Vì những lý do trên, chúng tôi chọn: Quá trình hình thành quan niệm về đối tượng và phương pháp của triết học Hy Lạp cổ đại làm đề tài nghiên cứu.. Ngoài ra, tác giả còn trình bày quan
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***********
NGUYỄN THỊ VUI
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH QUAN NIỆM VỀ ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP CỦA TRIẾT
HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
Tóm tắt luận văn thạc sĩ triết học
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60.22.80
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Đặng Hữu Toàn
Hà Nội, 2008
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đã biết, triết học ra đời từ rất sớm trong lịch sử tư tưởng nhân loại Trong suốt chiều dài lịch sử của mình, triết học đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, khi thì được coi là sự thông thái của mọi sự thông thái, khi thì được coi là khoa học của các khoa học, khi thì bị coi là những lời nói
vô bổ của những người không có việc gì để làm… Thực ra, nếu xét về mặt lợi ích mà nói, triết học không mang lại lợi ích thực tế vị lợi cho con người như các lĩnh vực hoạt động khác Nó không cần thiết đến mức không thể thiếu như cơm ăn, áo mặc… Vậy, triết học có vai trò gì trong đời sống con người?
Để trả lời câu hỏi này thì có lẽ, câu nói sau đây của Aristotle là có cơ sở
và xứng đáng được coi là câu trả lời xuất sắc Aristotle nói: Tất cả mọi khoa học đều là cần thiết, nhưng không có khoa học nào tốt hơn triết học Ở đây, ông muốn nói đến giá trị của triết học là về phương diện tinh thần, đạo đức chứ không phải về phương diện vật chất
Trước khi triết học với đúng nghĩa của nó ra đời ở Hy Lạp cổ đại, thế giới quan thần thoại (logos - thần ngôn) đã chi phối đời sống của con người Thực chất của thế giới quan thần thoại đó là các hệ giá trị không thuộc về con người, về bản tính người, mà nó là các thế lực, lực lượng trực tiếp chi phối đời sống con người: nước, lửa, đất đá, cỏ cây… Các thế lực, lực lượng này bao giờ cũng được nhân hoá nhưng những kẻ cầm quyền luôn có tham vọng trở thành thần, khi các thần bị thế tục hoá thì con người thấy thần cũng như mình và do vậy quyền uy tối cao của thần đối với cuộc sống của con người không còn sức mạnh như trước nữa
Mặt khác, tất cả các tập quán pháp: những quy tắc, quy định chi phối quan hệ giữa con người với con người trong cộng đồng, khi bị chính trị hoá nhân danh các thần đã dẫn đến chỗ, con người buộc phải phản ứng chống lại
Trang 3thần, người ta không còn tin vào thần, vào logos nữa Điều này, đến lượt nó
đã dẫn đến tình trạng khủng hoảng hệ giá trị thần thoại, mà biểu hiện rõ nhất của sự khủng hoảng này nằm trong quan niệm của phái ngụy biện Trong bối cảnh đó, các nhà triết học đã đi tìm con đường để khắc phục sự khủng hoảng này, tìm chỗ dựa tinh thần mới không phải trong tự nhiên, mà là trong con người Do vậy, có thể nói, sự ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại, về thực chất,
là sự thay thế một hệ giá trị mới cho một hệ giá trị đã không còn phù hợp (hệ
giá trị thần thoại được thay bằng hệ giá trị mới – đó là sự thông thái
Cuộc sống hiện đại cũng cho thấy, khoa học và công nghệ đã mang lại cho con người cuộc sống vật chất tương đối đầy đủ, khẳng định được sức mạnh của con người trong việc cải tạo tự nhiên, nhưng con người vẫn luôn cảm thấy thiếu một cái gì đó mà bản thân những giá trị vật chất đó không thể đáp ứng được Căn nguyên của tình trạng này là do các khoa học đều đưa ra những cách giải thích khác nhau về thế giới và do vậy, nếu không có một cái nhìn thống nhất về những thành tựu đó thì tất yếu,
