1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

DSpace at VNU: Hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á: thực trạng, triển vọng và một số gợi ý cho Việt Nam Hợp tác tài chính

14 112 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 916,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kể từ đó đến nay, quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á đã phát triển mạnh từ những hình thức ban đầu như trao đổi thông tin và xây dựng các quy trình giám sát khu vực thể hiện ở

Trang 1

Hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á: thực trạng, triển vọng và một số gợi ý cho Việt Nam

Nguyễn Thị Vũ Hà

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ý tưởng về hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á đã có từ khá lâu nhưng nó mới chỉ được chính thức bắt đầu từ tháng 12 năm 1997, khi các nhà lãnh đạo ASEAN và các đối tác từ Đông Á là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh không chính thức bên lề Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ hai tại Malaysia

Kể từ đó đến nay, quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á đã phát triển mạnh từ những hình thức ban đầu như trao đổi thông tin và xây dựng các quy trình giám sát khu vực (thể hiện ở việc thành lập Nhóm khuôn khổ Manila, xây dựng quy trình giám sát ASEAN, quy trình đối thoại chính sách và kiểm điểm kinh tế ASEAN + 3, giám sát sự di chuyển vốn tư nhân, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm…) tới việc

thành lập các cơ chế phòng và chống khủng hoảng cho toàn khu vực như Sáng kiến Chiang Mai, xây dựng Quỹ trái phiếu Châu Á… Trong tương lai, chính phủ các nước

Đông Á còn mong muốn xây dựng một liên minh tiền tệ - hình thức hợp tác tài chính

- tiền tệ cao nhất trong các hình thức hợp tác tài chính - tiền tệ

Tất cả những nỗ lực trên cho thấy hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á là một vấn

đề được nhiều quốc gia quan tâm và ủng hộ Tuy nhiên, quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á còn gặp phải một số thách thức như: sự phát triển không đồng đều,

sự xuất hiện ngày càng nhiều các hiệp định thương mại tự do song phương và sự khác biệt về văn hóa, truyền thống, cách cư xử và giải quyết các vấn đề giữa các nước thành viên Do vậy, quá trình này đòi hỏi các nước cần phải nỗ lực hơn nữa nhằm đạt được mục tiêu hợp tác của mình

Trang 2

Bên cạnh đó, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế; sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển, Việt Nam đã tích cực thực hiện quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Việt Nam lần lượt tham gia các tổ chức kinh tế khu vực quan trọng như ASEAN, ASEM, APEC, ký hiệp định khung về hợp tác kinh tế với EU, đạt được các thỏa thuận sâu rộng với IMF và World Bank trong khuôn khổ các chương trình cải cách cơ cấu và xóa đói giảm nghèo; hợp tác với Nhật Bản trong khuôn khổ chương trình Miyazawa nhằm trợ giúp, khắc phục các tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền

tệ Đông Á; k{ kết và đưa vào thực thi Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kz… Tất cả các nỗ lực trên đã đem lại nhiều thành tựu cho phát triển kinh tế và xã hội ở Việt Nam Tuy nhiên, khả năng hợp tác của Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, Việt Nam vẫn chưa thực sự chủ động tham gia vào các quan hệ kinh tế quốc tế

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu về hợp tác tài chính - tiền tệ ở khu vực Đông Á để từ đó đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam là cần thiết và có vai trò quan trọng

Chính vì vậy, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á: thực trạng, triển vọng và một số gợi ý cho Việt Nam” để nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu

Tăng cường hợp tác kinh tế nhất là hợp tác trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ ở Đông Á là một hoạt động được nhiều quốc gia trong khu vực quan tâm và ủng hộ đặc

biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997-1998 Các quốc gia Đông Á

đã và đang rất tích cực phát triển mối quan hệ hợp tác tài chính - tiền tệ trong khu vực Song song với các nỗ lực đó, ở Đông Á và trên thế giới, đã có nhiều công trình của các cá nhân và tập thể nghiên cứu về hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á Có thể khẳng định, đây là một chủ đề nghiên cứu hấp dẫn và cần thiết cho khu vực bởi vì nó

Trang 3

cung cấp nền tảng lý luận và thực tiễn cho hoạt động hợp tác giữa các quốc gia đồng thời sẽ đưa ra được các giải pháp nhằm giúp Đông Á xây dựng vị thế của mình trên thế giới (trở thành một trong 3 cực trên thế giới là Châu Âu, Bắc Mỹ và Đông Á)

Nổi bật là chương trình nghiên cứu về hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á do Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) triển khai Chương trình này đã thu hút được sự tham gia của nhiều học giả ở các trường đại học lớn của khu vực như Đại học Tokyo, đại học Korea, đại học Kobe; đại học British Columbia; đại học Hitotsubashi…Bên cạnh đó, vấn đề hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á còn được thảo luận trong nhiều

cuộc hội thảo quốc tế như: Hội thảo lần thứ 7 về Hợp tác Châu Á- Thái Bình Dương trong phạm vi toàn cầu: Chủ nghĩa khu vực và Chủ nghĩa toàn cầu; Hội thảo Những thách thức và cơ hội của Hợp tác Kinh tế ở Đông Á, Hội thảo quốc tế về Hợp tác Kinh

tế Châu Á… Sau đây là các công trình nghiên cứu điển hình trong nước và quốc tế về

vấn đề này:

1 Jong-Wha Lee, Yung Chul Park and Kwanho Shin (2002), “Một liên minh tiền tệ ở Đông Á”, Đại học Korea

2 Kiyohiko Fukushima (2004), “Những thách thức trong hợp tác tiền tệ ở Đông Á”, AT10 Hội thảo nghiên cứu, Tokyo

3 N.L Koh, “Hợp tác tiền tệ ở Đông Á”, Oita University

4 Pradmuna B Rana (2002), “Hợp tác tài chính và tiền tệ ở Đông Á: Sáng kiến Chiang Mai”, Asian Development Bank

5 Raul Fabella (2002), “Hợp tác Tiền tệ ở Đông Á: Một khảo sát”, Asia Development Bank

6 Shamsha Akhtar (2004), “Liên kết kinh tế ở Đông Á: Xu hướng, thách thức và cơ

hội”, Hội thảo “Những thách thức và cơ hội của Liên kết kinh tế Đông Á”

7 Lê Văn Sang: Về các ý tưởng liên kết Đông Á, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình

Dương, số 4(39) - 8/2002

8 Nguyễn Hồng Sơn (2004), “Hợp tác tài chính tiền tệ Đông Á”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 11/2004

Trang 4

9 Võ Trí Thành, “Hội nhập tài chính khu vực Đông Á - Bài học và thách thức đối với

Việt Nam”, Tài liệu Hội thảo Chiến lược hội nhập khu vực: Thách thức thương mại

và tài chính đối với Việt Nam, tháng 8/2005

Do yêu cầu và mục đích nghiên cứu khác nhau nên các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào từng lĩnh vực cụ thể của hợp tác kinh tế Đông Á mà chưa đề cập, làm rõ quan hệ hợp tác tài chính - tiền tệ ở Đông Á Một số công trình có đề cập đến hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á nhưng việc đề cập còn chưa sâu, chủ yếu là liệt

kê các hình thức hợp tác trong lĩnh vực này ở Đông Á Bên cạnh đó, một số công trình hoặc chủ yếu tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997-1998 đối với hệ thống tài chính - tiền tệ khu vực để từ đó làm nổi bật vai trò của hợp tác tài chính - tiền tệ giữa các nước trong khu vực hoặc chủ yếu phân tích về một hình thức hợp tác cụ thể giữa các nước trong khu vực (như Sáng kiến Chiang Mai) Việc phân tích, đánh giá cụ thể từng hình thức để từ đó đề xuất một số giải pháp còn xuất hiện rời rạc, chưa tập trung cụ thể trong một công trình nào Ngoài ra, các công trình nghiên cứu còn chưa đề cập tới vai trò của từng nước trong quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ ở Đông Á Có thể khẳng định cho đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào trình bày một cách tổng quát từ lý luận

và thực tiễn đến thực trạng và triển vọng của quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á

