1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu sản xuất phân sinh học đa chủng bón cho lúa cao sản, bắp lai, mía đường và khóm trồng trong tỉnh hậu giang phần 3

14 162 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 4,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đáng chú ý là hàm lượng N tổng số trong đất trước khi thí nghiệm thấp nhưng sau khi thí nghiệm đất được phân tích cho thấy hàm lượng N tổng số tăng gấp 5 đến 7 lần so với lúc ban đầ

Trang 1

3.3 Khóm

Bảng 6 Thành phần lý hoá tính của 4 điểm thí nghiệm KHÓM ở tỉnh Hậu Giang

Địa điểm thí nghiệm (Nước)pH N tổng số(%) P dễ tiêu

(mg P2O5/ 100

g đất)

K trao đổi (meq/100 g đất)

Chất hữu cơ (%)

Xã Hoả Tiến, TX Vị Thanh

Xã Hoả Tiến, TX Vị Thanh

Xã Hỏa Lựu, TX Vị Thanh

(Ô Sen)

Xã Hỏa Lựu, TX Vị Thanh

Từ bảng 6 cho thấy cả 4 điểm thí nghiệm Khóm có độ pH quá thấp, hàm lượng dinh dưỡng thấp và chỉ có 1 điểm có hàm lượng chất hữu cơ khá, 3 điểm còn lại có chất hữu

cơ quá thấp; đây là đặc trưng của vùng trồng khóm ở Hậu Giang [địa danh Khóm Cầu Đúc ở vùng Hoả Lựu - Hoả Tiến, Vị Thanh](hình 16)

Hình 15 Toàn cảnh của một thí nghiệm Khóm ở xã Hoả Lựu, thị xã Vị Thanh

Trang 2

Kết quả từ bảng 11 [xem phần phụ chương] cho thấy phân sinh học và phân hóa học làm tăng chiều dài (cao), đường kính và trọng lượng trái khóm so với đối chứng thế nhưng bón phân hóa học làm giảm độ Brix so với các nghiệm thức một có ý nghĩa thống

kê Trong hình 27 [xem phần phụ chương] cho thấy bón phân sinh học và phân hóa học gia tăng năng suất khóm trái, điều đặc biệt là nghiệm thức bổ sung thêm 100 lít dịch vi khuẩn lên men chứa IAA cho năng suất khóm trái cao nhất và không khác biệt ý nghĩa so với nghiệm thức bón phân hóa học

Điều đáng chú ý là hàm lượng N tổng số trong đất trước khi thí nghiệm thấp nhưng sau khi thí nghiệm đất được phân tích cho thấy hàm lượng N tổng số tăng gấp 5 đến 7 lần

so với lúc ban đầu, điều này cho thấy nông dân có lẻ bón thêm phân đạm hóa học (hình 28) [xem phần phụ chương] nhưng hàm lượng P dể tiêu trong đất sau khi thu hoạch trái khóm lại giảm thấp 10 lần so với lúc ban đầu (hình 29) [xem phần phụ chương] có lẻ do nhu cầu phát triển của trái khóm cần nhiều lân nhưng nông dân lại không bón bổ sung như phân đạm hóa học tuy nhiên nghiệm thức có sử dụng phân sinh học có hàm lượng P

dể tiêu cao so với nghiệm thức bón phân hóa học

Kết quả từ bảng 12 [xem phần phụ chương] cho thấy hiệu quả phân sinh học và phân hóa học trên thành phần năng suất và độ Brix trái khóm trồng trên đất phèn xã Hỏa Tiến tương tự như thí nghiệm của ông Đáng, điều đặc biệt là năng suất khóm trái của nghiệm thức có bổ sung dịch vi khuẩn lên men cao nhất và khác biệt với nghiệm thức bón phân hóa học (hình 30); kết quả hàm lượng N tổng số và P dể tiêu trong đất tương tự như thí nghiệm của ông Đáng (hình 31 và hình 32)[xem phần phụ chương]

Kết quả từ bảng 13 [xem phần phụ chương] cho thấy bón phân hoá học gia tăng đường kính trái khóm đáng kể cũng như gia tăng độ Brix trong trái khóm tươi tuy nhiên bón phân sinh học bổ sung thêm 100 lít dịch vi khuẩn lên men có thành phần năng suất cũng như độ Brix cao nhất; hình 33 cho thấy năng suất khóm trái bón phân sinh học và một phân nửa lượng phân hoá học có hay không bổ sung dịch vi khuẩn lên men cao và khác biệt ý nghĩa so với nghiệm thức chỉ bón phân hoá học hay sinh học [không bổ sung thêm phân hoá học] tuy nhiên không có sự khác biệt về hàm lượng N tổng số trong đất giữa các nghiệm thức (hình 34)[xem phần phụ chương] nhưng hàm lượng Lân dể tiêu trong đất sau khi thu hoạch khóm có sự sụt giảm so với ban đấu như hai thí nghiệm trước nhưng hai nghiệm thức bón phân sinh học bổ sung phân hoá học và dịch lên men vi khuẩn có hàm lượng P dễ tiêu cao (hình 35)[xem phần phụ chương]

Trong bảng 14 [xem phần phụ chương] cho thấy hiệu quả của phân sinh học và phân hoá học trên chiều dài trái khóm và trọng lượng trái khóm so với đối chứng tuy nhiên bón phân hoá học có khuynh hướng làm giảm độ Brix của trái khóm; năng suất khóm trái cao nhất ở nghiệm thức bón phân sinh học bổ sung phân hoá học và dịch lên men vi khuẩn kế đến là nghiệm thức bón phân hoá học (hình 36)[xem phần phụ chương]; tương tự như các thí nghiệm trước hàm lượng N tổng số trong đất tăng sau khi thu hoạch trái lại hàm lượng

P dễ tiêu lại giảm rỏ rệt (hình 37 và hình 38)[xem phần phụ chương]

Tổng kết trung bình 4 thí nghiệm khóm tại thị xã Vị Thanh cho thấy bón phân hoá học

và phân sinh học làm tăng chiều dài trái, đường kính trái và trọng lượng trái khóm so với đối chứng không bón phân tuy nhiên bón phân sinh học tăng độ Brix của trái khóm có ý nghĩa thống kê so với khóm chỉ bón phân hoá học hay không bón phân (đối chứng), điều này cho thấy phân sinh học cải thiện chất lượng trái khóm (bảng 7); bón phân sinh học bổ sung thêm phân nủa lượng phân hoá học và 100 lít vi khuẩn cho năng suất khóm trái cao nhất (hình 16) so với đối chứng (hình 17 và hình 18) nhưng không ảnh hưởng đến lượng

N và P trong đất (hình 19 và hình 20)

Trang 3

Bảng 7 Hiệu quả của phân sinh học và phân hóa học trên thành phần năng suất và độ

Brix của trái Khóm trồng trên đất phèn trong thị xã Vị Thanh (trung bình 4 TN)

Nghiệm thức

Chiều cao trái khóm (cm)

Đường kính trái khóm (cm)

Trọng lượng trái khóm (kg)

Độ Brix

50 g phân sinh học + 2 g urê, 1 g

50 g phân sinh học + 2 g urê, 1 g

21,992

23,382

23,774 23,774

24,405

doi chung 4 g urê, 2 g lân, 4 g

kali/gôc

50 g phân SH/gôc 50 g phân SH+ 2 g

urê, 1 g lân, 2 g kali/gôc

50 g phân SH+ 2 g urê, 1 g lân, 2 g kali + 0,2 lít dich vk/gôc

nang suât (T/ha) khóm trái trung bình 4 thí nghiêm

Hình 16 Hiệu quả của phân sinh học và phân hóa học trên năng suất khóm trái (T/ha)

[trung bình 4 vụ] trồng trên đất phèn trong thị xã Vị Thanh vụ 2006-2007

LSD.05 = 0,597 T/ha

Trang 4

Hình 17 Trái khóm của nghiệm thức đối chứng

Hình 18 Trái khóm của nghiệm thức bón phân sinh học (thí nghiệm ở xã Hỏa Lựu, Vị

Thanh [thí nghiệm Ô Đáng]

Trang 5

Hình 19 Hiệu quả của phân sinh học và phân hóa học trên hàm lượng N tổng số (%)

[trung bình 4 vụ] trong đất trồng khóm trong thị xã Vị Thanh vụ 2006-2007

Hình 20 Hiệu quả của phân sinh học và phân hóa học trên hàm lượng P dể tiêu (mg

P2O5/100 g đất) [trung bình 4 vụ] trong đất trồng khóm trong thị xã Vị Thanh vụ 2006-2007

2,651 0,3842

0,4168 0,4832 0,5415 0,6281

ban dâu doi chung

4 g urê, 2 g lân, 4 g kali/gôc

50 g phân SH/gôc

50 g phân SH+ 2 g urê, 1 g lân,

2 g kali/gôc

50 g phân SH+ 2 g urê, 1 g lân,

2 g kali + 0,2 lít dich vk/gôc

ham luong P de tiêu trong dât trông khóm (TB 4 thí nghiêm)

0,047

0,1843 0,1889 0,1913 0,1975 0,2062

ban dâu doi chung

4 g urê, 2 g lân, 4 g kali/gôc

50 g phân SH/gôc

50 g phân SH+ 2 g urê, 1 g lân,

2 g kali/gôc

50 g phân SH+ 2 g urê, 1 g lân,

2 g kali + 0,2 lít dich vk/gôc

ham luong N tông sô (%) trong dât trông khóm (TB 4 thí nghiêm)

Trang 6

Ở đồng bằng sông Cửu Long, cây Khóm được trồng tập trung ở 2 vùng đất phèn đặc trưng là Đồng Tháp Mười (vùng Tân Phước, Tiền Giang và Bến Lức, Thủ Thừa, Đức Hoà, Đức Huệ, tỉnh Long An) và vùng tam giác nổi tiếng Vị Thanh, Bạc Liêu, Kiên Giang (Vĩnh Thuận) và một số ít ở Hòn Đất Đa số cây Khóm trồng ở vùng này thuộc nhóm Queen và Vị Thanh với 2 xã Hoả Lựu và Hoả Tiến với cây Khóm Cầu Đúc Để có những thành tựu trên, nông dân phải bón một lượng lớn phân hoá học cho cây Khóm từ 6 đến 10 g N/cây, 2 đến 4 g P2O5/cây và 6 đến 10 g K2O/cây khóm nhóm Queen trồng ở các tỉnh miền Bắc ở mật độ 40.000 cây/ha (Trần thế Tục và Vũ Mạnh Hải, 2000) có thể năng suất đạt >30 tấn trái/ha, những kết quả trồng khóm ở Hawaii với công thức phân bón là

209 k N, 55 kg P2O5, 667 kg K2O và 105 kg CaO/ha năng suất có thể đạt trên 55 tấn/ha ( trích từ Trần thế Tục và Vũ Mạnh Hải, 2000) tuy nhiên các công thức phân bón có kèm theo một số lượng lớn Magiê và Canxi, có lẻ vùng đất này thiếu dinh dưỡng hay pH thấp; kết quả thí nghiệm ở Vị Thanh cho thấy chỉ với 50 g phân sinh học, 2 g urê, 1 g lân , 2 g kali và 0,2 lít dịch vi khuẩn lên men/gốc cho trọng lượng trái, độ Brix và năng suất trái cao nhất Tuy nhiên, hàm lượng N tổng số trong đất sau khi thu hoạch trái quá cao so với ban đầu cho nên chúng tôi nghỉ nông dân sử dụng phân đạm hoá học quá nhiều trong khi phân lân quá ít hay không bón (kết quả từ hình 17 cho thấy hàm lượng P dể tiêu trong đất quá thấp so với ban đầu) Những kết quả bước đầu của Tapia-Hernandez et al (2000) cho

thấy hiệu quả tích của vi khuẩn Gluconacetobacter diazotrophicus trong việc cung cấp

đạm sinh học cho cây khóm và mở ra triển vọng sử dụng vi khuẩn này làm phân sinh

học; trong phân sinh học của thí nghiệm sử dụng hai chủng vi khuẩn Gluconacobacter

diazotrophicus cố định đạm và Pseudomonas stutzeri hoà tan lân khó tan đã góp phần

mang lại kết quả trên Kết quả thí nghiệm ở xã Hỏa Lựu, thị xã Vị Thanh (thí nghiệm ông ĐÁNG) tiêu biểu cho mô hình thí nghiệm phân sinh học trên cây KHÓM trồng ở tỉnh Hậu Giang

3.4 Mía đường

Bảng 8 Đặc tính lý hoá tính của đất thí nghiệm MÍA ĐƯỜNG trong tỉnh Hậu Giang

Địa điểm thí nghiệm

pH (Nước)

N tổng số (%)

P dễ tiêu (mg P2O5/

100 g đất)

K trao đổi (meq/100 g đất)

Chất hữu cơ (%)

xã Hiệp Hưng, huyện Phụng

Hiệp

TT cây Dương, huyện Phụng

Hiệp

Trong bảng 7 cho thấy thành phần dinh dưỡng trong 4 điểm thí nghiệm mía có độ phì trung bình đến khá, đặc biệt là lân dễ tiêu và chất hữu cơ {mức tương đối]

Trang 7

Kết quả từ bảng 15 [xem phần phụ chương] cho thấy phân sinh học và phân hóa học làm tăng số cây mía/40 m2, đường kính cây mía so với đối chứng thế nhưng bón phân hóa học hay phân hóa học không thay đổi độ Brix một có ý nghĩa thống kê Trong hình 39 [xem phần phụ chương] cho thấy bón phân sinh học và phân hóa học gia tăng năng suất mía cây, điều đặc biệt là nghiệm thức bổ sung thêm 100 lít dịch vi khuẩn lên men chứa IAA cho năng suất mía cây cao nhất và không khác biệt ý nghĩa so với nghiệm thức bón phân hóa học

Điều này đã giúp tổng lượng đường trong 1 ha của nghiệm thức bón phân sinh học và bổ sung 100 lít dịch vi khuẩn lên men cao nhất (hình 40)[xem phần phụ chương]; đáng chú ý

là hàm lượng N tổng số trong đất trước khi thí nghiệm thấp nhưng sau khi thí nghiệm đất được phân tích cho thấy hàm lượng N tổng số tăng so với lúc ban đầu, điều này cho thấy nông dân bón nhiều phân đạm hóa học cho cây mía đường (hình 41)[xem phần phụ chương] nhưng hàm lượng P dể tiêu trong đất sau khi thu hoạch vụ 1 lại giảm thấp hơn

10 lần so với lúc ban đầu (hình 42)[xem phần phụ chương] có lẻ do nhu cầu phát triển của cây mía cần nhiều lân nhưng nông dân lại không bón bổ sung như phân đạm hóa học tuy nhiên nghiệm thức có sử dụng phân sinh học có hàm lượng P dể tiêu cao so với nghiệm thức bón phân hóa học

Trong điểm thí nghiệm ở xã Hiệp Hưng với giống mía VD 86-368, hiệu quả của phân sinh học bổ sung ¼ phân đạm hóa học có thêm 100 lít dịch vi khuẩn lên men hay không đều tăng chiều cao cây mía, trọng lượng cây mía và độ Brix (bảng 16)[xem phần phụ chương], và giúp năng suất mía tương đương với mía bón phân hóa học (hình 43)[xem phần phụ chương] cũng như tổng lượng đường trong 1 ha (hình 44)[xem phần phụ chương] Trái với thí nghiệm ở thị trấn Cây Dương, hàm lượng N tổng số trong đất giảm rất thấp vì cây mía rất cần nhiều phân đạm hóa học để phát triển (hình 45)[xem phần phụ chương] trong khi đó hàm lượng P dễ tiêu trong đất trồng mía sau khi thu hoạch giảm thấp nhất là nghiệm bổ sung dịch vi khuẩn lên men mặc dù không có sự khác biệt ý nghĩa giữa các nghiệm thức (hình 46)[xem phần phụ chương]

Trong bảng 17 [xem phần phụ chương]cho thấy thành phần năng suất mía ở vùng này thấp hơn 2 thí nghiệm trước nhưng độ Brix trong nước mía cao có lẻ do giống mía tuy nhiên bón phân sinh học thêm 50 kg N/ha [bổ sung 100 lít dịch vi khuẩn hay không] đều tăng số mía cây/40 m2 và trọng lượng 1 cây mía, điều này giúp năng suất mía cây cao và tương đương với năng suất mía bón phân hóa học (hình 47) cũng như tổng lượng đường trong 1 ha (hình 48) Tương tự như hai thí nghiệm trên, hàm lượng N tổng số trong đất giảm thấp sau khi thu hoạch mía so với lúc ban đấu (hình 49) và lượng P dễ tiêu trong đất cũng giảm thấp dù trong đất lượng P dễ tiêu đang ở mức thấp, có lẻ do nông dân ít chú ý đến đầu tư phân lân so với phân đạm hóa học (hình 50)[xem phần phụ chương]

Bảng 18 [xem phần phụ chương] trình bày những kết quả khác thường như chiều cao cây mía của nghiệm thức đối chứng cao nhất tuy nhiên các nghiệm thức bón phân hóa học và phân sinh học bổ sung phân đạm hóa học gia tăng số lượng cây mía trên 40 m2, trọng lượng cây mía và độ Brix của cây mía; chính những yếu tố này tăng năng suất mía cây (hình 51) và tổng lượng đường trong 1 ha (hình 52) một cách đáng kể Thí nghiệm này cũng cho thấy cây mía phát triển ở vùng Long Mỹ kém hơn ba vùng trên, điều có thể giải thích kết quả này là thành phần dinh dưỡng của vùng đất này kém thông qua lượng N tổng số (hình 53) và hàm lượng P dễ tiêu trong đất (hình 54)[xem phần phụ chương]

đó chỉ tiêu chiều cao cây và đường kính cây mía không ảnh hưởng bởi phân bón hóa học hay phân sinh học mà chủ yếu hai chỉ tiêu này chịu sự tác động của giống mía hơn là của phân bón, trái lại phân hóa học và phân sinh học tác động mạnh lên số cây mía/ 40 m2

Trang 8

(hình 21 và hình 22) và trọng lượng cây mía trong đó bón phân hóa học và phân sinh học

bổ sung thêm 50 kg N/ha (một phần tư của lượng phân N phổ biến) và tưới 100 lít dịch vi khuẩn lên men/ha cho số mía cây và trọng lượng 1 cây mía tương đương với bón 200 kg

N và 90 kg P2O5/ha Chính hai thành phần năng suất của cây mía tác động đến năng suất mía cây/ha (bảng 10), điều này được chứng minh qua sự tương quan giữa số cây mía và năng suất (hình 23) và trọng lượng cây mía với năng suất (hình 24) Mặc dù bộ Brix không khác biệt giữa các nghiệm thức nhưng sự tương qua giữa năng suất mía cây và tổng lượng đường rất chặt chẻ (hình 25)

Bảng 8 Hiệu quả của phân sinh học và phân hóa học trên thành phần năng suất và độ

Brix của cây mía đường trồng trên đất phù sa trong tỉnh Hậu Giang (TB 4 thí nghiệm)

Nghiệm thức cao câyChiều

mía (m)

Số cây mía /

40 m2

Đường kính cây mía (cm)

Trọng lượng 1 cây mía (kg)

Độ Brix

Đối chứng (không bón phân N và

P)

100 kg phân sinh học/ha + 50 kg

N/ha

100 kg phân sinh học/ha + 50 kg

N/ha + 100 lít dịch vi khuẩn lên

men

Phân sinh học và phân hoá học tác động đến số cây mía trong 1 đơn vị diện tích và trọng lượng cây mía rỏ rệt trong khi đó chiều cao cây mía, đường kính cây mía và độ Brix không có ảnh hưởng, có lẻ những đặc tính này do giống mía quyết định và ít có biến động bởi phân bón (bảng 8); phân bón lại quyết định nhiều đến năng suất mía và điều này dẩn đến tổng lượng đường thu được trong một đơn vị diện tích cao hơn hẳn (bảng 9) trong nghiệm thức bón 100 kg phân sinh học và 50 kg N/ha [bổ sung 100 lít/ha dịch vi khuẩn lên men hay không] cho năng suất mía cây và tổng lượng đường tương đương với cây mía chỉ bón 200 kg N và 90 kg P2O5/ha, sự tương quan giữa năng suất mía cây với số cây mía (hình 6), với trọng lượng cây mía (hình 7) và tổng lượng đường (hình 8) rất chặt chẻ (1%), điều này cho thấy tác động của phân bón đến số cây, trọng lượng cây mía đến năng suất và tổng lượng đường thu được

Trang 9

Hình 21 Số mía cây con trên một diện tích của nghiệm thức đối chứng

Hình 22 Số mía cây con trên một diện tích của nghiệm thức bón phân sinh học

(Cả hai hình được chụp từ thí nghiệm mía ở thí nghiệm xã Hoả Tiến, thị xã Vị Thanh)

Trang 10

Trong các khuyến cáo trong canh tác mía đuờng, các cơ quan khuyến nông thường khuyên nông dân sử dụng một lượng lón phân đạm hoá học bên cạnh đó một lượng lớn phân lân và phân kali có nguồn gốc từ phân khoáng và để đãm bảo một năng suất mía cây

có lãi, số lượng phân đạm hoá học cần bón từ 180 đến 200 kg N/ha (khuyến cáo của Công ty Cổ phần Mía đường Cần Thơ [Casuco]), phân lân hoá học từ 60 đến 90 kg

P2O5/ha và phân Kali từ 80 đến 90 K2O/ha trên nhiều vùng đất có đặc tính khác nhau Chính vì sử dụng một lượng lớn phân hoá học cũng như thời gian canh tác khá lâu (từ 10 đến 12 tháng tùy giống mía) cho nên khi gần thời điểm thu hoạch, nếu có những biến động về giá cả, nông dân sẽ chịu thiệt thòi về thu nhập do giá thành khá cao

Bên cạnh đó những thành tựu khoa học kỹ thuật đặc biệt về canh tác mía đường ở những quốc gia thâm canh mía đường như Brasil chẳng hạn đã có những tiến bộ đáng kể, nổi bật

nhất là loài vi khuẩn Gluconacobacter diazotrophicus nội sinh trong cây mía và cố định

đạm sinh học cung cấp cho cây mía được khám phá từ lâu (Calvacante và Dobereiner, 1988) và được nhiều nhà khoa học Ấn độ nghiên cứu sâu hơn và họ đề xuất như là một loài vi khuẩn lý tưởng không những cho cây mía đường mà còn cho nhiều cây trồng thuộc họ hoà bản khác để cung cấp đạm sinh học (Muthukumarasamy et al, 2002; Boddey et al, 2003) Những kết quả thí nghiệm của chúng tôi trên giống mía đường VĐNL-7 trồng trên đất phèn huyện Bến Lức, tỉnh Long An cho thấy hiệu quả phân sinh

học gồm 2 chủng vi khuẩn Gluconacobacter diazotrophicus cố định đạm và

Pseudomonas stutzeri hoà tan lân khó tan đã có kết quả tích cực làm giảm phân nửa

lượng phân đạm hoá học (92 kg thay vì 184 kg N/ha/2 vụ) và không bón phân lân hoá học như vậy nông dân tiết kiệm được 92 kg N và 96 kg P2O5/ha mà năng suất mía cây và tổng lượng đường/ha còn cao hơn nghiệm thức chỉ bón phân đạm và lân hoá học (Cao Ngọc Điệp và Bùi thị Kiều Oanh, 2006)

Bảng 9 Hiệu quả của phân sinh học và phân hóa học trên năng suất mía cây và tổng

lượng đường của mía trồng trên đất phù sa trong tỉnh Hậu Giang (TB 4 thí nghiệm)

Nghiệm thức Năng suất mía cây

(T/ha)

Tổng lượng đường (kg/ha)

100 kg phân sinh học/ha + 50 kg N/ha + 100 lít

31

tuong quan năng suât va so m ía cây/ha

y = 1,0656x + 158,4

R 2 = 0,5884

150 200 250 300 350 400

Ngày đăng: 15/12/2017, 10:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w