lý thì hiệu quả sư phạm của phương tiện dạy học không những không tăng lên mà còn làm cho học sinh khó hiểu, rối loạn, căng thẳng

Theo ý kiến của bản thân tôi thì mỗi giáo viên nên khai thác thiết bị dạy học theo hướng sau đây:

- Khai thác máy tính, máy chiếu và các phần mềm dạy học cho công tác soạn, giảng Trong quá trình trình bày bài giảng, tùy theo từng nội dung bài học cụ thể mà ứng dụng công nghệ thông tin với những mức độ và hình thức khác nhau

- Xây dựng giáo án điện tử, bài giảng Elearning, sự tích hợp các công nghệ phần mềm dạy Bài giảng có thể lưu trữ trên các ổ đĩa hoặc trên một kho tài nguyên học tập trên mạng, người học có thể sử dụng học tập bất cứ khi nào, bất cứ ở đâu

- Khai thác tối đa tài nguyên dạy học trên mạng Internet

- Khai thác ứng dụng của các phần mềm mô phỏng trong giảng dạy làm cho quá trình truyền thụ kiến thức được thuận tiện hơn Cần biết vận dụng và khai thác các phần mềm dạy học phổ biến

Tuy nhiên cần chú ý những điểm sau đây:

- Trước hết giáo viên phải nhận thức đúng và đầy đủ vai trò của việc sử dụng thiết bị vào đổi mới phương pháp giảng dạy Giáo viên cần mạnh dạn, không ngại khó, tự thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử của mình sẽ giúp rèn luyện được nhiều kỹ năng

và phối hợp tốt các phương pháp dạy học tích cực khác

- Không lạm dụng công nghệ thông tin nếu chúng không tác động tích cực đến quá trình dạy học và sự phát triển của học sinh

- Ứng dụng CNTT trong dạy học không phải là một phương pháp mới mà chỉ là sự hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học bằng các công cụ, phương tiện Cần tránh việc chuyển từ đọc - chép sang nhìn – chép

- Cần có cách tổ chức lớp học khoa học hợp lý để huy động mọi học sinh đều tham gia vào việc học Tránh tình trạng chỉ một vài học sinh thực hiện còn các học sinh khác thì không tập trung chú ý

Trang 10

- Đối với bản đồ, lược đồ: đó là nguồn kiến thức quan trọng và được coi như cuốn sách lịch sử thứ hai của học sinh Tổ chức cho học sinh làm việc với bản đồ theo các bước sau:

+ Cho học sinh quan sát bản đồ về nội dung và các ký hiệu của bản đồ

+ Giáo viên đặt câu hỏi nêu vấn đề gợi ý học sinh tìm hiểu nội dung bản đồ + Học sinh trả lời câu hỏi bằng việc trình bày kết quả tìm hiểu nội dung bản đồ đó

+ Giáo viên nhận xét, bổ sung, hoàn chỉnh nội dung cần cung cấp cho học sinh

Ví dụ: Hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ lược đồ “Hành trình cứu nước của

Hồ Chí Minh” - Lịch sử 9 bài 16 “Hoạt động của NAQ ở nước ngoài trong những năm 1919-1925

- Cho học sinh quan sát ở lược đồ để thấy được hoạt động của NAQ ở nước ngoài qua 3 giai đoạn theo hướng đi bằng các màu sắc thể hiện khác nhau

+ Nguyễn Ái Quốc ở Pháp (1917-1923)

+ Nguyễn Ái Quốc ở Liên Xô (1923-1924)

+ Nguyễn Ái Quốc ở Trung Quốc (1924-1925)

- Đối với tranh ảnh: Để việc khai thác tranh ảnh có hiệu quả, phát huy được tính tích cực của học sinh cần thực hiện các yêu cầu sau:

+ Cho học sinh khai thác tranh ảnh để xác định nội dung cần khai thác

+ Giáo viên nêu câu hỏi nêu vấn đề, tổ chức học sinh tìm hiểu nội dung tranh ảnh + Học sinh trình bày kết quả sau khi đã quan sát, tìm hiểu

+ Giáo viên nhận xét, bổ sung, hoàn thiện nội dung khai thác tranh ảnh

Ví dụ: Khai thác tranh Nguyễn Ái Quốc ở đại hội Tua.

+ Cho học sinh quan sát để xác định đây là bức tranh mà Nguyễn Ái Quốc tham

dự đại hội Tua

+ Trong đại hội Tua người có những quyết định gì

+ Giáo viên nêu các nội dung trong đại hội Tua

Giải pháp 4:

Tổ chức hướng dẫn học sinh làm việc với các sử liệu có trong SGK và trình bày

lại (rèn kỹ năng nghiên cứu tài liệu).

Qua kết quả nghiên cứu thực tiễn tại cơ sở, tôi xin đưa ra các biện pháp rèn kĩ năng tự nghiên cứu tài liệu bằng cách tổ chức cho học sinh làm báo cáo hay bài tập

về chuyên đề Bởi vì, theo tôi để viết được một báo cáo hoặc hoàn thành tốt bài tập theo chuyên đề tốt, buộc học sinh phải có kĩ năng khai thác và xử lí thông tin từ các nguồn tài liệu khác nhau Ngược lại, viết báo cáo hay thực hiện bài tập chuyên đề là

để các em luyện tập, khai thác tối đa khả năng nghiên cứu của bản thân Trên cơ sở

đó mà kĩ năng tự nghiên cứu tài liệu cũng sẽ được củng cố, hoàn thiện, nâng cao và dần trở thành năng lực, phẩm chất nhân cách của các em, thứ mà các em cần trong suốt cuộc đời

Từ điều tra thực tiễn, nhận thấy kĩ năng tự học, tự nghiên cứu tài liệu của học sinh còn ở mức trung bình và kém, từ đo tôi đã xây dựng quy trình rèn kĩ năng tự nghiên cứu tài liệu bằng cách tổ chức cho hoch sinh thực hiện làm báo cáo hay bài tập chuyên đề thành hai giai đoạn

Ngày đăng: 15/12/2017, 12:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w