Các chế phẩm vi nấm này không gây ảnh hưởng xấu tới các loàithiên địch của sâu hại, vì vậy sau khi sử dụng 2 loài nấm ký sinh này để trừ sâuhại trên các mô hình cây ăn trái từ 3 tháng tr
Trang 1MỞ ĐẦU
Sử dụng hóa chất trừ sâu là biện pháp phòng trừ chính trong chiến lượcquản lý dịch hại do thuốc hóa học rất hữu hiệu và liên quan trực tiếp tới nhữngtrận dịch hại trên cây trồng, làm tăng năng suất đáng kể đối với những cây trồng
bị sâu phá hại nghiêm trọng Thế nhưng, việc sử dụng thuốc trừ sâu hóa học gây
ra nhiều nguy cơ như tạo ra tính kháng thuốc ở côn trùng, sự bộc phát dịch hại,gây hại cho thiên địch, phá hủy sự cân bằng sinh thái, tồn dư độc chất trongnông sản và ô nhiễm môi trường… Để duy trì một nền nông nghiệp bền vững thìviệc xây dựng và áp dụng một quy trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) dựatrên sự hiểu biết sáng suốt về sinh thái học là một hướng đi đúng đắn để bảo vệcây trồng Trong các biện pháp phòng trừ của IPM thì biện pháp sinh học đóngmột vai trò cực kỳ quan trọng và tỏ ra có nhiều ưu điểm nhất Cũng giống nhưcác loại động vật khác, côn trùng cũng bị bệnh, vì vậy, sử dụng các loài vi sinhvật gây bệnh cho côn trùng để quản lý chúng là một trong những biện pháp sinhhọc lý tưởng Rõ ràng rằng, các tác nhân vi sinh vật gây bệnh cho côn trùng cóthể đưa vào chương trình IPM một mặt giúp bảo tồn thiên địch đồng thời cungcấp một công cụ cho nông dân để quản lý những côn trùng có hại
Các tác nhân sinh học có thể là vi rút, vi khuẩn, nấm và tuyến trùng gâybệnh cho côn trùng, và để ứng dụng trong IPM chúng phải có các đặc điểm nhưchuyên tính ký chủ, độc tính cao, an toàn với thiên địch và môi trường
Tới năm 1989 thì các Nhà khoa học đã xác định được hơn 700 loài nấmtrong khoảng 90 chi thuộc lớp nấm bất toàn Deuteromycetes và Entomophorales
là tác nhân gây bệnh trên côn trùng (Charnley, 1989) Một vài loài nấm có mức
độ chuyên tính cao như nấm Aschersonia aleyrodis (Mont.) Webber chỉ xâm
nhiễm trên rầy và rệp dính trong khi các loài khác có phổ ký chủ rộng tuy là tínhchọn lọc ký chủ của từng dòng là khác nhau (Samson và ctv, 1988)
Nấm ký sinh côn trùng xâm nhiễm ký chủ qua lớp biểu bì Quá trình xâmnhiễm bắt đầu bằng sự bám dính của bào tử trên cơ thể ký chủ, bào tử nảy mầm
và xuyên qua lớp vỏ cơ thể nhờ các men phân giải, hình thành sợi nấm phát triểntrong cơ thể côn trùng và giết chết côn trùng bằng cách tiết ra độc tố và hấp thudinh dưỡng từ dịch cơ thể côn trùng Dưới điều kiện thích hợp (ẩm độ cao) cácbào tử ký sinh hình thành trên bề mặt cơ thể ký chủ, phát tán tiếp tục chu kỳ gâybệnh mới và gây dịch bệnh côn trùng Không giống như vi khuẩn và vi rút, nấm
ký sinh tấn công trực tiếp không cần hấp thu theo đường tiêu hóa vì thế các côntrùng chích hút cũng là mục tiêu tấn công qua tiếp xúc của nấm ký sinh
Trang 2Hai loài nấm ký sinh côn trùng (Metarhizium anisopliae và Beauveria bassiana) là đối tượng nghiên cứu trong chương trình quản lý dịch hại trên các
loại cây trồng khác nhau ở nhiều nước trên thế giới (Rombach và ctv, 1986a;1986b; 1988; Aguda và Rombach, 1987; Aguda và ctv, 1984, 1988; Fuxa, 1987;Studdert và Kaya, 1990; Vestergaard và ctv, 1995; Milner và Staples, 1996)
Tại Việt Nam, nấm M anisopliae và B bassiana cũng đã được nghiên cứu
và ứng dụng thành công trong phòng trừ rầy nâu hại lúa, bọ xít hôi hại lúa, bọcánh cứng hại dừa, sâu tơ hại rau cải, chấu chấu và mối hại cây trồng…(Nguyễn
Thị Lộc, 1995; 1997a, 1997b; Nguyễn Thị Lộc và ctv, 1999, 2001, 2002, 2004,
2005, 2007; Huỳnh Văn Nghiệp và ctv, 1999; Phạm Thị Thùy, 1996, 1999;
Phạm Thị Thùy và ctv, 2001a, 2001b; Tạ Kim Chỉnh và Lý Kim Bảng, 1995; Tạ
Kim Chỉnh và Nguyễn Đức Khảm, 1996; Tạ Kim Chỉnh và ctv, 2001)
Chúng tôi đã phân lập và tuyển chọn thành công nhiều dòng nấm khác
nhau của 2 loài nấm ký sinh M anisopliae và B bassiana trên côn trùng hại lúa.
Đã nghiên cứu và sản xuất thành công 2 loại chế phẩm sinh học Ometar vàBiovip từ 2 dòng phân lập từ côn trùng hại lúa Hai loại chế phẩm này được đưavào danh mục thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam theo Quyết định của Bộ trưởng
Bộ Nông nghiệp và PTNT ký ngày 27/5/2003 được phép sử dụng phòng trừ sâuhại lúa và bọ cánh cứng hại dừa
Tiểu khí hậu trong vườn cây ăn trái rất phù hợp với phát sinh phát triểnnấm gây bệnh trên côn trùng, bào tử nấm phát triển trên cơ thể sâu hại phát tán
ra và xâm nhiễm trên sâu hại khác tạo nên dịch bệnh trong quần thể sâu hại giúpkiểm soát mật số côn trùng gây hại trong vườn Hơn nữa với cơ chế xâm nhiễmchủ động khác với vi rút và vi khuẩn, nấm ký sinh có nhiều lợi thế trong tiếpcận, xâm nhiễm và tấn công sâu hại, đặc biệt là đối với nhóm côn trùng chíchhút
Từ năm 2002 tới 2005, bộ môn chúng tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứusản xuất và ứng dụng chế phẩm trừ sâu sinh học trên các mô hình cây ăn trái tại
tỉnh Tiền Giang” Kết quả đã tuyển chọn được 1 dòng nấm nấm trắng, B.b R) và 1 dòng nấm xanh: M.a (TG4-RMCQ) có hiệu lực cao đối với sâu rầy hại cây ăn trái Đặc biệt, chế phẩm vi nấm được sản xuất từ dòng nấm xanh, M.a
(TG7-(TG4-RMCQ) phân lập từ con rầy mềm hại cam quýt bị bệnh nấm tự nhiên trênvườn cam tại Trung An thì có hiệu lực rất cao đối với rầy mềm và rầy chổng
cánh hại cây có múi ở tất cả các lần khảo nghiệm Kết quả từ các thí nghiệm
diện rộng và các mô hình trình diễn tại Tiền Giang cho thấy là chế phẩm nấm
xanh, M.a (TG4-RMCQ)/Ometar và chế phẩm nấm trắng, B.b (TG7-R) có hiệu
Trang 3lực cao khi dùng để trừ rầy mềm, rầy chổng cánh, bọ xít hại cây có múi và rầybông hại xoài Các chế phẩm vi nấm này không gây ảnh hưởng xấu tới các loàithiên địch của sâu hại, vì vậy sau khi sử dụng 2 loài nấm ký sinh này để trừ sâuhại trên các mô hình cây ăn trái từ 3 tháng trở đi thì mật số thiên địch của sâuhại tăng lên đáng kể; đặc biệt là mật số nhện và kiến vàng trong vườn mô hìnhtăng rất cao, vì thế đã khống chế được quần thể sâu hại, kể cả sâu vẽ bùa Vì 2loài nấm này có tác dụng diệt sâu hại khá bền lâu, nên số lần phun giảm rấtnhiều so với dùng thuốc hóa học Do vậy đã tiết kiệm được tiền thuốc và tiềncông phun thuốc trừ sâu và đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân.
Tỉnh Hậu Giang có diện tích vườn cây ăn trái rất lớn khoảng 19.590 ha,riêng diện tích khóm là 1.450 ha Vấn đề thâm canh cây có múi, cây khóm ngàycàng được nông dân mở rộng thực hiện, dẫn đến có nhiều loài dịch hại trên cây
có múi, cây khóm Để phòng trừ các loài dịch hại này nông dân sử dụng rấtnhiều loại thuốc hóa học và phun rất nhiều lần trong một năm Vì vậy đã và sẽgây ra nạn ô nhiễm môi trường đất, nước trầm trọng, làm ảnh hưởng tới sứckhỏe con người, ảnh hưởng tới hệ sinh thái, ảnh hưởng tới việc nuôi trồng thủysản, ảnh hưởng tới việc xuất khẩu trái cây do dư lượng thuốc hóa học vượt trênngưỡng cho phép Từ những tác hại đó làm ảnh hưởng trầm trọng và lâu dài tớiđời sống, xã hội và sự phát triển kinh tế của tỉnh Hậu Giang Cho nên việcnghiên cứu phổ biến cho bà con nông dân làm quen và sử dụng các chế phẩm
sinh học sản xuất từ 2 loài nấm Metarhizium anisopliae (M.a) và Beauveria bassiana (B.b) để từng bước thay thế dần các loại thuốc hóa học bảo vệ thực vật
là rất cần thiết
Kế thừa những kết quả nghiên cứu của nước ngoài và các kết quả đã đạtđược của Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong những năm qua
về nghiên cứu, sản xuất chế phẩm sinh học đa chức năng M.a và B.b trong phòng
trừ dịch hại cây trồng và căn cứ vào tình hình sâu hại cây ăn trái tại tỉnh Hậu
Giang, đề tài “Xây dựng mô hình ứng dụng chế phẩm trừ sâu sinh học trong
quản lý sâu, rầy hại cây có múi, cây xoài và nghiên cứu hiệu quả của chế
phẩm sinh học đối với rệp sáp trên cây khóm và cây có múi” đã được thực
hiện với mục tiêu là hạn chế việc sử dụng thuốc hóa học trong hệ thống bảo vệthực vật trên cây ăn trái để tăng thu nhập cho người nông dân, giảm ô nhiễm môitrường nhằm góp phần tăng cường năng lực phát triển nông nghiệp, đồng thời duytrì một nền nông nghiệp bền vững ở tỉnh Hậu Giang
Trang 4 NỘI DUNG THỰC HIỆN
1 Điều tra nhanh về hiện trạng canh tác cây ăn trái, thành phần, mức độgây hại của một số sâu hại chính trên cam, quýt, bưởi, xoài và tình hình sử dụngthuốc trừ sâu trên các cây trồng này tại những điểm chuẩn bị xây dựng mô hìnhtại Hậu Giang
2 Sản xuất 1.203 kg chế phẩm B.b và M.a từ những chủng nấm có hoạt lực
cao đối với sâu hại cây ăn trái, phục vụ cho các thí nghiệm diện hẹp và các mô hìnhứng dụng chế phẩm trừ sâu sinh học trong quản lý sâu hại cây có múi và cây khómtại Hậu Giang
3 Đánh giá hiệu lực sinh học của các mẻ chế phẩm B.b và M.a đã sản xuất
ra đối với rầy mềm và rầy chổng cánh hại cây có múi tại nhà lưới của bộ môn
4 Thực hiện các thí nghiệm trong phòng và nhà lưới để đánh giá hiệu lực
của chế phẩm M.a và B.b đối với rệp sáp hại khóm và cam, quýt.
5 Thực hiện các thí nghiệm diện hẹp tại vườn để khảo sát hiệu lực của 2
chế phẩm sinh học M.a và B.b đối với rệp sáp hại khóm, cam và quýt tại Hậu
Giang
6 Chọn điểm để xây dựng mô hình
7 Tập huấn cho cán bộ kỹ thuật cơ sở và nông dân về các biện pháp trong
quy trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây có múi và cây xoài, đặc biệt
chú trọng về quy trình kỹ thuật ứng dụng 2 chế phẩm sinh học B.b và M.a
trong phòng trừ sâu hại cây có múi và cây xoài để xây dựng mô hình ứng dụng
2 chế phẩm trừ sâu sinh học này trong quản lý sâu hại trên cây có múi và cây xoàitại Hậu Giang
8 Xây dựng mô hình trình diễn về ứng dụng chế phẩm trừ sâu sinh học
M.a và B.b để quản lý các loài sâu, rầy, bọ xít trên cây có múi và cây xoài tại
Trang 5CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.1 Đặc điểm của một số loài rầy và rệp sáp gây hại trên cây có múi, cây xoài và cây khóm
1.1.1 Đặc điểm của rầy chổng cánh hại cam quýt, Diaphorina citri
Kuwayama
Họ: Psyllidae - Bộ: Hemiptera
a) Phân bố và ký chủ
Phân bố: Rầy chổng cánh xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới như:
Afghanistan, Bangladesh, Brazil, Nhật Bản, Ma cao, Myanmar, Singapor, SriLanka, Cambodia, Trung Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia,Nepal, Pakistan, Philippines, Saudi Arabia, Việt Nam, Mauritius, Reunion,Brazil, Honduras, Paraguay, Uruguay (Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm HoàngOanh, 2002)
Ký chủ: D citri gây hại chủ yếu trên chanh, cam, quýt, nguyệt qưới, cần
thăng, kim quýt
đỏ, các đốt cuối của rầu đầu màu đen (Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm HoàngOanh, 2002)
Thành trùng có kích thước nhỏ, thân dài từ 2,5 – 3,0 mm, nâu xám, cánh cómàu nâu vàng, chân có màu xám nâu Phần giữa cánh trong suốt, kéo dài thànhmột dãy trắng từ gốc cánh đến cuối cánh, đầu nhọn, màu nâu nhạt Mắt có màu
đỏ Râu đầu ngắn có 5 đốt, đốt cuối râu đầu có màu đen Bụng của con cái sắp
đẻ và đang đẻ có màu hồng, ống đẻ trứng nhọn, màu đen, hiện diện rất rõ ở phầncuối bụng Bụng của con đực thon nhọn, có màu xanh nhạt Khi đậu, phần bụng
Trang 6của thành trùng chổng cao một góc 300 so với bề mặt nơi đậu nên được gọi làrầy chổng cánh (Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh, 2002).
Trong điều kiện tự nhiên, khoảng 4-5 ngày sau khi vũ hóa, thành trùng bắtcặp, thường ngay sau khi bắt cặp, con cái đẻ trứng Trứng thuờng được đẻ vàoban ngày, thành từng khối hay từng nhóm 2-3 hàng trong các nách lá hoặc trêncác đọt lá non, đặc biệt là trong các lá non còn xếp lại Thành trùng thườngchích hút ở mặt dưới của lá, dọc theo gân chính Con cái có thể đẻ 200 – 800trứng, liên tiếp trong 2 tháng Thời gian ủ trứng kéo dài từ 2 – 11 ngày (tùy mùa)(Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh, 2002)
Ấu trùng mới nở thường nằm cố định tại chỗ để chích hút trong 1 đến 2ngày, sau đó di chuyển sang chỗ khác để chích hút Sang tuổi 5 ấu trùng thường
di chuyển xuống phần dưới của lá để lột xác thành con thành trùng Thành trùngrất hoạt động, có thể nhảy rất nhanh khi bị động Ấu trùng rất ít di động, thườngsống tập trung thành từng nhóm trên chồi non, ấu trùng chỉ di chuyển khi bịkhuấy động Tại ĐBSCL, chu kỳ sinh trưởng của rầy chổng cách kéo dài khoảng
20 ngày, với 12 - 14 thế hệ/năm (Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh,2002)
d) Cách gây hại
Khi mật số cao, sự chích hút của rầy (thành trùng và ấu trùng) làm chochồi bị khô, rụng lá, gây hiện tượng khô cành, làm ảnh hưởng đến sự phát triểncủa cây và sự ra trái Mật ngọt do rầy chổng cánh tiết ra có thể tạo điều kiện chonấm bồ hóng phát triển, ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của cây
Sự gây hại quan trọng nhất của rầy chổng cánh hiện nay tại ĐBSCL là
truyền vi khuẩn Liberobacter asiaticum gây bệnh Greening (bệnh vàng lá gân
xanh) cho các vườn cam, quýt, chanh, bưởi Chính do khả năng này mà rầychổng cánh trở thành một đối tượng dịch hại nguy hiểm nhất hiện này cho nhiềuvùng trồng cây có múi trên thế giới và cả Việt Nam Bằng cách chích hút trênnhững cây bị nhiễm bệnh và sau đó khi tiếp tục tấn công trên những cây khôngnhiễm bệnh, rầy chổng cánh sẽ truyền bệnh cho cây này qua kim chích hút và
Trang 7qua nước bọt do vi khuẩn Liberobacter asiaticum có thể lưu tồn và nhân mật số
trong tuyến nước bọt của rầy chổng cánh (Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm HoàngOanh, 2002)
e) Biện pháp phòng trị
Mặc dù trong điều kiện tự nhiên, thiên địch có thể khống chế một cáchđáng kể mật số của rầy chổng cánh nhưng do nhóm này có khả năng truyền bệnhGreening nên việc phát huy vai trò thiên dịch nhằm bảo đảm cho khả năngkhông bị nhiễm bệnh là điều không đơn giản vì với một mật số rất thấp, rầychổng cánh vẫn có khả năng truyền bệnh Từ những thực tế đó, biện pháp phòngtrị rầy chổng cánh phải là một biện pháp đồng bộ (Nguyễn Thị Thu Cúc vàPhạm Hoàng Oanh, 2002)
+ Nuôi kiến vàng trong vườn
+ Trồng cây chắn gió xung quanh vườn, không trồng những cây kiểngnhư cần thăng, nguyệt qưới, kim quýt trong vườn
+ Sử dụng bẩy màu vàng để phát hiện sự hiện diện của thành trùng nhằmkịp thời đối phó với rầy chổng cánh
+ Khi phát hiện thành trùng, có thể sử dụng các loại thuốc hóa học hoặcdầu khoáng ở nồng độ 0,5% để phòng trị
+ Hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu nhằm phát huy thiên địch trong điều kiện tựnhiên của các vườn cam, quýt, chanh, bưởi (Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm HoàngOanh, 2002)
1.1.2 Đặc điểm của rầy mềm hại cam quýt, Toxoptera aurantii Boyer de Fonscolombe và Toxopera citricidus (Kirk.)
Họ: Aphididae - Bộ: Homoptera
a) Ký chủ
Toxoptera aurantii được ghi nhận trên 120 loại thực vật, chủ yếu trong
các họ như Anacardiaceae, Anonaceae, aralinaceae, Euphorbiaceae, Lauraceae,Moraceae, Rubiaceae, Rutaceae, Sterculiaceae và Theaceae Ký chủ chính baogồm cam, quýt, chanh, cà phê, trà, ca cao, xoài (Nguyễn Thị Thu Cúc và PhạmHoàng Oanh, 2002)
Trang 8b) Một số đặc điểm hình thái của T aurantii và T citricidus
Rầy mềm gây hại trên nhóm cây có múi cam, quýt, chanh, bưởi gồm chủ
yếu 2 loại Toxoptera aurantii và Toxopera citricidus Cũng giống như những
loại rầy mềm khác nói chung, rầy mềm trên nhóm cam, quýt, chanh, bưởi cókích thước rất nhỏ, thường rất mềm, nên được gọi là rầy mềm Trên phần lưngcủa phía đuôi của rầy mềm có mang một đôi ống bụng Râu đầu hình sợi chỉ,dài Chân phát triển, dài, mỏng manh Trong điều kiện của ĐBSCL, thường chỉghi nhận chủ yếu con cái, ít ghi nhận có sự hiện diện của con đực Con đực luônluôn có cánh (2 cặp cánh) Con cái có 2 dạng: dạng có cánh dài, phát triển vàdạng hoàn toàn không cánh, tuy nhiên, trong tự nhiên hầu như chỉ ghi nhậnthành trùng cái không cánh, đẻ con Thành trùng cái có cánh chỉ xuất hiện khimật số quần thể của rầy mềm cao hoặc lá đã già hoặc bị nhiễm bệnh (NguyễnThị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh, 2002)
Cả 2 loại đều có hình trái lê, màu đen, nâu đen hoặc nâu đỏ, bóng Kíchthước của thành trùng cái (không cánh - dạng phổ biến) dài khoảng 1,7 – 2,1
mm Thành trùng cái có cánh dài 1,7 – 1,8 mm Phần đuôi của T aurantii có 8 –
19 lông nhỏ, T citricidus có đến 25 – 40 lông nhỏ, râu đầu của T aurantii có nhiều dải nối giữa các đốt, trái lại T citricidus chỉ có duy nhất một dải nối lồi
giữa chiều dài của đốt râu (Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh, 2002)
c) Một số đặc điểm sinh thái và cách gây hại
Tại vùng nhiệt đới nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng, rầy mềm chủ yếusinh sản đơn tính, đẻ con Trên cam, quýt, chanh , bưởi, rầy mềm gây hại bằngcách chích hút chồi non, tập trung chủ yếu ở mặt dưới lá, làm chồi biến dạng, lácong queo còi cọc, không phát triển, ngoài ra rầy mềm còn tiết mật ngọt làmnấm bồ hóng phát triển, ảnh hưởng đến sự quang hợp của cây Loại bệnh đã gâychết nhiều vườn cam quýt trên thế giới Rầy mềm thường gây hại trên các vườn
cam, quýt còn tơ T aurantii và T citricidus còn là tác nhân truyền bệnh
“Tristeza” Tại một số nước T aurantii còn là tác nhân truyền bệnh “lá nhỏ Spiroplasma citri” trên cam quýt và bệnh đốm vòng trên Cà phê cũng như bệnh
đốm vòng trên đu đủ và bệnh khảm trên dưa leo (Nguyễn Thị Thu Cúc và PhạmHoàng Oanh, 2002)
Chu kỳ sinh trưởng của rầy mềm rất ngắn Trên chanh, chu kỳ sinh trưởng
của T aurantii kéo dài 7 – 9 ngày, mỗi con cái có khả năng đẻ trung bình 41,4
con
Trang 9+ Khi dùng thuốc hóa học chỉ phun trên cây bị nhiễm rầy mềm và chủ yếutrên các chồi bị nhiễm Có thể sử dụng các loại thuốc trừ sâu phổ biến hiện naynhư Trebon, Decis, Bassa, Cypermethrin, Fenvalerate… để phòng trị (NguyễnThị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh, 2002).
1.1.3 Đặc điểm của rệp sáp giả (rầy bông) hại cây có múi, Planococcus citri
(Risso).
Họ rệp phấn: Pseudococcidae - Bộ cánh đều: Homoptera
Thành trùng hình thon, dài khoảng 3 mm, màu vàng nhạt đến vàng camvới 18 đôi tua sáp hai bên hông và 1 đôi phía sau đuôi Chất sáp chỉ bao phủphần lưng của cơ thể Một rệp cái đẻ từ 300 – 500 trứng
Trứng màu vàng nằm trong 1 túi do rệp cái tiết ra trứng được đẻ trên trái,
lá hay chỗ nứt của vỏ thời gian ủ trứng từ 3-6 ngày
Rệp gây hại bằng cách chích hút phần non của cây Phân của rệp thu hútnấm đen tới bám quanh nơi rệp định cư làm ảnh hưởng tới quang hợp
Rệp sáp giả tấn công trên cuống trái sẽ gây ra bướu hoặc ghẻ
1.1.4 Đặc điểm của rầy bông hại xoài, Idiocerus niveosparsus Lethierry
Họ rầy xanh: Cicadellidae - Bộ cánh đều: Homoptera.
Trên xoài thường có nhiều loài rầy gây hại bông Ở Việt nam chủ yếu gặp loài
Idiocerus niveosparsus Lethierry.
a) Phân bố và ký chủ
Rầy xuất hiện nhiều ở ấn Độ, Malaysia, Philippines, Formose Loài nàychỉ gây hại duy nhất trên cây xoài
Trang 10b) Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng của loài Idiocerus niveosparsus Lethierry có thân dài khoảng
4 mm, cánh màu nâu, trên cánh phần giáp với ngực có một băng trắng chạyngang
Trứng màu trắng trong khi mới đẻ, sắp nở chuyển sang màu vàng Thờigian ủ trứng từ 4-7 ngày
Ấu trùng khi mới nở có màu trắng sữa, có 5 tuổi với thời gian phát triển từ 8-10ngày
c) Tập quán sinh sống và cách gây hại
Thành trùng mới vũ hóa rất linh động và liền sau đó di chuyển tới chồi, lánon, bắt đầu đẻ trừng, ngay cả trên chồi non còn cuốn lại, hoặc trên gân chínhcủa lá, chúng còn đẻ trứng trên từng hoa nhỏ hay trên cành nhỏ Cả thành trùng
và ấu trùng đều sống trong lá xoài và nhảy xào xạc khi bị động Khi xoài trổbông thì rầy tập trung chích hút trên bông, chồi non Rầy cái dùng bộ phận đẻtrứng nhọn ở cuối bụng đẻ trứng rải rác vào bên trong cuống của chồi non Rầy
đẻ trứng và chích hút nhiều gây ra hai hiện tượng như sau:
- Số lượng trứng đẻ nhiều trên các bộ phận trên cành non, bông gây vếtthương làm cho các phần trên bị khô, héo và có thể rụng
- Sự tập trung chích hút của thành trùng và ấu trùng làm cây bị suy yếu.Rầy còn tiết ra chất đường thu hút nấm đen tới đóng quanh nơi rầy bám hoặc cáctầng lá phía dưới làm cản trở quang hợp của cây
Nếu mật độ rầy cao thì xoài sẽ không đậu trái và rụng bông
d) Biện pháp phòng trị
- Sử dụng các loại thuốc đặc trị rầy, tốt nhất là nên ngừa sớm khi xoài vừa
có nụ hoa nếu quan sát thấy có nhiều rầy trú trong lá Khi mật số khoảng 5con/phát hoa có thể làm hoa rụng Khi xoài đang ra hoa nếu áp dụng thuốc thìnên thận trọng vì có thể ảnh hưởng đến các côn trùng thụ phấn hoa Sau đó nên
áp dụng lại nếu mật số rầy còn cao vào giai đoạn tượng trái
- Dùng bẫy đèn thu hút thành trùng
- Sau khi thu hoạch trái nên tỉa bớt cành cây để giảm nơi trú ẩn của rầy
1.1.5 Đặc điểm của rệp sáp giả (rệp phấn) hại cây khóm, Dysmicoccus
brevipes (Cockerell), còn có tên là Pseudococcus brevipes
Họ rệp phấn: Pseudococcidae - Bộ cánh đều: Homoptera
a) Phân bố
Loài này xuất hiện ở hầu hết các Quốc gia trồng khóm trên thế giới nhưBrazil, trung Mỹ, đông, tây và Nam Phi Châu, Ai Cập, Israel, Mauritanie, Ấn
Trang 11Độ, sri-Lanka, Java, Philippines, Malaysia, Formosa và các đảo ở Thái BìnhDương.
b) Ký chủ
Ngoài khóm, loài này còn tấn công trên cây ca cao, cọ dầu, chuối, đậuphộng, chà là, xoài, đậu nành, mía, cà phê, mè
c) Đặc điểm hình thái và sinh học
Thành trùng, cái hình bầu dục, màu hồng, dài khoảng 3 mm và rộng 2
mm, toàn thân phủ 1 lớp sáp trắng Loài này thường sinh sản theo lối trinh sản,
có khả năng sinh sản rất cao và nhanh nên trong một năm có thể có từ 6-7 thếhệ
d) Tập quán sinh sống và cách gây hại
Cả ấu trùng và thành trùng thường sống tập trung dưới gốc cây khóm,nhưng đôi khi cũng di chuyển cả lên lá, trái Rệp tập trung chích hút dưới rễ làm
cả hệ thống rễ bị hư, cây héo rất giống triệu chứng do bệnh gây ra Ngoài ra,nước bọt do rệp tiết ra trong khi chích hút làm nghẽn mạch dẫn nhựa, cây bị héo.Hơn nữa, việc di chuyển nước lên trên khó khăn cũng làm cho bộ rễ bị hư vàtoàn cây bị héo khô, trái nhỏ, mất phẩm chất Sự thiệt hại thay đổi với tuổi cây,hom giống, điều kiện đất đai, điều kiện tưới tiêu nước và kỹ thuật canh tác
Những ruộng khóm bị bệnh nhẹ thì xuất hiện rải rác nhưng cây mọc còicọc, lá màu vàng úa; trên những ruộng bị bệnh nặng có những đám lớn cây còicọc, lá màu úa đỏ, trước tiên các lá già nhất bị đỏ, rồi đến các lá trên Các giaiđoạn phát triển của bệnh như sau:
- Giai đoạn 1: trước tiên từ các lá già biểu hiện đỏ dần sau đó rìa lá cuốncong lại về phía dưới mặt lá và đầu lá cong xuống đất
- Giai đoạn 2: lá không phát triển được và chuyển sang màu hồng và cácđầu lá cũng bắt đầu chuyển dần sang màu hồng vàng, dần dần thành nâu và khôlại
- Giai đoạn 3: các lá trung gian lần lượt bị cong xuống, mép lá thànhvàng, phần còn lại chuyển sang màu hồng tía, đầu lá bị cuốn lại
- Giai đoạn 4: lá non vẫn đứng thẳng, nhưng kém phát triển và cuối cùngcác đầu lá cũng bị cuốn lại và héo khô
Vào mùa mưa, màu đỏ của lá bệnh đặc trưng, thường biểu hiện màu vàngnâu, trên lá thường có các vết hoại thư lớn Trước khi lá thay đổi màu sắc đã có
sự ngừng tăng trưởng của bộ rễ và dần dần bộ rễ bị hư Cây bị rệp gây hại pháttriển kém, nếu cho trái được thì những trái này thường nhỏ, bị chín háp, chua vàcuối cùng bị khô
Trang 12- Cần diệt trừ kiến vì kiến hay tha các con rệp đem dấu ở gốc cây khóm.
1.2 Đặc điểm sinh học và khả năng ứng dụng của nấm trắng, Beauveria
bassiana (Bals.) Vuill và nấm xanh, Metarhizium anisopliae (Metsch.) Sorok
1.2.1 Đặc điểm sinh học của nấm trắng và nấm xanh
a) Đặc điểm sinh học của nấm trắng
Nấm trắng, Beauveria bassiana (Bals.) Vuill (còn gọi là nấm bạch cương)
được sử dụng trong phòng trừ dịch hại nông nghiệp gần như khắp thế giới(Ferron, 1978) Nấm trắng có bào tử dạng hình cầu hoặc hình trứng có kíchthước 2,5-3,5 m mọc trên cuống sinh bào tử hướng gốc và tụ lại thành nhữngđám dày đặc trên các sợi nấm vươn khỏi lớp khuẩn ty, cuống sinh bào tử cóphần gốc hình cầu hoặc hình lọ tam giác (2-32-4m) gắn trên cành bào tử hìnhdíc dắc dài tới 20 m (Rombach và ctv., 1994)
b) Đặc điểm sinh học của nấm xanh
Nấm xanh, Metarhizium anisopliae (Metsch.) Sorok (còn gọi là nấm lục
cương) được tìm thấy trên hơn 200 loài côn trùng khác nhau (Ferron, 1978) Nấm xanh thường xâm nhiễm trên rầy lá, rầy thân, bọ xít đen và nhiều loàisâu hại khác Nấm hình thành trên bề mặt côn trùng một lớp phấn màu xanhvàng đến xanh đậm trên mạng sợi nấm chằng chịt màu trắng Cuống sinh bào tử
có hình trụ 6-13 2-4 m mọc trên các cành bào tử Bào tử trần hình trụ hoặchình elip có kích thước 4,5-8,5 2,5-4 m và xếp thành chuỗi dài (Rombach vàctv., 1994)
1.2.2 Khả năng ký sinh côn trùng của nấm trắng và nấm xanh
Nấm là một nhóm có phổ ký chủ rộng nhất trong số những mầm bệnh củađộng vật ngành chân đốt, trong đó hai loài nấm trắng và nấm xanh có phổ ký chủrộng hơn các loài khác vì chúng có thể ký sinh trên nhiều họ của ngành chân đốt
(Butt and Copping, 2000) Trong những năm qua, M anisopliae và B bassiana
đã được chú trọng nghiên cứu và sử dụng trong việc phòng trừ nhiều loài sâu hại,bao gồm các loài sâu hại bông, khoai tây, lúa mì, đậu và ngô ở Mỹ Một số nước
Trang 13ở Bắc Âu như Hà Lan, Phần Lan và Thụy Điển cũng đã nghiên cứu và sử dụng vinấm để phòng trừ sâu hại cây trồng.
a) Khả năng ký sinh côn trùng của nấm trắng
Nấm trắng đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên hơn 70 loại câytrồng ở Xô Viết cũ và những quốc gia vệ tinh để phòng trừ nhiều dịch hại khácnhau (Ferron, 1978) Ignoffo và ctv (1979) đã thử nghiệm thuốc trừ sâuBoverin (sản xuất từ nấm trắng) trên sâu tơ và cho thấy LC50 đối với ấu trùngsâu tơ ba ngày tuổi là 2,7 x 108 bào tử/ml tương đương với 1,5 x 106 bào tử/cm2
bề mặt lá Vanderberg đã tiến hành thí nghiệm trong phòng và cho thấy rằng tất
cả các giai đoạn ấu trùng sâu tơ đều bị mẫn cảm đối với nấm trắng nhưng ấutrùng bị chết nhanh hơn khi ở nhiệt độ trung bình và bào tử nấm trắng cao.Vanderberg và ctv cũng đã thử nghiệm ngoài đồng bằng cách sử dụng sản
phẩm Mycotrol (sản xuất từ B.bassiana) phun định kỳ một tuần/lần hoặc hai
tuần/lần đã làm giảm mật số và sự gây hại của sâu tơ một cách có ý nghĩa sovới dùng thuốc hóa học trên cây giống (Frank, 2000) Aguda và ctv (1984) đã
dùng nấm B bassiana để phòng trừ rầy nâu, Nilaparvata lugens, rầy lưng trắng, Sogatella furcifera và rầy xanh đuôi đen, Nephotettix spp hại lúa Nấm trắng đã được ứng dụng để phòng trừ rầy nâu, bọ xít đen, Scotinophora coarctata ở ngoài đồng tại Hàn Quốc, Philippines (Rombach và ctv., 1986a,
1986b; Aguda and Rombach, 1987; Aguda và ctv., 1988) Nấm trắng phổ biến
trong quần thể bọ xít hôi, Leptocorisa oratorius ở Philippines (Rombach và
ctv., 1988) Nấm trắng còn được sử dụng để phòng trừ sâu róm thông,
Dendrolimus spp ở Trung Quốc với hiệu lực đạt 43 – 93% (Pan and Zheng,
1988) Nấm trắng có khả năng phòng trừ sâu đục thân bắp ở Châu Âu khi đượcphun trên tán lá cây bắp (Hsil và ctv., 1973; Lewis and Bing, 1991; Lewis vàctv., 1996) Dòng nấm trắng trích từ rầy nâu hại lúa ở Pantagar (Ấn Độ) có khảnăng gây chết cao đối với rầy nâu (88,35 đến 91,25%), rầy lưng trắng (86,59đến 92,44%), rầy xanh đuôi đen (96,12%) và sâu cuốn lá (74,45%) (Nguyễn
Thị Lộc, 1995) Gần đây, chế phẩm nấm trắng được sản xuất từ một nòi B bassiana (GHA) phân lập tại Mỹ, đã được đăng ký để phòng trừ bọ trĩ, rầy
mềm và một số bọ cánh cứng khác (Copping, 1998; Copping, 2001)
Ở Việt Nam, nấm trắng cũng đã được thí nghiệm trong nhà lưới để trừ cácloài rầy hại lúa và kết quả cho thấy rằng nấm trắng có hiệu lực trừ rầy nâu, rầylưng trắng và rầy xanh cao Ấu trùng của rầy nâu và rầy lưng trắng dễ nhiễm
bệnh đối với B bassiana hơn thành trùng của hai lọai rầy trên (Nguyễn Thị Lộc,
1997) Các nhà khoa học của Viện Bảo Vệ Thực Vật cũng đã thử nghiệm và sử
Trang 14dụng nấm trắng trừ sâu róm thông, Dendrolimus punctatus ở Thanh Hóa và Sơn
La (Phạm Thị Thùy, 1996; 1999) Phạm Thị Thùy và ctv (2001 b) đã sử dụngnấm trắng với nồng độ 108 bào tử/ml để trừ sâu tơ đạt hiệu quả rất cao (81,25%)
ở 8 ngày sau khi phun
b) Khả năng ký sinh côn trùng của nấm xanh
Nhà khoa học Nga Ilia Mesnhicov là người đầu tiên phát hiện ra bệnh nấm
xanh (gọi là Entomopthora anisopliae), nay đổi là Metarhizium anisopliae Đến
năm 1908, Mesnhicov và học trò của ông là Crasintxik đã sử dụng nấm này đểchống bọ đầu dài hại củ cải đường Đến những năm 80, 90 của thế kỷ này nấm
Metarhizium và những chế phẩm sản xuất từ loài nấm này lại được nghiên cứu và
ứng dụng rộng rãi trên thế giới để phòng trừ sâu đục thân ở Tasmania, chống loài
mối, Nasutitermes exitiousus (Hill) ở Đức, các loài mối thuộc Coptotermes ở Úc
(Tạ Kim Chỉnh và ctv., 1995) Từ những năm 80 của thế kỷ 20, trên thế giới,nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và ứng dụng các chế phẩm sinh học từ vi nấm
M anisopliae mang tên thương mại Metaquino để phòng trừ muỗi sốt rét Lubilosa, phòng trừ châu chấu, Schistocerra gregaria
Ấu trùng bọ cánh cứng hại dừa, Oryctes rhinoceros bị nhiễm tự nhiên bởi
nấm xanh và nấm này được xem là một nhân tố gây chết tự nhiên quan trọng của
bọ dừa (Carruthers and Soper, 1987) Nhiều nghiên cứu đã áp dụng bào tử nấmxanh phòng trừ bọ cánh cứng và sử dụng nấm này trong chương trình IPM cùngvới baculovirus (Young, 1986) Nấm xanh có tên thương mại là Bio – Pathđược sử dụng để phòng trừ mối tại Mỹ (Kaakeh và ctv., 1996) Ở Brazil, tỉ lệmối chết cao (gần 100%) khi quan sát 19 của 20 tổ mối được xử lý với nấmxanh và tổ còn lại có tỉ lệ chết là 70% (Alves và ctv., 1995) Ở Úc, bào tử nấmxanh được phun trên các gò và tổ mối đã cho tỉ lệ chết đáng kể nhưng khi xử lýgián tiếp bằng cách đặt bã mồi thì không thành công (Milner and Staples, 1996;Milner và ctv., 1998) Sản phẩm thương mại của nấm xanh là BioGreen gần
đây được khuyến cáo sử dụng trừ bọ hung đầu đỏ, Adoryphorus couloni ở Úc
(Shah and Goettel, 1999)
Viện Bảo Vệ Thực Vật đã nghiên cứu và sử dụng nấm M anisopliae để
phòng trừ một số loài sâu hại nông nghiệp (Phạm Thị Thùy, 1992; 1996) Nấm
xanh, M anisopliae đã được nghiên cứu và ứng dụng để phòng trừ các loài mối
hại cây công nghiệp, cây ăn trái và cây cảnh (Tạ Kim Chỉnh và ctv., 1996) Nấm
xanh, M anisopliae được ứng dụng trong việc quản lý các loài sâu hại lúa (Nguyễn Thị Lộc, 1997) Khi sử dụng nấm trắng, B basiana hoặc nấm xanh, M anisopliae trên đồng ruộng để quản lý sâu rầy hại lúa thì không gây ảnh hưởng
Trang 15xấu tới những thiên địch của sâu hại lúa như nhện lớn bắt mồi, nhện lưới, nhệnlùn, nhện chân dài, bọ xít mù xanh và bọ xít gai ăn thịt tại ĐBSCL (Nguyễn ThịLộc và ctv., 2002).
Nấm xanh còn có hiệu quả cao khi dùng để trừ bọ cánh cứng hại dừa,
Brontispa sp (Coleoptera: Chrysomelidae) Kết quả khảo nghiệm trên bọ cánh
cứng hại dừa ở Ô Môn cho thấy rằng dòng nấm xanh trích từ rầy nâu, bọ xít và
bọ dừa bị nhiễm tự nhiên có hiệu lực diệt trừ bọ dừa rất tốt và đạt 71,6-79,1% ở
14 ngày sau khi phun và đặc biệt dòng nấm M.a (OM3-BD) phân lập từ con bọ
cánh cứng hại dừa bị nhiễm nấm xanh tự nhiên ngoài đồng tại Ô Môn có hiệulực trừ bọ dừa cao không khác biệt về mặt thống kê so với Rotenone (NguyễnThị Lộc và ctv., 2004)
1.2.3 Độc tố của nấm trắng và nấm xanh
a) Độc tố của nấm trắng
Nấm trắng tạo ra hỗn hợp độc tố bao gồm beauvericin, bassianolide vàcosporein Trong đó độc tố chính gây hại cho côn trùng đã được chú ý nghiêncứu nhiều nhất là beauvericin Cấu trúc của beauvericin là mộthexadepsipeptide đã được phân lập từ các loài nấm ký sinh côn trùng như
Beauveria spp., Paecilomyces spp và nấm gây bệnh cây trồng như Fusarium spp và Polyporus fumosoroseus (Grove and Pople, 1980; Munkvold và ctv.,
1998) Beauvericin có cấu trúc và chức năng tương tự những chất kháng sinhgây hại màng tế bào enniatin A, B và C và có sự khác biệt của những hợp chấtnày so với N-methylamino acids (Steinrauf, 1985) Beauvericin bao gồm mộtchuỗi lặp lại của ba phân tử N-methylphenylalanine liên kết với ba phân tử 2-Hydroxyisovaleric acid (Hamill và ctv, 1969) Beauvericin tạo phức hợp vớiion Na+ và K+ dẫn đến làm tăng tính thấm của màng tế bào tự nhiên và nhântạo (Ovchinnikov và ctv., 1971) Beauvericin còn là kháng sinh chống lại một
số vi khuẩn như Bacillus subtilis, Escherichia coli, Mycobacterium phlei,…
(Ovchinnikov và ctv., 1971) Hơn nữa, beauvericin còn có tính chất trừ sâutrung bình (Suzuki và ctv., 1977; Gupta và ctv., 1995) LD50 của nấm trắng đốivới ấu trùng sâu cuốn lá tuổi ba là 7,4 x 103 bào tử/ml ở một tuần sau khi chủng(Aguda, 1987) Theo Phạm Văn Biên và ctv (2000) thì nấm trắng thuộc nhómđộc IV, rất ít độc với người, gia súc và môi trường LD50 qua miệng >18 x 108bào tử/kg, LD50 qua da >2000 mg/kg Nấm trắng không gây bệnh cho người,thời gian cách ly là 5 ngày
Trang 16b) Độc tố của nấm xanh.
Nấm xanh tạo ra độc tố Destruxin A và B (Kodaira, 1961; Suzuki và ctv.,1971) Destruxin là một phức hợp có nhiều chất đồng phân Cấu trúc cơ bản của nógồm 5 aminoacid và một -hytroxy acid Destruxin gây chán ăn và gây độc cho côntrùng sau khi được hấp thu vào da (Amiri và ctv., 1999) Một số Destruxin làm tê liệtcôn trùng (Dumas và ctv., 1996) và một số destruxin khác có thể ức chế miễn dịch(Cerenius và ctv., 1990)
Tính mẫn cảm của côn trùng đối với destruxin khác nhau và một số loài sâuthuộc bộ cánh vảy có thể mẫn cảm cao nhất (Roberts, 1981; Charnley, 1984;Samuels và ctv., 1988; Brousseau và ctv., 1996; Thomsen và ctv., 1996;Kershaw và ctv., 1999) LD50 của Destruxin A và B tiêm vào ấu trùng tằm là0,015 – 0,03 mg/g ở 24 giờ sau khi tiêm (Kodaira, 1961; Suzuki và ctv., 1971;Tamura and Takahashi, 1971) LC50 của nấm xanh đối với ấu trùng rầy nâu, N
Lugens là 1,86 x 106 bào tử/ml ở 4 ngày chủng trong điều kiện nhiệt độ 250C(Gillespie, 1986) Bào tử nấm xanh có LT50 và LD50 đối với một số loài sâu bộ
cánh vảy như ấu trùng tằm, sâu xanh da láng, Spodoptera exigua, sâu xanh, Heliothis armigera là 48 giờ và 105 bào tử/ ml (Tạ Kim Chỉnh và Lý Kim Bảng,1995)
Destruxin cũng gây độc cho động vật nhỏ có vú LD50 của Destruxin A và
B sau khi tiêm vào bụng chuột là 1-1,35 mg/kg tương ứng với 13,2 – 16,9 mg/kgtrong 1 giờ (Kodaira, 1961) Trái lại Destruxin ít độc đối với cá và động vậtlưỡng cư, không làm chết, gây quái thai hay trì hoãn sự xuất hiện phôi cá
Brachydaniorerio H B (Debeaupuis and Lafont, 1985).
1.2.4 Cơ chế tác động của nấm trắng và nấm xanh đối với côn trùng gây hại.
a) Phương thức xâm nhập của nấm vào cơ thể côn trùng.
Nấm là một trong những tác nhân gây bệnh côn trùng bằng cách nhiễm vào
ký chủ chủ yếu xuyên qua biểu bì bên ngoài Bào tử của nấm dính chặt vào dacôn trùng và tấn công vào da theo cơ chế bám dính không chuyên biệt thông quatính kỵ nước của vách tế bào của bào tử (Boucias và ctv., 1988; 1991) Khi tiếpxúc với da côn trùng và với điều kiện thích hợp bào tử sẽ mọc mầm có thể tạo racác cấu trúc xâm nhiễm (như tạo ra ống mầm, túi ngoại bào hoặc túi áp suất) từ
đó xâm nhiễm vào bên trong cơ thể côn trùng qua lớp chitin
Sự xâm nhập của nấm vào trong biểu bì thường là do sự phối hợp củaenzyme và cơ chế cơ học Nấm xanh và nấm trắng tiết ra các loại men làm mềmlớp vỏ chitin và tạo thành một lỗ thủng tại nơi bào tử mọc mầm, qua lỗ thủng đó
Trang 17mầm của bào tử nấm xâm nhập vào bên trong cơ thể côn trùng Các enzyme đó
là exoproteases, endoproteases, esterases, lipases, chitinases và chitobiases (StLeger, 1993; Boucias and Pendland, 1998; Butt và ctv., 1998)
b) Sự phát triển của nấm trong cơ thể côn trùng
Giai đoạn phát triển của nấm từ khi xâm nhiễm vào trong cơ thể côn trùngcho đến khi côn trùng chết là giai đoạn sống ký sinh của nấm Trong giai đoạnnày nấm thường tạo ra rất nhiều sợi nấm ngắn, chúng được phân tán khắp cơ thểtheo dịch máu Trước khi nấm có thể sinh sôi nảy nở trong máu nó thường phảivượt qua phản ứng phòng vệ của côn trùng, và sự tạo độc tố của nấm có thể làmsuy yếu phản ứng tự vệ của côn trùng Côn trùng có thể phản ứng với sự xâmnhiễm của nấm bằng cách sử dụng thể dịch (như phenoloxidase, lectins, peptid vàprotein hoặc sử dụng cơ chế của vách tế bào như sự thực bào hoặc kết nang(Bidochka và ctv., 1997; Boucias and Pendland, 1998) Côn trùng chết có thể làkết quả của sự phối hợp các hoạt động như sự làm giảm dinh dưỡng, làm tắtnghẽn cơ thể hoặc sự xâm lấn của các cơ quan và tác động của độc tố đối với côntrùng Ví dụ nấm trắng tạo ra phức hợp các độc tố bao gồm beauvericin,bassianolide và oosporein, nấm xanh tạo ra độc tố Destruxin làm tê liệt côn trùng(Dumas và ctv., 1996), hoặc gây ức chế miễn dịch (Cerenius và ctv., 1990)
Sau khi con côn trùng chết, nấm thường phát triển hoại sinh trong ký chủ.Dưới điều kiện thích hợp nấm tạo ra các bào tử hoặc nấm mọc thành sợi ra bênngoài bề mặt cơ thể vật chủ Sau đó các bào tử được tạo thành trên lớp sợi nấm ở
bề mặt cơ thể vật chủ và bị phóng thích đi Bào tử phát tán thụ động nhờ gió vànhững yếu tố khác như mưa đóng vai trò quan trọng trong phát tán bào tử
c) Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng xâm nhiễm của nấm ký sinh côn trùng
Ánh sáng: là nhân tố quan trọng trong sinh vật học của hầu hết các nấm ký
sinh, đặc biệt có liên quan đến sợi nấm, sự phóng thích và sự sống sót của bào tử(Callaghan, 1969; Sakamoto và ctv., 1988) Ánh sáng tự nhiên có phổ 290-400
nm sẽ ảnh hưởng lên sự bền của nấm trên tán cây và ít ảnh hưởng hơn trên những
cơ chất khác (Fuxa, 1987) Fargues và ctv (1996) thấy rằng nấm trắng và nấmxanh bị mẫn cảm cao đối với ánh sáng đặc biệt là thành phần tia cực tím củaquang phổ (285-315nm)
Walstad và ctv (1970) đã có những nghiên cứu về ảnh hưởng của điều kiện
môi trường lên hai loài nấm trắng, Beauveria bassiana và nấm xanh, Metarhizium anisopliae Các loài nấm này đòi hỏi 92,5% ẩm độ tương đối và
15-350C nhiệt độ cho sự nảy mầm của bào tử, sự phát triển của sợi nấm và sự
Trang 18hình thành bào tử Điều kiện tối hảo cho sự nảy mầm của bào tử, sự phát triểnsợi nấm và hình thành bào tử ở 100% ẩm độ và 25-300C Theo Vestergaard vàctv (1995), nhiệt độ tối hảo cho nấm bất toàn là 20-250C, nhưng sự xâm nhiễm
và gây bệnh từ 15-300C, lớn hơn 300C sự phát triển của nấm bị giới hạn vàngừng phát triển ở 370C Sợi nấm trắng và nấm xanh có thời gian chết ít hơn 15phút ở 400C, bào tử nghỉ của nấm có thể chịu được 800C trong một giờ hoặc lâuhơn, dưới 40C đa số các tế bào nấm còn sống nhưng không phát triển
Bào tử nấm xanh phát triển tốt ở nhiệt độ ôn hòa và ẩm độ cao Bào tử nấmxanh và nấm trắng nảy mầm ở 94% ẩm độ, tỉ lệ nảy mầm và phát triển sợi nấmtối đa ở ẩm độ 97% - 99% và bị giảm ở 94 – 96% Nấm xanh phát triển hình tháikhông bình thường ở 96% ẩm độ Nước không chỉ cần thiết cho sự nảy mầm màcòn điều chỉnh sự hình thành bào tử trên xác côn trùng (Gillespie andCrawsford, 1986)
Ảnh hưởng của loại đất, nhiệt độ và ẩm độ: nhiệt độ đất tối hảo cho sự
lưu tồn của nấm phụ thuộc vào dòng nấm, loại đất, ẩm độ đất và sự đối kháng tựnhiên Bào tử nấm trắng có tỉ lệ chết 50% là 276 ngày ở 100C (Lingg andDoualdson, 1981) Studdert and Kaya (1990) cho thấy sự tồn tại của sợi nấmtrắng khi giảm nhiệt độ và giảm ẩm độ trong đất gần đến bão hòa Bào tử nấmxanh có thể tồn tại ít nhất 21 tháng ở 190C Cammon and Rath (1994) cho thấy
dòng nấm xanh, Metarhizium anisopliae được lây nhiễm ở 50C và tồn tại hainăm Sự lưu tồn của nấm trong đất bị suy thoái nhanh chóng khi nhiệt độ trên
300C và chết ở 500C
Ảnh hưởng của sinh vật đối kháng trong đất lên sự lưu tồn của nấm trắng: ước tính có khoảng 464 loài nấm và sợi men được tìm thấy trong đất
(Kendrick and Parkinson, 1990) Shields và ctv (1981) đã xác định dung dịch có
chứa Penicillium uriticae ức chế sự nảy mầm của bào tử và sự phát triển của sợi
nấm trắng
1.3 Nghiên cứu, ứng dụng nấm trắng và nấm xanh trong quản lý sâu hại cây trồng
a) Ngoài nước
Trong nhiều năm qua M anisopliae và B bassiana đã được chú trọng
nghiên cứu và sử dụng trong việc phòng trừ các loài sâu hại, bao gồm cả sâu hạikhoai tây và ngô ở Mỹ (Cambpell và ctv, 1985; Lewis và Bing, 1991) Ở châu
Á, các công trình nghiên cứu và sử dụng nấm ký sinh để phòng trừ sâu, rầy hạilúa (Rombach và ctv, 1986a; 1986b; 1988; Aguda và ctv; 1981; 1987; 1988).Một số nước ở Bắc âu như Hà Lan, Phần Lan và Thụy Điển cũng đã nghiên cứu
Trang 19và sử dụng vi nấm để phòng trừ sâu hại cây trồng (Wandersch và ctv, 1990;Vainio và ctv, 1990; Keller và ctv, 1993; 2004) Khai thác tiềm năng phòng trừ
sinh học của nấm trắng B bassiana đối với các loài rầy hại lúa đã được nghiên
cứu tại Ấn độ (Lộc, 1995) Hiện nay, nhiều nước thế giới như Úc, Brazil, Mỹ,Pháp, Colombia, Venezuela, đã sản xuất thành công các sản phẩm sinh học từ
nấm xanh, Metarhizium anisopliae như Biogreen, Metaquino, Path, Blast, Cobican và nấm trắng, Beauveria bassiana như Conidia, Ostrinil,
Bio-CornGuard, Mycotrol GH, Mycotrol WP, BotaniGard, Naturalis-L, Proecol,Boverin, Boverol, Boverosil để trừ dịch hại cây trồng (Burges, 1998; Butt vàCopping 2000)
Xu thế của thế giới hiện nay là tạo ra sản phẩm nông nghiệp sạch, nhất làcác loài rau trái, vì vậy các nhà khoa học luôn nghiên cứu và ứng dụng các biệnpháp phòng trừ sinh học để thay thế cho thuốc hóa học, nhằm giảm thiểu tối đalượng thuốc hóa học dùng trong nông nghiệp
b) Việt Nam
Việt Nam cũng đã có các sản phẩm như Boverit của Viện Bảo Vệ Thực
Vật – Hà nội, Boverit chế từ nấm trắng, Beauveria bassiana trừ rầy nâu hại lúa,
sâu đo xanh hại đay, sâu róm hại thông (Thùy và ctv, 1999, 2000) và Mat chế từ
nấm xanh, Metarhizium anisopliae trừ bọ cánh cứng hại dừa (Thùy và ctv,
2001) Sản phẩm Beauverin của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương Dịch vụ Thanh Sơn Hóa Nông trừ sâu tơ hại bắp cải, sâu đục quả xoài
mại-Các tác giả thuộc viện công nghệ sinh học, Trung tâm Khoa học tự nhiên vàCông nghệ quốc gia đã có các công trình nghiên cứu và ứng dụng nấm xanh
Metarhizium anisopliae để phòng trừ các loài mối hại cây công nghiệp, mối hại
cây ăn trái và cây cảnh (Chỉnh và ctv, 1998, , 2001, 2004)
Từ năm 1995 tới nay, Bộ môn Sinh Thái Côn Trùng và Phòng Trừ SinhHọc, Viện Lúa ĐBSCL chúng tôi đã có những công trình nghiên cứu và ứng
dụng nấm trắng, B bassiana và nấm xanh, M anisopliae trong việc quản lý các
loài sâu hại lúa và bọ cánh cứng hại dừa Nghiên cứu về ảnh hưởng của
Beauveria bassiana và hỗn hợp của nó với thuốc hóa học, thảo mộc đối với tỷ lệ
ăn của rầy nâu, tìm hiểu ảnh hưởng của nấm kí sinh côn trùng tới một số thiênđịch của sâu hại lúa (Lộc, 1997 ; Lộc và ctv, 1999 ; Lộc và ctv, 2001 ; Lộc vàctv, 2002 ; Lộc và ctv, 2004)
Trong các vụ Hè Thu 2001, Đông Xuân 2001-2002 chế phẩm nấm xanh,
M anisopliae và nấm trắng, B bassiana của Viện Lúa đã được sử dụng để trừ
rầy nâu trên 50 ha lúa hữu cơ tại An Giang, 12 ha lúa chất lượng cao tại Trà
Trang 20Vinh và 7 ha lúa chất lượng cao tại Ô Môn Kết quả cho thấy là nông dân chỉcần phun chế phẩm vi nấm có một lần vào lúc mật độ rầy cao thì đã phòng trừđược rầy suốt trong vụ lúa Năng suất ở những ruộng có sử dụng chế phẩm thìcao hơn rất nhiều so với những ruộng sử dụng thuốc hóa học (cùng một giốnglúa), mà chi phí ở những ruộng sử dụng thuốc hóa học lại rất cao vì phải phunnhiều lần.
Chế phẩm nấm xanh của bộ môn cũng đã được sử dụng trong chương trìnhnho sạch tại Ninh Thuận để trừ mối hại nho và kết quả cho thấy là nấm xanh cóhiệu lực rất tốt đối với mối hại nho
Chế phẩm nấm trắng và nấm xanh đã được sử dụng để trừ rầy xanh và cácloài rầy khác trên 9 ha trà sạch tại Bảo Lộc, Lâm Đồng và kết quả rất tốt
Kết quả khảo nghiệm trên bọ cánh cứng hại dừa cho thấy rằng nấm xanhphân lập từ con bọ dừa bị nhiễm bệnh ngoài tự nhiên tại Ô Môn thì có hiệu lực
diệt bọ dừa rất tốt tiềm năng phòng trừ sinh học của nấm xanh, M anisopliae
đối với bọ cánh cứng hại dừa (Lộc và ctv, 2004)
Chế phẩm trừ sâu sinh học nấm trắng, B.b (OM1 – R) của Viện Lúa
ĐBSCL đã được đưa vào danh mục thuốc bảo vệ thực vật, với tên thương mại là
Biovip, Chế phẩm trừ sâu sinh học nấm xanh, M.a (OM2 – B) đã được đưa vào
danh mục thuốc bảo vệ thực vật, với tên thương mại là Ometar, được phép sửdụng ở Việt Nam theo quyết định số 63/2003/QĐ-BNN ngày 27 tháng 05 năm
2003 của Bộ Trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT
Từ năm 2003 tới nay, hai chế phẩm trừ sâu sinh học Ometar và Biovip củachúng tôi đã được ứng dụng rộng rãi để trừ rầy nâu, bọ xít hôi và bọ cánh cứnghại dừa với diện tích hàng ngàn ha tại các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long
Từ năm 2002 tới 2005, bộ môn chúng tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứusản xuất và ứng dụng chế phẩm trừ sâu sinh học trên các mô hình cây ăn tráitại tỉnh Tiền Giang” Kết quả từ các thí nghiệm diện rộng và các mô hình trình
diễn tại Tiền Giang cho thấy là chế phẩm nấm xanh, M anisopliae và chế phẩm nấm trắng, B bassiana có hiệu lực cao khi dùng để trừ rầy mềm, rầy
chổng cánh, bọ xít và sâu ăn lá hại cây có múi và cây nhãn Cả hai chế phẩm vinấm này không gây ảnh hưởng xấu tới các loài thiên địch của sâu hại, vì vậysau khi sử dụng 2 loài nấm ký sinh này để trừ sâu hại trên các mô hình cây ăntrái từ 3 tháng trở đi thì mật số thiên địch của sâu hại tăng lên đáng kể; đặc biệt
là mật số nhện và kiến vàng trong vườn mô hình tăng rất cao, vì thế đã khốngchế được quần thể sâu hại, kể cả sâu vẽ bùa Vì 2 loài nấm này có tác dụng diệtsâu hại khá bền lâu, nên số lần phun giảm rất nhiều so với dùng thuốc hóa học
Trang 21Một số hộ nông dân tham gia mô hình cho nhận xét rằng: khi chưa tham gia
mô hình họ đã phải phun thuốc hóa học định kỳ 15 ngày/lần (vào các đợt cây
có múi ra lộc non), còn ở vườn mô hình sử dụng chế phẩm trừ sâu sinh học thì
cứ 1,5 tháng mới phun 1 lần vì chế phẩm vi nấm có hiệu lực bền lâu (do sự lâybệnh từ con này sang con khác) Chính vì lý do trên mà việc sử dụng chế phẩm
sinh học M.a trừ sâu rầy hại cam quýt ở các mô hình thâm canh cây ăn trái tại
Tiền Giang đã giảm số lần phun từ 20-24 lần /năm xuống chỉ còn có 8-9lần/năm, do vậy đã tiết kiệm được tiền thuốc và tiền công phun thuốc trừ sâu
của bà con nông dân và đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân.
1.4 Đặc điểm của chế phẩm sinh học và dầu khoáng sử dụng trong các thí nghiệm
1.4.1 Ometar
- Ometar là thuốc trừ sâu sinh học do Bộ môn chúng tôi đã nghiên cứu và
sản xuất từ dòng nấm xanh M.a (OM2-B) phân lập từ con bọ xít hôi hại lúa bị chết
do nhiễm nấm xanh tự nhiên tại Ô Môn Ometar được đưa vào danh mục thuốcsinh học bảo vệ thực vật và được phép sử dụng rộng rãi tại Việt Nam theo quyếtđịnh số 63/2003/QĐ-BNN ngày 27 tháng 05 năm 2003 của Bộ trưởng bộ Nôngnghiệp và PTNT
- Là thuốc trừ sâu sinh học dạng bột phân tán trong nước
- Thành phần: bào tử nấm xanh Metarhizium anisopliae 1,5 x 10 9 bàotử/g và cơ chất khác (bột ngô, cám…)
- Công dụng: trừ các loài rầy, bọ xít hại lúa và bọ cánh cứng hại dừa.
Hiệu lực cao nhất từ 5-7 ngày sau phun
- Cách dùng: pha 1 gói chế phẩm 150 gram và có mật số bào tử là 1,5 x
109 bào tử /gram vào 1 bình 16 lít nước, thêm 4-5ml chất bám dính nông dược(U-Tron), trộn đều, sau đó lọc qua 2 lớp vải màn, rồi phun trực tiếp lên cây bịsâu phá hại
- Chú ý quan trọng:
+ Chú ý phun dung dịch Ometar đều cả mặt trên và mặt dưới của lá đểdung dịch nấm tiếp xúc được sâu hại
+ Đặc biệt chú ý là phải phun dung dịch Ometar vào chiều mát (khoảng
3-6 giờ chiều) để nấm có đủ điều kiện nhiệt, ẩm độ để tấn công côn trùng
+ Không pha trộn Ometar với các loại thuốc hóa học trừ sâu, bệnh khác.+ Phun chế phẩm sinh học Ometar vào những ngày trời tạnh ráo
+ Trước khi phun rải thì các gói chế phẩm sinh học Ometar cần được bảoquản ở những nơi thoáng mát
Trang 22+ Chế phẩm sinh học Ometar an toàn cho người, vật nuôi, thiên địch vàmôi trường.
1.4.2 Biovip
- Biovip là thuốc trừ sâu sinh học do Bộ môn chúng tôi đã nghiên cứu và
sản xuất từ dòng nấm trắng B.b(OM1-R) phân lập từ con rầy nâu hại lúa bị chết
do nhiễm nấm trắng tự nhiên tại Ô Môn Biovip được đưa vào danh mục thuốcsinh học bảo vệ thực vật và được phép sử dụng rộng rãi tại Việt Nam theo quyếtđịnh số 63/2003/QĐ-BNN ngày 27 tháng 05 năm 2003 của Bộ trưởng bộ Nôngnghiệp và PTNT
- Là thuốc trừ sâu sinh học dạng bột phân tán trong nước
- Thành phần: bào tử nấm trắng Beauveria bassiana 1,5 x 10 9 bào tử/g
và cơ chất khác (bột ngô, cám…)
- Công dụng: trừ các loài rầy, bọ xít hại lúa Hiệu lực cao nhất từ 5-7 ngày sau
phun
- Cách dùng: pha 1 gói chế phẩm 150 gram và có mật số bào tử là 1,5 x
109 bào tử /gram vào 1 bình 16 lít nước, thêm 4-5ml chất bám dính nông dược(U-Tron), trộn đều, sau đó lọc qua 2 lớp vải màn, rồi phun trực tiếp lên cây bịsâu phá hại
- Chú ý quan trọng:
+ Chú ý phun dung dịch Biovip đều cả mặt trên và mặt dưới của lá đểdung dịch nấm tiếp xúc được sâu hại
+ Đặc biệt chú ý là phải phun dung dịch Biovip vào chiều mát (khoảng
3-6 giờ chiều) để nấm có đủ điều kiện nhiệt, ẩm độ để tấn công côn trùng
+ Không pha trộn Biovip với các loại thuốc hóa học trừ sâu, bệnh khác.+ Phun chế phẩm sinh học Biovip vào những ngày trời tạnh ráo
+ Trước khi phun rải thì các gói chế phẩm sinh học Biovip cần được bảoquản ở những nơi thoáng mát
+ Chế phẩm sinh học Biovip an toàn cho người, vật nuôi, thiên địch và môitrường
1.4.3 Supracide 40 EC
- Tên thương mại: Supracide 40 EC
- Tên hóa học: 0,0 – dimethyl phosphorodithioate, S – ester with 4 –
(mercaptomethyl)-2- methoxy 2-1,3,4-thiadiazolin-5-one
- Phân tử lượng: 302,3
- Tính chất: thuốc kỹ thuật dạng tinh thể, không màu, điểm nóng chảy
39-400C Ít tan trong nước, tan nhiều trong dung môi hữu cơ như acetone,
Trang 23benzene, xylene, methanol Không ăn mòn kim loại, tương đối bền trong môitrường trung tính và acid nhẹ, thủy phân nhanh trong môi trường kiềm Nhómđộc I, LD50 qua miệng là 44mg/kg, LD50 qua da 640 mg/kg Độc với ong và cá.
Dư lượng với cam, chè, cà phê là 2, nho là 0,5; sản phẩm khác là 0,02 mg/kg.Thời gian cách ly là 21 ngày, cà chua 7 ngày Tác động tiếp xúc, vị độc và thấmsâu mạnh Phổ tác dụng rộng
- Sử dụng: Phòng trừ nhiều loại sâu đục thân, ăn lá, chích hút và nhện cho
nhiều loại cây trồng Có hiệu quả cao với các loài rệp sáp Dùng trừ sâu tơ, sâuxanh hại rau, sâu hồng, sâu xanh, rầy, rệp, nhện đỏ hại bông, các loài rệp sáp, sâu
ăn lá, nhện đỏ hại cây ăn quả, dứa, cà phê, chè Liều lượng sử dụng: 400-800 ga.i/ha Chế phẩm sữa 40% hoạt chất dùng 1-2 l/ha, pha nước với nồng độ 0,2-0,3% phun ướt đều lên cây
- Khả năng hổn hợp: có thể pha chung với nhiều loại thuốc trừ sâu bệnh
khác
1.4.4 Actara 25 WG
- Tên thương mại: Actara 25 WG
- Hoạt chất: Thiamethoxam, là loại thuốc trừ sâu thế hệ mới của nhóm
Neonicotinoid, thuộc nhóm III, ít độc theo phân loại của tổ chức WHO
- Cơ chế tác động: Tiếp xúc, vị độc tác động đến hệ thần kinh côn trùng
- Công dụng: Tiêu diệt hiệu quả nhiều loại côn trùng chích hút trên nhiều
loại cây trồng khác nhau
- Hướng dẫn sử dụng: Actara phòng trừ rầy nâu, bọ trĩ hại lúa; rầy xanh, bọ
trĩ, bọ xít muỗi hại cà phê; rầy chổng cánh hại cây có múi; rệp hại dưa chuột, raucải, rầy bông hại xoài, bọ phấn hại cà chua, bọ cánh cứng hại dừa Xử lý đất: trừcác côn trùng chích hút trên rau và cây ăn trái Liều lượng sử dụng 25 – 30 g/ha (2
g cho 1 bình 16 lít)
- Thời gian cách ly: ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch đối với lúa,
và áp dụng phương pháp xử lý đất 7 ngày
1.4.5 Dầu khoáng (PSO)
- Tên thương mại: D-C – Tron Plus 98,8 EC
- Tính chất: PSO là loại dầu khoáng được sản xuất từ dầu thô, thuộc
nhóm dầu bôi trơn trong những sản phẩm của nhà máy lọc dầu, là Parafin vòng,
có nhánh là Isoparafin, Olefin và Aromatic
+ Điểm chưng cất 300 -4000C Tỉ trọng 0,846 – 0,880 Khoảng sôi 57 –
810C
Trang 24+ PSO gây ngạt thở cho sâu, ngoài ra còn có tính xua đuổi Dầu có độnhớt cao (70N) trải đều tốt hơn và có hiệu lực trừ sâu cao hơn dầu có độ nhớtthấp (60N) Không gây tính chống thuốc An toàn với người, môi trường vàthiên địch Thời gian cách ly 2 ngày Giá thành rẻ hơn thuốc trừ sâu khác Phổtác dụng tương đối rộng.
Hiệu lực trừ sâu của PSO tăng theo khoảng nhiệt độ chưng cất và số Carbon (Cn
lá (đến mức chảy tràn) Có thể phun nhiều lần (cách nhau 2 tuần) Không phunkhi nhiệt độ không khí trên 350C, khi cây đang bị úng nước, không phun khi câyđang ra hoa, không phun nồng độ quá 3% (3 lít/100 lít nước)
DC Tron – Plus hiện mới được khuyến cáo dùng cho cam, quít, chanh.Đang nghiên cứu dùng cho táo (trừ nhện đỏ, rệp, bệnh sương mai), cho hoa hồng(trừ nhện, bệnh sương mai)
- Khả năng hỗn hợp: Có thể pha chung với các thuốc trừ bệnh sẹo, loét,
mốc sương cho cam, quít
Trang 25CHƯƠNG II PHƯƠNG TIỆN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Kế thừa những kết quả nghiên cứu của nước ngoài và các kết quả đã đạtđược của Viện Lúa ĐBSCL trong những năm qua về nghiên cứu, sản xuất chế
phẩm sinh học đa chức năng Metarhizium anisopliae và Beauveria bassiana
trong phòng trừ dịch hại cây trồng, đề tài với nội dung “Xây dựng mô hình ứng dụng chế phẩm trừ sâu sinh học trong quản lý sâu rầy hại cây có múi, cây xoài và nghiên cứu hiệu quả của chế phẩm sinh học đối với rệp sáp trên cây
có múi và cây khóm” nhằm góp phần hạn chế việc sử dụng thuốc hóa học trong
hệ thống bảo vệ thực vật ở Hậu Giang nói riêng và Việt Nam nói chung
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu thông dụng, hiện đại vềcông nghệ sinh học, bảo vệ thực vật và các kỹ thuật thâm canh cây có múi, câyxoài và cây khóm để thực hiện các nội dung nghiên cứu và ứng dụng của mình:
2.1 Điều tra nhanh về hiện trạng canh tác cây ăn trái, thành phần, mức độ
gây hại của một số sâu hại chính trên cam, quýt, bưởi, xoài và tình hình sử dụngthuốc trừ sâu trên các cây trồng này tại những điểm chuẩn bị xây dựng mô hình
Cụ thể là lập phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp từng chủ hộ nông dân cóvườn hiện đang canh tác cây trồng đó (theo phiếu điều tra đính kèm ở phần phụ lục)
2.2 Sản xuất chế phẩm B.b/M.a
Từ các nghiên cứu trước (Lộc, 1995; Lộc và ctv, 2001) chúng tôi đã xácđịnh được hai công thức môi trường tốt nhất để nhân nuôi 2 loài nấm M.a vàB.b, thành phần của các môi trường nhân nuôi này rẻ tiền và sẵn có ở ĐBSCLnhư cám gạo, bột ngô và trấu Chúng tôi áp dụng hai công thức môi trường này
để nhân nuôi các chủng nấm mới B.b và M.a Sau khi cấy giống nấm vào các
môi trường này khoảng 2 tuần sẽ thu được số lượng bào tử nhiều nhất, đổ rahong khô ở phòng lạnh với nhiệt độ là 180C trong khoảng 2-3 ngày, tiến hànhsấy ở nhiệt độ 400C trong 24 giờ, sau đó nghiền và thu được thuốc dạng bộtthấm nước Số bào tử trên một gam sản phẩm sẽ được xác định bằng buồng đếmhồng cầu
2.3 Đánh giá hiệu lực sinh học của các mẻ chế phẩm đã sản xuất ra đối với rầy mềm và rầy chổng cánh hại cây có múi tại nhà lưới của bộ môn.
Các thí nghiệm đánh giá hiệu lực của các mẻ chế phẩm
B.bassiana/M.anisopliae trừ rầy mềm và rầy chổng cánh được tiến hành nhằm
khẳng định hiệu lực cuả các mẻ chế phẩm trong điều kiện nhà lưới Chuẩn bịdung dịch nấm chứa 107 bào tử trong một ml, có chứa 0,02% chất bám dính
Trang 26Tween80 Phun trực tiếp dung dịch bào tử nấm lên ấu trùng rầy mềm/rầy chổngcánh trên cây cam nhỏ ở trong lồng lưới, với liều lượng 10 ml dung dịch cho 1cây cam nhỏ Những côn trùng ở nghiệm thức đối chứng thì được phun với dungdịch nước lã chứa 0,02% chất bám dính Tween80 Thuốc hóa học Actara 25WGđược phun với nồng độ là 0,01% Chỉ thả 30 ấu trùng rầy mềm/rầy chổng cánhtrên mỗi cây cam trong lồng lưới và sau khi phun nấm đóng kín cửa lồng lưới.Mỗi nghiệm thức lặp lại 4 lần Số rầy chết được ghi nhận vào 3, 7 và 10 ngàysau khi phun và tỷ lệ chết được hiệu đính theo công thức Abbott (1925)
Công thức Abbott:
C - T
Độ hữu hiệu (%) = - x 100
CVới C: Số sâu sống ở nghiệm thức đối chứng
T: Số sâu sống ở nghiệm thức có xử lý thuốc
2.4 Thực hiện các thí nghiệm trong nhà lưới để đánh giá hiệu lực của các chế phẩm vi nấm đối với rệp sáp hại khóm và cam, quýt.
a) Hiệu lực của các chế phẩm vi nấm đối với rệp sáp hại khóm
Rệp sáp đã được thu từ ngoài đồng sau đó lây nhiễm lên khóm Cayen trồngtrong nhà lưới Các chậu khóm có rệp sáp được tiếp tục chăm sóc thêm khoảng 1tháng để cho rệp sáp sinh trưởng ổn định và tiếp tục phát triển Các chậu khómluôn được tưới ẩm để rệp sáp sinh trưởng trên bẹ lá khóm Khi rệp sáp đã định
cư và phát triển quần thể trên các cây khóm dùng làm thí nghiệm thì tiến hànhphun chế phẩm nấm theo nồng độ khuyến cáo Thí nghiệm theo thể thức hoàntoàn ngẫu nhiên gồm 6 nghiệm thức (bảng 1), mỗi nghiệm thức gồm 4 chậukhóm (4 lần lặp lại) Đếm mật số rệp sáp sống sót trên mỗi chậu trước khi phunthuốc (NTP) và 5, 7 và 10 ngày sau khi phun (NSP) Hiệu lực được tính theocông thức Abbott (1925)
6 Đối chứng (phun nước lã)
b) Hiệu lực của các chế phẩm vi nấm đối với rệp sáp hại cam
Trang 27Rệp sáp đã được thu từ ngoài đồng sau đó lây nhiễm lên những cây camgiống được trồng trong chậu ở nhà lưới của Bộ môn Các chậu cam có rệp sápđược tiếp tục chăm sóc thêm khoảng 1 tháng để cho rệp sáp sinh trưởng ổn định
và tiếp tục phát triển Các chậu cam được tưới ẩm liên tục để rệp sáp sinh trưởngtrên thân cây Khi rệp sáp đã định cư và phát triển quần thể trên các cây camdùng làm thí nghiệm thì tiến hành phun chế phẩm nấm theo nồng độ khuyếncáo Thí nghiệm theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 6 nghiệm thức, thínghiệm thứ nhất trên cây cam thì các nghiệm thức như thí nghiệm đối với rệpsáp hại khóm (bảng 1), còn thí nghiệm thứ hai trên cây cam thì các nghiệm thứcđược thể hiện trong bảng 2 dưới đây, mỗi nghiệm thức gồm 4 chậu khóm (4 lầnlặp lại) Đếm mật số rệp sáp sống sót trên mỗi chậu trước khi phun thuốc (NTP)
và 5, 7 và 10 ngày sau khi phun (NSP) Hiệu lực được tính theo công thứcAbbott (1925)
Bảng 2: Các nghiệm thức trong thí nghiệm nhà lưới trên cây cam (Thí nghiệm 2)
6 Đối chứng (phun nước lã)
2.5 Khảo nghiệm diện hẹp ngoài đồng ruộng để đánh giá hiệu lực của chế phẩm vi nấm đối với rệp sáp hại khóm và cam, quýt.