sẽ xuất hiện một cái nhìn phiến diện theo kiểu “thầy bói xem voi” về thế giới Nếu tình trạng này diễn ra, thế giới nội tâm của con người sẽ luôn trong tình trạng hỗn loạn, không biết nên tin theo cái gì Do vậy mà:
“Triết học có mặt ở nơi cần tìm kiếm sự thống nhất của đời sống tinh thần theo con đường hợp lý hóa nó” [16, tr 15]
Lịch sử triết học, từ trước tới nay, luôn là lịch sử tìm kiếm và xác định đối tượng và phương pháp của triết học Thực vậy, đối với nhiều khoa học, việc xem xét lịch sử đối tượng và phương pháp không phải là cái quá cần thiết
Để trở thành nhà vật lí học hay nhà hoá học giỏi, người ta chỉ cần nắm được tri thức hiện đại về các khoa học đó… Đối với triết học lại khác Triết học là một lĩnh vực đặc biệt của của văn hoá tinh thần Triết học giúp con người xác định được hệ thống giá trị, tìm được ý nghĩa cuộc sống, giải quyết vấn đề:
Trang 4“Con người là gì?”, “Trong thế giới này, con người có thể hy vọng vào cái gì?”, “Thế giới có liên quan gì đến con người không?”… Đó đều là những vấn đề cấp thiết mà bất cứ người nào và bất cứ lúc nào cũng đặt ra Ở mọi thời đại kể cả thời đại hiện nay, khoa học, văn hoá và triết học châu Âu nói riêng, thế giới nói chung đều quay về với triết học cổ đại như là nguồn gốc
và là cái nôi, là mẫu mực tư duy của mình Ngay cả thuật ngữ "Triết học"
cũng xuất hiện từ cái nôi này
F.Engles đã từng khẳng định: "Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận" và để phát triển, hoàn thiện tư duy lý luận ấy thì "không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước" [27, tr 489, 487] Và nghiên cứu "triết học thời trước", chúng ta không thể không nghiên cứu triết học Hy Lạp cổ đại, vì như F.Engles đã khẳng định: “Từ các hình thức muôn hình muôn vẻ của triết học Hy Lạp, đã có mầm mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này” [27, tr 491]
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn: Quá trình hình thành quan niệm về
đối tượng và phương pháp của triết học Hy Lạp cổ đại làm đề tài nghiên
cứu
Nhưng, do điều kiện thời gian và trình độ, trong luận văn này, chúng tôi chỉ tìm hiểu quan niệm của Socrates và Plato về đối tượng và phương pháp của triết học Vì, đối với phần lớn các nhà triết học phương Tây, cả cổ đại lẫn hiện đại, Socrates được coi là nhân vật trung tâm của triết học Hy Lạp cổ đại,
là người đã tạo nên bước ngoặt căn bản trong lịch sử tư tưởng triết học Người kế tục sự nghiệp của Socrates một cách xuất sắc nhất và cũng là người học trò tâm phúc nhất của ông là Plato – người được thừa nhận là một trong những nhà tư tưởng sáng tạo nhất, có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử triết học phương Tây Nghiên cứu triết học Hy Lạp cổ đại, chúng ta không thể
Trang 5không nghiên cứu triết học Socrates và Plato, nhất là quan niệm của các ông
về đối tượng và phương pháp của triết học
2 Tình hình nghiên cứu
Trên thế giới, các công trình nghiên cứu về lịch sử triết học nói chung và lịch sử triết học của Socrates và Plato tương đối nhiều, kể cả các nhà triết học mácxít lẫn các nhà triết học phi mácxít Bởi lẽ, các nhà triết học, trước khi xây dựng học thuyết của mình, bao giờ họ cũng phải nghiên cứu lịch sử triết học trước đó Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về
Socrates và Plato như: Tác giả A Losev với tác phẩm Cuộc đời và sự nghiệp
sáng tạo của Plato; Losev và A.Takho (1993) – Godi, Plato, Aristote, M.;
K.Popper (1992), Xã hội mở và kẻ thù của nó, t.1, M.; André Cresson (1956), Socrates, Presses universitaires de France, Paris; Platoierre – Maxime Schuhl (1954), L’oeuvre de Plato, Paris, Jean Brun (1963),
Socrates, Presses universitaires de France, Paris… Và những công trình
nghiên cứu về triết học cổ đại: Công trình nghiên cứu của tập thể các nhà
triết học Liên Xô, Lịch sử triết học (t.1, M.,1940), Lịch sử triết học (t.1, M.,
1957); một số công trình chuyên về thời cổ đại: V.Ph.Asmuxo (1965), Lịch
sử triết học cổ đại, M., A.O.Macovenxki (1967), Lịch sử logic học, M.,
A.Ph.Losev (1963), Lịch sử mỹ học cổ đại, t.1, M., A.Ph.Losev với tác phẩm
Cuộc đời và sự nghiệp sáng tạo của Plato, M., …
Ở Việt Nam thì chỉ trong một vài năm trở lại đây, việc nghiên cứu và dịch thuật các công trình về lịch sử triết học ngoài mácxít mới được coi trọng Có thể kể đến một số công trình chuyên nghiên cứu về lịch sử triết học, trong đó
có triết học của Socrates và triết học của Plato sau:
Tác phẩm Socrates của Lê Tôn Nghiêm (1974), nhà xuất bản Sài Gòn ấn
hành Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã trình bày những quan điểm khác nhau về thân thế, về sự nghiệp sáng tạo triết học của Socrates, đặc
Trang 6biệt là: nhận thức, phương pháp, đạo đức Song, hướng quan tâm chủ yếu của tác giả là tóm tắt hai khuynh hướng đối nghịch nhau hoàn toàn trong việc đánh giá vị thế của triết học Socrates Khuynh hướng thứ nhất – khuynh hướng hiện sinh do Kierkegaard cầm đầu coi Socrates như khởi điểm nguyên thủy cho triết học hiện sinh, và họ lấy những luận điểm của Socrates để minh chứng Khuynh hướng thứ hai – khuynh hướng duy lý do Nietzsche lãnh đạo coi Socrates như người sáng lập ra phong trào suy tư bằng lý trí, nhưng lại lấy những luận điểm tiêu biểu của Socrates để công kích ông
Triết học Hy Lạp cổ đại do Thái Ninh biên soạn (1987), nhà xuất bản
sách giáo khoa Mác-Lênin ấn hành Trong đó, tác giả đã trình bày triết học
Hy Lạp từ khi hình thành đến triết học thời kỳ Hy Lạp hoá, thời kỳ suy tàn của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cổ đại Quan điểm của Socrates được
trình bày với bốn nội dung chính Thứ nhất, về triết học, tác giả khẳng định
triết học của Socrates chỉ nhằm lý giải đạo đức của chủ nô quý tộc; rằng Socrates thù địch với khoa học tự nhiên, mục đích nghiên cứu triết học của
ông chỉ là để truyền bá, giáo dục về phẩm hạnh Thứ hai, về lý luận nhận
thức, tác giả khẳng định: “Mục đích luận của Socrates thể hiện rõ quan niệm
duy tâm chủ quan mang nặng tính chất tôn giáo Đó là những quan niệm sai
lầm và rất thô kệch về mục đích luận” [36, tr 104] Thứ ba, về quan niệm
đạo đức, tác giả khẳng định đạo đức học của Socrates là thứ đạo đức duy tâm
tôn giáo Thứ tư, về phương pháp nghiên cứu triết học của Socrates, tác giả
chỉ trình bày một cách vắn tắt và nhìn chung, tác giả cho rằng, Socrates đã giải quyết mọi vấn đề triết học trên quan điểm duy tâm và lý giải những vấn
đề đạo đức trên lập trường quý tộc phản động để bảo vệ quyền lợi mọi mặt cho bọn chủ nô quý tộc Đối với triết học của Plato, tác giả trình bày: học thuyết về vũ trụ, lý luận nhận thức, quan niệm về đạo đức, quan niệm về nhà nước, quan niệm về mỹ học Trong đó, chủ yếu trình bày những đánh giá,
Trang 7nhận định của bản thân tác giả và của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác để phê phán, chỉ ra những điểm bất hợp lý trong học thuyết ý niệm, trong phương pháp đi-a-léc-tích của Plato Từ đó, tác giả khẳng định rằng, Plato hoàn toàn không có một phát hiện mới nào về phép biện chứng, một số yếu tố có tính chất biện chứng duy tâm mà Plato nêu ra (nhận thức chân lý – ý niệm thông qua những khái niệm đối lập, thông qua phương pháp đối chiếu những mặt đối lập) chẳng qua chỉ là sự lặp lại các yếu tố của các nhà biện chứng duy tâm thuộc phái Elea, phái xô-phi-stơ mà thôi Ngoài ra, tác giả còn trình bày quan niệm của các trường phái Socrates, Plato và một số triết gia khác… Do vậy, có thể nói, trong công trình này, vấn đề đối tượng và phương pháp của triết học còn ít được nghiên cứu chuyên sâu
Cũng đề cập đến những vấn đề trên là một số công trình nghiên cứu về
triết học Hy Lạp cổ đại của tác giả Hà Thúc Minh (1993): Triết học cổ đại
Hy Lạp – La Mã, Viện khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản;
Tác giả Trần Văn Phòng (2006): Triết học Hy Lạp cổ đại, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội; Tác giả Đinh Ngọc Thạch (1999): Triết học Hy Lạp
cổ đại, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
Bên cạnh đó, còn có một số công trình nghiên cứu về lịch sử triết học nói chung, trong đó có bàn tới cả triết học Hy Lạp cổ đại, triết học Socrates và triết học Plato như:
Lịch sử phép biện chứng, tập I Phép biện chứng cổ đại, Viện Hàn lâm
khoa học Liên Xô (Đỗ Minh Hợp dịch, Đặng Hữu Toàn hiệu đính), Nhà xuất
bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 1998, trong đó chủ yếu quan tâm đến lịch sử ra đời và phát triển của phép biện chứng Do vậy, phương pháp nghiên cứu của Socrates và Plato cũng được quan tâm nghiên cứu nhưng nó chỉ được quan tâm với tư cách là một mắt xích trong lịch sử phát triển của phép biện chứng
Trang 8Lịch sử triết học, tập 1 Triết học cổ đại do các tác giả Nguyễn Thế
Nghĩa, Doãn Chính chủ biên, do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm
2002 Trong đó, Socrates được trình bày một cách vắn tắt với tư tưởng về đạo đức, về phương pháp Tư tưởng của Plato được trình bày chi tiết hơn với học thuyết ý niệm, tâm lý học, nhận thức luận, lôgíc học, triết học xã hội, tư tưởng thẩm mỹ – nghệ thuật
Đại cương lịch sử triết học phương Tây, do các tác giả Đỗ Minh Hợp,
Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn biên soạn, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2006 Trong đó, quan điểm nhân học, học thuyết về phương pháp của Socrates; học thuyết ý niệm, nhận thức của Plato… được bàn luận tương đối nhiều trên quan điểm hiện sinh chủ nghĩa
và ở mức độ khái quát cao, nên đối với những người mới bước đầu nghiên cứu triết học thì tương đối khó hiểu
Lịch sử triết học và các luận đề của tác giả Samuel Enouch Stumpf (Đỗ
Văn Thuấn, Lưu Văn Hy dịch), Nhà xuất bản Lao động ấn hành năm 2004
Trong tác phẩm này, quan niệm của Socrates được trình bày theo chủ đề về
lý thuyết nhận thức, vấn đề định nghĩa, tư tưởng đạo đức Quan niệm của Plato được trình bày theo chủ đề về lý thuyết nhận thức, triết học đạo đức, triết học chính trị và vũ trụ quan
Ngoài những công trình đó, còn có một số công trình trong nước nghiên cứu về lịch sử triết học trong đó có cả triết học của Socrates và triết học của
Plato: Tác giả Đặng Thai Mai (1950) với tác phẩm Lịch sử triết học phương
Tây, Nhà xuất bản sách giáo viên ấn hành; Tác giả Lê Tôn Nghiêm (2000): Lịch sử triết học Tây phương, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh ấn
hành; Tác giả Bùi Thanh Quất (2000): Lịch sử triết học, Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành; Tác giả Nguyễn Hữu Vui (1998): Lịch sử triết học, Nhà xuất
bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội ấn hành;…Và một số các tác phẩm dịch của
Trang 9các tác giả: Tác giả Samuel Enouch Stumpf và Donal C.Abel (Lưu Văn Hy
dịch) (2004): Nhập môn triết học phương Tây, Nhà xuất bản Tổng hợp
Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành; Các tác phẩm do tác giả Đặng Thai Mai
dịch (1956): Lịch sử triết học phương Tây, Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội; Tác
giả Forrest E.Baird (Đỗ Văn Thuấn và Lưu Văn Hy dịch) (2006): Tuyển tập
danh tác triết học từ Plato đến Derrida, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin ấn
hành…
Nói chung, các công trình nghiên cứu này mới chỉ nghiên cứu sơ lược hoặc là tổng quan về Socrates và Plato, hoặc là nghiên cứu về phương pháp biện chứng của các ông… Đặc biệt, các công trình nghiên cứu trong nước chủ yếu nghiên cứu các quan niệm của Socrates và Plato với tư cách là những quan niệm của các nhà duy tâm khách quan, nên thái độ phê phán là chủ yếu, mà chưa bàn nhiều đến những đóng góp của hai ông cho lịch sử triết học Có thể nói, cho đến nay, ở Việt Nam ta vẫn chưa có một công trình nào chuyên nghiên cứu về quan niệm của Socrates và Plato về đối tượng và phương pháp nghiên cứu của triết học
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích:
Tái hiện một cách tương đối có hệ thống quan niệm của Socrates và Plato
về đối tượng và phương pháp của triết học để qua đó, chỉ ra những điểm tiến
bộ, những đóng góp và những hạn chế của hai ông đối với lịch sử tư tưởng triết học của nhân loại sau này
Nhiệm vụ:
* Nghiên cứu và phân tích một cách khái quát về cuộc đời, sự nghiệp và quan niệm của Socrates và Plato về đối tượng và phương pháp của triết học
* Đưa ra một số nhận xét và đánh giá về những quan niệm của Socrates và Plato về đối tượng và phương pháp của triết học
Trang 104 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên nền tảng lý luận là quan
điểm của các nhà sáng lập triết học Mác-Lênin về lịch sử triết học nói chung, triết học cổ đại nói riêng; đồng thời kế thừa, tham khảo có chọn lọc các công trình của các nhà nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng kết hợp những phương pháp
nghiên cứu của lịch sử triết học, cụ thể là: phương pháp lôgíc kết hợp với phương pháp lịch sử, phân tích và tổng hợp, hệ thống hoá và so sánh…
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Quá trình hình thành quan niệm về đối tượng và phương pháp của triết học Hy Lạp cổ đại Nhưng,
do điều kiện về thời gian và trình độ, luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu là: Quan niệm Socrates và Plato về đối tượng và phương pháp nghiên cứu của triết học Trong quá trình luận chứng, tác giả có đề cập đến một số quan niệm khác của hai ông và một số quan điểm, tư tưởng của một số nhà tư tưởng khác trong chừng mực mà chúng có liên quan đến đề tài
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những nội dung cơ bản trong quan niệm về đối tượng và phương pháp của hai triết gia tiêu biểu cho nền triết học Hy Lạp cổ đại – Socrates và Plato mà cho đến nay vẫn còn có ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng nhân loại – chủ đề mà ở Việt Nam còn chưa được nghiên cứu chuyên sâu
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu quá trình hình
thành quan niệm về đối tượng và phương pháp trong triết học cổ đại Hy
Lạp nói chung, trong triết học của Socrates và Plato nói riêng