1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cải thiện tầm vóc và chất lượng bò thịt, nâng cao hiệu quả chăn nuôi và thu nhập cho người dân

44 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 6,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể là: - Đây là vấn đề thời sự của chăn nuôi bò: thiếu giống bò thịt năng suất cao và chất lượng thịt tốt, đặc biệt cần thiết ở những vùng cần đa dạng hoá vật nuôi hoặc không có điều

Trang 1

BÁO CÁO KHOA HỌC

MỠ ĐẦU

Tỉnh Hậu Giang có tổng diện tích đất là 160.772,49 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 137.684,79 ha (đất trồng cây hàng năm là lúa, màu; và cây hàng năm khác là 106.764,29 ha) Đàn bò đến năn 2005 là 2.486 con Vì có diện tích đất nông nghiệp rất lớn nên có nhiều phụ phế phẩm nông nghiệp, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển ngành chăn nuôi gia súc nhai lại nói chung và chăn nuôi bò nói riêng.

Xuất phát từ những điều kiện thực tiễn thuận lợi trên, chủ trương của tỉnh là phát triển đàn bò theo hướng thịt Nên việc sản xuất giống bò thịt lai Droughtmaster từ bò cái nền lai Sind và bò cái ta tại tỉnh Hậu Giang là phù hợp, nhằm cải thiện tầm vóc và chất lượng thịt, nâng cao hiệu quả chăn nuôi và thu nhập cho người dân Cụ thể là:

- Đây là vấn đề thời sự của chăn nuôi bò: thiếu giống bò thịt năng suất cao và chất lượng thịt tốt, đặc biệt cần thiết ở những vùng cần đa dạng hoá vật nuôi hoặc không có điều kiện nuôi bò sữa, những vùng thiếu điều kiện kỹ thuật, hoặc thiếu vốn chăn nuôi.

- Là vấn đề chưa được nghiên cứu trong nước nhằm:

+ Xác định khả năng phát triển bò thịt từ bò ta không thông qua bò lai Sind.

+ Khả năng phát triển của thai bò lai.

+ Khả năng tăng trưởng và thích nghi của bò thịt lai.

Trang 2

50% Bos indicus (dòng nhiệt đới) Tuy nhiên, có thể tăng tỉ lệ máu Bos indicius lên, tuỳ vào môi trường.

1.1.2 Phân bố

Giống bò này phân bố suốt các bang nội địa Úc, số lượng lớn nhất tập trung ở giữa Cape York và biên giới New South Wales Nhiều chuyến tàu đã được xuất khẩu đi các nước Đông Nam Á cũng như Nigeria, Pakistan và một số đảo Nam Thái Bình Dương

1.1.3 Đặc tính giống

Bò cơ bản màu đỏ, biến động từ màu mật đến màu đỏ sậm Có thể có sừng hoặc không Tai kích cỡ trung bình đến lớn, yếm thòng và u vai trung bình Droughtmaster là giống bò tầm vóc từ trung bình đến lớn khi vừa trưởng thành Chiều dài cơ thể tốt, bộ lông bóng mượt, và nổi tiếng về khả năng thụ tinh cao, đẻ con dễ và nuôi con tốt trong điều kiện khắc nghiệt Tỉ

lệ thịt cao Tính khí trầm lặng, chăn thả tốt, đề kháng tốt với bệnh chướng hơi, chịu được nhiệt độ cao và ve.

1.1.4 Tính thích nghi

Bò thích nghi với nhiều môi trường sống khác nhau, cho năng suất đáng tin cậy và ổn định Vì thế, bò phát triển đàn và vẫn được nhân giống, chọn lọc hiện nay.

Tính thích nghi tuyệt vời của Droughtmaster có chủ yếu từ các đặc điểm:

 Chịu được nhiệt độ cao do:

- Bộ lông ngắn bóng mượt.

- Số lượng và kích cở tuyến mồ hôi lớn.

- Có vùng da tự do lớn (da lỏng lẻo).

- Tốc độ biến dưỡng trung bình

 Đề kháng với ký sinh trùng Mặc dù ban đầu được tạo ra nhằm đề kháng với các loại ve, bò Droughtmaster gần đây đề kháng với hầu hết nội, ngoại ký sinh Do:

- Chất tiết của tuyến mồ hôi có tác động xua đuổi côn trùng.

- Bộ lông ngắn, bóng tránh được sự bám của các ngoại ký sinh.

- Có đáp ứng miễn nhiễm đối với nội,ngoại ký sinh.

 Có đặc tính di truyền vẫn tăng trưởng và sinh sản khi dưỡng chất

ít nhờ có hệ tiêu hóa tốt kết hợp với khả năng chăn thả tuyệt vời do:

- Dạ dày thứ nhất nhỏ.

- Tốc độ biến dưỡng trung bình làm cho nhu cầu thức ăn thấp.

- Tái sử dụng dưỡng chất thông qua đường máu.

- Tiêu thụ nước ít làm sản sinh nitrogen nhiều hơn.

- Tốc độ quay vòng protein chậm cho phép vẫn phát triển khi dưỡng chất thấp.