Hơn thế nữa, ở Việt Nam có rất ít công trình nghiên cứu và các bài viết về hợp tác tài chính và tiền tệ ở Đông Á Các bài viết này chưa nêu bật được tính tổng thể của quá trình hợp tác đặc biệt là từ sự hợp tác này đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Chính vì vậy, công trình nghiên cứu “Hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á: thực

trạng, triển vọng và một số gợi ý cho Việt Nam” sẽ cố gắng hoàn thiện các vấn đề còn

bỏ ngỏ trong các công trình nghiên cứu trước đó

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 5

Trên cơ sở nghiên cứu quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á, đưa ra một

số đánh giá và khuyến nghị nhằm tăng cường hơn nữa hiệu quả của quá trình này đồng thời đưa ra một số gợi ý nhằm tăng cường hiệu quả của quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế nói chung, hội nhập tài chính nói riêng của Việt Nam vào khu vực và thế giới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ ở các nước Đông Á hay

còn gọi là ASEAN + 3 (gồm các nước thuộc khối ASEAN và Nhật Bản, Hàn Quốc,

Trung Quốc)

Phạm vi nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á từ sau khủng hoảng Châu Á năm 1997- 1998 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cơ bản như: duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu; thống kê kinh tế…

6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn

- Khái quát hóa một số vấn đề lý luận về hợp tác tài chính và tiền tệ

- Chứng minh sự cần thiết của hợp tác tài chính - tiền tệ ở Đông Á

- Phân tích các hình thức hợp tác tài chính - tiền tệ cơ bản để từ đó đưa ra một số

đề xuất nhằm tăng cường hiệu quả quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ ở Đông Á

- Đưa ra một số gợi ý nhằm tăng cường hiệu quả của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung, hội nhập tài chính nói riêng của Việt Nam vào khu vực và thế

giới

7 Kết cấu của luận văn

Trang 6

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hợp tác tài chính - tiền tệ

- Chương 2: Thực trạng quá trình hợp tác tài chính - tiền tệ ở Đông Á

- Chương 3: Triển vọng hợp tác tài chính - tiền tệ ở Đông Á và một số gợi ý cho Việt

Nam

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP TÁC

TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ

1.1 Lý thuyết khu vực tiền tệ tối ưu

Lý thuyết khu vực tiền tệ tối ưu được nhà kinh tế học người Mỹ là Robert Mundell đưa ra lần đầu tiên vào năm 1961 Từ đó đến nay, lý thuyết này đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, phát triển và được coi là lý thuyết cơ bản, làm nền tảng lý luận cho quan hệ hợp tác tài chính - tiền tệ giữa các quốc gia

Theo lý thuyết này, khu vực tiền tệ tối ưu (OCA) là khu vực gồm những quốc gia có cùng chung các điều kiện để sử dụng một đồng tiền thống nhất Các điều kiện

đó là: các quốc gia có sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua thương mại, phản ứng đồng đều với các cú sốc, các yếu tố sản xuất linh hoạt và có sự hội tụ của các chính sách vĩ

mô Cụ thể như sau:

1.1.1 Sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua thương mại

Do có sự liên kết chặt chẽ về thương mại, việc hình thành OCA sẽ làm giảm các chi phí giao dịch cũng như hạn chế những rủi ro của việc sử dụng các đồng tiền khác nhau trong khu vực Việc ra đời một đồng tiền chung sẽ làm giảm bớt sự phân biệt

Trang 7

giá giữa các thị trường, đem lại lợi ích cho cả nhà sản xuất và người tiêu dùng đồng thời thúc đẩy thương mại giữa các quốc gia, làm tăng độ mở và kim ngạch thương mại trong nội bộ khu vực Nếu hai quốc gia cùng sử dụng một đồng tiền thì họ sẽ trao đổi buôn bán nhiều gấp 3 lần so với khi họ sử dụng các đồng tiền khác nhau (Rose, 1999) và trong vòng 20 năm, cứ mỗi 1% tăng lên trong thương mại (trong tương quan với GDP) sẽ làm tăng thu nhập trên đầu người khoảng 0,33% (Frankel và Rose, 2000) Thương mại song phương còn tăng hoặc giảm khoảng 100% khi hai nước thiết lập hay giải tán một liên minh tiền tệ (các điều kiện khác không đổi) (Glick

và Rose, 2001)

Bên cạnh đó, do có sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua thương mại, các nước tham gia thương mại trong khu vực có xu hướng hình thành các chu kz kinh doanh giống nhau (điều kiện để các nước có phản ứng đồng đều với các cú sốc) Chính vì vậy, sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua thương mại là một tiền đề quan trọng để thiết lập OCA

