1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu sản xuất phân sinh học đa chủng bón cho lúa cao sản, bắp lai, mía đường và khóm trồng trong tỉnh hậu giang phần 2

12 152 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 5,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành phần lý hoá tính của 4 điểm thí nghiệm bắp lai ở tỉnh Hậu Giang Địa điểm thí nghiệm pH Nước N tổng số % P dễ tiêu mg P2O5/ 100 g đất K trao đổi meq/100 g đất Chất hữu cơ % Thị Trấ

Trang 1

III Kết quả và Thảo luận

3.1 Bắp lai

Nhìn chung, độ phì của dất thí nghiệm tương đối khá (trừ điểm thí nghiệm ở xã Hoà Mỹ) trong đó điểm thí nghiệm xã Phụng Hiệp tương đối tốt nhất

Bảng 2 Thành phần lý hoá tính của 4 điểm thí nghiệm bắp lai ở tỉnh Hậu Giang

Địa điểm thí nghiệm

pH (Nước)

N tổng số (%)

P dễ tiêu (mg P2O5/

100 g đất)

K trao đổi (meq/100 g đất)

Chất hữu cơ (%)

Thị Trấn Một Ngàn, huyện Châu

Thành A

Xã Nhơn Nghĩa A, huyện Châu

Xã Phụng Hiệp, huyện Phụng

Kết quả từ bảng 1 [xem phần phụ chương] cho thấy hiệu quả bón 100 kg phân sinh học bổ sung 60 kg N/ha và 100 lít vi khuẩn cung cấp thêm IAA cùng các nguồn dinh dưỡng khác như P dễ tan… đã giúp cho thành phần năng suất của cây bắp lai (giống G49) tương đương với cây bắp chỉ bón phân hóa học (180 kg N và 90 kg P2O5 /ha) khi trồng trên đất phù sa thị trấn MỘT NGÀN của huyện Châu Thành A Không bón phân (hình 1), năng suất chỉ có 486 kg/ha, bón 100 kg phân sinh học cho năng suất gấp 3 lần và nếu bổ sung 60 kg N không hay bổ sung 100 lít vi khuẩn/ha cho năng suất gấp 8 đến 10 lần so với đối chứng (hình 2), tuy nhiên bón 180 kg N và 90 kg P2O5 /ha cho năng suất cao nhất (hình 1)[xem phần phụ chương]; trồng bắp lai làm hàm lượng N tổng số và P dễ tiêu giảm thấp so với trước khi trồng đặc biệt là nghiệm thức bón phân hóa học, điều này cho thấy cây bắp lấy đi một lượng dưỡng chất rất lớn để cho năng suất cao (hình 2 và hình 3) [xem phần phụ chương] Tương tự như kết quả ở điểm thí nghiệm thị trấn MỘT NGÀN, bón 100 kg phân sinh học bổ sung 60 kg N và 100 lít vi khuẩn chứa IAA giúp cho cây bắp phát triển tốt như cây bắp bón phân hóa học khi trồng trên đất phù sa xã NHƠN NGHĨA (bảng 2), (hình 3) năng suất bắp ở nghiệm thức 5 tương đương với năng suất bắp lai chỉ bón phân hóa học (hình 4))[xem phần phụ chương] đồng thời hàm lượng N tổng số trong đất không giảm bao nhiêu so với lúc đầu (hình 5)[xem phần phụ chương] có lẻ do nông dân bón quá nhiều phân N vô cơ hơn nửa đất thí nghiệm phì nhiêu hơn đất thí nghiệm của điểm thị trấn MỘT NGÀN (bảng 1)[xem phần phụ chương] tuy vậy lượng P

dễ tiêu trong đất giảm thấp so với ban đầu đặc biệt là nghiệm thức 2 (chỉ bón phân hóa học)(hình 6))[xem phần phụ chương], điều này cho thấy nông dân ít chú ý đến phân lân

mà chú trọng nhiều đến phân đạm hóa học và năng suất bắp ở nghiệm thức bón phân hóa học cao chứng tỏ cây bắp đã lấy một lượng dưỡng chất rất lớn trong đó lượng lân vô cơ (90 kg P2O5) không đủ bù đắp sự cân bằng lượng lân trong đất [xem phần phụ chương]

Trang 2

Hình 1.Nghiệm thức đối chứng

(không bón phân N và P)

Hình 2 Nghiệm thức bón phân

sinh học + 60 kg N/ha

Hình 3 Toàn cảnh thí nghiệm bắp lai ở huyện Châu Thành A cho thấy sự khác biệt giữa

các nghiệm thức đối chứng (không bón phân) và nghiệm thức bón phân sinh học

Trang 3

A: đối chứng (không bón phân N và P), B:180 kg N – 90 P2 O 5/ha, C: 100 kg phân sinh học/ha, D: C + 60

kg N/ha, E: D + 100 lít vi khuẩn lên men chứa IAA/ha

Hình 4 Hiệu quả của các nghiệm thức bón phân trên hình dạng trái bắp lai (giống G49)

Tương tự như hai kết quả đã trình bày ở trên, bón 100 kg phân sinh học bổ sung 60 kg

N và 100 lít vi khuẩn chứa IAA giúp cho cây bắp phát triển tốt như cây bắp bón phân hóa học khi trồng trên đất phù sa xã HÒA MỸ, huyện Phụng Hiệp (bảng 4)[xem phần phụ chương], năng suất bắp ở nghiệm thức 5 tương đương với năng suất bắp lai chỉ bón phân hóa học (hình 7)[xem phần phụ chương] nhưng với nghiệm thức 4 cũng cho năng suất khá cao và như vậy chỉ bổ sung 100 lít dịch vi khuẩn/ha sẽ có hiệu quả tương đương như nghiệm thức 2 đồng thời hàm lượng N tổng số trong đất không giảm bao nhiêu so với lúc đầu (hình 8)[xem phần phụ chương] có lẻ do nông dân bón quá nhiều phân N vô cơ do đất ở đây kém phì nhiêu hơn đất thí nghiệm của điểm xã NHƠN NGHĨA (bảng 1) tuy vậy lượng P dễ tiêu trong đất giảm thấp so với ban đầu trừ nghiệm thức đối chứng (hình 9) [xem phần phụ chương], điều này cho thấy nông dân ít chú ý đến phân lân mà chú trọng nhiều đến phân đạm hóa học và năng suất bắp ở nghiệm thức bón hóa học cao chứng tỏ cây bắp đã lấy một lượng dưỡng chất rất lớn trong đó lượng lân vô cơ (90 kg P2O5) không

đủ bù đắp sự cân bằng lượng lân trong đất bên cạnh đó vi khuẩn hòa tan lân thỏa mãn nhu cầu lân cho cây bắp [xem phần phụ chương]

Trái với những kết quả trên, bảng 5 [xem phần phụ chương]cho thấy bón phân sinh học và không hay có bổ sung phân đạm đều cho thành phần năng suất khá cao ngay cả nghiệm thức đối chứng cây bắp cũng phát triển tốt có lẻ đất thí nghiệm quá phì nhiêu (bảng 2) so với 3 điểm thí nghiệm trước; năng suất bắp ở nghiệm thức 4 cao nhất (như vậy đất quá tốt không cần thiết bổ sung dịch vi khuẩn) gấp đôi năng suất bắp không bón phân (đối chứng)(hình 10)[xem phần phụ chương], hàm lượng N tổng số trong đất sau khi thu hoạch bắp vẩn còn khá cao (hình 11) và hàm lượng P dễ tiêu cũng có kết quả tương tư như N tổng số (hình 12)[xem phần phụ chương] Như vậy, với một loại đất phù

sa phì nhiêu, nhiều dưỡng chất trồng bắp lai chỉ cần bón một lượng phân sinh học sẽ cho năng suất bắp tương đối và nông dân chấp nhận có lãi và đất ít bị biến đổi Để đánh giá

Trang 4

hiệu quả phân sinh học trên cây bắp lai trồng trên đất Hậu Giang, phân tích số liệu trên với 4 điểm là 4 lần lập lai, kết quả trình bày trong bảng 3 cho thấy bón 100 kg phân sinh học bổ sung 60 kg N và 100 lít dịch vi khuẩn chứa IAA cho thành phần năng suất tương đương với bắp bón phân hóa học mà thôi

Tuy nhiên, tổng kết 4 thí nghiệm về bắp lai tại 4 địa bàn khác nhau trong tỉnh cho thấy Kết quả từ hình 4 và hình 5 cho thấy bắp lai bón 100 kg phân sinh học bổ sung 60

kg N/ha và có thể bổ sung thêm hay không 100 lít dịch vi khuẩn cho năng suất không khác biệt ý nghĩa thống kê so với bắp bón phân hóa học (180 kg N và 90 kg P2O5/ha), nếu

so với lúc ban đầu chưa trồng thì hàm lượng N tổng số và P dễ tiêu đều giảm tuy nhiên các nghiệm thức bón phân sinh có hàm lượng N tổng số và P dễ tiêu cao hơn lúc ban đầu mặc dù giữa các nghiệm thức không có sự khác biệt ý nghĩa (hình 14 và hình 15), điều này bón phân sinh học không làm suy thoái hàm lượng các dưỡng chất trong đất (đạm và lân) mà vẩn đãm bảo năng suất hột bắp vẩn cao

Bảng 3 Hiệu quả phân sinh học và phân hoá học trên cây bắp lai (G.49) trồng trên đất

phù sa tỉnh HẬU GIANG năm 2006 (trung bình của 4 thí nghiệm ở 4 địa điểm trong tỉnh)

Nghiệm

thức

Chiều cao cây (cm)

Chiều dài trái (cm)

Chiều hoành trái (cm)

Trọng lượng trái (g)

số hột /trái

Tl 100 hột (g)

NT 1 = đối chứng, NT 2 = 180 kg N và 90 kg P2O5 /ha , NT 3 = 100 kg phân sinh học/ha, NT 4

= NT 3 + 60 kg N/ha, NT 5 = NT 4 + 100 lít dịch vi khuẩn lên men

Những thí nghiệm của chúng tôi trước đây được thực hiện ở huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp cho thấy bón phân sinh học bổ sung dịch vi khuẩn lên men cùng với phân nửa lượng phân đạm hóa học cho kết quả năng suất tương đương với bắp lai chỉ bón phân hóa học (Nguyễn Hữu Hiệp và Cao Ngọc Điệp, 2002) sau đó thí nghiệm này được lập lại ở huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang cho thấy hiệu quả phân lân sinh học tương đương với bón 60 kg P2O5/ha (Cao Ngọc Điệp và Nguyễn văn Được, 2004) và thí nghiệm gần đây được thực hiện tại địa bàn này cho thấy bón 100 kg phân sinh học bổ sung 60 kg N/ha và

Trang 5

50 lít vi khuẩn lên men/ha cho năng suất cao nhất và tương đương với bón 180 kg N và bón 60 kg P2O5/ha (Cao Ngọc Điệp, 2006a) tuy nhiên ở vùng đất xám bạc màu ở huyện Đức Huệ, tỉnh Long An thì nghiệm thức bón 100 kg phân sinh học cộng với 180 kg N/ha cho năng suất cao nhất tương đương với bón 180 kg N và 90 kg P2O5/ha (Cao Ngọc Điệp, 2006b) như vậy ở vùng đất kém phì nhiêu sự hổ trợ của vi sinh vật có ích trong phân sinh học chỉ đáp ứng được nhu cầu lân (và 90 kg P2O5/ha ) trong khi đó 4 thí nghiệm ở vùng đất phù sa trong tỉnh Hậu Giang cho thấy chỉ cần bón 100 kg phân sinh học bổ sung 60

kg N/ha (có hoặc không bổ sung dịch vi khuẩn lên men) cho năng suất tương đương với bón phân hóa học (180 kg N và 90 kg P2O5/ha)

1748

5940

3075

đôi chung 180 N - 90 P2O5 100 kg phân SH 100 kg phân SH +

60 N

100 kg phân SH +

60 N + 100 lít d?ch VK

Nang suat (kg/ha) bap lai trung binh cua 4 thi nghiem

Hình 5 Hiệu quả của phân sinh học và phân hóa học trên trung bình năng suất (kg/ha)

bắp lai (giống G49) của 4 điểm thí nghiệm trồng trên đất phù sa của tỉnh Hậu Giang vụ Xuân Hè 2006

Thông qua những kết quả của những thí nghiệm phân sinh học được thực hiện trên nhiều vùng đất khác nhau ở đồng bằng sông Cửu Long cho thấy bón phân sinh học bổ sung một lượng (một phần ba) phân đạm hóa học và không cần bón phân lân hóa học và có thể bổ sung dịch vi khuẩn lên men hay không tùy vùng đất có độ phì khác nhau sẽ cho kết quả tương đương với bón nghiệm thức chí bón phân hóa học Điển hình là thí nghiệm ở xã Nhơn Nghĩa, huyện Châu Thành A [thí nghiệm ông VINH] có thể tiêu biểu cho hiệu quả phân sinh học + 60 kg N/ha bổ sung hay không bổ sung 100 lít dịch vi khuẩn lên men/ha cho hiệu quả tương đương với nghiệm thức bón 180 kg N + 90 kg P2O5/ha

LSD.05 = 1279

kg/ha

Trang 6

0.1392 0.1051

0.125 0.1281

0.2063 0.2166

ban đâu

NT1

NT2

NT3

NT4

NT5

hamluong N tongso trong dat trong bap lai cua 4 thi nghiem

NT 1 = đối chứng, NT 2 = 180 kg N và 90 kg P 2 O 5 /ha , NT 3 = 100 kg phân sinh học/ha, NT 4 = NT 3 +

60 kg N/ha, NT 5 = NT 4 + 100 lít dịch vi khuẩn lên men

Hình 6 Hiệu quả của phân sinh học và phân hóa học trên hàm lượng N tổng số (%) trung

bình 4 điểm thí nghiệm của đất phù sa trồng bắp lai (giống G49) của tỉnh Hậu Giang trong vụ Xuân Hè 2006

5.5347

8.805 5.812

5.816

6.464

8.856

ban đâu

NT1

NT2

NT3

NT4

NT5

ham luong P de tieu trong bap trung binh 4 thinghiem

NT 1 = đối chứng, NT 2 = 180 kg N và 90 kg P 2 O 5 /ha , NT 3 = 100 kg phân sinh học/ha, NT 4 = NT 3 +

60 kg N/ha, NT 5 = NT 4 + 100 lít dịch vi khuẩn lên men

Hình 7 Hiệu quả của phân sinh học và phân hóa học trên hàm lượng P dễ tiêu (mg

P2O5/100 g đất) trung bình của 4 điểm thí nghiệm của đất phù sa trồng bắp lai (giống G49) của tỉnh Hậu Giang trong vụ Xuân Hè 2006

Trang 7

3.2 Lúa cao sản

Trong hai địa điểm thí nghiệm lúa cao sản, điểm thí nghiệm ở huyện Châu Thành A có

độ phì cao hơn đặc biệt hàm lượng N tổng số trong khi đó ở điểm thí nghiệm Vị Thủy, đất có hàm lượng N tổng số quá thấp (bảng 4)

Bảng 4 Thành phần lý hoá tính của 2 điểm thí nghiệm lúa cao sản ở tỉnh Hậu Giang

Địa điểm

thí nghiệm

pH (Nước)

N tổng số (%)

P dễ tiêu (mg P2O5/ 100

g đất)

K trao đổi (meq/100 g đất)

Chất hữu cơ (%)

Xã Tân Thuận, huyện Châu

Thị trấn Nàng Mau, huyện Vị

Kết quả từ bảng 7 [xem phần phụ chương] cho thấy bón 100 kg phân sinh học bổ sung 20

kg N/ha và 100 lít dịch vi khuẩn chứa IAA cho cây lúa cao sản trồng đất phù sa xã Tân Thuận, huyện Châu Thành A trong vụ Xuân Hè 2006 cho thành phần năng suất tương đương với cây lúa cao sản bón phân hóa học (100 kg N và 60 kg P2O5/ha) đặc biệt là số hạt chăc/bông lúa (hình 8), trọng lượng 1000 hột lúa và hàm lượng protein trong gạo; trong vụ Hè Thu, hiệu quả phân sinh học cũng cho kết quả tương tự như vụ Xuân hè 2006 nhưng hàm lượng protein trong gạo của những nghiệm thức bón ít phân đạm hóa học thấp hơn nghiệm thức bón phân hóa học (bảng 8)

A: đối chứng (không bón phân N và P), B:100 kg N – 60 P2 O 5/ha, C: 100 kg phân sinh học/ha, D: C + 20

kg N/ha, E: D + 100 lít vi khuẩn lên men chứa IAA/ha

Hình 8 Hiệu quả bón phân sinh học và hoá học trên bông lúa cao sản (giống OM 3536)

Trang 8

Hình 16 [xem phần phụ chương] trình bày năng suất lúa trong 2 vụ lúa liên tiếp (vụ Xuân hè và Hè Thu 2006) đều cho thấy năng suất lúa có bón phân sinh học bổ sung 20 kg N/ha và 100 lít dịch vi khuẩn chứa IAA tương đương với năng suất lúa chỉ bón phân hóa học (100 kg N/ha + 60 kg P2O5/ha) và trung bình tổng lượng protein trong gạo cả 2 vụ lúa cao sản dưới ảnh hưởng của phân sinh học không khác biệt ý nghĩa với lúa chỉ bón phân hóa học (hình 17) Đồng thời tổng lượng protein gạo trong 1 ha trong cả 2 vụ của lúa bón phân sinh học bổ sung 20 kg N/ha và 100 lít dịch vi khuẩn (hình 18) qua 2 vụ lúa liên tiếp trên một miếng đất đã làm hàm lượng N tổng số và lượng P dễ tiêu trong đất giảm thấp so với ban đầu và nghiệm thức đối chứng (hình 19 và hình 20)[xem phần phụ chương] Trong bảng 9 và bảng 10 [xem phần phụ chương] cho thấy bón phân sinh học bổ sung

20 kg N/ha và 100 lít dịch vi khuẩn cho cây lúa trồng ở thị trấn Nàng Mau, huyện Vị Thủy có thành phần năng suất tương đương với lúa bón phân hóa học tuy nhiên năng suất lúa còn thấp hơn lúa bón phân hóa học trong cả 2 vụ (hình 21 và hình 22) nhưng tổng lượng protein trong gạo không khác biệt ý nghĩa (hình 23 và hình 24) Tương tự như thí nghiệm ở huyện Châu Thành A, hàm lượng N tổng số và hàm lượng P dễ tiêu trong đất sau 2 vụ đều giảm thấp so với ban đầu nhưng hàm lượng N tổng số không khác biệt giữa các nghiệm thức trái lại hàm lượng P dễ tiêu có sự khác biệt đáng kể trong đó nghiệm thức 5 có lượng P dễ tiêu trong đất thấp nhất, điều này cho thấy đất thí nghiệm ở đây (thị trấn Nàng Mau) có lượng P dễ tiêu thấp hay sự mất cân đối giữa N và P trong đất nếu so sánh với kết quả phân tích đất ở thí nghiệm Châu Thành A (hình 25 và hình 26)[xem phần phụ chương]

Tổng kết 4 thí nghiệm lúa ở 2 địa điểm (Châu Thành A và Vị Thủy) cho thấy thành phần năng suất lúa có bón phân hóa học cao nhất (hình 9 và hình 10) trong đó sự khác biệt đáng kể là số bông lúa/buội (bảng 5)

Hình 9 Hiệu quả của phân sinh học bổ sung 20 kg N/ha trên lúa cao sản trồng trên đất

phù sa huyện Châu thành A

Trang 9

Hình 10 Hiệu quả của phân sinh học bổ sung 20 kg N và 100 lít dịch vi khuẩn lên

men/ha trên lúa cao sản trồng trên đất phù sa huyện Châu thành A

Bảng 5 Hiệu quả phân sinh học và phân hóa học trên cây lúa cao sản (OM 3536) trồng

trên đất phù sa trong tỉnh Hậu Giang [trung bình của 4 thí nghiệm]

Nghiệm

thức

Chiều cao cây lúa (cm)

Chiều dài bông lúa (cm)

số hột chắc /bông lúa

số bông lúa /buội

TL.1000 hột lúa (g)

Hàm lượng protein trong gạo (%)

NT1 = Đối chứng, NT 2 = 100 kg N – 60 P2O5/ha, NT 3 = 100 kg phân sinh học/ha, NT 4 = 100

kg phân sinh học + 20 kg N/ha, NT 5 = 100 kg phân sinh học + 20 kg N + 100 lít dịch VK/ha

n.s = không khác biệt ý nghĩa thống kê

Trang 10

4493

2734

3581

4193

nghiêmthuc

Nangsuat (kg/ha) luacaosan o Hau Giang

Hình 11 Hiệu quả của phân sinh học và phân hóa học trên năng suất (kg/ha) trung bình 4

vụ lúa cao sản trồng trên đất phù sa trong tỉnh Hậu Giang

Điều này dẩn đến năng suất lúa của nghiệm thức này cao nhất kế đến là nghiệm thức 5 [bón phân sinh học bổ sung 20 kg N/ha và 100 lít dịch vi khuẩn ](hình 11) tuy nhiên tổng lượng protein trong gạo của 2 nghiệm thức không khác biệt ý nghĩa (hình 12); điều đặc biệt là hàm lượng N tổng số và P dể tiêu trong đất của các nghiệm thức không khác biệt ý nghĩa, điều này cho thấy phân sinh học với những dòng vi khuẩn huy động dưỡng chất cung cấp cho cây lúa nhưng không làm ảnh hưởng đến dinh dưỡng của đất (hình 13 và hình 14) Tuy nhiên, hàm lượng dưỡng chất (N và P) trong đất thấp có lẻ do đất trồng lúa sau 2 vụ mới phân tích còn đất trồng bắp chỉ có 1 vụ nên hàm lượng N và P khá hơn

105.3

202.3

129

167.8

195.9

NT1

NT2

NT3

NT4

NT5

tông luong protein (kg/ha) o hau giang

NT1 = Đối chứng, NT 2 = 100 kg N – 60 P 2 O 5 /ha, NT 3 = 100 kg phân sinh học/ha, NT 4 = 100 kg phân sinh học + 20 kg N/ha, NT 5 = 100 kg phân sinh học + 20 kg N + 100 lít dịch VK/ha

Hình 12 Hiệu quả của phân sinh học và phân hóa học trên tổng lượng protein trong gạo

(kg/ha) trung bình 4 vụ lúa cao sản trồng trên đất phù sa trong tỉnh Hậu Giang

LSD.05 = 223

kg/ha

LSD.05 = 29,17 kg/ha

Ngày đăng: 15/12/2017, 10:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w