Đề tài được thực hiện tại các phòng thí nghiệm và nhà lưới Trại Nghiên cứu và Thựcnghiệm Nông nghiệp- trường Đại học Cần Thơ từ tháng 11/2006-9/2007 và tại tỉnh Hậu Giang từ tháng 9/2006
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
DO NẤM Fusarium sp VÀ VI KHUẨN Ralstonia
solanacearum TẠI TỈNH HẬU GIANG
Cơ quan chủ trì: KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC
ỨNG DỤNG Chủ nhiệm đề tài: TS TRẦN THỊ BA
Trang 2HẬU GIANG-2010
I THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
1 Tên đề tài: Nghiên cứu và ứng dụng trồng dưa hấu, cà chua
ghép gốc chống bệnh héo rũ do nấm Fusarium sp và vi khuẩn Ralstonia solanacearum tại tỉnh Hậu Giang
Lĩnh vực: Nông nghiệp
2 Chủ nhiệm đề tài: Tiến sĩ Trần Thị Ba
3 Tổ chức chủ trì: Khoa Nông Nghiệp và Sinh học Ứng dụng,
trường Đại học Cần Thơ
Địa chỉ: Khu II, đường 3 tháng 2, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ
Số điện thoại: 07103 831 530/8313
5 Danh sách cán bộ tham gia chính:
2 ThS Võ Thị Bích Thủy Trường Đại học Cần Thơ
3 KS Nguyễn Thị Nghiêm Trường Đại học Cần Thơ
5 Thời gian đã được phê duyệt: tháng 11/2006- 12/2008
6 Thời điểm nộp báo cáo kết quả: tháng 7/2010
7 Kinh phí thực hiện: 120.000.000 đồng (Một trăm, hai mươi
triệu đồng)
Trang 3KẾT QUẢ THỰC HIỆN CỦA ĐỀ TÀI
1 Kết quả nghiên cứu
Sản xuất dưa hấu và cà chua trong mùa nóng, ẩm (tháng 5-10) ởnhững vùng đất thấp của đồng bằng sông Cửu Long thường rấtgiới hạn vì rủi ro cao Lượng mưa nhiều kết hợp với nước lũ dângcao tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh từ rễ phát triển làmgiảm năng suất nghiêm trọng, trong đó bệnh héo rũ do nấm
Fusarium oxysporum và bệnh héo tươi vi khuẩn Ralstonia solanacearum được xem là quan trọng nhất Đề tài được thực hiện
tại các phòng thí nghiệm và nhà lưới Trại Nghiên cứu và Thựcnghiệm Nông nghiệp- trường Đại học Cần Thơ từ tháng 11/2006-9/2007 và tại tỉnh Hậu Giang từ tháng 9/2006- 11/2007 nhằm xácđịnh: 1/ Những khó khăn trong sản xuất dưa hấu, cà chua và thuthập nguồn bệnh gây héo rũ dưa hấu và cà chua tại vùng sản xuất,2/ Gốc ghép có khả năng cho tỉ lệ cây sống cao sau khi ghép, 3/Gốc ghép có khả năng chống chịu bệnh héo rũ, 4/ Gốc ghép cókhả năng gia tăng sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái ởngoài đồng và 5/ Gốc ghép có khả năng gia tăng hiệu quả kinh tếcủa sản xuất dưa hấu và cà chua ghép
Kết quả cho thấy:
Trên dưa hấu: 1/ Điều tra hiện trạng canh tác dưa hấu thì khó
khăn lớn nhất mà nông dân gặp phải là sâu bệnh, trong đó bệnh
như héo rũ do Fusarium oxysporum gây thiệt hại nặng nhất Côn trùng có bọ trĩ (Thrips palmi) và sâu ăn tạp (Spodoptera litura) là
các đối tượng gây hại phổ biến và khó phòng trị nhất, chủ yếu là
sử dụng thuốc hóa học Trong số 230 chủng nấm gây bệnh héo rũ
đã được phân lập, chủng F1 hiện diện ở 87% và chủng F2 hiện diện
ở 91% ruộng bệnh trong các vùng điều tra Hai chủng nấm này đãđược chọn và nhân mật số để sử dụng làm nguồn chủng bệnhnhân tạo trong các thí nghiệm về khả năng chống chịu bệnh héo
rũ của các gốc ghép 2/ Khả năng cho tỉ lệ cây sống của ngọnghép dưa hấu Thành Long TN 522 đối với các gốc ghép bầu Nhật
và bí Nhật như nhau, dao động từ 82- 96% 3/ Về khả năng giảm
bệnh héo rũ do nấm trên dưa hấu ở thí nghiệm trong nhà lưới, tất
cả các gốc ghép bầu và bí đỏ đều ít nhiễm bệnh hoặc chống chịu
3
Trang 4bệnh tốt hơn dưa hấu không ghép F1 Thành Long Đặc biệt, gốcghép Bí đỏ Nhật đã hoàn toàn không bị hai chủng nấm F1 và F2 tấncông qua các giai đoạn Chủng nấm F1 của Fusarium oxysporum
tỏ ra có khả năng gây hại mạnh hơn chủng nấm F2 4/ Khả năngsinh trưởng của các gốc bầu Nhật 3 và bầu địa phương tốt, bíNhật và đối chúng không ghép cho sự sinh trưởng kém nhất Dưa
hấu ghép gốc bầu Nhật 3 có trọng lượng trung bình trái, năng suất
thực tế (20,7 tấn/ha), năng suất thương phẩm, cao hơn bầu địaphương, bí Nhật và đối chứng không ghép (năng suất thương
phẩm 12,2 tấn/ha) Dưa hấu ghép gốc bầu Nhật 1, 2, 3 và Bầu địa
phương có độ Brix từ 8,3-8,6% trong khi ghép gốc Bí Nhật và đốichứng không ghép là 7,1 và 7,3% 5/ Hiệu quả kinh tế của sảnxuất dưa hấu ghép trên gốc bầu Nhật 3 cho lợi nhuận cao (46,75triệu đồng/ha) với tỷ suất lợi nhuận là 1,7, đối chứng không ghép
là 1,2
Trên cà chua: 1/ Điều tra hiện trạng canh tác cà chua cho thấy
diện tích trồng cà chua đã giảm nhiều, chỉ còn trồng rải rác Khó
khăn chủ yếu là bệnh héo tươi do vi khuẩn Ralstonia solanacearum và khảm do virus Bên cạnh đó, giá cả không ổn
định và thiếu kỹ thuật cũng gây nhiều trở ngại Trong số 120chủng vi khuẩn gây bệnh héo tươi đã được phân lập, hai chủng V1
và V2 đều hiện diện ở 92% ruộng bệnh trong các vùng điều tra.Hai chủng vi khuẩn này đã được chọn và nhân mật số để sử dụnglàm nguồn chủng bệnh nhân tạo trong các thí nghiệm về khả năngchống chịu bệnh héo tươi của các gốc ghép 2/ Khả năng sống củacây cà chua RC 250 trên các gốc ghép cà chua HW 96 và Đà Lạt,
cà tím EG 203 và Mustang, cà xanh EG 195 và Địa phương, cànâu TN 78A đều cao, tỉ lệ cây sống sau khi ghép trên 80% ở giaiđoạn chuẩn bị trồng ra đồng (15 ngày sau khi gieo) 3/ Khả chống
chịu bệnh héo tươi: hai gốc ghép cà tím EG 203 và cà tím F1Mustang hoàn toàn không nhiễm bệnh héo tươi ở các thí nghiệmtrong nhà lưới, trong khi không ghép đã nhiễm bệnh từ nặng đếnrất nặng Thí nghiệm ngoài đồng cho thấy gốc ghép EG 203 tỏ ranổi bật về khả năng rất kháng bệnh héo tươi , còn gốc ghép càchua HW 96 thì có mức độ kháng và gốc ghép cà chua Đà Lạt thì
Trang 5hơi kháng; trong khi cà chua RC 250 (không ghép) bị nhiễm bệnhnặng Chủng vi khuẩn có khả năng gây bệnh nặng nhất là chủng
V1 4/ Về khả năng sinh trưởng của cây cà chua RC 250 trên gốcghép cà chua HW 96 và Đà Lạt trong nhà lưới trên nền đất nhiễmbệnh tốt có khác biệt so với các gốc ghép còn lại Kết quả ngoàiđồng, các gốc ghép cà chua sinh trưởng tốt so với EG 203 Trongnhà lưới (nền đất nhiễm bệnh), cà chua RC 250 trên gốc ghép EG
195 và Đà Lạt cho năng suất thực tế dao động từ 44,70- 44,93 tấn/
ha, cao gấp 5 lần so với đối chứng và cao hơn các gốc ghép còn
lại từ 1,1-1,73 lần Ngoài đồng, các gốc ghép cà chua Đà Lạt, HW
96 và cà tím EG 203 cho năng suất thực tế dao động từ 24,42 tấn/ha, cao gấp hơn 4,78-5,51 lần so với đối chứng Chấtlượng cà chua ghép và không ghép đều tương đương về độ cứngtrái đạt, độ dày thịt quả, độ Brix, hàm lượng Vitamin C và hàm
20,07-lượng chất khô/trái 5/ Tỉ suất lợi nhuận của gốc ghép từ
0,71-1,08 trong khi đối chứng (không ghép) lỗ 18,6 triệu đồng/ha, tỉsuất lợi nhuận âm 0,5
2 Các sản phẩm khoa học
Báo cáo về nghiên cứu và ứng dụng trồng dưa hấu, cà chua ghép
gốc chống bệnh héo rũ do nấm Fusarium oxysporum và bệnh héo tươi do vi khuẩn Ralstonia solanacearum và một đĩa CD
Tổ chức 2 lần hội thảo kết hợp với tập huấn cho hơn 100 lượtnông dân và cán bộ khuyến nông địa phương ở Phụng Hiệp vàLong Mỹ về “Kỹ thuật trồng cà chua ghép gốc” và “Kỹ thuậttrồng dưa hấu ghép gốc”
Xây dựng được quy trình ghép và trồng cây ghép trên dưa hấu và
cà chua có khả năng chống chịu được bệnh héo rũ trên nấm
Fusarium oxysporum bệnh héo tươi do vi khuẩn Ralstonia solanacearum
Đề tài đã góp phần đào tạo 01 thạc sĩ và 05 kỹ sư
Kết quả của đề tài được đăng 3 bài trên Tạp chí Khoa học trườngĐại học Cần Thơ
5
Trang 6MỞ ĐẦU
Dưa hấu cho hiệu quả kinh tế cao (10-20 triệu đồng/ha/vụ), rấtphù hợp chế độ luân canh trên nền đất lúa, có diện tích canh táchàng năm lớn nhất trong nhóm rau (khoảng 20.000 ha) Cà chuacũng là loại rau có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao Cả haiđều rất thích hợp canh tác trên nền đất lúa ở Vùng đồng bằngsông Cửu Long (ĐBSCL) và đều bị thiệt hại nặng nề do bệnh phát
sinh từ trong đất, tác nhân gây hại chính là nấm Fusarium oxysporum và vi khuẩn Ralstonia solanacearum sống trong đất
gây ra, bệnh phát triển và gây hại nặng làm chết cây hàng loạt cónơi đến 100% trong mùa mưa Bệnh héo tươi hiện nay chưa cóthuốc đặc trị và giống kháng bệnh Trung tâm nghiên cứu rauchâu Á (AVRDC) đã tìm ra biện pháp ghép ngọn cà chua với cácgốc ghép khác nhau như cà tím và cà chua làm tăng khả năngchống chịu tốt với bệnh héo tươi và cho năng suất cao, chất lượngtrái đạt yêu cầu và thị hiếu người tiêu dùng
Ở Việt Nam chỉ có vùng Phú Tâm (Sóc Trăng) áp dụng kỹ thuậtghép gốc trong sản xuất đại trà (Dương Văn Hưởng, 1990) và gốcghép Bầu Sao được chọn làm gốc ghép vì tăng trưởng mạnh, thích
nghi rộng và dễ để giống (Trần Thị Ba và ctv., 1999) Cà chua
ghép gốc được thực hiện từ năm 1999 tại Viện nghiên cứu RauQuả Hà Nội (Lê Thị Thủy, 2000), Viện Khoa học Kỹ thuật Nôngnghiệp Miền Nam năm 2000- 2003 Mặc dù đã có một vài nghiêncứu về dưa hấu và cà chua ghép đã được thực hiện ở Việt Nam,nhưng chưa có công trình nghiên cứu được đưa vào ứng dụng ởĐBSCL, đặc biệt ở Hậu Giang, nơi có diện tích canh tác rau khálớn, đang đương đầu với nhiều khó khăn đối với bệnh héo rũ Mục tiêu đề tài nhằm xác định: (1) Điều tra tìm hiểu những khókhăn trong sản xuất dưa hấu, cà chua và thu thập nguồn bệnh tạivùng sản xuất, (2) Gốc ghép có khả năng cho tỉ lệ cây sống caosau khi ghép, (3) Gốc ghép có khả năng chống chịu bệnh héo rũ
và héo tươi, (4) Gốc ghép có khả năng gia tăng sinh trưởng, năngsuất và chất lượng trái và (5) Hiệu quả kinh tế của sản xuất dưahấu và cà chua ghép
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Bệnh héo rũ trên dưa hấu
Bệnh héo rũ do nấm Fusarium oxysporum f sp niveum là một trong
những bệnh gây hại quan trọng trong canh tác dưa hấu vào thế kỷ 19tại Mỹ (Egel and Marty, 2007)
Theo Trần Văn Hai và ctv (2005), bệnh thường xảy ra ở giai đoạn
cây có trái non trở về sau Trong thực tế sản xuất, bệnh thườnggây chế cây vào giai đoạn dưa đã đậu trái Ở vị trí gốc thân, vếtbệnh màu nâu hoặc xám nhạt bao quanh gốc, gây hiện tượng thốikhô tóp lại Cắt ngang phần trên mô bị bệnh thấy bó mạch màunâu xám, thường trên vết bệnh có bao phủ lớp nấm trắng thưa
Cây bị nhiễm nấm F oxysporum bộ rễ phát triển kém, rễ bị thối
dần (Nguyễn Văn Viên và Đỗ Tấn Dũng, 2003)
1.2 Bệnh héo tươi trên cà chua
Bệnh héo tươi trên cà chua đã được xác định do vi khuẩn
Ralstonia solanacearum được mô tả lần đầu tiên năm 1896, có
độc tính gây độc rất mạnh đối với rễ cây trong điều kiện canh tácngoài đồng (Nguyễn Thị Nghiêm, 2006) Vi khuẩn gây bệnh héophát triển mạnh trong phạm vi pH từ 6-8, pH thích hợp nhất là6,8-7,2 (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
Triệu chứng bệnh đầu tiên của cây nhiễm bệnh thể hiện trên lá non,
lá có triệu chứng mềm nhũn, cây héo rũ xuống vào lúc trời nắngnóng trong ngày Những hệ thống mạch trong thân sẽ đổi thành màunâu và khi cắt xéo đoạn thân cây để vào ly nước thì thấy những dòng
vi khuẩn màu trắng hoặc màu vàng sáng tuôn ra Theo Vũ TriệuMân và Lê Lương Tề (1998); Trần Kim Cương (2003a) đều chorằng tỉ lệ bệnh héo tươi phát triển mạnh trong giai đoạn cây con,sau đó tăng dần và đạt cao nhất ở giai đoạn ra hoa và trái non(khoảng 45-50 ngày sau khi trồng), đây là giai đoạn mẫn cảmnhất của cà chua đối với bệnh héo tươi dẫn đến làm giảm năngsuất cà chua nghiêm trọng nhất
Theo Granada and Sequeira (1981) và Kelman et al (1994) cho
rằng việc luân canh từ 1-2 năm có làm giảm mật số vi khuẩn gâyhại trong đất nhưng không mang lại hiệu quả do vi khuẩn có phổ
7
Trang 8ký chủ rộng Hiện nay chưa có giống cà chua kháng bệnh héotươi, do đó việc sử dụng gốc ghép có khả năng kháng bệnh, chịuđược ngập úng trong mùa mưa và nhiệt độ cao trong mùa khô đưavào sản xuất có ý nghĩa rất lớn
1.3 Một số kết quả nghiên cứu về dưa hấu và cà chua ghép
Nhờ việc sử dụng giống bầu (Cucurbita ficifolia) làm gốc ghép
cho cây dưa hấu mà diện tích dưa hấu ở Nhật Bản tăng 59% năm
1930 so với năm 1929 Theo Nichols (2007) đến năm 2000 NhậtBản thì diện tích trồng dưa hấu ghép chiếm 92% diện tích trồngngoài đồng, 98% diện tích trồng trong nhà lưới Còn ở Hàn Quốcthì tỷ lệ trồng dưa hấu ghép là 90% ngoài đồng và 98% diện tíchtrồng trong nhà lưới Ở nước ta chỉ có vùng Phú Tâm (Sóc Trăng)
áp dụng kỹ thuật này trong sản xuất đại trà (Phạm Hồng Cúc,2007) Ở nước ta Bầu Sao được chọn làm gốc ghép vì tăng trưởng
có khả năng kháng bệnh héo tươi cao Ở Việt Nam việc nghiêncứu ghép cà chua bắt đầu năm 1998 tại Viện Nghiên Cứu RauQuả Hà Nội với mục đích làm giảm bệnh héo tươi do vi khuẩn,
nấm, tuyến trùng Meloidogyme incognita hại rễ và tăng khả năng
chịu ngập úng, sau đó đã mở rộng ra các tỉnh ở Hải Phòng, BắcGiang, Hà Nội, Thái Bình, Vĩnh Phúc…
1.7 Một số ưu và khuyết điểm của dưa hấu, cà chua ghép
Giảm được tác hại của vi khuẩn gây bệnh héo tươi (Rivard,2006), hạn chế việc sử dụng thuốc hóa học Trồng cà chua ghépgốc cà tím trong mùa khô và ẩm ướt giúp hạn chế những bệnh có
Trang 9nguồn gốc từ đất và có khả năng chịu úng khi ngập nước trong vài
ngày (Augustin et al., 2002; Poffley, 2003) Gốc ghép còn có khả
năng chống chịu mặn ở nồng độ NaCl trong đất (60 mM)
(Fernandez et al., 2004)
Giá thành cây ghép cao hơn so với cây không ghép và thời giansinh trưởng của cây ghép lâu hơn cây trồng trực tiếp từ 1-2 tuần.(Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng., 2006) Gốc bầu hút phân
và nước mạnh nên lớn nhanh hơn thân dưa, làm vết ghép mởrộng, thân dưa rớt khỏi gốc bầu Cà chua ghép có giá thành đắthơn không ghép do chi phí ghép, hạt giống làm gốc ghép và công
tỉa chồi dại (Trần Thị Ba và ctv., 2008).
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Phương tiện
Thời gian: từ tháng 11/2006 - 11/2008
Địa điểm: Phòng thí nghiệm, nhà lưới, huyện Long Mỹ, Phụng
Hiệp, tỉnh Hậu Giang
Vật liệu:
+ Dưa hấu: F1 Thành Long làm ngọn ghép, gốc ghép (bầu Nhật 1,bầu Nhật 2, bầu Nhật 3, bí đỏ Nhật (nguồn gốc từ công ty giốngKurume, Nhật Bản), bầu thước địa phương và bí đỏ địa phương.+ Cà Chua: F1 Red crown 250 làm ngọn ghép, Gốc ghép gồm:
1 Cà tím Hà Nội: công ty giống cây trồng Hà Nội cung cấp.
2 Cà tím EG 203: TT Nghiên cứu và Phát triển rau Á Châu
3 Cà tím Mustang: công ty liên doanh hạt giống Đông Tây
4 Cà nâu TN 78A: công ty giống cây trồng Trang Nông
5 Cà xanh EG 195: TT Nghiên cứu và Phát triển rau Á Châu
6 Cà xanh địa phương: nhóm cà phổi, do nông dân tự để giống
7 Cà chua HW 96: TT Nghiên cứu và Phát triển rau Á Châu
8 Cà chua Đà Lạt: cung cấp cây ghép phục vụ sản xuất chonông dân ở Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
9
Trang 102.2 Phương pháp
* Cây dưa hấu
- Điều tra và thu thập nguồn bệnh tại vùng sản xuất dưa hấu
- Thí nghiệm trong phòng thí nghiệm, nhà lưới Khoa Nông nghiệp
& SHỨD và huyện Long Mỹ, Hậu Giang
(1) Đánh giá khả năng tương thích của dưa hấu Thành Long ghép
trên các gốc ghép bầu bí, thí nghiệm được bố trí theo thể thức
hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 6 nghiệm thức (là 5 loại gốc ghép và 1đối chứng), với 5 lần lặp lại
(2) Đánh giá khả năng chống chịu bệnh héo rũ của cây dưa hấu
không ghép và các giống làm gốc ghép bầu và bí đối với chủng
nấm Fusarium oxysporum được phân lập từ tỉnh Hậu Giang và
trồng trong môi trường đất sạch; thí nghiệm được bố trí theo thể
thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên thừa số 2 nhân tố với 3 lần lặp lại: Nhân tố thứ nhất là gốc ghép (5 loại gốc ghép khác nhau ở thínghiệm 1 hoặc 6 loại gốc ghép khác nhau ở thí nghiệm 2 và 1 đốichứng không ghép) tương tự như thí nghiệm đánh giá khả năngtương thích của các gốc ghép
Nhân tố thứ hai là chủng nấm Fusarium oxysporum gây bệnh
héo rũ được phân lập từ tỉnh Hậu Giang, gồm 2 chủng nấm (F1 và
F2) và 1 đối chứng không chủng bệnh (F0)
(3) Đánh giá khả năng chống chịu bệnh héo rũ trên dưa hấu củanhững dòng ghép tương thích ngoài đồng Thí nghiệm được bố trítheo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 6 nghiệm thức (5 loạigốc ghép bầu, bí và 1 đối chứng không ghép
* Cây cà chua
- Điều tra và thu thập nguồn bệnh tại vùng sản xuất cà chua
- Thí nghiệm trong phòng thí nghiệm, nhà lưới Khoa Nông nghiệp
& SHỨD và huyện Phụng Hiệp, Hậu Giang
(1) Đánh giá khả năng sống của cà chua F1 RC 250 ghép trên cácloại gốc ghép khác nhau Thí nghiệm bố trí theo thể thức hoàntoàn ngẫu nhiên với 9 nghiệm thức (8 loại gốc ghép và đối chứng
cà chua RC 250 không ghép) với 3 lần lặp lại:
Trang 11(2) Đánh giá khả năng chống chịu bệnh héo tươi của các giống làmgốc ghép cà chua, cà tím, cà xanh và cà nâu với chủng vi khuẩn
Ralstonia solanacearum được phân lập tại tỉnh Hậu Giang trồng
trong môi trường đất sạch Thí nghiệm được bố trí theo thể thứckhối hoàn toàn ngẫu nhiên thừa số 2 nhân tố với 3 lần lặp lại: Nhân tố thứ nhất là gốc ghép (8 loại gốc ghép khác nhau và 1đối chứng không ghép)
Nhân tố thứ hai là các chủng vi khuẩn Ralstonia solanacearum
gây bệnh héo tươi được phân lập từ tỉnh Hậu Giang (chủng V1,chủng V2 và 1 đối chứng V0 không chủng bệnh)
(3) Đánh giá khả năng chống chịu bệnh héo tươi của các giốnglàm gốc ghép cà chua, cà tím, cà xanh và cà nâu trong môi trườngnền đất tự nhiên đã nhiễm bệnh héo tươi Bố trí thí nghiệm theothể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên một nhân tố với 9 nghiệmthức (8 giống gốc ghép và một gốc đối chứng không ghép)
(4) Đánh giá khả năng chống chịu bệnh héo tươi trên cà chua củanhững dòng ghép tương thích ngoài đồng Bố trí thí nghiệm theothể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 4 nghiệm thức (3 loạigốc ghép được chọn ra từ những thí nghiệm trước và 1 đối chứng)
2.2.2 Phương pháp ghép
* Ghép ngọn/dưa hấu theo qui trình của Trần Thị Ba (Hình 2.1).
Hình 2.14 Kỹ thuật ghép dưa hấu: (a) ngắt bỏ lá thật của gốc ghép bầu bí, (b)
ghim que lược sừng vào gốc ghép bầu bí, (c) cắt bỏ phần gốc thân của ngọn ghép dưa hấu và (d) ấn ngọn ghép dưa hấu vào vị trí đặt dao ghép trên thân bầu bí.
11
Trang 12* Ghép nối ống cao su/cà chua
Sử dụng phương pháp ghép nối ống cao su theo quy trình củaTrung tâm nghiên cứu và phát triển Rau Á châu (Hình 2.2)
Hình 2.2 Kỹ thuật ghép nối ống cao su: (a) cắt bỏ ngọn của cây sử dụng gốc
ghép, (b) cắt ngọn ghép của cây cà chua RC 250, (c) ấn ống cao su vào ngọn ghép, (d) ấn ống cao su đã mang ngọn ghép vào gốc ghép.
2.2.3 Phương pháp chủng bệnh nhân tạo: tiến hành khi cây
ghép ở thời điểm 15 NST với các chủng nấm Fusarium oxysporum/ dưa hấu và vi khuẩn Ralstonia solanacearum/ cà
chua được phân lập từ mẫu cây nhiễm bệnh ngoài đồng Lâynhiễm bệnh nhân tạo theo phương pháp của Kelman và Winstead(1952)
2.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Các chỉ tiêu sinh trưởng, bệnh héo tươi, năng suất, một số chỉ tiêuphẩm chất trái và hiệu quả kinh tế của các gốc ghép
Sử dụng phần mềm SPSS để phân tích thống kê
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều tra hiện trạng canh tác dưa hấu
Trong vùng điều tra có đến 8 loại bệnh thường xuất hiện, quantrọng nhất là các bệnh gây héo và chạy dây Nông dân trồng dưahấu đã sử dụng thuốc trừ sâu rất đa dạng, rất nhiều loại thuốc trừbệnh Các hộ đều nhận định rằng phun thuốc có hiệu quả phòngtrừ bệnh nhưng đối với triệu chứng chạy dây thì 18% số hộ ở VịThủy cho rằng hiệu quả của thuốc ít hơn 60% Điều này cho thấymột khi dưa bị chạy dây thì sẽ rất khó trị, nhất là chạy dây do
Trang 13bệnh héo tươi Một hạn chế rất lớn của nông dân là chưa phân biệtđược các nguyên nhân làm chạy dây dưa hấu
3.2 Khả năng tương thích của gốc ghép bầu bí/ngọn ghép dưa hấu
Hình 3.3 và Phụ chương 3 cho thấy không có sự khác về tỉ lệ sốngsau khi ghép của cây dưa hấu trên các gốc ghép khác nhau ở giaiđọan 5 NSGh Ở giai đoạn 10 ngày sau khi ghép thì có sự khácbiệt về tỉ lệ sống sau khi ghép giữa các gốc ghép khác nhau, caonhất là gốc ghép bầu Nhật 1, bầu Nhật 2, bầu Nhật 3, bầu Địaphương và bí Nhật tỉ lệ sống dao động (76,77-94,00%) và thấpnhất là bí Địa phương (58,40%)
85.70
94.00 80.93 a 76.77 ab
3.3 Tỉ lệ bệnh héo rũ dưa hấu do nấm Fusarium oxysporum
Giai đoạn 49 NST (35 NSC): Tỉ lệ bệnh trung bình tiếp tục tăng
cao ở nghiệm thức không ghép và khác biệt rất có ý nghĩa so vớitất cả các gốc ghép Kết quả này cũng được thể hiện ở các nghiệmthức có chủng nấm F1 nhưng chỉ ở mức ý nghĩa 5% (Bảng 3.13).Đến giai đoạn này, mầm bệnh đang trong thời điểm tăng trưởngnhảy vọt theo quy trình phát triển của vi sinh vật nên đã có đủđiều kiện gây hại nặng hơn đối với nghiệm thức đối chứng khôngghép, nhất là gặp điều kiện cây đang chuyển sang giai đoạn sinhsản, tương đối dễ mẫn cảm với mầm bệnh nhiều hơn nên bệnh
13