1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ủ rác thải gia đình bằng nấm trichoderma spp và vi sinh vật có ích để trồng rau an tòan ở huyện phụng hiệp, tỉnh hậu giang

25 158 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 663 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành phần vật liệu ủ - Phân tích vật liệu hữu cơ sử dụng ủ phân ở các hộ thí điểm trong vụ 1 và 2 Bảng3.2.1 cho thấy phần lớn gồm rơm, cỏ và lục bình, tuy nhiên tỉ lệ các vật liệu ủ rấ

Trang 1

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN3.1 Tình hình thời tiết trong thời gian thí nghiệm

Nhiệt độ và số giờ nắng trung bình trong ngày của vụ 2 thấp hơn vụ 1 nhưng lượngmưa và ẩm độ trung bình trong ngày lại cao hơn vụ 1

Hình 3.1 Tình hình thời tiết trong thời gian thí nghiệm (4-10/2006) tại huyện Phụng Hiệp,

Hậu Giang (Đài khí tượng thủy văn Cần Thơ, 2006)

3.2 Thành phần và chất lượng phân ủ

3.2.1 Thành phần vật liệu ủ

- Phân tích vật liệu hữu cơ sử dụng ủ phân ở các hộ thí điểm trong vụ 1 và 2 (Bảng3.2.1) cho thấy phần lớn gồm rơm, cỏ và lục bình, tuy nhiên tỉ lệ các vật liệu ủ rấtkhác nhau tuỳ lượng vật liệu có sẳn ở tại các hộ

- Tỉ lệ rơm ủ cao nhất (70%-80) ở hộ Bạch Vân (Kinh Cùng ) và ở hộ Đum (TânBình) vụ 2; tỉ lệ lục bình cao nhất (70%) ở hộ Đum (Tân Bình) vụ 1; và tỉ lệ cỏ caonhẩt (70%-100%) ở hộ Diễn vụ 1, hộ Thum ở vụ 2 (Hòa An) và hộ Út nhỏ (TânBình)

Nhiệt độ trung bình (0C) Ẩm độ (%) Lượng mưa (mm/ngày) Số giờ nắng (giờ/ngày)

18,6

15,7

4,7

9,11 7,15

6,57

2,75 4,59

Nhiệt độ trung bình (0C) Ẩm độ (%) Lượng mưa (mm/ngày) Số giờ nắng (giờ/ngày)

Trang 2

- Thời gian ủ hoai ở các mẻ ủ nầy cũng khác nhau:ở hộ Bạch Vân (7 tuần) > hộĐum (8 tuần) > hộ Diễn (9 tuần) > hộ Thum (10 tuần) Điều nầy cho thấy mẻ ủ cóthành phần rơm cao mau hoai hơn lục bình, và cỏ chậm hoai nhất Thật vậy ở hộ ÚtNhỏ, chỉ có cỏ (100%) là vật liệu ủ, thời gian ủ hoai chậm (8 tuần) và tỉ lệ C/N của

mẻ ủ còn khá cao cho thấy mẻ ủ chưa hoai hoàn toàn ở thời gian kết thúc ủ 7 tuần

Bảng 3.2.1 Thành phần vật liệu ủ phân vụ 1 và 2

ST

Loại rau trồng

gian ủ (tuần)

Vụ 2

*: cộng thêm 20% vỏ trấu **: cộng thêm 25% phân vịt vào 8 tuần sau khi ủ

3.2.2 Chất lượng phân ủ

Mức độ hoai mục và chất lượng phân ủ tùy thuộc vào nhiều yếu tố trong đó: lọai vậtliệu ủ, tỉ lệ vật liệu ủ và kỹ thuật ủ phân ở từng hộ nông dân được phân tích như sau:

Trang 3

Bảng 3.2.2 Một số tính chất hoá học và dinh dưỡng của phân ủ ở 2 vụ (% chất khô)

Pts

%P 2 0 5

Độ ẩm

*: cộng thêm 20% vỏ trấu **: cộng thêm 25% phân vịt vào 8 tuần sau khi ủ

Kết quả trình bày ở Bảng 3.2.2 cho thấy:

- pH của hầu hết các mẻ phân ủ trong khoảng trung tính (6,4-7,9) cho thấy sự tạothành NH3 trong quá trình khoáng hoá đạm hữu cơ thành đạm vô cơ và sau đó là sựtạo thành NH4OH đã làm cho phân có phản ứng trung tính Ngọai trừ hộ Diễn, cóbón bổ sung phân urê (5 g/3,6 m3), nên sự nitrat hoá dạng đạm NH4 làm pH của mẻphân ủ giảm mạnh (pH 4,9)

- Hàm lượng đạm tổng số thay đổi theo lọai và tỉ lệ vật liệu ủ:

+ có tỉ lệ rơm cao (70-80%): phân sau ủ có hàm lượng đạm tổng số cao nhất(1,8 – 2,4% N), mau hoai hơn (tỉ lệ C/N thấp 29-39), hàm lượng N dễ tiêu (NH4 +

NO3-) cao hơn (272-1661 mg/kg)

+ chứa lục bình cao: hàm lượng N tổng số thấp hơn (1,5 - 2,3%N), chậmhoai hơn (tỉ lệ C/N cao hơn 33-38), hàm lượng N dễ tiêu (NH4 + NO3-) thấp hơn(95-161mg/kg)

Trang 4

+ chứa nhiều cỏ: hàm lượng N tổng số thấp nhất (0,7-0,9%N), chậm hoainhất (tỉ lệ C/N cao nhất 48-51), hàm lượng N dễ tiêu ( NH4++ NO3-) tuy nhiên đạtkhá cao (624-1547 mgN/kg) do hộ Diễn (vụ1) tưới thêm urê, hộ Thum (vụ 2) trộnthêm 20 % phân vịt, hộ Út nhỏ (vụ 1) ủ nơi râm mát hàm lượng đạm ít bị mất đi

Do đó về mặt thực vật học, dùng cỏ làm vật liệu ủ kéo dài thời gian ủ và hàmlượng đạm tổng số thấp nhất vì cơ quan dinh dưỡng của cỏ có nhiều chất lignin hơnlục bình và rơm rạ

Hình 3.2.1 Hàm lượng N tổng số trong mẻ ủ có tỉ lệ rơm, lục bình và cỏ cao

- Còn hàm lượng lân tổng số đạt cao nhất (0,4%) ở hộ Đum có lượng lục bình 70%,

đạt thấp hơn (0,2 - 0,3% P) ở các hộ Vân vụ 1 và 2, Đum vụ 2 có lượng rơm cao 80%; đạt thấp nhất (0,1 - 0,2% P) ở các hộ có lượng cỏ cao

70-Mẫu Phân Ủ

d

ab

Hình 3.2.2 Hàm lượng P tổng số trong mẻ ủ có tỉ lệ rơm, lục bình và cỏ cao

Nhìn chung về chất lượng phân ủ đạt khá cao:

1 Hàm lượng đạm tổng số đạt cao tương đương với phân vịt (2,2% N), phân bã

bùn mía (2,0% N theo Dương Minh Viễn và ctv., 2005) nếu lượng rơm ủ cao, và đạt

cao tương đương phân trâu bò (1,7 %N, Cục Khuyến Nông, Khuyến Lâm, 2004)khi lượng lục bình cao Riêng phân ủ chủ yếu từ cỏ thì chất lượng phân kém hơn

Trang 5

2 Hàm lượng lân trong phân ủ đạt tương đương hoặc kém hơn so với phân bò(1,00%)

Kết quả nầy cho thấy chất lượng phân ủ từ thực vật như rơm rạ, lục bình có chấtlượng khá tốt, tuy có thấp hơn các loại phân ủ từ chất thải động vật như heo, gà…(Cục Khuyến Nông, Khuyến Lâm, 2004) nhưng rơm, cỏ, lục bình… là nguồn có sẳnsau vụ lúa, vụ nấm, trong sông rạch… cho nên sự tận dụng các nguồn nguyên liệunầy vừa có hiệu quả kinh tế vừa làm sạch môi trường

3.2.3 Hàm lượng đạm trong phân ủ trước và sau chủng vi sinh (vụ 1)

Nhìn chung hàm lượng N dễ tiêu trong phân ủ sau khi chủng vi sinh đạt cao hơntrước khi chủng Sự gia tăng nầy có thể chủ yếu là do sự cố định đạm của vi sinh vậtđược chủng vào, một phần nhỏ có thể do sự tiếp tục khoáng hóa dạng đạm hữu cơ,tuy nhiên do phân đã hoai mục, sự khoáng hóa thấp, nên sự gia tăng đạm khoángcũng không đáng kể Sự mất đạm có thể tiếp tục xảy ra do phân ủ chỉ được tủ bằngtấm ni lông và không có mái che Điều nầy có thể là lý do của sự giảm hoặc tăngkhông đáng kể lượng đạm khóang ủ ở một số hộ

Bảng 3.2.3 Tổng N trong phân ủ trước và sau khi chủng vi sinh vật ở vụ 1

ST

Tổng N dễ tiêu trước chủng VSV-

vu 1 (mgN/kg )

Tổng N dễ tiêu trước thí nghiệm

3.2.4 Mật số nấm Trichoderma trong phân ủ

Sau khi ủ mật số nấm Trichoderma đạt 1,1 x 107 - 1,0 x 108 ở vụ 1, đạt thấp hơntrong vụ 2 Độ xốp, độ thoáng khí của mẻ phân ủ và ẩm độ có thể là nguyên nhânchênh lệch về mật số bào tử Nhìn chung qui trình, vật liệu ủ, kỹ thuật ủ của nôngdân ở các điểm thí nghiệm phù hợp với sự phát triển của nấm

Bảng 3.2.4 Mật số bào tử nấm Trichoderma trong phân ủ ở 2 vụ

Trang 6

6 Nguyễn Văn Thum HA 8,3 4,2

Trang 7

3.2.5 Mật số vi sinh vật cố định đạm và hoà tan lân trong phân ủ

Mật số vi sinh vật cố định đạm (Gluconacetobacter diazotrophicus) và hòa tan lân (Pseudomonas stutzeri) đều đạt cao hơn mật số tối thiểu (106) Riêng hộ Diễn ở vụ 1

có mật số vi sinh cố định đạm rất cao (9,01 x 1011) do pH của phân ủ thấp, thích hợpcho sự phát triển của nhóm vi sinh vật (VSV) nầy Kết quả nầy cho thấy VSV cốđịnh đạm và hòa tan lân phát triển rất thích hợp ở môi trường phân ủ

Bảng 3.2.5 Mật số vi sinh vật cố định đạm và hoà tan lân trong phân ủ (CFU/g sản

1 Phạm Văn Út Nhỏ TB 2,61 x 107 2,11 x 107 7,07 x 107 5,18 x 107

2 Lê Văn Đum TB 1,52 x 107 4,01 x 107 1,34 x 107 1,33 x 107

3 Nguyễn Thị Bạch Vân KC 3,01 x 107 5,21 x 107 1,34 x 107 1,35 x 107

4 Phạm Văn Mum KC 2,40 x 107 2,20 x 108 2,72 x 107 1,39 x 107

5 Nguyễn Văn Diễn HA 9,01 x 1011 2,4 x 106 2,06 x 107 1,92 x 107

6 Nguyễn Văn Thum HA 2,00 x 107 1,66 x 108 2,36 x 107 1,79 x 107

TB=Tân Bình, KC=Kinh Cùng, HA=Hòa An

3.2.6 Hàm lượng một số kim loại nặng trong phân ủ

Kết quả phân tích cho thấy mẫu phân ủ của các hộ không chứa kim loại nặng gâyhại Riêng hộ Mum hàm lượng As gần đạt ngưỡng giới hạn trong thành phần vậtliệu ủ có lục bình, lọai thực vật thủy sinh có khả năng tich lũy kim lọai nặng (Acha

et al., 2005) Cho nên cần khảo sát thêm hàm lượng As trong nhiều mẫu phân hữu

cơ để xác định mức độ gây nhiễm do As, nhất là vùng nước phèn thường có hàmlượng kim loại nặng cao để có khuyến cáo phù hợp

Bảng 3.2.6 Hàm lượng một số kim loại nặng trong phân ủ ở 2 điểm thí nghiệm Kinh

1 Phạm Văn Mum(Kinh Cùng) 30 25 50 1,82 10,20 0,92 0,25

2 Nguyễn Văn Diễn (Hòa An) 50 25 25 0,22 4,08 0,48 0,20

* mức tồn tại cho phép trong phân bón (Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, 2007): Thuỷ

ngân (Hg): <2 mg/kg (lít); Chì (Pb): <250 mg/kg (lít); Cadimi (Cd): <2,5 mg/kg (lít); Asen (As):

<2 mg/kg (lít); Niken (Ni): <100 mg/kg (lít).

Trang 8

3.2.7 Mật số vi sinh vật đường ruột trong phân ủ

Không phát hiện E Coli ở các mẫu phân ủ từ rác thực vật của 6 hộ thí điểm, trái lại

mật số Coliform rất cao, vượt quá ngưỡng cho phép Có thể mẫu phân ủ ban đầu cóchứa coliform nhưng quá trình ủ (nhiệt độ mẻ ủ khỏang 50-60oC) chưa diệt đượccác vi khuẩn đường ruột này Do đó cần khảo sát nước, vật liệu trước khi ủ để xácđịnh nguyên nhân gây nhiễm để có biện pháp khắc phục phù hợp

Bảng 3.2.7 Vi sinh đường ruột của mẫu phân ủ tại 3 điểm TN (**)

3.2.8 Đặc tính đất trước và sau khi thí nghiệm

Một số chỉ tiêu phân tích đất ở các điểm thí nghiệm vào đầu vụ trước khi gieo trồngcho thấy: pH ( 4.6-5.0) ở các hộ xã Tân Bình tương đối phù hợp để trồng rau; các

hộ ở Hoà An và Kinh Cùng đất có pH rất thấp (3.3-3.8) Hàm lượng đạm dễ tiêukhá cao, trừ hộ Diễn và Đum, CEC trung bình, P dễ tiêu khá cao (Bảng 3.2.8)

Bảng 3.2.8 Mẫu đất của 6 thí điểm /3 xã trước thí nghiệm vụ 1

mg/kg

K trao đổi

5 Nguyễn Văn Diễn HA 3,8 3,7 22,0 18,1 40,2 0,9 16,7 26,4

6 Nguyễn Văn Thum HA 3,6 2,7 44,5 40,4 85,0 0,6 16,0

Trang 9

-Bảng 3.2.9a Mẫu đất hộ Lê Văn Đum (Tân Bình) sau khi trồng dưa leo vụ 2.

meq/100g

CEC

meq/100g

P dễ tiêu

+ Những số theo sau cùng một chữ không khác biệt ý nghĩa ở mức độ 5%

Bảng 3.2.9b Mẫu đất hộ Phạm văn Út Nhỏ (Tân Bình) sau khi trồng rau muống vụ 2 NT

100g

CEC

meq/100g

P dễ tiêu

+ Những số theo sau cùng một chữ không khác biệt ý nghĩa ở mức độ 5%

Bảng 3.2.10a Mẫu đất hộ Phạm Văn Mum (Kinh Cùng) sau khi trồng dưa leo vụ 2

100g

CEC

meq/100g

P dễ tiêu

277,0 0,6 ns 21,9 ns 105,2 ns3

Trang 10

Bảng 3.2.10b Mẫu đất hộ Nguyễn T Bạch Vân (Kinh Cùng) sau khi trồng rau muống vụ 2 NT

meq/

100g

CEC

meq/100g

P dễ tiêu

+ Những số theo sau cùng một chữ không khác biệt ý nghĩa ở mức độ 5%

Bảng 3.2.11a Mẫu đất/Hòa An sau khi trồng dưa leo vụ 2

+ Những số theo sau cùng một chữ không khác biệt ý nghĩa ở mức độ 5%

Bảng 3.2.11b Mẫu đất/Hòa An sau khi trồng rau muống vụ 2

mg/kg

K Trao đổi

+ Những số theo sau cùng một chữ không khác biệt ý nghĩa ở mức độ 5%

Kết qủa phân tích đất sau khi trồng vụ 2 cho thấy:

- Không có khác biệt thống kê giữa các mức phân về hàm lượng chất hữu cơ(CHC), CEC, hàm lượng đạm, lân, kali dễ tiêu trong đất Do đó cần khảo sát dài hạnhơn để thấy tác động của phân hữu cơ trên một số đặc tính hóa học, độ phì nhiêu đất

Trang 11

- Có sự biến động rất cao giữa các lần lập lai do sự không đồng đều trong đất lênliếp có thể đã ảnh hưởng đến sự không khác biệt thống kê của các chỉ tiêu nầy ở cácmức phân bón Ngoài ra sự biến động giữa các chỉ tiêu đất trước và sau khi thínghiệm ở các mức phân có thể do mức độ đồng đều của đất khác nhau: đất đầu vụ

chưa lên liếp và đất đã lên liếp sau thu hoạch.

- Kết qủa phân tích pH biến động nhiều ở các nghiệm thức Trên đất thí nghiệm ởKinh Cùng và Hòa An do pH thấp ở đầu vụ, do đó đất được bón 2 tấn vôiCaCO3/ha, có hiệu quả làm gia tăng pH ở các nghiệm thức (từ 4,7-6,0) Riêngnghiệm thức bón 1,5 kg phân hữu cơ trên 2 loại đất nầy có thể do việc bón vôikhông đồng đều và lấy mẫu không đồng đều hơn là do tác dụng của nghiệm thức

- Kết qủa phân tích hàm lượng đạm NH4+ và NO3- cũng rất biến động giữa đầu vụ vàcuối vụ 2 có thể do tình trạng khô hay ẩm của đất khi lấy mẫu đất và độ đồng đềukhi bón phân hữu cơ và lấy mẫu Mẫu đất đầu vụ lấy vào khoãng tháng 4/2006 làgiai đoạn khô, dạng đạm NO3- có thể đạt cao Mẫu đất cuối vụ 2 được lấy vàokhoãng tháng 10/2006 tình trạng ẩm của đất có thể làm đạm dạng NO3- bị khử vàmất đi do đó làm giảm hàm lượng NO3- vào cuối vụ 2 (mẫu đất hộ Nguyễn ThịBạch Vân ở Kinh Cùng) Ngoài ra sự gia tăng pH khi bón vôi cũng có thể là nguyênnhân làm gia tăng sự khoáng hoá và nitrat hóa trong đất (mẫu đất hộ Phạm VănMum ở Kinh Cùng)

Nhìn chung việc bón phân hữu cơ qua 2 vụ canh tác chưa có ảnh hưởng đến đặctính hoá học và dinh dưỡng trong đất

3.3 Cây Dưa leo

3.3.1 Ghi nhận tổng quát

Thí nghiệm trên nền đất lần đầu trồng dưa leo, thoát nước tốt khi mưa, nguồn nướctưới đầy đủ Trồng 2 vụ liên tiếp: vụ 1 từ tháng 4-6/2006, đầu mùa mưa, vụ 2 từtháng 8-10/2006 mưa rất nhiều Ở vụ 1: nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa trung bìnhtương ứng là 27,6oC, 85,9%, 6,29 mm/ngày Ở vụ 2: nhiệt đõ 26,9oC, ẩm độ 88%,lượng mưa 9,42 mm/ngày (Đài khí tượng thủy văn Cần Thơ, 2006)

Trong thời gian sinh trưởng, sâu bệnh giữa các nghiệm thức gần như không khác

biệt: bù lạch (Thrips palmi) xuất hiện rải rác ở các chồi non ở 21 ngày sau khi gieo

(NSKG) tăng dần và cao nhất ở 48 NSKG (6-8 con /đọt chính); sâu xanh xuất hiệnsớm (10-13 NSKG), nhưng mật số thấp nên không ảnh hưởng đến sự phát triển củacây dưa Ở giai đoạn 28 NSKG cây phát triển nhiều lá, tán rộng Tuy nhiên, donhững cơn mưa đầu mùa bệnh đốm phấn xuất hiện làm lá có nhiều đốm vàng, số lá

bị bệnh tăng, cao nhất lúc thu hoạch Ở vụ 2 có mưa nhiều, độ ẩm cao, bù lạch vàsâu xanh xuất hiện nhưng mật số rất thấp; tuy nhiên bệnh thán thư xuất hiện nặng,chúng tấn công tất cả các bộ phận của cây nằm trên mặt đất, lây lan rất nhanh làmảnh hưởng đáng kể đến năng suất

Trang 12

3.3.2 Tình hình sinh trưởng

3.3.2.1 Chiều dài dây chính

Chiều dài dây trung bình của 3 thí nghiệm trên 3 xã khác biệt thống kê ở 3 giaiđoạn khảo sát (21, 35, 60 NSKG), đạt cao nhất (188,4-190,0 cm) ở 2 nghiệm thứcphân HCVS kết hợp với phân hóa học, thấp nhất (162,3 cm) ở nghiệm thức chỉ sửdụng phân vô cơ Điều này cho thấy phân HCVS đã làm tăng chiều dài dây chính,làm tăng hiệu lực của phân hóa học, cải tạo và nâng cao độ phì nhiêu cho đất

5 50 95 140 185 230

Trang 13

Kết quả từ Hình trên cho thấy

1 Chiều dài dây chính ở vụ 2 cao hơn vụ 1 ở tất cả các nghiệm thức có lẽ do đất đã

được cải thiện nhờ bón vôi và sử dụng phân HCVS, mặt khác, lượng phân ở vụ 1

có thể còn lưu tồn trong đất

2 Sự sinh trưởng ở vụ 2 mạnh hơn vụ 1 (đạt 8,8 cm/ngày) cao hơn 1,4 cm/ngày: từ

đó cho thấy hiệu quả của phân HCVS biểu hiện rõ hơn ở vụ 2

3.3.2.2 Đường kính gốc thân

Đường kính gốc trung bình 3 thí nghiệm giữa các nghiệm thức có khác biệt thống

kê, ở nghiệm thức sử dụng phân vô cơ đường kính gốc thân nhỏ nhất (8,7 mm), nhỏhơn 0,6 mm so với các nghiệm thức còn lại (9,3 mm)

Kếl luận: đường kính gốc thân trung bình 3 thí nghiệm ở 2 vụ: nghiệm thức 30 tấnHCVS + (70-48-40) lớn nhất (10,0 mm) khác biệt thống kê so với các nghiệm thứccòn lại; đường kính gốc thân ở vụ 2 cao hơn vụ 1 Gốc thân nơi tiếp giáp với rễ tiếptục hút nước và chất dinh dưỡng làm tăng năng suất trái

Bảng 3.3.1 Đường kính gốc thân (mm) cây dưa leo lúc kết thúc thu hoạch -Vụ 1

3.3.3 Thành phần năng suất và năng suất

3.3.3.1 Trọng lượng trung bình trái

Trọng lượng trung bình trái giữa các nghiệm thức không khác biệt thống kê ở 3điểm thí nghiệm trong cả 2 vụ: từ 144,9-153,3g/trái (vụ 1), và 148,7-154,2 g/trái (vụ2) Điều này có thể do đặc tính giống Đất ở Tân Bình thích hợp hơn cho sinhtrưởng và phát triển của cây dưa nên trọng lượng trung bình trái cao hơn

Trang 14

Bảng 3.3.2 Trọng lượng trung bình trái (g/trái) dưa leo

Mức phân Hòa An Kinh Cùng Vụ 1 (4-6/2006) Tân Bình Trung bình

* Vụ 1: Bảng 3.3.3 cho thấy trọng lượng trái/cây ở 2 điểm: Hòa An (0,60-0,76

kg/cây) và Tân Bình (2,15-2,41 kg/cây) không khác biệt thống kê ở 4 mức phân.Trong khi đó Kinh Cùng có trọng lượng trái cao nhất (1,0 kg/cây) ở mức 30 tấnHCVS + (70-48-40), khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các mức phân bón còn lạiTrọng lượng trái/cây trung bình của 3 thí nghiệm ở 3 xã không khác biệt thống kêgiữa 4 mức phân, dao động từ 1,21-1,32 kg/cây

Vụ 2: Tương tự vụ 1, trọng lượng trái/cây vẫn không khác biệt thống kê: tại Hòa An

(1,18-1,42 kg/cây) tăng gần gấp đôi so với vụ 1 Ở đây cho thấy tác dụng của phânhữu cơ vi sinh trên nền đất Hòa An nơi có pH thấp (pH = 3,62), nghèo chất hữu cơ,khả năng hữu dụng của lân rất kém cho nên bón phân HCVS chẳng những làm tăng

độ phì nhiêu mà còn làm tăng lượng lân hữu dụng trong đất Ngược lại, tại TânBình (0,79-1,10 kg/cây) trọng lượng trái/cây thấp còn ½ so với vụ 1 do ảnh hưởngcủa lũ Ở Kinh Cùng trọng lượng trái/cây đạt cao nhất (0,94 kg/cây) ở mức 30 tấnHCVS + (70-48-40) khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các mức còn lại biến động

từ 0,59-0,69 kg/cây Ở vụ 2, trọng lượng trái /cây chỉ xấp xỉ vụ 1, do có nhiều cơnmưa lớn, độ ẩm cao làm bệnh thán thư phát triển mạnh đã ảnh hưởng đến thời gianthu hoạch

Trọng lưọng trái/cây trung bình trên 3 thí nghiệm trên 3 xã tiếp tục có sự khác biệtthống kê giữa mức 30 tấn HCVS + (70-48-40), trọng lượng trái cao nhất (1,13kg/cây) trong khi các mức còn lại thấp tương đương nhau (0,93 kg/cây)

Ngày đăng: 15/12/2017, 10:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w