Trang 3

Các yếu tố này làm cho bò Drouhtmaster có hiệu quả chuyển hóa thức ăn lớn hơn là đặc tính quan trọng cả đến khi cung cấp đầy đủ dưỡng chất.

Cấu trúc đặc biệt của ruột làm bò đề kháng với chướng hơi, là một lợi điểm khi chăn thả vào mùa cỏ đậu phát triển tốt.

Bò nổi tiếng về đặc tính dễ huấn luyện

Đặc điểm sinh đẻ dễ giúp người nuôi không phải can thiệp, đỡ mất thời gian và chi phí quản lý, tỉ lệ loại thải bò sinh sản thấp.

- Thích hợp để lai tạo với các dòng đực tăng trưởng nhanh.

- Bò đực Droughtmaster truyền cho con đặc tính quan trọng là hình dáng bê và trọng lượng sơ sinh thấp khi sử dụng với các giống khác Cái F1 sinh ra có đặc tính làm bò nền hiệu quả, rất thích hợp khi phối với các dòng đực tăng trưởng nhanh.

Màu đỏ của bò giúp bò chống được tác động có hại của tia nắng mặt trời giúp bò ít bệnh mắt và mẫn cảm với ánh sáng Mắt sâu hoặc mắt có vành che giúp bò giảm bị thương mắt cũng như giảm tỉ lệ bò hư mắt và mắt đỏ.

Khả năng thích nghi với môi trường bất lợi làm bò nổi tiếng về tính chịu đựng khó khăn được các nhà chăn nuôi trên thế giới ghi nhận, và tinh, phôi, bò đã được xuất sang Á châu, Phi châu, Papua New Guinea, Nam Phi, châu Mỹ la tinh, các đảo Thái Bình Dương và Trung Đông.

1.1.5 Khả năng thụ tinh tốt

Điều quan trọng duy nhất của sản xuất bò thịt là khả năng thụ tinh.

Dù các đặc tính khác cũng quan trọng, đặc tính tuyệt đối là bò phải

đẻ được bê và nuôi bê đến trọng lượng cai sữa chấp nhận được trong các điều kiện môi trường và quản lý phổ biến.

Khả năng thụ tinh, cao ổn định.

Tỉ lệ bê cai sữa cao.

Sinh sản: Để có sự sinh sản tối hảo, bò mẹ và bò cha đều phải có

(2) Đẻ con dễ

Nhờ cấu trúc xương chậu di truyền từ bò Bos indicus, hình dáng

bê và trọng lượng sơ sinh thấp; là lợi điểm quan trọng khi dùng trong các chương trình lai chéo với các đực tăng trưởng nhanh.

(3) Nuôi con tốt

Bản năng làm mẹ mạnh mẽ: bò mẹ giữ con, bảo vệ con chống địch hại và chăm sóc con chống với các điều kiện bất lợi.

Trang 4

(4) Khả năng cho sữa

Đặc tính tốt sữa của bò Shorthorn được truyền cho Droughtmaster, giúp bò nuôi được con cai sữa trọng lượng cao, mặc dù trọng lượng sơ sinh thấp.

Bò cũng được dùng ở các vùng nhiệt đới để cải thiện đặc tính thân thịt và năng suất nhờ có được các đặc tính di truyền của Droughtmaster, ngoài ưu thế lai.

Bò cái F1 (50% máu Droughtmaster) là bò cái nền rất tốt, hiệu quả nhất khi dùng phối với đực tăng trọng nhanh.

Hiệu quả thức ăn

Hệ thống tiêu hóa duy trì thấp, độc đáo của bò phát sinh từ Bos indicus, giúp bò có khả năng chuyển hóa thức ăn cao, hiệu quả kinh tế lớn.

Trang 5

Thân thịt

- Thân thịt nhiều cơ với lớp mỡ tối hảo Tỉ lệ thịt xẻ 58%.

- Có gốc Shorthorn, nên đặc điểm vân thịt thuộc loại tốt nhất trong

các dòng bò lai Bos indicus

- Tính tình hiền làm màu thịt và pH thịt tốt.

- Thịt chất lượng cao và mềm.

1.1.8 Sự phát triển bò Droughtmaster ở Việt Nam

Bò Droughtmaster nằm trong danh mục giống được phép nhập khẩu của Bộ Nông nghiệp Được nhập từ Úc về từ năm 2002.

Nông trường Sông Hậu bắt đầu nuôi 50 cái sinh sản vào năm 2002 từ chuyến nhập bò Droughtmaster đầu tiên.

Kết quả bước đầu cho thấy:

1.2.Tình hình lai tạo bò theo hướng thịt

Theo Lê viết Ly và ctv (2002) việc thăm dò lai bò thịt được bắt

đầu từ những năm 1975 - 1978 do Viện Chăn nuôi tiến hành tại Nông trường Đồng Giao, Ninh Bình (Nguyễn Văn Thưởng và ctv) Từ năm

1982 - 1985 được tiếp tục thử nghiệm ở nông trường Hà Tam tỉnh Gia Lai và một vài điểm phụ cận Hà Nội Tinh dịch đông lạnh của các giống

bò Chrolais, Santa Gertrudis , Brown Swiss, Brahman đã được sử dụng trong lai giống, các con lai F1 được theo dõi và đánh giá qua sinh trưởng,

vỗ beó

Riêng con lai của cặp bò lai Sind (cái) và bò Charolais (đực) xem

ra có triển vọng không chỉ ở chỉ tiêu tăng trọng mà ở cả khả năng chịu nóng Con lai của công thức này được tiến hành ở các tỉnh Gia Lai, Bình Định, Lâm Đồng, Tp Hồ Chí Minh ,Bình Dương, Thanh Hoá, Hà Tây, trong điều kiện chăn thả trên bãi cỏ và chỉ được nuôi béo trong 3 tháng cuối bằng phụ phẩm nông nghiệp có thể đạt 270 - 280 kg ở 24 tháng

Trang 6

tuổi Đây là kết quả có phần bất ngờ vì ai cũng nghĩ là bò Charolais ở miền ôn đới, thể vóc lại quá to chắc là tổ hợp lai khó phù hợp với điều kiện nóng và nghèo dinh dưỡng của nước ta

Theo KS Ngô văn Theo (2009) Số bê lai thịt F1 Crimousine, (giữa đực Crimousine và cái nền lai Zebu) có 72% lông màu đỏ, mông nở, đùi to Khối lượng trung bình cao hơn bê F1 Brahman- nhất là thời điểm 18-21 tháng tuổi (273,2kg) Tỷ lệ thịt xẻ lúc 21 và 24 tháng tuổi là 52% và 50% (đực và cái) Trong khi đó lượng thức ăn cho con F1 crimousine và F1 Brahman là như nhau ( KS Ngô Văn Theo- Trung tâm Giống vật nuôi Bình Định thực hiện (2007-2009) )

Th.s Nguyễn văn Nghi và ctv (2009 ) sử dụng phương pháp gieo tinh nhân tạo để tạo bò lai F1 giữa bò địa phương với các giống bò Zêbu (Sind- Red Sindhi, Brahman) và chuyên thịt (Limousin); nghiên cứu con lai F1 giữa bò địa phương với các giống bò Zêbu và chuyên thịt, nhóm thực hiện

đã thu được những kết quả như sau:

- Có 3.500 lượt bò cái địa phương đã được gieo tinh, trong đó 2.752 con đậu thai Tinh của bò Limousin được xem là tốt nhất với tỉ lệ đậu thai đạt 80,29% và chỉ cần 1,25 liều tinh để sản xuất ra 01 con bê lai F1.

- Trọng lượng bò lai F1 của các giống Zêbu và Limousin đều cao hơn

bò lai zebu, trong đó có bò lai charolais tăng trưởng tốt nhất và được người chăn nuôi ưa chuộng.

1.3 Khái quát cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được triển khai ở tại các nông hộ (5 – 7 hộ, mỗi hộ nuôi từ 3 –

4 con) có điều kiện và kinh nghiệm chăn nuôi bò tại huyện Phụng Hiệp và huyện Châu Thành.

Tiếp cận và nghiên cứu vấn đề này có những điểm đặc biệt như sau:

1.3.1 Đề tài được nghiên cứu theo nội dung có trình tự logic, từ

(1) Chọn bò cái ta và lai Sind.

(2) Gieo tinh bò cái.

(3) Theo dõi đậu thai và phát triển thai.

(4) Theo dõi quá trình đẻ.

(5)Theo dõi phát triển của bò lai F1.

Trang 7

1.3.2 Được đặt cơ sở trên thực tế chăn nuôi của tỉnh Hậu Giang và vùng phụ cận: sử dụng cỏ tự nhiên, kỹ thuật chăn nuôi còn kém

Các phương pháp, kỹ thuật sẽ được sử dụng cho nghiên cứu các vấn đề này có thể kể là:

- Phân tích dưỡng chất cỏ điạ phương, đặc biệt là cỏ tự nhiên ở Hậu Giang và vùng phụ cận tại phòng thí nghiệm dinh dưỡng gia súc - Bộ môn Chăn nuôi - Khoa Nông nghiệp – Đại học Cần thơ ; phân tích 6 thành phần dưỡng chất cần thiết để phối hợp khẩu phần nuôi bò thịt hiệu quả.

- Đo trọng lượng trên con bò thực tế bằng thước dây.

- Sử dụng máy vi tính để xác định công thức hỗn hợp bổ sung để bảo đảm nhu cầu dinh dưỡng cho bò qua các giai đoạn nuôi.

Trang 8

- Chuyển giao những kết quả nghiên cứu được thông qua những cán bộ

có trách nhiệm và chức năng phù hợp phổ biến rộng rãi cho người dân.

2.2 PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU

2.21 Phương tiện thí nghiệm

2.2.1.1 Địa điểm và thời gian thí nghiệm:

+ Đề tài được triển khai tại 02 huyện Phụng Hiệp và Châu Thành.

+ Tổng thời gian thực hiện đề tài là 39 tháng: 09/2004 – 12/2007.

2.2.1.2 Vật liệu thí nghiệm:

+ Bò cái nền: bò ta và bò lai Sind.

+ Thực liệu thức ăn thô xanh: phân tích thành phần dưỡng chất các loại

cỏ cần nghiên cứu.

+ Thước dây đo bò, máy tính, sổ ghi chép …

+ Tinh bò thịt Droughtmaster nhập nội thông qua Xí nghiệp Truyền giống và Phát triển Chăn nuôi Gia súc lớn Miền Nam (trụ sở đặt tại Tp Hồ Chí Minh) và các dụng cụ phục vụ công tác gieo tinh nhân tạo.

2.2.2 Phương pháp thí nghiệm

2.2.2.1 Cách thức chọn hộ

Trước tiên khảo sát những hộ có kinh nghiệm nuôi bò và có điều kiện thực hiện đề tài (danh sách do khuyến nông huyện cung cấp) Sau khi thẩm định phù hợp (điều kiện chăn nuôi và chuồng trại) chúng tôi sẽ chọn những hộ nông dân có bò giống tơ phù hợp với điều kiện để thực hiện thí nghiệm, sau đó ký kết hợp đồng thực hiện thí nghiệm với nông hộ

2.2.2.2 Chọn giống bò cái (quan sát ngang)

+ Đầu dài vừa phải, gọn thanh; bả vai liền lạc với cơ thể; chân thẳng, gắn chắc.

+ Cơ thể thanh gọn, không yếu ớt.

+ Cơ thể lớn, thân dài, bụng chắc dài, các xương sườn bung rộng, sàn ngực rộng.

Trang 9

2.2.2.3 Phân tích hóa học và thu thập số liệu:

- Phân tích thành phần dưỡng chất của các loại thức ăn thô xanh như sau: ngọn mía; cỏ lông tây; rơm; cỏ voi; cỏ mồm.

- Dựa trên cơ sở những số liệu phân tích trên, xây dựng công thức phối hợp khẩu phần giữa thức ăn thô và thức ăn tinh cho bò cái nền

và bê lai qua các giai đoạn nghiên cứu.

- Thu thập các chỉ tiêu theo dõi tại nông hộ

2.2.2.4 Cách thức tính trọng lượng và các chiều đo

- Đo vòng ngực và qui trọng lượng: sử dụng thước dây đo bò thịt của

Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam Đo vòng ngực của gia súc (giáp thân, và sát 2 chân trước của gia súc), hàng số phía trên biểu thị chu vi vòng ngực gia súc, hàng số bên dưới biểu thị trọng lượng gia súc.

- Đo dài thân chéo: đo chiều dài tính từ phần nhô ra phía trước của xương

bả vai đến vị trí u ngồi của gia súc.

- Đo cao vây: đo chiều cao tính từ mặt đất đến phần trên cùng bả vai của

gia súc.

2.2.2.5 Các chỉ tiêu theo dõi

2.2.2.5.1 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi đối với bò cái nền

1 Tuổi lên giống lần 1.

2 Tuổi phối giống lần một.

3 Tuổi chửa lần một.

4 Số lần phối đậu thai.

5 Tăng trọng trong thời gian mang thai.

6 Tình trạng sức khỏe trong thời gian mang thai.

7 Quá trình đẻ.

8 Tình trạng sinh sản và bệnh sinh sản sau khi đẻ.

9 Phối giống và mang thai lại sau khi đẻ.

2.2.2.5.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi đối với bê lai F1

1 Khối lượng bê qua các tháng tuổi và tăng trọng.

2 Tỷ lệ sống.

3 Sức khỏe – Dịch bệnh xảy ra ở bê.

4 Theo dõi ngoại hình của bê và các chiều đo (vòng ngực; dài thân chéo; cao vây).

2.2.2.5.3 Phân tích số liệu

Số liệu thu thập được tính toán và thống kê theo phần mềm Microsoft Excel

Trang 10

Chương 3

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Trong thời gian theo dõi thí nghiệm chúng tôi nhận thấy có sự chênh lệch rất lớn giữa các hộ nuôi bò tham gia thực hiện đề tài, cụ thể là khả năng chăm sóc vật nuôi của họ không đồng đều ảnh hưởng rất lớn đến kết quả thí nghiệm Chúng tôi tạm chia ra làm 2 nhóm: nhóm nuôi tốt và nhóm nuôi không tốt:

+ Nhóm nuôi tốt: là những người nắm bắt và áp dụng kỹ thuật tốt, chăm sóc bò chu đáo, cho con vật ăn đủ no, đôi khi có bổ sung thêm thức

ăn tinh cho bò, rất ham học hỏi.

+ Nhóm nuôi không tốt: khi tham gia đề án ở giai đoạn đầu, người nuôi thực hiện rất tốt các hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật, nhưng dần về sau thực hiện không tốt lắm Do điều kiện khách quan, thiếu lao động, quản lý chưa tốt, chăm sóc không còn chu đáo như trước dẫn đến bò bị thiếu cỏ ăn Điều này ảnh hưởng không tốt đến tiến độ và kết quả thực hiện đề tài, đồng thời ảnh hưởng đến năng suất hộ nuôi.

Trong phần trình bày kết quả, nhóm bê lai F1 Droughtmaster x cái nền lai Sind được viết tắt là D-LS, nhóm bê lai F1 Droughtmaster x cái nền

Ta được viết tắt là D-T

3.1 THÀNH PHẦN DƯỠNG CHẤT CÁC LOẠI THỨC ĂN THÔ

Sau khi tiến hành khảo sát những loại thức ăn thô xanh phổ biến tại địa phương, chúng tôi tiến hành thu gom mẫu phân tích gồm: cỏ mồm, ngọn mía, cỏ lông tây, rơm, cỏ voi Vào ngày 05/01/2005 chúng tôi tiến hành lấy mẫu ở trạng thái tươi, để các mẫu vật vào túi nilon (tránh việc bốc hơi nước làm lệch đi kết quả phân tích) sau đó chuyển đến Phòng Thí nghiệm Dinh dưỡng – Bộ môn Chăn nuôi – Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng trường Đại học Cần Thơ để phân tích mẫu và được kết quả như sau:

Bảng 1 Kết quả phân tích mẫu thức ăn thô xanh ở trạng thái tươi

(%)

CP(%)

Tro(%)

CF(%)

Ca(%)

P(%)

ADF(%)

NDF(%)

Trang 11

Bảng 2 Kết quả phân tích mẫu ở trạng thái phân tích

3.2 CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI Ở BÒ CÁI NỀN

3.2.1 Tuổi lên giống, phối giống và tuổi chửa lứa 1

Bảng 3: Tuổi lên giống, phối giống và tuổi chửa lứa 1

Tuổi lên giống lần 1 16 – 18 tháng tuổi 13 – 15 tháng tuổiTuổi phối giống lần 1 20 tháng tuổi 18 tháng tuổi

Tuổi chửa lứa 1 21 - 22 tháng tuổi 19 – 20 tháng tuổiTheo tài liệu của FAO, tuổi thành thục của bò Zebu nuôi trong vùng nhiệt đới và á nhiệt đới biến động từ 16 - 40 tháng Tuổi thành thục của Bò Zebu nuôi ở Ethiopia là 22,65 tháng, ở Somalia là 31,5 tháng, bò Red Sindhi nuôi ở Ấn Độ là 36,5 tháng

Kết quả này phù hợp với theo dõi thực tế ở nhiều vùng ở Việt Nam,

và so với các nước khác, bò cái nền trong thí nghiệm có tuổi thành thục sớm hơn Tuổi lên giống và phối giống lần 1 sẽ chậm khi nuôi kém dinh dưỡng.

3.2.2 Số lần phối đậu thai

Kết quả phối giống bò được trình bày theo bảng sau :

Bảng 4 Kết quả phối giống bò đề tài

phối

Số bòđậu thaikhi phốilần 1

Tỉ lệđậuthaikhiphốilần 1

Tổng

số lầnphối

Tổng

số conđậuthai

Số lầnphối

để đậuthai

Tỉ lệđậuthai

Trang 12

 Theo bảng trên, số lần phối đậu thai của bò ta 1,38 lần, của bò lai sind là 2,0 lần (có một số con gieo đến năm lần nhưng không đậu thai, có thể

do bệnh sinh sản).

 Tỉ lệ bò phối lần 1 đậu thai ở bò lai Sind là 55,5%, ở bò ta là 62,5% Tỉ

lệ này cũng phù hợp với nhiều báo cáo và kết quả thực tế của công tác gieo tinh ở các tỉnh vùng ĐBSCL.

Theo tài liệu của FAO, tỉ lệ đậu thai của bò Zebu tương đối thấp, nhất là

ở các nơi nuôi kiểu truyền thống kém dinh dưỡng Tỉ lệ đẻ của bò Zebu cũng biến động nhiều: ở Oswana,bò nuôi tốt có thể cao đến 74%, trong khi

bò nuôi xấu chỉ đạt 46,4% Trong đề tài, số bò theo dõi phối giống ít (17 con), nên tỉ lệ đậu thai tương đối cao (88,2%)

Số lần phối đậu thai của bò Zebu theo tài liệu FAO được trình bày theo bảng sau:

Bảng 5 : Số lần phối đậu thai bình quân ở một số giống bò nhiệt đới

Giống bò Nơi nuôi Số lần phối

/đậu thai

Nguồn tài liệu

InduBrazil South America 1,4 - 1,6 Temblador and Sanchez (1977)

Zebu Ethiopia 1,74 – 1,8 Azage Tegegn et al (l98

Zebu Đông Phi Ethiopia 2,0 ± 1,2 Alberro (1983)

Haryana India 2,1 - 2,7 Kumar and Bhat (1979)

Arsi Ethiopia 2,4 – 2,6 Swensson et al (1981)

So sánh với bảng trên, ta thấy số lần phối đậu thai của bò trong đề tài cũng phù hợp với kết quả điều tra ở các nước khác (Bò ta 1,38 lần, bò lai Sind 2,0 lần).

3.2.3 Tăng trọng trong thời gian mang thai

Tăng trọng bò trong thời gian mang thai được trình bày trong Bảng 6.

Bảng 6 Tăng trọng trong thời gian mang thai (kg)

Trang 13

Nhóm bò cái nền Tình trạngNuôi Số mẫu (n) bình quân (kg)Tăng trọng

Tăng trọng trong thời gian mang thai của các bò theo dõi khác nhau

do 2 yếu tố: giống bò và tình trạng chăm sóc nuôi dưỡng của từng hộ nuôi tại địa phương thực hiện đề tài.

- Bò lai Sind nuôi tốt có thể đạt tăng trọng 63 kg trong thời gian mang thai Bò đạt tăng trong cao nhất lên đến 92 kg, bình quân 9,86 kg/tháng

- Bò ta nuôi tốt đạt tăng trọng bình quân 15 kg trong thời gian mang thai.

Bò đạt tăng trong cao nhất trong nhóm này là 32 kg.

Tăng trọng trong thời gian mang thai của các bò thí nghiệm đã phản ánh tình trạng nuôi chưa đáp ứng kỹ thuật Tất cả các hộ đều không cho ăn thêm thức ăn hỗn hợp trong thời gian bò mang thai, đặc biệt vào 2 tháng cuối kỳ chửa và khi thiếu thức ăn thô xanh.

Bò cái nền lai Sind tăng trọng từ 4 – 5 lần so với sự tăng trọng ở bò cái nền ta là do bò ta vừa nhỏ con hơn, lại không được chănm sóc nuôi dưỡng tốt so với bò lai Sind

3.2.4 Tình trạng sức khỏe trong thời gian mang thai

Nhìn chung tình trạng sức khỏe của đàn bò cái nền là rất tốt Không

bị bệnh gì nghiêm trọng trong thời gian mang thai (thỉnh thoảng chỉ bị bệnh tiêu chảy)

3.2.5 Quá trình đẻ

Bò cái đẻ rất tốt Chủ yếu là tự đẻ, đôi khi gặp thai lớn thì chủ hộ nắm kéo tiếp bê ra theo nhịp rặn của bò mẹ (bê đã có phần ló ra ngoài), không có trường hợp nào phải nhờ Thú Y can thiệp để kéo thai ra Kết quả này phù hợp với thực tế tại Nông trường Sông Hậu, sản xuất bò lai bằng cách gieo tinh Droughtmaster, Charolais, Simmental cho bò cái nền ta và cái nền lai Sind trên 25 bò cái, kết quả không có bò cái nào đẻ khó (trọng lượng bò cái nền lúc gieo tinh tối thiểu là 220 kg).

3.2.6 Tình trạng sinh sản và bệnh sinh sản sau khi đẻ

Bò sinh sản tốt, vì không can thiệp sâu nên không bị viêm nhiễm sau sinh sản (một số hộ nuôi, để phòng ngừa bò bị viêm sau khi sinh họ nhét thuốc chống viêm nhiễm cho bò) Nhìn chung bò phát triển rất tốt và không mắc bệnh sinh sản sau khi sinh.

3.2.7 Phối giống và mang thai lại sau khi đẻ

Thời gian phối giống và mang thai lại ở 2 đối tượng bò cái nền nghiên cứu trung bình là từ 5 – 6 tháng

Trang 14

Thời gian mang thai lại chậm là do tập quán chăn nuôi của các hộ thí nghiệm Mặc dù đã được khuyến cáo nên sớm tách bê ra khỏi bò mẹ (khi

bê được 3 – 3,5 tháng) nhưng người nuôi vẫn để bê theo bú mẹ đến lúc bê đến 6 tháng tuổi trở lên Bên cạnh đó, người nuôi không thường xuyên cung cấp thức ăn tinh trong thời gian bò mẹ nuôi con Việc làm này làm cho cơ thể bò mẹ suy kiệt rất nhiều, ảnh hưởng rất lớn đến việc lên giống

và phối giống lại sau khi đẻ.

3.3 CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI Ở BÊ LAI F1

3.3.1 Trọng lượng bê qua các thời điểm và tăng trọng

3.3.1.1 Trọng lượng bê qua các thời điểm: Thí nghiệm của chúng tôi

được tiến hành ở 2 huyện Phụng Hiệp và Châu Thành, trong điều kiện chăn nuôi tại địa phương, qua khảo sát chúng tôi có những ghi nhận như sau:

Bảng 7 Trọng lượng bình quân theo từng giai đoạn của bê lai D-LS thí nghiệm

Trang 15

Hình 1 : Tăng trọng bình quân của bê lai D-LS

Bảng 8 Trọng lượng bình quân theo từng giai đoạn của bê lai D-T thí nghiệm

Trang 16

Tuy nhiên trọng lượng của nhóm bê D-LS vào 12 tháng tuổi đã không cao hơn tương xứng so với nhóm bê D-T : vào 6 tháng tuổi, trọng lượng bê D-LS đã bằng 153% bê D-T, nhưng đến 12 tháng tuổi chỉ bằng 123% bê D-T Điều này cho thấy rõ điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng của bê D-LS đã không được đáp ứng đầy đủ.

Hình 2 : Trọng lượng bình quân của bê lai D-T

Tác giả Đinh Văn Cải và Phạm Văn Quyến tiến hành thí nghiệm và theo dõi sự phát triển của một vài loại bê lai F1 nuôi trong dân ở Lâm Đồng

và nuôi tại Trại Bến Cát, tỉnh Bình Dương trong điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng tốt giai đoạn từ năm 2002 – 2006 có kết quả như sau:

Bảng 9 Bảng so sánh trọng lượng bình quân (kg) qua từng giai đoạn của các loại

bê lai

sơ sinh Trọng lượng 6 tháng tuổi 12 tháng tuổiTrọng lượng

Nhóm 1: bò thịt

ôn đới nuôi

trong dân ở Lâm

(Nguồn: Đinh Văn Cải, Phạm văn Quyến, 2007, “Nuôi bò thịt”, NXB Nông Nghiệp Tp HCM)

Trang 17

132,5121,3154,0

152,0

167,0144,5183,0F1 D – T

81,7

81,790,0

123,5

123,5141,0

Bê D-LS và D-T là 2 đối tượng đang được tiến hành khảo sát thử nghiệm tại tỉnh Hậu Giang

►So sánh bò lai nuôi trong dân ở Lâm Đồng và bò lai D-LS và D-T, ta thấy không có chênh lệch trọng lượng nhiều lắm nhất là so với bò D-LS.

- Trọng lượng sơ sinh bình quân của nhóm 1 và nhóm D-LS, D-T là 22,0 kg và 27,4 kg, 22,1 kg theo thứ tự

- Trọng lượng 6 tháng tuổi bình quân của nhóm 1 và nhóm D-LS, D-T

là 113,0 kg và 125,0 kg, 81,7 kg theo thứ tự Trọng lượng 6 tháng tuổi của bê D-LS vượt trội hơn bê nhóm 1 (cao hơn 12 kg), nhưng trọng lượng bê D-T lại kém hơn nhiều (thấp hơn 31,3 kg).

- Trọng lượng 12 tháng tuổi bình quân của nhóm 1 và nhóm LS,

D-T là 161,0 kg và 152,0 kg, 123,5 kg theo thứ tự Vào lúc này, trọng lượng bê nhóm D-LS không còn cao hơn bê nhóm 1 nữa, chứng tỏ khả năng chăm sóc nuôi dưỡng của các hộ nuôi ở Hậu Giang kém, chưa đủ nhu cầu dinh dưỡng của bê lai.

► So sánh nhóm bò nuôi trại Trại Bến Cát (nhóm 2) và nhóm bò TN,

ta thấy:

- Bò D-LS có trọng lượng tương đượng với bò Bến Cát vào thời điểm

6 tháng tuổi (125 kg so với 129,8 kg), nhưng trọng lượng lúc 12 tháng tuổi thì thấp hơn nhiều (152 kg so với 217,5 kg) chứng tỏ bò bị thiếu dinh dưỡng vào giai đoạn 6 – 12 tháng Điều này cũng dễ hiểu

và rất hợp lý vì có sự chênh lệch rất lớn về kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc (giữa nuôi trong Trại Bến Cát và nuôi trong dân tại Hậu Giang).

► So sánh bò lai Sind tại trại thực nghiệm Trung tâm Giống nông nghiệp Vĩnh long, ta thấy :

- Bò D-LS có trọng lượng lớn hơn ở 3 thời điểm : sơ sinh ( 27,4 kg so với 20,2kg ), 6 tháng tuổi ( 125,0 kg so với 95,3 kg ) và 12 tháng tuổi ( 152,0 kg so với 135,6 kg ) Điều nầy cũng phù hợp vì chúng ta đã lai

Trang 18

tạo thêm với giống bò chuyên thịt cho nên bản thân bò F1 D-LS đã mang ít nhất 3 dòng máu.

- Bò D-T có trọng lượng sơ sinh cao hơn bò ta ( 22,1kg so với 14 kg ), nhưng ở thời điểm 6 và 12 tháng tuổi thì có trọng lượng thấp hơn ( tương ứng 81,7 kg so với 95,3 kg và 123,5 kg so với 135,6 kg ) chứng

tỏ bò bị thiếu dinh dưỡng ở giai đoạn 6-12 tháng tuổi Điều nầy cũng cho thấy có sự chênh lệch về kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc bò trong trại thực nghiệm tại TTGNN vĩnh long và nuôi trong dân tại Hậu giang Tuy nhiên ở con bò F1 D-T tốt nhất vào thời điểm 6 và 12 tháng tuổi có trọng lượng tương đương bò lai Sind.

► So sánh hiệu quả kinh tế:

Nếu tính giá 60.000d/kg hơi, thì giá trị của từng loại bò lúc 6 tháng tuổi

và 12 tháng tuổi thể hiện qua bảng sau:

Bảng 10 : So sánh hiệu quả kinh tế của con lai F1 với bò lai Sind và bò ta.

3.3.1.2 Tăng trọng bê qua các giai đoạn nuôi

Tăng trọng hàng ngày của bê được phân tích qua các giai đoạn: sơ sinh đến 3 tháng tuổi, 3 tháng tuổi đến 6 tháng tuổi, 6 tháng tuổi đến 9 tháng tuổi, 9 tháng tuổi đến 12 tháng tuổi, được trình bày trong bảng sau.

Bảng 11 Tăng trọng bình quân của nhóm bê lai D-LS thí nghiệm

Tình trạng

nuôi

Tăng trọng, gram/ngày

0 – 3thángtuổi

3 – 6thángtuổi

6 – 9thángtuổi

9 – 12thángtuổi

0 - 6thángtuổi

6 - 12thángtuổi

0 - 12thángtuổiNuôi

kém

BQ 597,50 430,00 153,50 101,50 513,75 127,50 320,55

SE 24,39 35,82 60,01 54,87 29,20 31,38 27,01Nuôi

Trang 19

0 - 12thángtuổiNuôi

tốt

BQ 380,33 274,00 328,67 109,50 323,50 224,50 273,97

SE 9,70 47,95 89,28 43,50 49,50 54,50 52,05Bình

Hình 3 : Tăng trọng bình quân/ ngày của 2 nhóm bê

 Tăng trọng của bê lai D-LS cao nhất ở giai đoạn 0 - 3 tháng tuổi và giảm rất nhiều vào các giai đoạn sau: từ 637 g xuống 438 g, rồi đến

166 g và 130 g Sự giảm tăng trọng nhiều vào các giai đoạn sau, nhất

là vào giai đoạn 6 – 12 tháng tuổi, cho thấy là sau khi cai sữa, bê đã không được chăm sóc nuôi dưỡng đúng mức làm tăng trọng thấp.

 Tăng trọng của bê lai D-T xem như tương đương nhau ở các giai đoạn 0 – 3, 3 – 6, 6 – 9 tháng tuổi (307 g, 274 g, 329 g/ngày), nhưng

Trang 20

giai đoạn 9 – 12 tháng tuổi lại sụt giảm chỉ còn 1/3 tăng trọng giai đoạn trước cũng do cho ăn không đầy đủ.

 Tăng trọng trong giai đoạn 0 – 3 tháng tuổi (giai đoạn bú mẹ) của bê D-LS cao gấp đôi bê D-T (632 g so với 307 g/ngày) cho thấy khả năng cho sữa của bò lai Sind rất cao hơn bò ta.

Bảng 13 So sánh tăng trọng giai đoạn của các nhóm bê thí nghiệm

và bê lai nuôi nơi khác

Tăng trọng trong giai đoạn

Bảng 14 So sánh tăng trọng/ngày của các nhóm bê thí nghiệm

và bê lai nuôi nơi khác

Trang 21

309 327

Hình 4 : Tăng trọng bình quân hằng ngày của các nhóm bê.

3.3.2 Tỷ lệ sống

Tổng số bê được sinh ra là 15 con trong đó có 7 bê bị chết do nhiều nguyên nhân:

- 01 con bê bị mẹ đạp gẫy xương đùi.

- 02 con bê bị bò mẹ đẻ ra nhưng không cho bú, chết 3 ngày sau khi sinh.

- 01 con bê bò mẹ đạp dây mũi té xuống mương chết, bê con mới được

2 ngày tuổi không có sữa bú nên chết.

- 01 con bê bị tiêu chảy cấp chết.

- 02 con bê bị chướng hơi cấp tính, chết.

Bê chết được tóm tắt và phân tích theo Bảng sau:

Bảng 15 Tỉ lệ bê chết và nguyên nhân

Số con % Phân nhóm nguyên nhân chết

Từ kết quả trên ta nhận thấy do khâu quản lý và chăm sóc không tốt nên

tỷ lệ bê chết rất cao Nhóm bê D - T ở những hộ nuôi chưa tốt gặp sự cố rất trầm trọng Đến tháng thứ 5, nhóm nuôi xấu không còn bê nào sống cả.

Trang 22

Bê bị chết do nhiều nguyên nhân: mẹ không cho bú; bò mẹ bi té mương chết khi bê chưa được 1 tuần tuổi, bê bị tiêu chảy … Đa số bê chết là do

‘tai nạn”, bệnh chết 3 con tỉ lệ 43% do bị chướng hơi và tiêu chay, Điều này nói lên rằng do thiếu lao động nên việc chăm sóc không tốt, phát hiện bệnh chưa kịp thời nhất là bê bị chướng hơi ta có thể dùng các vật dụng tại chổ để điều trị được, làm dẫn đến kết quả không như mong đợi.

3.3.3 Sức khỏe – Dịch bệnh xảy ra ở bê

Ngoài những bê bị chết do “tai nạn” thì những bê còn lại sức khỏe tốt, không có dịch bệnh nào đáng kể xảy ra.

3.3.4 Ngoại hình và các chiều đo của bê

3.3.4.1 Ngoại hình bê

 Con lai F1 Droughtmaster x Lai Sind

Mặt ngắn, đầu tròn, có u vai nhỏ, cổ và tai dài vừa phải, chân hơi thấp, yếm và rốn phát triển, lông màu vàng đậm hoặc màu cánh gián, viền mắt và mũi có màu nâu sáng, một số có viền mắt, gương mũi và móng guốc màu đen nhạt.

 Con lai F1 Droughtmaster x Bò ta

Tương tự như trên nhưng yếm và rốn không phát triển nhiều, có một số

bê có viền mũi màu đen.

3.3.4.2 Các chiều đo của bê

Bảng 16 Dài thân và cao vây của 2 nhóm bê lai

Tháng

tuổi D-LS Dài thân, cmD-T D-LS D-LS Cao vây, cmD-T D-LS

Hình 6 : Bê lai F1 Droughtmaster X Bò ta Hình 5 :Bê lai F1 Droughtmaster X Bò Lai Sind

Ngày đăng: 15/12/2017, 10:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w