1.1.2 Phản ứng đồng đều đối với các cú sốc

Phản ứng đồng đều với các cú sốc là một điều kiện quan trọng cho việc thiết lập khu vực tiền tệ tối ưu Bởi vì khi một quốc gia từ bỏ đồng tiền của nó và tham gia vào khu vực tiền tệ tối ưu có nghĩa là nó đang từ bỏ quyền tự chủ của mình về chính sách tiền tệ Do vậy, nếu một nước thành viên trong OCA không có phản ứng giống như các nước thành viên khác khi phải đối mặt với các cú sốc thì quốc gia đó không thể sử dụng chính sách tiền tệ của riêng mình để điều tiết nền kinh tế Chẳng hạn, khi

có một cú sốc cầu xẩy ra, khách hàng thích hàng hóa của Đức hơn hàng hóa của Pháp Điều này sẽ làm cho tổng cầu giảm và thất nghiệp tăng ở Pháp đồng thời tổng cầu tăng và thất nghiệp giảm nhưng có áp lực lên giá (rủi ro lạm phát) ở Đức Nếu hai quốc gia này không cùng nằm trong một OCA thì Pháp có thể sử dụng các biện pháp

là tự động giảm giá hoặc phá giá còn Đức có thể tự động tăng giá hoặc nâng giá để điều tiết nền kinh tế của mình Tuy nhiên, nếu hai quốc gia này cùng nằm trong một

Trang 8

OCA thì họ không thể sử dụng các chính sách tiền tệ riêng của mình để điều tiết nền kinh tế Chính vì vậy, việc thiết lập một OCA giữa Pháp và Đức sẽ gặp phải khó khăn

và nếu như không có các công cụ điều chỉnh khác thì OCA giữa Pháp và Đức sẽ không tồn tại được

Phản ứng đồng đều với các cú sốc đồng nghĩa với việc các nước thành viên của khu vực tiền tệ tối ưu có những chu kz kinh doanh giống nhau Theo Kenen (1969) mức độ đa dạng hoá của công nghiệp hay sản phẩm quyết định mức độ phản ứng đồng đều đối với các cú sốc Hai khu vực có cùng một cấu trúc công nghiệp và sản xuất ra các sản phẩm giống nhau sẽ có những phản ứng giống nhau đối với các cú sốc Tuy nhiên, trên thực tế, các quốc gia lại có sự khác biệt về tỷ lệ tăng trưởng, thị trường lao động và các sản phẩm hàng hóa mà chúng tạo ra Do vậy, rất khó tìm thấy một khu vực nào mà các quốc gia thành viên của nó lại có phản ứng đồng đều với các

cú sốc một cách tuyệt đối Chính vì vậy, để có thể thiết lập một OCA, trong điều kiện các nước chỉ có phản ứng tương đối đồng đều với các cú sốc, cần bổ sung thêm điều kiện là các nước phải có các yếu tố sản xuất linh hoạt (xem thêm phụ lục 1)

1.1.3 Sự linh hoạt của các yếu tố sản xuất

Khi tham gia khu vực tiền tệ tối ưu, các nước trong khu vực sẽ không thể sử dụng chính sách tiền tệ riêng để phản ứng lại với các cú sốc Vì vậy, để có thể thiết lập một OCA, các quốc gia thành viên cần tạo điều kiện để các yếu tố sản xuất (lao động, vốn) được tự do di chuyển trong khu vực

Trở lại ví dụ ở phần trên, do không thể sử dụng chính sách tiền tệ riêng để đối phó với cú sốc cầu nên nếu muốn tiếp tục duy trì liên minh, Pháp và Đức buộc phải cho phép lao động được tự do di chuyển trong phạm vi hai nước Cụ thể là các công nhân bị thất nghiệp ở Pháp sẽ chuyển sang tìm và làm việc ở Đức, nơi có tiền lương cao hơn Điều này sẽ làm cho thất nghiệp ở Pháp giảm và áp lực lạm phát ở Đức mất

đi, nền kinh tế của cả hai nước được điều tiết lại

Trang 9

Việc tự do di chuyển lao động giữa các nước thành viên trong khu vực có thể được thay thế bằng sự linh hoạt của tiền lương ở các nước thành viên Chẳng hạn như, khi phải đối mặt với cú sốc cầu không đối xứng (ví dụ trên), nếu tiền lương có thể được điều chỉnh linh hoạt (lương giảm) thì giá hàng hóa của Pháp sẽ giảm xuống, các sản phẩm của Pháp có tính cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế và do đó sản lượng của Pháp sẽ tăng trở lại Ngược lại, quá trình điều chỉnh lương ở Đức sẽ khiến cho sản lượng của Đức giảm và áp lực tăng giá giảm Thông qua tiền lương, nền kinh tế của cả hai quốc gia được điều tiết một cách tự động

Bên cạnh sự tự do di chuyển lao động, việc chuyển khoản tài chính (dịch chuyển vốn) cũng là một yếu tố cần thiết để chống lại tác động tiêu cực của các cú sốc không đối xứng Chuyển khoản tài chính có thể được thực hiện từ nước này sang nước khác hoặc từ thế hệ này sang thế hệ khác hoặc thông qua thị trường tài sản của các nước trong khu vực Tuy nhiên, việc chuyển khoản này không được các quốc gia trong khu vực ủng hộ bởi vì nó không giải quyết được triệt để các vấn đề mà đôi khi còn gây ra hiện tượng nợ kéo dài hoặc gây ra sự mất ổn định của tỷ giá hối đoái do có

sự dịch chuyển vốn đột ngột

Tóm lại, khi các nước chỉ có phản ứng tương đối đồng đều với các cú sốc thì sự linh hoạt của các yếu tố sản xuất chính là một điều kiện bổ sung cần thiết để các nước

có thể thiết lập một OCA Tuy nhiên, theo Mundell, thì sự di chuyển của lao động không phải là yếu tố quan trọng nhất đối với OCA Còn theo McKinnon (1963) thì chính OCA đã thúc đẩy sự linh hoạt của các yếu tố sản xuất

1.1.4 Sự hội tụ của các chính sách kinh tế vĩ mô

Bên cạnh việc phụ thuộc lẫn nhau thông qua thương mại, phản ứng đồng đều với các cú sốc và có sự linh hoạt giữa các yếu tố sản xuất, nếu các nước có những mục tiêu chính sách khác nhau thì lãi suất của họ sẽ phản ứng lại rất khác nhau đối với các

cú sốc như nhau từ bên ngoài và điều này sẽ khiến cho việc ổn định tỷ giá không thể thực hiện được Khi tỷ giá không thể ổn định giữa các quốc gia, các nước thành viên

sẽ khó có thể xây dựng một OCA Do vậy, để thiết lập một liên minh, một điều kiện

Trang 10

quan trọng là các nước trong khu vực phải có sự hội tụ các chính sách vĩ mô Mục tiêu chính sách của các quốc gia phải được thống nhất và các chính sách phải được phối hợp hiệu quả

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1 Việt Dũng: “Hoạch định chính sách tiền tệ ở Đông Á: Các mục tiêu, bước phát

triển và thể chế”, Tạp chí Ngân hàng, số 6/2003

2 Báo Nhân Dân, ngày 22-7-2005, tr 1

3 “Bộ trưởng tài chính ASEAN thông qua lộ trình hội nhập tài chính khu vực”, Bản tin Kinh tế của TTXVN số 8/2003, ngày 11/8/2003

4 “Các xu hướng chủ yếu trong quan hệ hợp tác kinh tế Nhật Bản - Châu Á những

năm đầu thế kỷ 21”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 6/2003

5 Nguyễn Đình Cung - Phạm Hoàng Hà, “Năng lực cạnh tranh của Việt Nam: Vì sao tụt hạng?”, http://www.vnreview.com.vn/kinh-doanh/kinh-te-phat-trien/2005/10

6 Nguyễn Văn Dần: “Xu thế hợp tác Đông Á và vai trò của Nhật Bản”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 6/2003

7 “Đông Á nên xúc tiến thành lập quỹ tiền tệ khu vực”, Bản tin Kinh tế của TTXVN

số 4/2003, ngày 17/4/2003

8 “Đồng NDT Trung Quốc bước ra thị trường tiền tệ châu Á”, Bản tin Kinh tế của TTXVN số 6/2003, ngày 7/6/2003

9 “Đồng NDT Trung Quốc bước ra thị trường tiền tệ châu Á”, Bản tin Kinh tế quốc

tế của TTXVN số 7+8/2003, ngày 3/8/2003

10 “Hiện trạng và triển vọng quan hệ kinh tế Trung Quốc - Đông Á”, Bản tin Kinh tế quốc tế của TTXVN số 7+8/2003, ngày 31/8 /2003

Ngày đăng: 15/12/2017, 12:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm