1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

DSpace at VNU: Lũ bùn - đá và những dấu hiệu cảnh báo rút ra từ kết quả nghiên cứu chúng trên sườn tây nam Bình Sơn Bắc Hà

8 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là những dòng cuồng lưu ở miền núi khô h ạ n , chửa đầy bùn đá, chủ yếu xảy ra khi có m ưa rào cường độ lớn, khi kết thúc thường để’ lại những khôi tích tụ trầm tích hỗn độn đặc trư n

Trang 1

L Ũ B Ù N - Đ Á V À N H Ữ N G D Ấ U H I Ệ U C Ả N H B Á O

R Ú T R A T Ử K Ế T Q U Ả N G H I Ê N c ứ u

T R Ê N S Ư Ờ N T Â Y N A M B Ì N H S Ơ N B A C h à

Đ ào Đ ìn h B ắc

K hoa Địa lý, Trường Đại học K hoa học T ự nhiên, ĐHQG Hà N ội

P h ạ m T iế n S ỹ

Trung tám K hoa học Công nghệ, Bộ Giao thông Vặn tải

1 Đ ặ t v ấ n đ ể

Lũ bùn - đá là m ột hiện tượng địa mạo m ang tính tai biến nguy hiểm đã đuợc nói đến nhiều trên thê giỏi, dặc biệt là ỏ những nước có chê độ k h í h ậu lục địa khô h ạn và bán khô hạn n hư ỏ T ru n g Á và ngoại Kapkaz, các nưỏc Bắc Phi, miền Tây Hoa Kỳ, T ru n g Quổc, hoặc các nước có khí h ậ u Anpi n hư Thụy Sĩ, Pháp, Áo, v.v

Đôi với nước la, hiện tượng lũ bùn - đá có chiểu hưống ngày càng gia t.ăng, mặc dù điền kiện khi hậu không điến h ình cho quá trìn h tai biến này T rậ n lũ bùn - đá năm 1994 ớ Mường Lay, tỉn h Lai C hâu đã làm chết 20 người, gây th iệt hại khoảng 2 tỷ dồng và những trậ n lũ bùn - đá s a u đó đã tà n phá t.hị trấ n Mường Lay đến mức N hà nưốc phải ra quyết định di rời toàn bộ tru n g tâm hàn h chính này đến địa điểm mới an toàn hơn C hính vi vậy, cần nghiên cứu xác định nguyên n hân gây r a điều nghịch lý dó, đổng thòi làm rõ cơ thức hình th àn h và vận h àn h của chúng trong những điều kiện cụ thể

Vê nguyên tắc, chúng ta đã biết diều kiện tiên quyết có ý nghĩa h àng đ ầu là phải có cấu trúc địa ch ấ t - thạch học dễ p h á t sinh quá trìn h trư ợ t - lỏ dế cung cấp v ậ t liệu v ụn rắn cho quá trìn h này, song cụ th ể điểu kiện ấy như th ế nào thì chưa ai xác địn h được m ột cách chác chắn Trong quá trìn h nghiên cứu địa m ạo dọc tuyến đường quốc lộ 4 (QL 4) Lào C ai - Bác Hà, chúng tôi dã tìm được câti trả lòi có đầy đủ chứng cứ cho vấn dề nói trên Với việc công bô kết q u á nghiên cứu này, chúng tôi hy vọng góp p hần xác định những d ấu hiệu địa mạo có thể sử dụng đê cả n h báo quá trìn h đầy nguy hiểm này cho những vùng có điểu kiện khí hậu và địa c h ấ t - địa mạo tương tự

2 K hái n iệ m v ể lũ b ù n - d á

Lủ bùn - đá là một dạng của lù qu ét xu ất hiện đột ngột, ho ạt dộng tro n g khoáng thòi gian ngắn, di chuyển vỏi tốc độ cao và có sức công p h á rấ t lỏn Đó là những dòng cuồng lưu ở miền núi khô h ạ n , chửa đầy bùn đá, chủ yếu xảy ra khi có m ưa rào cường độ lớn, khi kết thúc thường để’ lại những khôi tích tụ trầm tích hỗn độn đặc trư ng, gọi là lũ tích

Ngưòi ta p h ân biệt 2 loại dòng lủ bùn - đá: dòng đậc sệt, ít nước và dòng nirôc cuồng lưu m ang theo n h iều bùn - đá [3] Loại th ử n h ấ t có sức công phá rấ t m ạnh do khỏi v ậ t chất

rắ n vận động hỗn độn bị dồn nén, tạo ra lực đẩy lớn, những tản g đá v ận động ỏ hai bên rìa

Trang 2

ngừng vận động, dòng bùn đá loại này dường như “ngưng" lại, giữ nguyên cấu trú c đ ã có trước

đó, chứ không phân dị theo độ hạt, vì vậy mà tạo ra dạng tích tụ có hìn h con đê nôi cao Kiểu dòng lũ bùn đ á th ứ 2 đo chứa nhiều nước hơn n ên v ậ n động chủ yếu nhờ động lực của dòng nước loạn lưu Những dòng lũ bùn đá thuộc loại n ày đưa xuống nón phóng vật lượng v ặ t ch ấ t rắ n ít hơn và trong khi tích tụ đã có dấu hiệu n h ấ t định của sự phân dị trầm tích Do xảy ra đột ngột và vận động với tốc độ lốn, nên sức tà n phá của loại này cũng đáng kể Theo những mô t.á điên hình, có th ê suy ra rằng loại th ứ n h ấ t đặc trư n g cho những nơi có cấu tạo địa c h ấ t dễ bị sụp lơ, vỏ phong hóa có phong p hú nguồn v ật liệu v ụn rắ n dễ dàng sụp lở cung cấp cho dòng lũ quét, có mưa cường độ lán và kéo dài, địa h ìn h dốc Nói

một cách khác, đó là n h ữ n g vùng có 2 yếu tô'căn bản là điều kiện k h i hậ u khổ h ạ n hoặc bán khô hạn kết hợp với điều kiện đ ịa chất có kh ả năng cung cấp nhiều vật liệu uụn rắn cho dòng chảy Thuộc loại này có th ế nêu trường hợp trậ n lũ b ùn - đá ỏ ph ía nam Liên Xô (củ)

từng được mô tả như sau (trích theo [1]): “ khô'i b ùn - đá bao gồm đ ấ t cát, đ á tảng, nước ở phần ngọn dòng lũ tạo th à n h m ột bức tường th à n h dựng đứng lao từ trê n n ú i xuống Các tảng đá di đầu, nửa chìm trong.khối bùn đặc, nửa nhô ra ngoài K hi gặp v ậ t cản trên bề m ặt đáy suối, đá tả n g bị ù n lại, chìm ngập vào khối bùn c á t tạ o th à n h đập chắn tạm thòi, khiến cho mực nưốc của dòng lũ cao lên tới 7-8m , tạo ra áp lực r ấ t m ạnh, rồi p h á võ đập chắn tạm

đó và dòng lũ tiếp tục cuốn đi vối múc h u n g dữ càng cao hơn Đi sau các khối đá tản g đó là khôi dòng rắ n p h ần lân có độ h ạ t mịn trộ n lẫn với đ á bề dày tới 4 m ét, chuyến động trong lòng d ẫn rộng chừng 25 mét S au cùng là hỗn hợp lỏng hơn, chảy với tốc độ n h a n h hơn " Thể tích khối ch ấ t rắ n m à đòng lủ bùn - đá m ang theo có th ể tới 30-50% th ể tích chung,

th àn h ph ần độ h ạ t rấ t da dạn g và phụ thuộc vào nguồn v ậ t liệu phong hóa v ụ n trê n sườn Trọng lượng riêng khô của khôi c h ấ t rắ n đọng lại dao động từ 1,6 đến 2,0 tấ n /n r1 Thiên nhiên dược mô tả trên đây thường điển h ình cho xứ sỏ các nước Arập, Bắc Phi

và Tây Á, có lẽ vì vậy m à th u ậ t ngữ “CELI” là một từ gốc A rập (có nghĩa là dòng cuồng lưu bùn - dá) được dùng phố biển trong văn liệu địa lý trê n th ê giới T heo chúng tôi, kiểu lũ bùn

- đá này chỉ đặc trư n g cho những khu vực đang trong tìn h trạ n g “b ấ t ôn d inh sinh học" (xem [2]), nên hầu như không gặp ở nước ta

Loại lũ bùn - đá th ứ 2 có th ể gặp ở t ấ t cả những nơi khác có điểu kiện thích hợp, ví dụ

ó m iền n ú i nước ta trong những năm gần đây, nghĩa là có k h í h ậ u với ch ế độ m ưa cường độ

lân, kéo dài vài ba ngày liên tục, có cấu tạo địa c h ấ t - th ạc h học và trạ n g th á i m ặt đệm

th u ận lợi Đôì với kiểu lũ b ù n - đá này, điều kiện tiên quyết là trê n sườn các th u n g lũng nhỏ miền núi phải có lớp vỏ phong hóa dày, dễ bị trư ợ t lở hoặc sụp đô’ khi có m ưa kéo dài đê tạo

ra đập dân g nước tạm thòi rồi sau khi nó bị vỡ, dòng cuồng lưu sẽ cuốn theo bùn đá của

th ân đập mà tạo th à n h lũ quét, với hàm lượng v ậ t rắ n cao (có th ế tới 10-15%)

Việc xác định m ột cách cụ th ể những điều kiện tiên q u yết n êu trê n sẽ r ấ t có giá trị trong việc cảnh báo nguy cơ tai biến lũ bùn - đá Nghiên cứti của chúng tôi vể lù bùn - đá ớ Bắc Hà, tỉn h Lào Cai sẽ góp p h ần tìm ra câu t r ả lời cho m ột trư ờ ng hợp riên g nh ư ng r ấ t có ý

Trang 3

3 L ủ b ù n - đ á ờ B ắc H à, t ỉ n h L ào C ai

Trong nghiẽn cửu này chúng tôi chí tập tru n g làm s án g tỏ các điều kiện địa mạo và cấu trúc địa chất, còn những điểu kiện khí tượng - th ủ y vản coi như chấp n h ậ n những gì đã

có trong các văn liệu

3.1 N h ữ n g b iể u h i ệ n c ủ a lũ b ù n - đ á ở sư ờ n t â y n a m b ìn h sơ n B ắ c H à

Khi nghiên cứu thực địa, diều làm chúng tôi h ế t sức ngạc n h iên là những bãi lũ tích ngổn ngang cùng d ấu vết của những th iệt h ạ i do chúng gây ra có độ phô’ biến cao khác thường: vào th á n g 5 năm 2002, từ chân vách ph ía tâ y nam thuộc địa p hận xã T rung Đô cho tới bể m ặt bình sơn q u an h th ị trấ n Bắc H à có th ể gặp tối 5 - 6 điểm còn lưu giữ dấu vết của chúng m ột cách rõ ràng Đó có thể là những bãi đá lũ tích p hủ trê n bề m ặ t vườn cây ăn quả ven thung lũng, ven chân tưòng những ngôi n h à và công trìn h bị tà n p h á hoặc những đám tích tụ hỗn dộn bên cạnh cầu ngầm qu a suối N ậm Khòn, th ậm chí trê n nón phóng v ậ t của

m ột khe xói cỡ tru n g bình Có th ể nói, hầu h ế t các dòng chảy trê n sưòn và bề m ặt của bình sơn Bác Hà có hướng lưu vực quay vê phía tâ y và tâ y nam đón gió ẩm đưa tới từ th u n g lũng sông Hồng và sông C hảy, đểu có biếu hiện của lủ bùn - đá (hình 1)

H ìn h 1 Sơ đồ các lưu vực nhỏ có biểu hiện lũ bùn - đá

trê n sườn tây nam b ình sơn Bắc H à th áng 5 năm 2002

Thực ra, n h ữ ng tr ậ n lũ b ùn - đá này đều có quy mô không lớn, n h ư ng việc nghiên cứu chúng lại giúp ta xác định được những dấu hiệu địa mạo có tín h chỉ th ị về quá trìn h nguy

Trang 4

Để tìm hiểu nguyên n h ân và cơ chê hoạt động của lũ bùn - đá ỏ đây trước h ế t cần điêm qua m ột sô trường hợp điên hình

Đối với trườ ng hợp suối Nậm Khòn, ctí dân địa phương cho biết hàn g năm vào th á n g 4

- 5, sau những trậ n m ưa kéo dài vài ngàv, ồ đây thường x u ấ t hiện lũ bùn - đá Dòng cuồng lưu m ang bùn - đá dô’ xuống từ phía đông bắc trà n q u a cầu ngầm QL 4 về Ngòi Đô, nhiều lần làm hư hại th â n ngầm N gay phía trê n cầu ngầm vẫn qu an s á t th ây bể m ặ t lủ tích rộng 100m vói nhiêu vặt liệu hỗn độn gồm cát, cuội, sỏi và dá tản g kích thước tru n g bình nổi cao hơn m ặt đường tối gần lm Đi về phía thượng nguồn gần 300m, lòng suôi đột ngột bị th u hẹp còn 15m do mỏm đá vôi nhô r a từ h a i phía bờ suối Ngay sau dó, đáy lại mở rộng tới 70- 80m, trên cả hai bên sườn còn th ấy rõ d ấu vết tươi môi của các khôi trư ợ t h ình b án nguyệt,

có khôi rộng 50m, cao 30m Dưới lòng suối thấy m ột gốc cây k h á to còn xan h tôt, chứ ng tỏ đã xáy ra trượ t đ ấ t cách dây không lâu M ặt đệm trên sườn chủ yếu là cây bụi và nương ngô, nương lúa Đi tiếp ngược dòng còn gặp nhiều đoạn lòng suôi mở rộng rồi th u hẹp nôì tiếp nhau, khiến cho đáy th u n g lũng có d ạng ông chỉ điển hình Đ áng chú ý là tại nhiều vị trí lòng suối th u hẹp còn gặp những đập chắn cao 0,8-l,5m được cấu tạo b ằn g v ậ t liệu lũ tích thô chưa dược dòng lũ m ang đi hết

Trường hợp th ứ hai là lủ b ùn - đá trẽn con suối không tên cách thị trấ n Bắc H à 2km

vể phía TN T háng 5 năm 2002, tại Tà C hài, sau một đợt m ưa kéo dài 3 ngày, nước lẫn bùn

- đá dã trà n xuống phá huỷ m ột ngôi n h à dân nằm s á t bờ suôi và một trạ m trộ n bê tông ven ihtòng ô tô bên cửa suôi Dòng lũ d âng cao trên 2m, biến lòng điíờng th à n h suối, gây ách tắc giao thông và để lại n h iều lũ tích kích thước k h á lớn

Đáng chú ý là con suối này tương đối nhỏ bé, dài không quá 1,5 km , dòng cháy về

m ùa đông hầu như khô cạn, trắ c diện dọc rấ t dốc, có doạn dốc tới 15", nhiều ghềnh thác nhỏ Ngược dòng lên thượng nguồn, q uan s á t thây nhiều đá tản g kích thitớc tối 60-100cm xếp

th ành những bậc ghểnh cao 2-3m Hai bên sườn có nhiều d ấu vết trư ợ t đất liên tiếp nhau Tại chân của m ột khối trư ợ t còn th ấy m ột gò cao 0,7m gồm n h ữ ng vật liệu m ài tròn kém là

di tích của đ ập chắn tạm thời h ình th àn h trong lũ v ề m ặt cấu tạo địa c h ấ t, khu vực này cũng giông như suôi Nậm Khòn, nghĩa là cùng có đoạn đáy suôi th u hẹp ứng với tập dá vôi

và những doạn mỏ rộng tương ứng với diện lộ của tập đá phiến kết tin h của hệ tần g Hà

G iang dễ bị phá huỷ, tạo ra vỏ phong hoá dày nhưng còn lẫn nhiều m ánh v ụn dá gốc Thực vặt hai bên sườn chủ yếu là cây bụi, nên k h ả năng bảo vệ sườn rấ t kém

3.2 N g u y ê n n h â n và c ơ c h ê h o a t đ ộ n g c ủ a lũ b ù n • đ á tr o n g v ù n g n g h i ê n c ứ u

Trong văn liệu, người ta đă nói đến điểu kiện tiên quyết dể’ sinh ra lũ bùn đá là phải

có những khối Irượt lớ d ấ t diễn ra m ạnh từ 2 sườn th u n g lủng dể tạo ra đ ập tạ m thời chặn dòng chảy, rồi khi dập vỡ, nước và đất đá xả nhanh xuôi dòng th àn h lù q u ét [3] Song, những điểu kiện vật chất cần và đủ thi chưa ai nêu cụ the, do đó việc dự báo còn gặp khó khăn Qua nghiên cứu hiện trạ n g và những diều kiện phát triển cúa các trậ n lũ quét và lũ

Trang 5

chứ ng hiện thực vể tiền đề cần th iết cho sự xuất hiện của quá trìn h tai biến này Đ áng chú

V n h ất lã những tài liệu san đây:

- Tníớc hết, cà hai dòng suối được nhắc tói trê n dâv đểu nhỏ và có hitớng lưu vực quay

về phía tây và tây nam , nghĩa là đều nằm trên sưòn đón gió ẩm đưa lên từ th u n g lũng sông Hồng và sõng Cháy Tương tự điều này củng đúng cả với những khe rã n h xói mòn có dòng bùn - đá dê lại di tích dưới d ạng nón phóng vật lũ tích

- Dữ kiện có ý nghĩa quyết đ ịnh nhất, là sự hiện diện của vô sô khôi trượt đ ấ t kích

thuốc khác nhau, hầu như n ằm k ế tiếp n hau trên cả hai bên bờ suối (hình 2)

1 ->»- |Tặp dã phiến I ^ I Trượt đất r ^ q Bãi lũ tích

H ình 2 Một sô dặc điểm hình th ái và cấu trú c th u n g lũng suôi N ậm Khòn.

- Bẽn cạnh đó, tại những đoạn đáy thung lũng th u hẹp v ẫn còn q uan sát được phần

sót lại cúa nh ữ n g “con đ ập tạm thời" cấu th àn h liang vật liệu vụn thô nam hỗn độn (lũ tích)

đã từ ng chăn dòng cháy trong những kỳ m ưa lớn kéo dài, làm niíổc dân g lên rồi khi bị vỡ gảv ra hiệu tiídng !ù quét với hàm lượng bùn dã cao

- Sớ dĩ Ciíc khỏi trượt đ ấ t xảy ra dày đặc như vậy là do lớp vỏ phong hóa ờ đây rấ t dày,

Trang 6

vốn bị cà n á t dữ dội trong quá trìn h n âng lên tân kiến tạo và bị phong hóa dỏ dang K hi có

m ưa kéo dài, lớp vó phong hoá nói trê n bị ngấm đẫm rntớc, lại có hàm liíỢng sé t cao nên càng dễ bị trư ợ t - lỡ

- Về m ặt hình thái, các th u n g lũng này đểu có đáy h inh ống chi (hình 2) với những đoạn mớ rộng tới cà trảm m ét trong tần g đá phiến và những doạn th u h ẹp đột ngột chỉ còn chừng lõm (!) nơi có via đá vôi lộ ra hai bên bò suối Nói cách khác, đây là nhũ n g thung

lũng được cấu th àn h bảng nhiều đoạn thung lủng xuyên th ủ n g kê tiếp n h a u , r ấ t th u ậ n lợi

cho quá trìn h hình th à n h lũ q u é t chứ a nhiểu b ùn - đá T ại nh ữ n g đoạn đáy mở rộng, dòng chày có điểu kiện xâm thực ngang m ạnh mẽ, xói lớ bờ cắt đứt chân sườn làm p h á t sinh trư ợ t

lở, trong khi những đoạn đáy hẹp lại dễ dàng gây tắc nghẽn đối với bùn đá dưa tới từ các khôi trượ t lở phía trên Do trong vỏ phong hoá thưòng có nhiều m ảnh vỡ đá gốc, nên lũ tích

có hàm lượng cuội, tản g cao, chủ yếu là dá phiến (90%), còn lại là dá vôi C hính vì vậy, ở đây thường gặp loại lũ bùn - đá theo đúng nghĩa đen của th u ậ t ngữ này

- Một n hân tố m ang tín h đặc th ù của khu vực nghiên cứu, và có lẽ là nguyên nhân

chính gãy ra hiện tượng trư ợ t lớ m ạnh ớ những đoạn thung lũng mỏ rộng và tắc nghẽn ò

doạn thu hẹp, là cấu trúc th ạc h học và kiến tạo đặc biệt của vách bình sơn Bắc Hà

T hứ nhất là d ạng cấu trúc đơn nghiêng có th ế nằm ổn đ ịnh cám r ấ t dốc vể hướng tây

và tây nam (hình 2) của các lớp đá thuộc hệ tần g Hà G iang (C2 hg2) và C hang P ung (G3 cpl) Cá 2 hệ tần g này đều có đặc điểm chung lã có sự xen kẽ dều đận những tập có đặc điểm thạch học cứng mèm khác n hau rỏ rệt Tập cứng là đá vôi bị hoa hóa có dộ tin h khiết khác nhau, tậ p mềm dược cấu th àn h bằng các loại dá phiến thạch a n h - mica, đá phiến thạch an h - fe n p at - mica, đá phiến clorit, đá phiến serixit - clorit Mỗi tậ p có bể dày dao dộng từ 40m đến vài trăm mét Cấu trú c thạch học như vậy dã d ẫn đến kiểu phong hóa chọn lọc điển hình: các tập đá phiến bị phong hóa sâu sác, tạo ra m ặ t c ắ t r ấ t dày giầu sét nhưng còn chửa nhiều m ảnh vụn của những bộ p hận giầu thạch an h và th ậm chí là quắc zit, n h ấ t là ó nhũng nơi đă lộ ra đới saprolit; các tậ p đá vôi, đá hoa thì trơ ra do chỉ bị bóc mòn hóa học yếu ớt (nhiều tạ p chất) hoặc bị hạ th ấp chậm chạp do dập vỡ đổ lỡ

Trang 7

T hử hai là giữa hìn h thái thung lũng suối sinh lũ bùn - đá và câu trú c địa c h ấ t ỏ đây

có môi tương q uan ch ậ t chẽ: trong tấ t cả các trường hợp, dù là dòng suôi hay dòng chày tạm thời nhỏ bé, lòng d ẫ n đều có phương hầu như vuông góc với đường phương của đá (hình 3)

Do dó, khi c ắ t qua các lớp đá phiến mềm thì chúng dễ dàng xâm thực ngang, tạo ra những

m ánh bãi bồi rộng từ 50-60 đến 200m, còn khi cắt các lớp đá vôi cứng thì th ắ t lại, có khi chỉ

rộng lõm ! Kết quả là th u n g lũng có dáy dạng ống chỉ gồm n h ữ ng đoạn th u n g lũ n g xuyên

th ủ n g nối tiếp n hau.

N hững q uan s á t được ghi lại trên đây là biểu hiện sống dộng n h ấ t của cơ thức hình

th àn h lũ quét và lủ bùn - đá: sau dợt mita đầu m ùa 2002 kéo dài 3 ngày, m ột m ặt do vỏ phong hóa giàu s é t bị sũng nưốc đã trở nên kém ổn định, m ặt khác, do xâm thực ỏ đinh khúc uốn bới dòng nước lũ, sườn bị hẫng chân, đã xảy ra trư ợ t - lở đâ't tạo ra đập tạm thòi tại nơi lòng dẫn t h ắ t lại, làm p h á t sinh lũ bùn - đá dồn xuống phá vd công ngầm T rung Đô

4 K ết lu ậ n

N hửng ph ân tích trên đây cho phép rú t ra kết luận như sau:

- Lù bùn - đ á ớ Bắc Hà thuộc kiểu th ứ 2, tức là dòng nước cuồng lưu m ang theo nhiều bùn - dá

- Cấu trúc địa ch ấ t đơn nghiêng vói các lớp cùng mềm xen kẽ n h au d ẫn đến sự phong hoá chọn lọc, tạo ra nhiều v ậ t châ't vụn trong tập đá mềm (đá phiến) T rong điều kiện m ặt dệm không được lớp thực v ặ t tự nhiên bảo vệ sẽ dễ dàn g xảy ra triíỢt đ ấ t làm tiên dề ph át sinh lũ bùn - đá

- Yếu tô quyết định tạo ra lũ bùn - đá ờ đâv là các dòng suôi cắt vuông góc vói đường phương của tậ p đá, làm xu ất hiện vô sô đoạn th u n g lũng xuyên th ủ n g với đoạn mở rộng ứng với các tập dá phiến, nơi mỗi khi có mưa lớn kéo đài vài ngày đều xảy ra trượt đ ấ t để tạo ra những đập chắn tạm thòi tại nơi đ áy thung lũng th ắ t lại khi nó cắt qua tặp đá vôi cứng chắc

- N hững k ế t lu ậ n tr ê n đây là cơ sở để cảnh báo vể dạng tai biến này, đồng thời về m ặt phương pháp nghiên cứu, chúng là những gợi ý th u y ế t phục cho việc vạch ra lộ trìn h vận dụng công nghệ GIS để xác định những khu vực tai biến lủ b ùn - đá tiềm ẩn: những lưu vực suối nhó miền n ú i đón gió, đón m ưa th u ận lợi, m ặt đệm chỏng xói mòn kém , lòng d ẫn cắt vuông góc dường phương cấu tạo địa ch ấ t đơn nghiêng của những tậ p đá cứng (đá vôi, đá hoa), mềm (đá phiến) đủ dày xen kẽ nhau, trong đó tập mềm dễ gây trư ợ t lở, tập cửng tạo ra đoạn thung lũng h ẹp th á t lại đều là những đấu hiệu chỉ thị nguy cơ lũ qu ét kèm theo b ùn -

đá nguy hiếm T rê n địa bàn m iền núi phía bắc, đó chính là n h ữ ng k hu vực có đá vôi, đá hoa xen đá phiến cổ, tu ổ i S ilua, Ocđocic, C am bri thuộc khôi nân g V iệt Bắc

* Còng trin h này được hoàn thành trong khuôn khô Chương trìn h nghiên cứu khoa

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đào Đinh Bác, Tương qu an tạo h ình thải - tạo trầm tích trong kỉ Đệ tứ ở Việt N am ,

Tạp ch i Các khoa học về Trái Đ ất, T.20, No 3, 1998, Hà Nội.

2 Cao Đăng Du, Tai biến thiên nhiên (phần lủ lụt và lũ quét), Tài liệu giáo khoa, Trường Đại học Khoa học T ự nhiên, Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1999, 144 tr

3 Livovich M.I (chủ biên), Lũ bùn - đá và biện pháp phòng chống, T uyển tập công trin h Hội nghị Khoa học vế lũ bùn - đá, Viện H àn lâm Khoa học Liên Xô, 1957, 249 tr.

VNU JOURNAL OF SCIENCE, Nat Sci &Tech., T.xx M04AP 2004

M U D F L O W S A N D T H E I R W A R N I N G S I G N S D E D U C T E D

F R O M T H E S T U D Y O N T H E S O U T H - W E S T S L O P E

O F B A C H A T A B L E L A N D

D a o D in h B ac

D epartm ent o f Geography, College o f Science, V N U

P h a m T ie n Sy

Center for Science a n d Technology, Min itry o f T ransportation

Mud How is a kind of flash flood containing different content, of solid sedim ent Its obligatory forming conditions are the possibility of producing landslides of the slope of

sm all m ountainous valleys as a kind of tem porary n a tu ra l b arrage w hich will be broken through la te r by the cruel w a te r course However, the real necessary conditions have not been determ ined concretely O u r study on the s w slope of Bac Ha tableland indicated its

d eterm inant factors, such a s type of monoclinal geological s tru c tu re w ith alternance of a mem ber of easily alterab le rocks (crystalline shists) and the one of re s is ta n t rocks (mabre, limestone), w a te r gap, cruciform crossing of the river beds and the strik e of rock layers The sim ilar conditions can be found in th e Viet Bac uplift m assive in the areas of th e Silurian, Ordovician and C am brian lim estone

Ngày đăng: 15/12/2017, 01:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w