a) Hiệu lực của chế phẩm vi nấm đối với rệp sáp hại khóm
Thí nghiệm diện hẹp trên khóm được thực hiện tại xã Hỏa Tiến, TX VịThanh, tỉnh Hậu Giang gồm 3 thí nghiệm, theo thể thức khối hoàn toàn ngẫunhiên, 3 lần nhắc lại, các nghiệm thức của từng thí nghiệm được trình bày trongbảng 2 Mỗi ô thí nghiệm có diện tích tối thiểu là 50 m2, mỗi ô đếm rệp sáp trên
9 cây theo đường chéo góc Nồng độ của chế phẩm vi nấm, nước rửa chén Mỹhảo và thuốc hóa học được pha theo bảng dưới đây Dung dịch chế phẩm/thuốcđược phun trực tiếp trên ngọn cây khóm để trừ rệp sáp.Ghi nhận mật số rệp sáptrước khi phun thuốc và 7, 10 và 14 NSP Hiệu lực được tính theo công thứcHenderson-Tilton
Trang 28
STT Thí nghiệm 1 Thí nghiệm 2 Thí nghiệm 3
Ometar (10 7 bào tử/ml) Mỹ Hảo 0,5% Biovip (10
b) Hiệu lực của chế phẩm vi nấm đối với rệp sáp hại cây có múi
Thí nghiệm diện hẹp trên cây có múi gồm 3 thí nghiệm (2 thí nghiệm trêncam sành và 1 thí nghiệm trên bưởi) được thực hiện tại xã Phú Hữu, huyện ChâuThành, tỉnh Hậu Giang theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần nhắc lại,các nghiệm thức của từng thí nghiệm thể hiện trong bảng 3 Mỗi ô thí nghiệm códiện tích tối thiểu là 150 m2, mỗi ô đếm rệp sáp trên 9 cây theo đường chéo góc,trên mỗi cây đếm mật số rệp trên 1 cành với chiều dài 50 cm tính từ đọt Nồng độcủa chế phẩm vi nấm, nước rửa chén Mỹ hảo và thuốc hóa học được pha theobảng dưới đây Dung dịch chế phẩm/thuốc được phun trực tiếp trên cây để trừ rệpsáp trên cành Ghi nhận mật số rệp sáp trước khi phun thuốc và 7 và 14 NSP.Hiệu lực được tính theo công thức Henderson-Tilton Số liệu phân tích biến độngphương sai và so sánh cặp bằng chương trình SAS ver 6.12
Trang 29
Bảng 4: Các nghiệm thức trong các thí nghiệm diện hẹp trên cây có múi
1 Ometar (10 7 bào tử/ml) Biovip (10 7 bào tử/ml) B.b (TG7-R) (10
7 bào tử/ml)
2 Ometar (10
7 bào tử/ml) + Mỹ Hảo 0,1% Ometar (10
B.b (TG7-R) (107 bào tử/ml) + Mỹ Hảo 0,1%
4 Supracide 40 EC (0,3%) Mỹ Hảo 1% M.a (TG4-RMCQ) (10
2.6 Chọn điểm để xây dựng mô hình
Sau khi điều tra cơ bản đã nắm được tình hình canh tác cây có múi và câyxoài của từng điểm, thì cán bộ kỹ thuật của viện đã chọn điểm để xây dựng môhình, điểm chuẩn bị để tập huấn và xây dựng mô hình là các xã, ấp có nhiềunông dân trồng chuyên canh cây cam, quýt, bưởi, xoài, có diện tích tương đốilớn và đồng đều
2.7 Tập huấn cho cán bộ kỹ thuật cơ sở và nông dân
Tổ chức 12 lớp tập huấn cho cán bộ cơ sở và nông dân của 2 huyện: Châu
Thành và Châu thành A về việc ứng dụng các chế phẩm sinh học B.b và M.a
trong quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây có múi, cây xoài Các kỹ thuậttrong chương trình IPM đều được đưa vào nội dung tập huấn, nhưng đặc biệt
chú trọng về quy trình kỹ thuật ứng dụng 2 chế phẩm sinh học B.b và M.a
trong phòng trừ sâu hại cây có múi, cây xoài Tài liệu tập huấn được phát cho
các học viên
Trang 302.8 Xây dựng mô hình trình diễn “Ứng dụng chế phẩm sinh học B.b và M.a
trong quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây có múi và cây xoài” tại Hậu Giang
Sau khi tổ chức các lớp tập huấn ở các xã thuộc 2 huyện Châu Thành vàChâu Thành A, cán bộ kỹ thuật đã chọn những hộ nông dân tiến bộ, nhiệt tình,
có khả năng ứng dụng và thích ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật mới Mỗi điểmchọn từ 5-7 hộ nông dân tham gia thực hiện mô hình trình diễn Riêng đối vớicây có múi thì chọn 5 hộ nông dân liền ranh đất với nhau để dễ nghiên cứu vềquản lý rầy chổng cánh
- Thiết kế mô hình trình diễn: chia vườn ra 2 phần: phần mô hình trình
diễn có diện tích 5.000-6.000 m2, phần còn lại sử dụng làm đối chứng
- Các biện pháp bảo vệ thực vật áp dụng trong mô hình trình diễn và trong vườn đối chứng:
+ Vườn đối chứng: áp dụng theo các phương pháp truyền thống phòng trừsâu hại cam quýt, bưởi và xoài như trước đây Điều tra định kỳ hàng tháng đểtheo dõi diễn biến mật độ quần thể sâu hại
+ Vườn trình diễn: áp dụng chế phẩm sinh học B.b và M.a (pha với nồng độ
107bào tử/ml) phun vào lúc chiều mát để quản lý rầy mềm, rầy chổng cánh, sâu
vẽ bùa hại cam quýt và rầy bông hại xoài Điều tra định kỳ hàng tháng để theo
dõi diễn biến mật độ quần thể sâu hại Phun chế phẩm B.b và M.a khi mật số sâu
hại lên cao Các kỹ thuật canh tác khác sẽ áp dụng theo quy trình IPM trên cây
có múi như: dùng bẫy hấp dẫn hoặc bẫy màu vàng để dự tính dự báo, bón phâncân đối, tưới tiêu thích hợp, vệ sinh vườn và quản lý cỏ dại hợp lý, tỉa cành vàđiều khiển sự ra chồi đồng loạt…
+ Ghi nhận đầu tư chi phí và năng suất ở mỗi ô để tính hiệu quả kinh tế (nếu
có thể)
Phương pháp lấy mẫu
Sâu hại xoài:
+ Rầy bông, sâu ăn lá, sâu đục ngọn, sâu đục trái, bọ trĩ và rệp sáp:
Trong vườn chọn ngẫu nhiên 5 cây, mỗi cây điều tra 4 điểm theo 4 hướng, trêncây tại mỗi điểm chọn một cành chưa phân nhánh có độ dài khoảng 50 cm vàđếm toàn bộ số rầy bông, sâu ăn lá, sâu đục ngọn, sâu đục trái và bọ trĩ Đối vớirệp sáp: đếm số rệp sáp ở trên cành và tổng số rệp sáp trên 10 lá
+ Tỷ lệ lá hại do sâu ăn lá: Tại mỗi điểm điều tra đếm số lá bị hại trên tổng
số 25 lá, tính ra phần trăm lá hại
Trang 31+ Tỷ lệ hại do sâu đục ngọn và sâu đục trái: Tại mỗi điểm điều tra đếm số
cành và trái bị hại trên tổng số 10 cành và trái tương ứng, tính ra phần trăm hại
Sâu hại cây có múi
+ Sâu ăn lá, rầy mềm, rầy chổng cánh, rệp sáp và sâu đục trái: Trong
vườn chọn ngẫu nhiên 5 cây, mỗi cây điều tra 4 điểm theo 4 hướng, trên cây tạimỗi điểm chọn một cành có độ dài khoảng 50 cm và đếm toàn bộ số sâu ăn lá,rầy mềm, rầy chổng cánh, rệp sáp và sâu đục trái hiện diện trên cành
+ Tỷ lệ nhiễm sâu vẽ bùa, da lu và da cám: Tại mỗi điểm điều tra đếm số lá
bị hại trên tổng số 25 lá, tính ra phần trăm lá hại Đếm số trái bị nhiễm da lu và dacám (gây nên do nhện vàng và nhện đỏ) trên tổng số 10 trái cam quýt/điểm hay
10 trái bưởi/cây
2.9 Tổ chức hội thảo đầu bờ cho nông dân
Tổ chức cho nông dân tham quan các điểm mô hình trình diễn “Ứng dụng chế
phẩm sinh học B.b và M.a trong quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây có múi
và cây xoài” nhằm giới thiệu và quảng bá các chế phẩm sinh học mới này Để bàcon đã thực hiện mô hình giới thiệu phương pháp thực hiện mô hình, nhận xét vềkết quả thu nhận được và có so sánh với đối chứng Sau đó các nông dân sẽ thảoluận, trao đổi kinh nghiệm và đánh giá về kết quả các mô hình đã thực hiện Cán bộ
kỹ thuật đã trao đổi, thảo luận với bà con nông dân, phổ biến kinh nghiệm, kỹ thuật
và các kết quả đã đạt được để những nông dân chưa tham gia mô hình sẽ tiếp tụctình nguyện tham gia thực hiện mô hình
Trang 32CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều tra hiện trạng canh tác cây có múi và cây xoài, thành phần, mức
độ gây hại của một số sâu hại chính trên cam, quýt, bưởi, xoài và tình hình
sử dụng thuốc trừ sâu trên các cây trồng này tại những điểm chuẩn bị xây dựng mô hình.
Công tác điều tra hiện trạng canh tác cây có múi và cây xoài đã được thực
hiện tại 7 xã của 2 huyện Châu Thành và Châu Thành A Ba trăm phiếu điều tra
đã được phân bổ đều cho 7 xã, thể hiện trong bảng 5 Trong 7 xã đã được điềutra thì Phú Hữu A có diện tích trồng bưởi khá nhiều và tập trung, nên ở xã này
cả 43 phiếu đều được điều tra cho cây bưởi Thị trấn Ngã Sáu thì diện tích trồngxoài là chủ yếu, nên cả 43 phiếu đều được điều tra cho cây xoài Nhơn Nghĩa Athuộc huyện Châu Thành A thì diện tích trồng cam là chính nên cả 42 phiếuđược điều tra trên cây cam Còn lại 4 xã khác thì các phiếu điều tra được thựchiện cho từ 3 - 4 cây (bảng 4) Cây bưởi được trồng nhiều ở Châu Thành và tậptrung chủ yếu ở xã Phú Hữu A, sau đó là xã Phú Hữu Cây cam được trồngnhiều ở Châu Thành A và tập trung nhiều ở xã Nhơn Nghĩa A, kế đến là TânPhú Thạnh và Thạnh Xuân Cây quýt được trồng nhiều hơn ở Châu Thành A vàchủ yếu là ở Tân Phú Thạnh Cây xoài trồng tập trung ở Châu Thành và chủ yếu
là trồng ở thị trấn Ngã Sáu, kế đến là xã Đông Phước A
Bảng 5: Phân bổ phiếu phỏng vấn nông dân trồng cây ăn trái ở Châu Thành và Châu
Trang 33và thuốc trừ cỏ và lượng hoá chất trung bình sử dụng cho cây cam trung bình là0,5 kg/1.000 m2/năm, nhưng cây cam là cây thứ yếu ở Châu Thành; cây quýt thìchi phí thuốc trừ sâu cao gấp gần 5 lần chi phí thuốc trừ bệnh và cao gấp hơn 2lần chi phí thuốc trừ cỏ và lượng hoá chất trung bình sử dụng cho cây quýt trungbình là 0,7 kg/1.000 m2/năm, cây quýt là cây thứ yếu ở Châu Thành; đối với câyxoài thì chi phí thuốc trừ bệnh và thuốc trừ sâu rất cao và cao hơn rất nhiều lần
so với chi phí thuốc trừ cỏ, lượng hoá chất trung bình sử dụng cho cây xoàitrung bình là 3,4 kg/1.000 m2/năm
Bảng 6: Thông tin về chi phí và lượng hóa chất BVTV sử dụng trong 1 năm ở hộ sản
xuất cây ăn trái (1.000 m 2 )
Thuốc trừ sâu (đ)
Thuốc trừ bệnh (đ)
Hóa chất khác (đ)
Lượng hóa chất (kg/lít)
Khoảng dao động (kg/lít)
m2/năm; đối với cây xoài thì chi phí thuốc trừ sâu cao hơn chi phí thuốc trừ bệnh
và và cao gấp hơn 3 lần chi phí thuốc trừ cỏ và lượng hoá chất trung bình sửdụng cho cây xoài trung bình là 0,9 kg/1.000 m2/năm, lượng hóa chất sử dụngcho cây xoài ở Châu Thành A lại chỉ bằng gần 1/3 lượng hóa chất sử dụng chocây xoài ở Châu Thành là do xoài tại Châu Thành A còn nhỏ; Qua bảng 6 chothấy khi thâm canh cây bưởi, cây cam và cây quýt thì chi phí thuốc trừ sâu cao
Trang 34hơn hơn so với chi phí thuốc trừ cỏ và thuốc trừ bệnh Khi thâm canh cây xoàithì chi phí cho thuốc trừ bệnh và thuốc trừ sâu là rất cao và lượng thuốc hóa học
sử dụng cây xoài trung bình đã cao tới 34 lít/ha/năm
Kết quả điều tra ghi nhận ở bảng 7 cho thấy tại Châu Thành thì xoài làcây có số lần sử dụng thuốc trừ sâu cao nhất và trung bình là 8 lần/năm, kế đến
là cây bưởi được phun thuốc trừ sâu trung bình là 5 lần/năm, còn cam và quýtthì chỉ sử dụng thuốc trừ sâu là 3 lần/năm Tại huyện Châu Thành A thì cam làcây có số lần sử dụng thuốc trừ sâu cao nhất và trung bình là 6 lần/năm, kế đến
là cây quýt được phun thuốc trừ sâu trung bình là 5 lần/năm, xoài thì có số lầnphun thuốc trừ sâu trung bình là 4 lần/năm và bưởi thì chỉ cần phun trung bình là
3 lần/năm Từ kết quả này cho thấy rằng tại các địa phương thâm canh xoài nhưThị Trấn Ngã Sáu và xã Đông Phước A huyện Châu Thành nông dân đã sử dụngkhá nhiều thuốc trừ sâu để phun cho cây xoài, với hộ có số lần phun cao nhất lêntới 20 lần/năm (bảng 7)
Bảng 7: Thông tin về số lần sử dụng hóa chất BVTV ở hộ sản xuất cây ăn trái Huyện
Cây ăn trái
Số lần xịt thuốc trừ sâu/năm
Kết quả phiếu điều tra từ nông dân cho thấy là thành phần sâu hại chính
trên cây có múi tại Hậu Giang gồm có 7 loài: nhện đỏ, Panonychus citri; rầy mềm, Toxoptera spp.; rầy chổng cánh, Diaphorina citri; rệp sáp; sâu đục vỏ trái, Prays citri; sâu ăn lá, Papilio spp và sâu vẽ bùa, Phyllocnistis citrella Đa số
nông dân có nhận xét là trên cây cam có 2 loài côn trùng gây hại ở mức độ nặng
là rầy mềm và sâu vẽ bùa; trên cây bưởi thì rệp sáp là côn trùng gây hại ở mức
độ nặng; còn trên cây quýt thì chỉ có 1 loài côn trùng gây hại ở mức độ nặng làrầy mềm (bảng 8)
Trang 35Sâu hại Tên khoa học Tỷ lệ trả lời (%) Mức độ hại theo đánh
giá của nông dân
Sâu vẽ bùa Phyllocnistis
citrella
bình
Nặng Nhẹ
Kết quả điều tra, phỏng vấn nông dân cho thấy có 6 loài sâu hại xoài là:
Rầy bông, Idiocerus niveosparsus; sâu ăn bông, Thalassodes falsaria; sâu ăn lá, Penicillaria jocosatrix; sâu đục trái, Deanolis albizonalis; sâu tơ, Orthoga sp.
và bọ cắt lá, Deporaus marginatus Nhận xét của nông dân về mức độ thiệt hại
do côn trùng gây ra trên cây xoài thì ở giai đoạn ra hoa thì rầy bông, Idiocerus niveosparsus là đối tượng gây hại nặng nhất, ở giai đoạn này thì sâu ăn bông, Thalassodes falsaria cũng gây hại, nhưng chỉ ở mức độ trung bình Sâu đục trái, Deanolis albizonalis là đối tượng gây hại nguy hiểm nhất đối với cây xoài ở giai
đoạn đang ra trái (bảng 9)
Bảng 9: Nhận xét của nông dân về thiệt hại do côn trùng trên cây xoài
Tỷ lệ trả lời (%)
Mức độ thiệt hại
Thời điểm gây hại (tháng)
Vị trí hại trên cây
Sâu ăn bông Thalassodes falsaria 50 Trung bình 7, 11 Hoa Sâu ăn lá Penicillaria jocosatrix 55 Trung bình 1-12 Lá Sâu đục trái Deanolis albizonalis 91 Nặng 8, 12 Trái
3.2 Sản xuất chế phẩm B.b/M.a
Đã sử dụng các dòng nấm M.a và B.b có hoạt lực cao đối với sâu, rầy hại cây có múi, cây xoài và rệp sáp hại khóm như: M.a (TG4-RMCQ), M.a (OM2- B), B.b (OM1-R) B.b (TG7-R) để sản xuất chế phẩm M.a và B.b Trong thời gian
Trang 36thực hiện đề tài, với quy trình công nghệ đã cải tiến và khá hoàn thiện Bộ môn
chúng tôi đã sản xuất được 1355 kg chế phẩm M.a và B.b với chất lượng là 1,5-2 x
109 bào tử/gram (chủ yếu là chế phẩm nấm xanh M.a (OM2-B) (Ometar) chỉ có một số chế phẩm nấm trắng B.b (OM1-R) (Biovip) Ngoài ra còn sản xuất một số chế phẩm nấm xanh, M.a (TG4-RMCQ) và chế phẩm nấm trắng, B.b (TG7-R)
phục vụ cho các thí nghiệm và các mô hình ứng dụng chế phẩm trừ sâu sinh họctrong quản lý sâu hại cây có múi, cây xoài và cây khóm tại Hậu Giang Số chếphẩm sản xuất ra và đưa tới bà con nông dân đã vượt mức kế hoạch so với đềcương là 152 kg
3.3 Đánh giá hiệu lực sinh học của các mẻ chế phẩm B.b và M.a đã sản xuất
ra đối với rầy mềm và rầy chổng cánh hại cây có múi tại nhà lưới của bộ môn
Chúng tôi đã sản xuất rất nhiều mẻ chế phẩm nấm xanh M.a và nấm trắng,B.b trong hơn 2 năm thực hiện đề tài và tất cả các mẻ chế phẩm này đều đã đượckhảo nghiệm đối với rầy mềm và rầy chổng cánh hại cây có múi tại nhà lưới của
bộ môn Sau đây là kết quả khảo nghiệm của 4 mẻ chế phẩm đã được sản xuấttrong thời gian thực hiện đề tài
Kết quả khảo sát hiệu lực của các chế phẩm sinh học sản xuất trong mẻ I
được ghi nhận trong bảng 10 cho thấy chế phẩm nấm xanh M.a (TG4-RMCQ)
phân lập từ con RMCQ chết do nhiễm nấm xanh tự nhiên trên cây cam tại TG
có hiệu lực rất cao đối với RM hại cam quýt, hiệu lực của chế phẩm này làkhông khác biệt về mặt thống kê so với thuốc hóa học Actara vào 10 ngày sauphun và đạt 82,4% Chế phẩm nấm xanh Ometar cũng có hiệu lực khá cao đốivới RM hại cam quýt và không khác biệt về mặt thống kê so với chế phẩm nấm
xanh M.a (TG4-RMCQ) Hai chế phẩm nấm trắng Biovip và B.b (TG7-R) chỉ
có hiệu lực tương đối khá đối với rầy mềm cam quýt, vào 10 NSP chỉ đạt
62,8% và 64,1% tương ứng với Biovip và B.b (TG7-R) Chế phẩm nấm xanh sản xuất từ M.a (TG4-RMCQ) cũng có hiệu lực khá cao đối với RCC hại cam
quýt và hiệu lực của nó đối với RCC là không khác biệt về mặt thống kê so vớihiệu lực của chế phẩm Ometar vào 5 NSP và 10 NSP Cả hai chế phẩm nấmxanh đều tỏ ra có hiệu lực đối với RCC cao hơn so với 2 chế phẩm nấm trắng
Biovip và B.b (TG7-R).
Bảng 10: Hiệu lực sinh học của chế phẩm B.b và M.a (mẻ I) đối với rầy mềm và
rầy chổng cánh hại cam quýt (Viện lúa ĐBSCL, 2005)
Trang 37Kết quả đánh giá hiệu lực của các chế phẩm sinh học sản xuất trong mẻ II
được ghi nhận trong bảng 11 cho thấy chế phẩm nấm xanh M.a (TG4-RMCQ) có
hiệu lực khá cao đối với RM hại cam quýt, đạt 66,5% và 85,2% tương ứng với 5
NSP và 10 NSP Hiệu lực của chế phẩm nấm M.a (TG4-RMCQ) đối với RM hại
cam quýt là không khác biệt về mặt thống kê so với chế phẩm nấm xanh
Ometar Hai chế phẩm nấm trắng Biovip và B.b (TG7-R) chỉ có hiệu lực tương
đối khá đối với rầy mềm cam quýt, hiệu lực của phẩm nấm trắng Biovip đối với
RM cam quýt đạt 40,8% và 61,5% tương ứng với 5 NSP và 10 NSP; hiệu lực
của phẩm nấm trắng B.b (TG7-R) đạt 42,6% và 62,5% tương ứng với 5 NSP và
10 NSP Hiệu lực sinh học của 2 chế phẩm nấm trắng đối với RM cam quýt thấphơn một cách có ý nghĩa so với hiệu lực sinh học của 2 chế phẩm nấm xanh ở cả
2 lần quan sát
Chế phẩm nấm xanh sản xuất từ M.a (TG4-RMCQ) cũng có hiệu lực khá
cao đối với RCC hại cam quýt, đạt 63,2% và 75,4% tương ứng với 5 NSP và
10 NSP, hiệu lực cả 2 lần quan sát này của chế phẩm nấm xanh M.a
(TG4-RMCQ) không khác biệt về mặt thống kê so với hiệu lực của chế phẩm nấm
xanh Ometar Chế phẩm nấm trắng B.b (TG7-R) chỉ có hiệu lực tương đối khá
đối với rầy mềm cam quýt, đạt 42,6% và 62,5% tương ứng với 5 NSP và 10
NSP, hiệu lực của chế phẩm nấm trắng B.b (TG7-R) đối với rầy mềm cam quýt
ở cả 2 lần quan sát này đều không khác biệt về mặt thống kê so với hiệu lựccủa chế phẩm nấm trắng Biovip Cả hai chế phẩm nấm xanh đều có hiệu lựcđối với RCC hại cam quýt cao hơn một cách có ý nghĩa so với 2 chế phẩm của
nấm trắng Biovip và B.b (TG7-R) (bảng 11).
Bảng 11: Hiệu lực sinh học của chế phẩm B.b và M.a mới đối với rầy mềm và rầy
chổng cánh hại cam quýt (Viện lúa ĐBSCL, 2005)
Trang 38xanh M.a (TG4-RMCQ) có hiệu lực rất cao đối với RM hại cam quýt đạt 64,5%
và 88.5% tương ứng với 5 NSP và 10 NSP Đặc biệt hiệu lực chế phẩm nấm
xanh M.a (TG4-RMCQ) sản xuất đợt III này đối với RMCQ còn không khác biệt
về mặt thống kê so với hiệu lực của thuốc Actara vào 10 NSP Chế phẩm nấmxanh Ometar cũng có hiệu lực cao đối với RM cam quýt đạt 66,5% và 81,5%tương ứng với 5 NSP và 10 NSP Không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa
hiệu lực của chế phẩm nấm xanh M.a (TG4-RMCQ) và chế phẩm nấm xanh Ometar đối với RM cam quýt Hai chế phẩm nấm trắng Biovip và B.b (TG7-R)
chỉ có hiệu lực tương đối khá đối với RM cam quýt, đạt 63,6% và 66,4% tương
ứng với Biovip và B.b (TG7-R) vào 10 NSP Hiệu lực sinh học của 2 chế phẩm
nấm trắng đối với RM cam quýt thấp hơn một cách có ý nghĩa so với hiệu lựccủa 2 chế phẩm nấm xanh ở cả 2 lần quan sát
Chế phẩm nấm xanh M.a (TG4-RMCQ) cũng có hiệu lực khá cao đối
với RCC hại cam quýt và đạt 78,6% vào 10 NSP Hiệu lực của chế phẩm
M.a (TG4-RMCQ) đối với RCC là không khác biệt về mặt thống kê so vớihiệu lực của chế phẩm nấm xanh Ometar vào 5 NSP và 10 NSP Cả hai chế
phẩm nấm trắng Biovip và B.b (TG7-R) đều có hiệu lực không cao lắm đối
với RCC hại cam quýt: hiệu lực của chế phẩm nấm trắng Biovip đạt 47,8%
và 60,5% tương ứng với 5 NSP và 10 NSP; hiệu lực của chế phẩm nấm trắng
B.b (TG7-R) chỉ đạt 48,5% và 56,5% tương ứng với 5 NSP và 10 NSP Cảhai chế phẩm nấm xanh đều có hiệu lực sinh học đối với RCC cao hơn một
cách có ý nghĩa so với hiệu lực của 2 chế phẩm của nấm trắng Biovip và B.b
(TG7-R) (bảng 12)
Trang 39Bảng 12: Hiệu lực sinh học của chế phẩm B.b và M.a (mẻ III) đối với rầy mềm và rầy
chổng cánh hại cam quýt (Viện lúa ĐBSCL, 2006)
Kết quả đánh giá hiệu lực của các chế phẩm sinh học sản xuất trong mẻ
IV được ghi nhận trên bảng 13 cho thấy cũng tương tự kết quả khảo nghiệm của
3 mẻ chế phẩm trước, 2 chế phẩm nấm xanh M.a (TG4-RMCQ) và Ometar có
hiệu lực cao đối với RM cam quýt và cao hơn một cánh có ý nghĩa so với hiệu
lực của 2 chế phẩm nấm trắng Biovip và B.b (TG7-R) đối với RM cam quýt ở cả
2 lần quan sát Hiệu lực của chế phẩm nấm xanh M.a (TG4-RMCQ) và Ometar
đối với RM cam quýt là không khác biệt về mặt thống kê, đạt 82.4% và 78,2%
tương ứng với M.a (TG4-RMCQ) và Ometar vào 10 NSP Chế phẩm nấm trắng B.b (TG7-R) chỉ có hiệu lực tương đối khá đối với RM cam quýt, đạt 48,2% và
61,5% tương ứng với 5 NSP và 10 NSP Hiệu lực của chế phẩm nấm trắng B.b
(TG7-R) đối với RM cam quýt không khác biệt so với hiệu lực của chế phẩmnấm trắng Biovip ở cả 2 lần quan sát
Chế phẩm nấm xanh sản xuất từ M.a (TG4-RMCQ) cũng có hiệu lực khá
cao đối với RCC hại cam quýt và đạt 76,1% vào 10 NSP Hiệu lực của chế phẩm
nấm xanh M.a (TG4-RMCQ) đối với RCC là không khác biệt về mặt thống kê so
với hiệu lực của chế phẩm nấm xanh Ometar vào 5 NSP và 10 NSP Cả hai chếphẩm nấm xanh đều tỏ ra có hiệu lực đối với RCC cao hơn một cách có ý nghĩa
so với hiệu lực của 2 chế phẩm nấm trắng B.b (TG7-R) và Biovip (bảng 13).
Bảng 13: Hiệu lực sinh học của chế phẩm B.b và M.a (mẻ IV) đối với rầy mềm và rầy
chổng cánh hại cam quýt (Viện lúa ĐBSCL, 2006)
Hiệu lực (%)