1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

DSpace at VNU: Đối chiếu nhóm thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Nga và tiếng Việt

15 316 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 296,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi lẽ đó, đối chiếu thành ngữ chỉ các trạng thái tâm lý tình cảm giữa tiếng Nga và tiếng Việt sẽ cho ta một cái nhìn toàn vẹn hơn về dân tộc Nga, những quan niệm, truyền thống, văn hóa,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH

ĐỐI CHIẾU NHÓM THÀNH NGỮ CHỈ TÂM LÝ TÌNH CẢM TRONG TIẾNG NGA VÀ TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI - 2009

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong công trình nào khác, trừ phần trích dẫn, tham khảo có ghi xuât xứ

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trong Khoa Ngôn ngữ học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến GS TS Nguyễn Đức Tồn, người thầy đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, các đồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện luận văn Mặc

dù tôi đã rất cố gắng viết luận văn này song chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy tôi rất mong nhận được những góp ý quí báu của quí thầy cô và các bạn

Học viên Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong hệ thống một ngôn ngữ, thành ngữ đồng hành cùng với từ, ngữ

và các đơn vị ngôn ngữ khác tạo thành sự đa dạng cũng như đặc trưng riêng cho ngôn ngữ đó Có thể nói, thành ngữ là một bộ phận độc đáo của mỗi ngôn ngữ, bởi nó phản ánh đặc trưng văn hóa dân tộc của mỗi ngôn ngữ, trong đó có những giá trị vật chất và giá trị tinh thần của dân tộc bản ngữ Chính vì lý do này mà thành ngữ luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu

Trong cuộc sống hiện đại, những giá trị này vẫn còn được lưu giữ lại trước nhất và đầy đủ nhất trong ngôn ngữ, trong đó thành ngữ nói chung, thành ngữ chỉ các trạng thái tâm lý tình cảm nói riêng là sự phản ánh sâu sắc

và giầu hình ảnh chiều sâu của tư duy cũng như những tư tưởng tôn giáo, lễ giáo; những quan niệm về văn hóa và phong tục truyền thống; thậm chí là cả những thói quen thường nhật… của người bản ngữ

Việt Nam và Liên bang Nga có mối quan hệ hữu nghị sâu sắc Liên bang Nga là nước anh em đã giúp đỡ Việt Nam vượt qua rất nhiều khó khăn trong cả thời chiến tranh chống Mĩ và thời bình xây dựng lại đất nước Tiếng Nga cũng đã từng là một ngoại ngữ bắt buộc trong các trường trung học phổ thông của Việt Nam từ thế kỷ trước và hiện nay vẫn thu hút đươc nhiều sự quan tâm trong các trường chuyên ngữ và đại học chuyên ngữ Bởi lẽ đó, đối chiếu thành ngữ chỉ các trạng thái tâm lý tình cảm giữa tiếng Nga và tiếng Việt sẽ cho ta một cái nhìn toàn vẹn hơn về dân tộc Nga, những quan niệm, truyền thống, văn hóa, phong tục và quan trọng nhất là đời sống tinh thần, thế giới nội tâm của dân tộc Nga Đồng thời qua đó chúng ta cũng lại càng hiểu rõ hơn dân tộc mình

Trang 5

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu về thành ngữ nói chung và thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý tình cảm nói riêng trong tiếng Nga và tiếng Việt

Ở Việt Nam, trong giới Việt ngữ, công trình đầu tiên đề cập đến thành

ngữ tiếng Viêt có lẽ là của V Barbier, một tác giả người Pháp với cuốn Les

expressions comparatives de la langue anamite (Thành ngữ so sánh tiếng

Việt-Quy Nhơn, 1925) Mấy năm sau, tác giả Cẩm Giang (1933) có bài viết

Phê bình sách thành ngữ của ông Bửu Cân đăng trên tờ Nam Phong (1933, số

190), đặc biệt Dương Quảng Hàm (1943) còn nêu sự khác biệt giữa tục ngữ

và thành ngữ

Tuy nhiên phải đến những năm 70 của thế kỷ trước trong giới Việt ngữ mới có nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm đến địa hạt thành ngữ Một số công trình về từ vựng học và thành ngữ, tục ngữ bắt đầu được công bố Năm 1978,

cuốn từ điển Thành ngữ tiếng Việt do Nguyễn Lực và Lương Văn Đang sưu

tầm được xuất bản đánh dấu một dấu mốc quan trọng trong việc nghiên cứu thành ngữ Khoảng 20 năm trở lại đây, các nhà ngôn ngữ học đã đi sâu nghiên cứu về nguồn gốc hình thành và những đặc trưng văn hóa - dân tộc của thành ngữ Các tác giả có những đóng góp quan trọng là Hoàng Văn Hành (1980), Đỗ Hữu Châu (1981), Nguyễn Thái Hòa (1982), Phan Xuân Thành (1980, 1983), Nguyễn Đức Tồn (1988), Nguyễn Văn Khang (1994)

Việc nghiên cứu về tâm lý tình cảm được thể hiện trong thành ngữ chỉ mới được chú ý khoảng mươi năm trước đây Tuy vấn đề này đã được đề cập đến ít nhiều trong các tác phẩm của các tác giả trên, hoặc được trình bày rải rác ở trong một số các bài báo chuyên đề chứ chưa có một tác phẩm chuyên khảo nào dành cho vấn đề này Đã có một số tác giả tiến hành đối chiếu thành ngữ tâm lý tình cảm giữa hai thứ tiếng trong luận văn thạc sĩ như Lâm Thị Hòa Bình với luận văn Đối chiếu thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý trong tiếng Anh và tiếng Việt (2000) hay tác giả Vi Trường Phúc với luận văn Đặc điểm của các thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Hán, có đối chiếu với tiếng Việt (2005) hoặc Nguyễn Văn Trào với bài báo Thành ngữ biểu thị tình cảm

Trang 6

trong tiếng Anh , có đối chiếu với tiếng Việt (trên ngữ liệu các thành ngữ có chứa bộ phận cơ thể người) (2006)

Tác giả Nguyễn Đức Tồn, trong luận án Phó tiến sĩ Ngữ văn Специфика

лексико - семантического поля названий частей человеческого тела

(1988) đã đề cập đến đặc trưng tư duy dân tộc của người Nga và người Việt thông qua các trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ bộ phận cơ thể người, nhưng không dành cho việc nghiên cứu đối chiếu thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm của hai dân tộc

Nguyễn Văn Hòa với luận án Tiến sĩ tiếng Nga Русские фразеологии,

обозначаюшие внутреннее состояние человека, и способы их передачи

во Въетнамском языке (2008) đã nghiên cứu thành ngữ Nga biểu thị trạng

thái nội tâm của con người chủ yếu thông qua biểu trưng душa (tâm hồn) và cердце (trái tim) và những phương thức chuyển dịch những thành ngữ này sang tiếng Việt Như vậy cho đến nay việc đối chiếu thành ngữ Nga - Việt về mặt cấu trúc và ngữ nghĩa biểu hiện các trạng thái tâm lí tình cảm vẫn đang còn là một địa hạt bỏ ngỏ

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

Luận văn tiến hành nghiên cứu và phân loại toàn bộ thành ngữ chỉ các trạng thái tâm lý tình cảm của con người như vui, buồn, yêu, giận…trong tiếng Nga và tiếng Việt, sau đó đối chiếu để tìm những điểm giống và khác nhau trong cách tư duy dân tộc khi giao tiếp bằng thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn là đi sâu tìm hiểu những nét đặc trưng về cấu trúc và ngữ nghĩa của các thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý tình cảm trong tiếng Nga và tiếng Việt, từ đó tìm ra nét tương đồng và sự khác biệt trong sự tri nhận thế giới, quan điểm, tư duy và các đặc trưng văn hóa của hai dân tộc để

có thể hiểu đúng cũng như sử dụng chính xác các thành ngữ trong giao tiếp

Trang 7

Để đạt được mục đích đặt ra, luận văn giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Các quan niệm về thành ngữ của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam và Nga;

- Phân biệt thành ngữ với các đơn vị ngôn ngữ tương đương;

- Thành ngữ biểu hiện các trạng thái tâm lý tình cảm xét trên phương diện ngôn ngữ học, tâm lý học và tiêu chí nhận diện thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm

- Phân loại thành ngữ tâm lý tình cảm theo các phạm trù và sắc thái tình cảm

- Tìm hiểu những đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ tâm

lý tình cảm

- So sánh - đối chiếu các nguồn biểu trưng trạng thái tâm lí tình cảm trong hai ngôn ngữ để thấy được đặc trưng văn hóa - dân tộc của hai dân tộc

5 Phương pháp nghiên cứu và tài liệu nghiên cứu

Phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp đối chiếu tương phản và phương pháp phân tích thành tố trực tiếp Phương pháp đối chiếu tương phản giúp chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong hình thức, cấu tạo và cách sử dụng thành ngữ của hai ngôn ngữ Còn phương pháp phân tích thành tố trực tiếp chỉ rõ cấu tạo bên trong của thành ngữ theo tầng bậc và khả năng kết hợp của các thành tố trong thành ngữ của cả hai ngôn ngữ

Luận văn sử dụng các tài liệu chính sau đây:

- Về tiếng Nga: Р И Яранцев, Словарь - справочник по Русской

фразеологии для иностранцев và А И Молотков (1986) Фразеологический словаръ Рус языка

- Về tiếng Việt: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (Nguyễn Lân, 1997), Thành ngữ tiếng Việt (Nguyễn Lực, Lương Văn Đang, 1993),vv

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài

Thành ngữ biểu thị các trạng thái tâm lý tình cảm là những thành ngữ diễn tả “sự hoạt động của nội tâm”, việc thể hiện cảm xúc của mình qua thành

Trang 8

ngữ là biểu hiện sự tự nhận thức và khả năng liên hội bản thân với giới tự nhiên Qua việc đối chiếu thành ngữ tâm lý tình cảm giữa tiếng Nga và tiếng Việt, luận văn hi vọng sẽ góp phần giúp nhìn nhận đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về thành ngữ - một đơn vị ngôn ngữ có ý nghĩa và giá trị sử dụng đặc biệt trong hoạt động giao tiếp Thông qua việc nghiên cứu đề tài này, luận văn mong muốn góp thêm một phần nhỏ trong việc làm sáng tỏ những đặc trưng văn hoá – dân tộc của thành ngữ, cung cấp những thông tin về các yếu tố văn hóa, dân tộc và tâm lý xã hội của dân tộc Nga trong sự so sánh đối chiếu với dân tộc Việt Các kết quả nghiên cứu cũng giúp ích cho việc dạy và học tiếng Nga nói chung và thành ngữ tiếng Nga nói riêng đạt được hiệu quả cao hơn, đồng thời cũng giúp ích cho quá trình biên dịch và phiên dịch thành ngữ từ tiếng Nga sang tiếng Việt và ngược lại

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm ba chương:

- Chương 1: Một số cơ sở lý luận về thành ngữ và thành ngữ chỉ

tâm lý tình cảm trong tiếng Nga và tiếng Việt

- Chương 2: Cấu trúc của thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý tình

cảm tiếng Nga và tiếng Việt

- Chương 3: Ngữ nghĩa của thành ngữ biểu hiện trạng thái tâm lý tình

cảm trong tiếng Nga và tiếng Việt

Trang 9

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÀNH NGỮ VÀ THÀNH NGỮ CHỈ TÂM LÍ TÌNH CẢM TRONG TIẾNG NGA VÀ TIẾNG VIỆT 1.1 Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt

Thành ngữ tham gia vào hệ thống ngôn ngữ với tư cách là đơn vị từ vựng được dùng làm chất liệu để tạo ra câu thực hiện chức năng giao tiếp Theo quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam, thành ngữ trong tiếng Việt là cụm từ cố định (CTCĐ), hay ngữ cố định – đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ, có giá trị tương đương như từ xét cả về chức năng định danh và chức năng tham gia tạo câu

Hai đặc tính cơ bản của CTCĐ là tính cố định về cấu trúc và tính thành ngữ về nội dung ngữ nghĩa Tuy vậy, không phải CTCĐ nào mang hai đặc tính này cũng được gọi là thành ngữ Chỉ có loại cụm từ cố định nào hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa, đồng thời nghĩa của nó phải có tính hình tượng

và gợi tả thì mới được coi là thành ngữ Hơn nữa, nghĩa của thành ngữ không phải là tổng số nghĩa của các thành tố cộng lại (17;8)

Như vậy, khái niệm về mặt biểu hiện nghĩa và mặt kết cấu hình thái của thành ngữ như nêu trên lại dễ gây nhầm lẫn với khái niệm đơn vị ngôn ngữ mang tính thành ngữ Theo Nguyễn Thiện Giáp, một tổ hợp từ được coi là mang tính thành ngữ khi ý nghĩa chung của nó là hoàn toàn mới, khác với tổng số ý nghĩa của các từ thành phần tạo thành Tuy nhiên, theo một số nhà ngôn ngữ học khác thì khái niệm trên chưa thực sự rõ ràng Vì vậy, các nhà ngôn ngữ học đã sử dụng yếu tố tương đương (giữa hai ngôn ngữ) để định nghĩa tính thành ngữ Một tổ hợp được coi là có tính thành ngữ nếu trong đó có ít nhất một từ mà khi dịch toàn bộ tổ hợp thì người ta phải dịch từ ấy bằng một yếu tố - yếu tố đó chỉ tương đương với từ ấy chỉ khi từ ấy xuất hiện đồng thời với tất cả các yếu tố còn lại của tổ hợp (trong

Trang 10

một trật từ nhất định) Thêm vào đó, từ này có thể được gặp cả khi không

có các yếu tố còn lại và khi ấy nó được dịch bằng một yếu tố khác Hay thường gặp nhất là cách hiểu như sau:

Giả sử có một kết cấu X gồm các yếu tố a, b, c… hợp thành X = a+b+c Nếu ý nghĩa của X không thể giải thích được bằng ý nghĩa của từng yếu tố a, b, c thì kết cấu X (hoặc tổ hợp X) có tính thành ngữ (4;154)

Đây là những kết luận được rút ra trong quá trình nghiên cứu các cụm

từ cố định và từ ghép vì chúng đều có cấu trúc ổn định và chặt chẽ, đều có tính thành ngữ và đều là những đơn vị làm sẵn trong ngôn ngữ Điều này cho thấy rõ ràng rằng tính thành ngữ có các mức độ cao thấp khác nhau trong các

tổ hợp cấu trúc khác nhau vì cách tổ chức nội dung và hình thức của chúng theo những con đường và phương cách khác nhau (4;154)

Vì vậy một đơn vị ngôn ngữ - hiện diện với tư cách là đơn vị của hệ thống ngôn ngữ, tồn tại dưới dạng làm sẵn, được cấu tạo với số lượng thành

tố ổn định, không thay đổi và có ý nghĩa như một chỉnh thể tương ứng với một chỉnh thể cấu trúc vật chất của nó – là đơn vị ngôn ngữ mang tính thành ngữ Tất cả những đơn vị có đầy đủ những đặc điểm như trên sẽ mang tính thành ngữ - một tính chất cú pháp, ngữ nghĩa chung giống nhau cho một loạt các đơn vị ngôn ngữ

Còn thành ngữ lại là tên gọi của một tổ hợp từ thuộc đơn vị từ vựng Một mặt, các đơn vị này mang tính thành ngữ, mặt khác mang tính cố định, có những đặc điểm hình thức và nội dung riêng biệt Để hiểu được ý nghĩa của thành ngữ, chúng ta không chỉ dựa vào ý nghĩa của các từ thành phần cấu tạo thành ngữ và cấu trúc ổn định của thành ngữ mà còn phải dựa vào tình huống giao tiếp, đối tượng sử dụng, những biến đổi về mặt xã hội hay thói quen sử dụng thành ngữ của địa phương… Thành ngữ là cách nói bóng bẩy, gợi tả có hình tượng về một sự vật, hiện tượng khách quan

Trang 11

Thành ngữ là cách diễn đạt ý tưởng mang tính đặc trưng của ngôn ngữ

Về mặt cấu trúc, phần lớn thành ngữ không thành câu với những từ ngữ mặc

dù có thể phân tích nhưng không thể tách rời Về mặt ngữ nghĩa, thành ngữ mang một ý nghĩa không thể thay thế hay sửa đổi bằng cách nói khác để mang cùng ý nguyên thủy Thành ngữ có ý nghĩa độc lập với từng nghĩa riêng

lẻ của mỗi từ ngữ trong thành ngữ Thành ngữ cũng có các hình thức mô tả,

so sánh và ẩn dụ như phú, tỷ, hứng như trong ca dao hoặc tục ngữ Các hình thức tu từ này không chỉ làm cho thành ngữ mang đậm đặc trưng hình tượng – một đặc trưng cơ bản của thành ngữ mà còn hỗ trợ, liên kết với nhau làm cho

ý nghĩa của thành ngữ vừa sâu, vừa rộng, vừa bóng bẩy lại vừa gợi tả Nó làm cho những hình ảnh, hiện tượng hay những sự vật cụ thể được mô tả, so sánh

và ẩn dụ một cách bay bổng hơn Nó giúp cho một ý tưởng thông thường được diễn tả bằng một lối rất riêng, rất hình tượng và mang tính văn hóa

Theo quan niệm của Nguyễn Công Đức (7) thì thành ngữ là “những cụm từ cố định, là đơn vị có sẵn trong kho từ vựng, có chức năng định danh – tức là gọi tên sự vật và phản ánh khái niệm một cách gợi tả và bóng bẩy Ngoài những đặc điểm của một đơn vị ngôn ngữ, thành ngữ còn có những dấu ấn của một đơn vị văn hóa, có tiềm ẩn, trầm tích những đặc điểm văn hóa dân tộc”

Nếu tạm thời chấp nhận khái niệm tính thành ngữ và các đơn vị mang tính thành ngữ như đã nêu trên, trong tiếng Việt người ta phân biệt các loại ngữ như thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ, ngữ tự do và từ ghép Đó là những đơn vị ngôn ngữ hay những tổ hợp từ đáp ứng đầy đủ ba điều kiện cần và đủ cho một đơn vị ngôn ngữ mang tính thành ngữ: là một tổ hợp từ, có nghĩa hình tượng, có cấu trúc cố định ở một mức độ nào đó Vậy làm sao có thể nhận diện được những đơn vị ngôn ngữ trên một cách rõ ràng? Những điểm giống nhau và khác nhau giữa chúng là gì? Đây là câu hỏi đã được rất nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm, nghiên cứu và giải đáp

Ngày đăng: 15/12/2017, 02:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm