Ở bể Nam Côn Sơn rất nhiều sự cố xảy ra trong thi công khoan như phun khí, kẹt cần, kick, mất dung dịch gây thiệt hại nhiều về vật chất mà nhiều khi mục tiêu thăm dò đề ra ban đầu vẫn chưa đạt được. Nghiên cứu dị thường áp suất có tầm quan trọng đặc biệt đối với các nhà thầu dầu khí, nó giúp cho việc lập kế hoạch khoan để đảm bảo an toàn khi khoan, đồng thời tiết kiệm đƣợc rất nhiều chi phí không để dị thƣờng áp suất gây ra sự cố. Việc nghiên cứu dị thường áp suất còn giúp chúng ta giải quyết được một số khía cạnh khoa học của công tác tìm kiếm thăm dò như mối quan hệ cộng sinh giữa dị thường áp suất và điều kiện trầm tích, kiến tạo, cấu trúc và địa tầng, ảnh hưởng của dị thường áp suất đến quá trình trưởng thành nhiệt của vật chất hữu cơ, đến việc di cư, tích tụ và bảo tồn dầu khí khi mà áp suất được coi như là một tác nhân quan trọng trong quá trình di cư cũng như phá hủy các tích tụ đã hình thành từ trước.v.v. Như vậy, sự hiểu biết về nguyên nhân và đặc điểm dị thường áp suất của bể sẽ giúp công việc dự báo có độ tin cậy cao hơn.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN I
MỤC LỤC II
DANH MỤC HÌNH ẢNH IV DANH MỤC BẢNG BIỂU V
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 4
1.1 Lịch sử tìm kiếm thăm dò 4
1.2 Đặc điểm cấu kiến tạo 6
1.3 Đặc điểm địa tầng 9
1.3.1 Móng 9
1.3.2 Hệ tầng Cau-Oligocen 10
1.3.3 Hệ tầng Dừa-Miocen dưới 10
1.3.4 Hệ tầng Thông-Mãng Cầu-Miocen giữa 11
1.3.5 Hệ tầng Nam Côn Sơn-Miocen trên 11
1.3.6 Hệ tầng Biển Đông-Đệ Tứ 12
1.4 Hệ thống dầu khí 14
1.4.1 Đá sinh 14
1.4.2 Dịch chuyển dầu khí 19
1.4.3 Đá chứa 20
1.4.4 Bẫy chứa 22
1.4.5 Đá chắn 23
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ÁP SUẤT LỖ RỖNG VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO DỊ THƯỜNG ÁP SUẤT 25
2.1 Áp suất lỗ rỗng và dị thường áp suất cao 25
2.2 Các nguyên nhân gây nên dị thường áp suất 27
2.3 Các phương pháp nhận biết và đánh giá dị thường áp suất cao 34
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu trực tiếp 35
2.3.2 Phương pháp sử dụng tài liệu địa chấn 35
Trang 2CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP EATON DỰ BÁO ÁP SUẤT GIẾNG
KHOAN TƯ-3X, CẤU TẠO THIÊN ƯNG, BỂ NAM CÔN SƠN 43
3.1 Tổng quan cấu tạo Thiên Ưng 43
3.1.1 Mô tả cấu tạo 43
3.1.2 Trữ lượng 44
3.2 Giếng khoan dự kiến 04-3-TƯ-7X 46
3.2.1 Dữ liệu giếng khoan TƯ-7X 47
3.2.2 Dự báo áp suất vỉa và áp suất vỡ vỉa 48
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 3DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.3.1-1: Sơ đồ kiến tạo khu vực lô 04-3 9
Hình 1.3.6-1: Cột địa tầng tổng hợp lô 04-3 13
Hình 1.4.1-1: Quan hệ HI-Tmax, Miocen dưới lô 05-1B 16
Hình 1.4.1-2 Sơ đồ phân bố độ trưởng thành của VCHC Miocen trên lô04-3 và vùng lân cận 17
Hình 1.4.1-3: Sơ đồ phân bố độ trưởng thànhcủa VCHC Miocen dưới lô 04-3 và vùng lân cận 17
Hình 1.4.1-4: Sơ đồ phân bố độ trưởng thành của VCHC thời kỳ muộn của Oligocen lô 04-3 và vùng lân cận 18
Hình 1.4.1-5 Sơ đồ phân bố độ trưởng thành của VCHC thời kỳ sớm của Oligocen lô 04-3 và vùng lân cận 18
Hình 1.4.5-1 Lịch sử phát triển địa chất khu vực phía Đông bể Nam Côn Sơn 30
Hình 1.4.5-2 Lịch sử phát triển địa chất khu vực phía Tây bể Nam Côn Sơn 31
Hình 1.4.5-3 Mặt cắt phục hồi bể Nam Côn Sơn 32
Hình 1.4.5-4 Phục hồi quá trình tiến hóa địa chất bể Nam Côn Sơn 33
Hình 2.3.2-1 Đồ thị xác định đường xu thế nén ép thường 36
Hình 2.3.2-2 Đồ thị phân bố áp suất địa tĩnh theo chiều sâu 36
Hình 2.3.3-1 Xác định dị thường áp suất bằng phương pháp độ sâu tương đương 38
Hình 2.3.4-1 Phương pháp D-exponent xác định dị thường áp suất 40
Hình 2.3.5-1 Chu trình dự báo áp suất vỉa và vỡ vỉa bằng phương pháp Eaton 42
Hình 3.1.2-1 Bản đồ tính trữ lượng cho cấu tạo Thiên Ưng H200, H80_3; H80_2; H80_1; H76_1 và H70_3 (Theo Báo cáo trữ lượng Thiên Ưng, 2011, Vietsopetro) 46
Hình 3.1.2-2 Bản đồ tính trữ lượng cho cấu tạo Thiên Ưng H30_3; H30_2 và H30_1 (Theo Báo cáo trữ lượng Thiên Ưng, 2011, Vietsopetro) 46
Hình 3.2.2-1 Đường cong xu thế nén ép theo độ sâu 49
Hình 3.2.2-2 Biểu đồ xác định hệ số Poisson theo chiều sâu 52
Hình 3.2.2-3 Đồ thị xác định gradient áp suất vỡ vỉa theo chiều sâu 53
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1.2-1 Trữ lƣợng Hydrocarbon ban đầu Mỏ Thiên Ƣng (Theo Báo cáo trữ lƣợng Thiên Ƣng, 2011, Vietsopetro) 45 Bảng 3.2.2-1 Kết quả tính toán áp suất vỉa và áp suất vỡ vỉa 56
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở bể Nam Côn Sơn rất nhiều sự cố xảy ra trong thi công khoan như phun khí, kẹt cần, kick, mất dung dịch gây thiệt hại nhiều về vật chất mà nhiều khi mục tiêu thăm dò đề
ra ban đầu vẫn chưa đạt được Nghiên cứu dị thường áp suất có tầm quan trọng đặc biệt đối với các nhà thầu dầu khí, nó giúp cho việc lập kế hoạch khoan để đảm bảo an toàn khi khoan, đồng thời tiết kiệm được rất nhiều chi phí không để dị thường áp suất gây ra sự cố Việc nghiên cứu dị thường áp suất còn giúp chúng ta giải quyết được một số khía cạnh
khoa học của công tác tìm kiếm thăm dò như mối quan hệ cộng sinh giữa dị thường áp
suất và điều kiện trầm tích, kiến tạo, cấu trúc và địa tầng, ảnh hưởng của dị thường áp
suất đến quá trình trưởng thành nhiệt của vật chất hữu cơ, đến việc di cư, tích tụ và bảo
tồn dầu khí khi mà áp suất được coi như là một tác nhân quan trọng trong quá trình di cư
cũng như phá hủy các tích tụ đã hình thành từ trước.v.v Như vậy, sự hiểu biết về nguyên nhân và đặc điểm dị thường áp suất của bể sẽ giúp công việc dự báo có độ tin cậy cao hơn
Trang 6- Ứng dụng vào thực tế, dự báo áp suất của giếng khoan Thiên Ưng-7X, lô 04-3,
bể Nam Côn Sơn nhằm phục vụ cho công tác thực tiễn của ngành dầu khí trong
khu vực này
3 Phương pháp thực hiện
- Thu thập tài liệu về đặc điểm địa chất nói chung, cũng như lịch sử phát triển địa
chất nói riêng nhằm phân tích nguyên nhân gây ra dị thường áp suất của khu vực
trung tâm bể Nam Côn Sơn
- Tổng hợp và phân tích các phương pháp đánh giá áp suất được sử dụng phổ biến
torng công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí
- Thu thập tài liệu Địa vật lý giếng khoan (ĐVLGK) của giếng khoan TƯ-7X và
số liệu đo áp suất của các giếng khoan lân cận trong lô 04-3, sau đó phân tích tài
liệu và sử dụng phương pháp độ sâu tương đương để đánh giá chế độ áp suất của
khu vực này
4 Cơ sở tài liệu
- Phạm Việt Âu “Nghiên cứu các điều kiện địa chất để thực hiện giếng khoan tại
các cấu tạo lô 04-3” Viện nghiên cứu khoa học NIPI, Vietsov Petro
- Lester R Louden“Origin and maintainence of abnormal pressure” AIME, 1972
- N.C.Dutta “Abnormal formation pressure estimation using velocity: basic
concepts and field examples” BP Exploration, 1993
Trang 7- Alan Mitchell Jean-Paul Mouchet “Abnormal Pressures While Drilling:
Origins, Prediction, Detection, Evaluation (Fundamentals of Exploration and Production)” Editions Technips, 1989
- Tài liệu composite log, master log và marker lô 04-3, Bể Nam Côn Sơn
- Tài lieu kết quả đo nhiệt độ và áp suất theo kết quả khoan của các giếng lô 04-3
và các giếng lân cận
5 Nội dung của đồ án
Báo cáo đề tài đồ án gồm có ba chương Chương 1 nêu tổng quan về khu vực lô
04-3, bể Nam Côn Sơn, gồm các mục chính là lịch sử tìm kiếm thăm dò, đặc điểm cấu kiến
tạo, đặc điểm địa tầng và hệ thống dầu khí Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về áp suất
lỗ rỗng bao gồm khái niệm về áp suất lỗ rỗng, phân tích nguyên nhân gây nên dị thường
áp suất của khu vực nghiên cứu và tổng hợp các phương pháp dùng để dự báo dị thường
áp suất Chương 3 sử dụng tài liệu ĐVLGK, ứng dụng phương pháp ĐVLGK để dự báo
áp suất giếng khoan TƯ-7X, lô 04-3, bể Nam Côn Sơn Dựa trên những kết quả phân tích
được cùng với các biểu đồ, đồ thị và các tài liệu liên quan, tác giả đưa ra kết luận về đặc điểm phân bố áp suất của đối tượng nghiên cứu và khu vực lô 04-3, bể Nam Côn Sơn
Trang 8CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1 Lịch sử tìm kiếm thăm dò
Tại lô 04-3, những thông tin đầu tiên về cấu trúc địa chất hết sức phức tạp của khu
vực nghiên cứu có được từ kết quả khảo sát địa vật lý tổng hợp vào năm 1974 Từ đó đến
năm 1995, nhữnghoạt động nghiên cứu bằng các phương pháp địa vật lý trên khu vực đã được đẩy mạnh; tổng khối lượng thăm dò địa chấn 2D đã thực hiện trong giai đoạn này là
6446 km tuyến Ngoài ra, trên diện tích của lô đã tiến hành thăm dò từ và trọng lực với
khối lượng là 3040 km tuyến Tại khu vực trung tâm của lô (khu vực cấu tạo Mãng Cầu,
Đại Bàng – Ưng Trắng) mạng lưới tuyến khảo sát đã nâng từ 1x2 lên 1x1 km
Từ năm 2001 Liên doanh Vietsovpetro bắt đầu điều hành công tác tìm kiếm thăm dò
tại lô 04-3 Vào năm 2001, theo hợp đồng với Vietsovpetro, công ty PGS đã tiến hành
công tác thăm dò địa chấn 3D trên diện tích 785 km2 của các cấu tạo Thiên Ưng – Mãng
Cầu và Đại Bàng – Ưng Trắng Tài liệu đã được công ty Goldеn Pacific xử lý và các
chuyên gia của Viện NCKH&TK – Liên doanh Vietsovpetro minh giải (2003) Với mục
đích làm rõ những khác biệt về cấu trúc địa chất và lựa chọn những vị trí tối ưu để đặt các giếng khoan tìm kiếm - thăm dò, Viện NCKH&TK đã đồng thời tiến hành tính toán các
thuộc tính địa chấn và minh giải tài liệu địa chấn theo phương pháp AVO Kết quả minh
giải đã xây dựng được các bản đồ đẳng thời, đẳng tốc và các bản đồ cấu tạo theo các tầng
địa chấn SH-30, SH-76, SH-80 và SH-200
Vào năm 2004, Schlumberger đã ký hợp đồng với Vietsovpetro minh giải lại tài liệu địa chấn 3D lô 04-3; kết quả là đã xây dựng được các bản đồ cấu tạo mới không khác biệt lớn so với các bản đồ mà Viện NCKH&TK đã xây dựng
Trang 9Trên cấu tạo Hoàng Hạc và Hải Âu chưa tiến hành khoan; trên cấu tạo Mãng Cầu,
giếng khoan đầu tiên là A-1X do hãng AGIP tiến hành vào năm 1979, khoan trực tiếp lên
nóc vòm Mãng Cầu Khi thử vỉa tập trầm tích Miocen giữa đã nhận được dòng dầu lưu
lượng 13,35 m3 /ngày đêm và khí là 45 ngàn m3 /ngày đêm từ khoảng chiều sâu
2263-2276 m và 318,83 m3/ngày đêm từ khoảng chiều sâu 2248-2255 m
Trong phạm vi cấu tạo Thiên Ưng, năm 2004-2005 đã khoan giếng TƯ-1X và tiến
hành thử vỉa năm (5) đối tượng, trong đó có bốn đối tượng cho dòng sản phẩm Về trạng
thái pha, các vỉa sản phẩm được phát hiện đều là khí-condensat
Giếng MC-2X được khoan vào năm 2005, từ trầm tích Miocen nằm ở các khoảng
chiều sâu 25042520 m (24782494 m), 24602462 m và 24722482 m (24342436 m,
-2446-2458 m) và 2196-2202 m, 2210-2213 m (-2170-2176 m, -2184-2187 m) đã thu được
các dòng khí và condensat, còn từ khoảng chiều sâu 2432-2437 m (-2406-2411 m) nhận
được dòng dầu
Giếng TƯ-2X khoan vào ngày 10 tháng 9 năm 2005, trong giếng này đã thử vỉa năm
(5) đối tượng và đã nhận được những dòng condensat và khí từ các khoảng chiều sâu 3136-3152 m (-3110-3126 m), 3081-3090 m (-3055-3064 m) và 3031-3036 m (-3005-
3010m), 3025-3029 m (-2999-3003 m) và 3017-3019m (-2991-2993 m)
Giếng TƯ-3X khoan vào năm 2008-2009, kết quả thử vỉa năm đối tượng đã nhận
được những dòng khí và condensat tự phun và xác lập được sự hiện diện của các vỉa
Trang 10khí-Giếng TƯ-4X khoan vào năm 2010, kết quả thử vỉa ở sáu đối tượng chỉ nhận được
những dòng khí yếu trong trầm tích Miocen giữa
Giếng TƯ-5XP khoan vào năm 2010-2011, kết quả thử vỉa ở bảy đối tượng chỉ nhận
được dòng khí yếu từ tầng móng và từ trầm tích Miocen hạ
Tổng số mét khoan tìm kiếm, thăm dò tại cấu tạo Thiên Ưng – Mãng Cầu là 25289
m Mức độ nghiên cứu địa chất theo khoan vẫn còn thấp, mật độ khoan đạt 1 giếng trên
5,98 km2 trên toàn bộ diện tích của cấu tạo (330 km2), nghiên cứu lát cắt địa chất đạt 76,6
m khoan trên 1 km2 Mức độ nghiên cứu lát cắt bằng mẫu lõi cũng thấp; khối lượng mẫu
lõi theo thiết kế là 173,04 m, thực tế là 149,96 m đạt 86,7%
1.2 Đặc điểm cấu kiến tạo
Trên bình diện cấu trúc, bồn trũng Nam Côn Sơn là một cấu tạo lớn chạy song song
với đới nâng Côn Sơn theo hướng Đông Bắc – Tây Nam Trong phạm vi thềm lục địa
Việt Nam, diện tích bồn trũng Nam Côn Sơn chiếm 550x250 km Bồn trũng được phủ đầy
bởi tập hợp các trầm tích Kainozoi với chiều dày ở các khu vực sâu nhất lên đến 11-12
km
Trên bình đồ cấu tạo mặt móng, bồn trũng Nam Côn Sơn có thể chia ra hai phần: Trũng Bắc và Trũng Nam tách nhau bởi đới nâng Sông Đồng Nai Đới nâng Sông Đồng Nai là một tập hợp các khối nâng không đồng đều của móng, phân bố kéo dài theo hướng
Đông – Đông Bắc từ phía Nam cho đến đới nâng Côn Sơn Trong đới nâng Sông Đồng Nai còn gồm các cấu tạo nhô cao như Thần Mã, Bồ Câu, Đại Hùng, Thiên Ưng - Mãng
Cầu, Đại Bàng - Ưng Trắng…; chúng được liệt vào cấu trúc bậc hai của đới nâng Sông
Đồng Nai (Hình 1.3.1-1)
Trang 11Lô 04-3 được giới hạn bởi trũng Bắc ở phía bắc, đới nâng Côn Sơn ở phía tây, trũng
Nam ở phía nam và ở phía đông là phần phía bắc của trũng Nam Do vị trí địa lý như vậy,
nên lô 04-3 mang kiến tạo đặc trưng của bồn trũng Nam Côn Sơn và hội đủ mọi điều kiện
thuận lợi cho tích tụ dầu khí
Việc phân chia vùng kiến tạo dựa trên các dấu hiệu dị thường – phân dị mặt móng,
từ đó lô 04-3 được chia ra theo các cấu tạo nếp lồi lớn bậc III, như cấu tạo Bồ Câu, Đại
Hùng, Thiên Ưng – Mãng Cầu, Đại Bàng – Ưng Trắng Các cấu tạo nhô cao này bị phức tạp hóa bởi các khối nâng nhỏ riêng biệt kèm theo Ngoài ra, tùy thuộc vào vị trí phân bố,
cấu trúc và kích thước…, các cấu tạo này lại bị chia ra thành các cấu tạo nhỏ hơn
Việc phân chia các tầng kiến tạo đã được thực hiện trên cơ sở tổng hợp và so sánh
các kết quả khoan và số liệu khảo sát địa vật lý, theo đó lát cắt địa chất của khu vực
nghiên cứu được chia ra 3 tầng kiến tạo chính:
1 Tầng kiến tạo bên dưới là tầng đá móng tuổi trước Kainazoi Trên mặt cắt địa
chấn đi qua các cấu tạo nâng cao, nóc của tầng này đượcxác định rõ theo tầng địa chấn
H200 – bề mặt móng
2 Tầng kiến tạo giữa là các tập đá trầm tích tuổi Oligocen đến Miocen giữa Trên
mặt cắt địa chấn, tầng này được phân biệt rõ và nằm giữa các tầng địa chấn H200 và H30
3 Tầng kiến tạo trên cùng là các trầm tích lục nguyên tuổi từ Miocen trên đến Đệ tứ
Trên mặt cắt địa chấn, tầng này được xác định rõ từ tầng địa chấn H30 đến đáy biển
Trang 12Các tầng kiến tạo phân biệt nhau bởi các điều kiện thành tạo và theo các mặt bất
chỉnh hợp địa tầng địa phương Trong phạm vi bồn trũng Nam Côn Sơn toàn bộ quá trình
tạo rift, có thể chia ra các giai đoạn như sau: Trước tạo rift (trước Kainozoi), thời kỳ rift -
tách giãn (Oligocen – Miocen giữa) và thời kỳ sau rift (từ Miocen giữa đến Đệ tứ)
Hoạt động kiến tạo là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong quá trình hình
thành cấu trúc địa chất của khu vực nghiên cứu Toàn bộ tổ hợp đứt gãy trong khu vực
nghiên cứu có thể chia ra làm 4 hệ thống:
Hệ thống đứt gãy chạy theo hướng ĐB-TN;
phát triển cho đến cuối Miocen giữa (trong tập carbonat), một số đứt gẫy kéo dài đến cuối
Miocen – đầu Pliocen Các đứt gãy kiến tạo, chủ yếu là đứt gãy thuận với biên độ từ vài
trăm đến vài ngàn mét Các hệ thống đứt gãy nêu trên chia cắt tầng móng thành các khối riêng, sụt bậc
Trong lát cắt trầm tích, các đứt gãy chủ yếu là đứt gãy thuận, phát triển dưới góc đổ
40о-60о và hầu như song song với nhau Chúng chia mặt cắt thành các khối nhỏ với chiều
rộng 1-4km Hiện tượng này có thể tạo ra các điều kiện thuận lợi hình thành các bẫy kiến
tạo nhỏ đã được tìm thấy trong lát cắt trầm tích, đặc biệt là trong trầm tích Miocen
Trang 13Hình 1.3.1-1: Sơ đồ kiến tạo khu vực lô 04-3
1.3 Đặc điểm địa tầng
Mặt cắt địa tầng đƣợc xây dựng trên cơ sở kết hợp các kết quả khoan và tài liệu địa chấn thăm dò Mặt cắt địa tầng khu vực lô 04-3 đƣợc chia thành các hệ tầng sau (Hình 1.3.6-1):
1.3.1 Móng
Theo kết quả khoan thì đá móng ở lô 04-3 là granit magma, grano-diorit và diorite,
phân bố ở tất cả các cấu tạo trong lô Bề dày lớn nhất của tầng móng trong các giếng đã
Trang 14các mức độ khác nhau Các nứt nẻ và lỗ rỗng trong đá được lấp đầy bởi khoáng vật thứ
sinh (calcit, zeolite, kaolinit…)
1.3.2 Hệ tầng Cau-Oligocen
Trầm tích hệ tầng Cau nằm bất chỉnh hợp trên móng.Chúng phát triển và phân bố tại
những vùng tương đối sâu trong lô 04-3.Trong tất cả các giếng đã khoan chỉ tại giếng
BC-1X là xuất hiện hệ tầng này.Trong mặt cắt giếng BC-BC-1X trầm tích hệ tầng Cau chia làm 3
phần.Phần dưới bắt gặp sự xen kẽ giữa các lớp cát và sét Chủ yếu là cát kết thạch anh, độ
hạt thô-mịn, màu xám sáng, vàng nhạt, xi măng là carbonat hoặc kaolinit Sét kết có màu
xám, nâu gạch, thỉnh thoảng gặp màu trắng xanh và có chứa pirit.Phần giữa và phần trên
của hệ tầng là cát kết và bột kết với một lớp mỏng than.Cát kết mịn, độ chọn lọc tốt, mài
tròn trung bình, màu vàng nhạt.Bột kết mềm, màu xám nâu gạch, thỉnh thoảng có đá vôi
Bề dày của hệ tầng trong khoảng 0-233 m; trầm tích hình thành trong điều kiện lục
địa, tướng sông, đầm lầy-hồ và vịnh
1.3.3 Hệ tầng Dừa-Miocen dưới
Hệ tầng Dừa phân bố trong cấu tạo Thiên Ưng, Đại Bàng-Ưng Trắng, Bồ Câu và tại
vùng sâu hơn trong lô Riêng tại cấu tạo Mãng Cầu hệ tầng này vắng mặt Theo tài liệu
khoan các giếng BC-1X, DB-2X, UT-1X, TU-1X, TU-2X, trầm tích hệ tầng Dừa xen kẽ
giữa cát, bột và sét; đôi khi bắt gặp lớp mỏng carbonat hoặc dolomit Cát kết màu sáng,
nâu đất hoặc vàng; có độ hạt mịn, mài tròn tốt, xi măng là sét hoặc carbonat Sét có màu xám sáng, chặtxít; dolomit cứng, kết tinh và có màu nâu vàng
Bề dày hệ tầng Dừa thay đổi trong khoảng 214-832 m; trầm tích hình thành trong
điều kiện delta và biển nông
Trang 151.3.4 Hệ tầng Thông-Mãng Cầu-Miocen giữa
Trầm tích hệ tầng Thông-Mãng Cầu phân bố rộng khắp vùng phía Nam thềm lục địa
Việt Nam, trong đó có lô 04-3.Mặt cắt hệ tầng Thông-Mãng Cầu chia làm 2 phần Phần
dưới là cát kết có độ hạt từ mịn đến trung bình xen kẽ với lớp mỏng sét, đôi khi gặp lớp carbonat mỏng hoặc dolomit.Cát kết sạch, trong suốt, độ hạt mịn – trung bình – thô, độ
mài tròn trung bình.Sét có màu xám sáng, vàng nhạt, một số chỗ màu tối, nâu vàng Sét
kết mềm, đôi chỗ kết dính với các hạt pirit và mica.Thỉnh thoảng cũng gặp đá vôi phân
lớp rất mỏng và đá vôi dạng khối Phần trên của mặt cắt là lớp carbonat trắng xám, vàng
nhạt và lớp mỏng cát kết, sét bột, và dolomit
Bề dày của hệ tầng thay đổi từ 175 m đến 1252 m; trầm tích hình thành trong điều
kiện biển nông và nằm chỉnh hợp trên nóc phụ tầng Dừa
1.3.5 Hệ tầng Nam Côn Sơn-Miocen trên
Trầm tích hệ tầng Nam Côn Sơn phân bố trong khắp trũng Nam Côn Sơn cũng như
trong khắp lô 04-3, xuất hiện tại tất cả các giếng đã khoan.Trầm tích phụ tầng Nam Côn
Sơn là xen kẽ cát kết và sét bột, có gặp các lớp carbonat hoặc sét-đá vôi
Điểm khác biệt của mặt cắt hệ tầng Nam Côn Sơn tại lô 04-3 là chứa chủ yếu sét hoặc vôi sét, đôi khi gặp lớp cực mỏng bột-cát.Trong một số giếng gặp thành phần trầm
tích có nguồn gốc núi lửa (giếng 04-B-1X, 04-1-ST-1X)
Bề dày hệ tầng Nam Côn Sơn từ 24-780 m; trầm tích hình thành trong môi trường
biển nông và biển sâu
Trang 161.3.6 Hệ tầng Biển Đông-Đệ Tứ
Mặt cắt hệ tầng Biển Đông được chia làm 2 phần.Phần dưới trầm tích Pliocen là xen
kẽ cát kết và sét kết Cát kết màu sáng, vàng nhạt, độ hạt nhỏ- trung bình- thô, sét kết màu
xám, vàng nhạt, xám trắng chứa nhiều glauconit Trong tập sét bắt gặp cả các lớp đá vôi
mỏng.Phần trên của hệ tầng, thành phần chủ yếu của đá là cát, bột xen kẽ các tập sét Cát
kết độ hạt thô-mịn, màu sáng, vàng nhạt, xám đen Sét có màu xám vàng, xám trắng thỉnh
thoảng vàng Trong tập sét thấy có nhiều dấu vết sinh vật biển
Bề dày hệ tầng lên đến 2199 m, trầm tích hình thành trong môi trường biển nông,
sườn và biển sâu
Trang 17Hình 1.3.6-1: Cột địa tầng tổng hợp lô 04-3
Trang 181.4 Hệ thống dầu khí
1.4.1 Đá sinh
Đá mẹ sinh dầu trong lô 04-3 là tập trầm tích Oligocen và Miocen dưới, trong đó trầm tích Oligocen có mặt chủ yếu tại rìa cấu tạo và trong phần sâu của trũng Trong mặt
cắt đá Oligocen được chia thành các vỉa thành phần giàu vật chất hữu cơ, có triển vọng
sinh dầu và khí Theo số liệu khoan và địa chấn, trầm tích Oligocen được phát hiện ở độ
sâu gần 4000 m tại cánh của cấu tạo Bồ Câu, Đại Hùng, Thiên Ưng… Đá mẹ sinh dầu
tuổi Miocen dưới chứa vật chất hữu cơ loại II và III, tiềm năng sinh hỗn hợp dầu và khí,
có nguồn gốc đầm lầy (Hình 1.4.1-1)
Khối lượng lớn hydrocacbon đã sinh và dịch chuyển vào bẫy của mỏ Đại Hùng, cấu
tạo Thiên Ưng cho phép đánh giá tiềm năng sinh dầu của đá mẹ lô 04-3 và trũng Nam
Côn Sơn là cao Sự tồn tại của các vỉa bão hòa khí và condensate trong mỏ Đại Hùng, cấu tạo Thiên Ưng và Thanh Long chứng tỏ rằng cùng với tiềm năng sinh dầu cao thì đá mẹ
lô 04-3 cũng có tiềm năng sinh khí và condensat cao Quan điểm này được khẳng định
bằng số liệu phân tích thành phần kerogen trong đá mẹ loại II và III Theo số liệu phân
tích địa hóa, hàm lượng vật chất hữu cơ TOC trong đá mẹ Miocen dưới là thấp, thay đổi trong khoảng 0,5-2%; giá trị S2 thay đổi trong khoảng 1,0-10,0 kg/tấn Đá mẹ Oligocen có
giá trị TOC là 0,01-10%, S20,1-250 kg/tấn Như vậy, trên cơ sở kết quả xác định thành
phần vật chất hữu cơ, chỉ số HI và thành phần kerogen có thể kết luận rằng tiềm năng sinh
dầu/khí của đá mẹ là lớn và đạt xác suất 60/40 tương ứng
Đa số giếng đã khoan trong lô 04-3 không phát hiện trầm tích Oligocen (ngoại trừ giếng BC-1X và vài giếng mỏ Đại Hùng) và trong mặt cắt một vài giếng cũng vắng mặt
trầm tích Miocen dưới Theo dữ liệu phân tích mẫu lấy ở phần trên mặt cắt các giếng đã
Trang 19khoan trong vùng nghiên cứu, theo phản xạ Vitrinit và Tmax đã ghi nhận rằng đá mẹ
Miocen dưới và Oligocen đã đạt độ trưởng thành sớm và nằm trong pha sinh dầu Giá trị Tmax của vật chất hữu cơ tại độ sâu 3500m xấp xỉ 0,55% R0 Khi xây dựng mô hình
trưởng thành vật chất hữu cơ tại các khu vực khác nhau nhận thấy rằng vật chất hữu cơ trong đá mẹ Miocen dưới và Oligocen đã trải qua hầu như tất cả các pha sinh sản phẩm (Hình 1.4.1-2, 1.4.1-3, 1.4.1-4, 1.4.1-5)
Trang 20Hình 1.4.1-1: Quan hệ HI-Tmax, Miocen dưới lô 05-1B
Trang 21Hình 1.4.1-2 Sơ đồ phân bố độ trưởng thành của VCHC Miocen trên lô04-3 và vùng lân
cận
Trang 22Hình 1.4.1-4: Sơ đồ phân bố độ trưởng thành của VCHC thời kỳ muộn của Oligocen lô
04-3 và vùng lân cận
Hình 1.4.1-5 Sơ đồ phân bố độ trưởng thành của VCHC thời kỳ sớm của Oligocen lô
04-3 và vùng lân cận
Kết quả phân tích mẫu dầu lấy từ đá dầu Miocen và Oligocen chỉ ra rằng dầu được
hình thành từ đá mẹ chứa VCHC có nguồn gốc lục địa và đá được hình thành trong môi
Trang 23trường delta và ven biển.Dầu lấy từ đá móng của giếng BC-1X có chứa ít sáp và lưu huỳnh, nghĩa là dầu này sinh ra từ đá sinh chứa VCHC có nguồn gốc hồ-đầm lầy
Theo quan điểm của các chuyên gia PIDC, đá mẹ Oligocen trong lô 04-3 tạo khí khô (sạch), khí condensat và dầu, còn đá mẹ Miocen tạo khí condensat và dầu Tập Miocen
giữa nằm trong khoảng chu kỳ trưởng thành (Ro=0,72-0,55) và bắt đầu trưởng thành
(Ro=0,55-0,45) của đá mẹ
Như vậy đá mẹ sinh dầu trong lô 04-3 và vùng lân cận có tất cả các điều kiện cần thiết để sinh hydrocacbon
1.4.2 Dịch chuyển dầu khí
Theo kết quả khoan của các giếng đặt trên đỉnh của cấu tạo, trầm tích Oligocen
trong mặt cắt nhìn chung vắng mặt Sự có mặt của dầu và khí trong tập trầm tích của khu
vực này có thể giải thích bằng quá trình hình thành và dịch chuyển từ vùng trũng và sâu
hơn Trong lô 04-3 nguồn sinh và dịch chuyển hydrocacbon chủ yếu là phụ trũng Bắc và Nam của trũng Nam Côn Sơn Hydrocarbon dịch chuyển một khoàng từ 5 đến 25 km và
tích tụ vào bẫy Trong phần sâu và lún chìm nhất của mặt cắt quá trình dịch chuyển
hydrocarbon xảy ra sớm hơn: Pha thứ nhất dịch chuyển vào cuối giai đoạn Oligocen vào
khoảng 25 triệu năm trước đây (theo quan điểm VPI), còn trong các phần nâng cao hơn
của các cấu tạo khác nhau, pha đầu tạo dầu bắt đầu chỉ khoảng 5-10 triệu năm trước và
tiếp tục đến ngày
Kết quả khoan của các giếng tìm kiếm thăm dò trong lô 04-3 chỉ ra rằng tất cả các
Trang 24Bắc, Đông và Nam; còn đối với cấu tạo Thiên Ưng, dầu dịch chuyển từ phụ trũng Bắc,
Tây và Nam Tương tự như vậy, đối với cấu tạo Bồ Câu, hydrocarbon có thể dịch chuyển
từ phụ trũng Bắc và đồng thời dịch chuyển theo chiều thẳng đứng theo đứt gãy kiến tạo
hoặc khe nứt từ đá mẹ tuổi Oligocen Theo kết quả nghiên cứu mẫu dầu và condensat từ
giếng TU-1X, thành phần, tính chất của dầu và condensate lấy từ tập Miocen và móng
gần như tương tự với dầu và condensat của mỏ Đại Hùng (khối lượng riêng của dầu là
0,854 g/cm3, thành phần parafin 23,5%, nhiệt độ nóng chảy parafin là 60оС, thành phần lưu huỳnh 0,05%, acfan chiếm 4,3% khối lượng) Điều đó chứng tỏ dầu được hình thành
từ cùng một nguồn (đá mẹ) và dịch chuyển vào các cấu tạo khác nhau trong khu vực
Tất cả các cấu tạo triển vọng đã được xác định trong lô 04-3 đều có vị trí thuận lợi
để tích tụ và nạp hydrocacbon được dịch chuyển từ phần trũng sâu hơn
1.4.3 Đá chứa
Trong lô 04-3 theo số liệu khoan các giếng tìm kiếm-thăm dò đã xác định các tầng
chứa dầu chính như sau:
Tầng chứa trong đá carbonat nứt nẻ-lỗ rỗng tuổi Miocen dưới-giữa;
Tầng chứa trong tầng cát kết lục nguyên tuổi Miocen dưới-giữa và Oligocen;
Tầng chứa trong đá móng nứt nẻ tuổi trước Kainozoi
Những tầng chứa này là những đối tượng chính để thăm dò dầu và khí trong khu vực
nghiên cứu, đã được xác định và nghiên cứu chi tiết tại mỏ Đại Hùng và Thiên Ưng-Mãng
Cầu Trong tập trầm tích Miocen mỏ Đại Hùng, Thiên Ưng-Mãng Cầu đã xác định được
một số vỉa dầu và khí
Trang 25Đá chứa cát kết lục nguyên:
Theo số liệu khoan của các giếng mỏ Đại Hùng, bề dày hiệu dụng vỉa cát kết là
30-120 m Lưu lượng ban đầu của dòng dầu trong giếng DH-2P, DH-3P là từ 1139 đến 1624
tấn/ngày đêm Tuy nhiên sau đó trong quá trình khai thác lưu lượng giảm nhanh Điều đó
có thể do thể tích vỉa dầu nhỏ
Tập cát kết Miocen dưới – giữa, nhìn chung hình thành trong điều kiện delta ven bờ
và biển nông, bề dày của chúng là 20-30 m, độ rỗng 15-25 %, độ thấm 21-67 mD Tại các
giếng DB-2X, TU-1X, UT-1X ghi nhận được các biểu hiện dầu khí khi khoan qua các tập
cát kết này
Trầm tích Oligocen được phát hiện tại giếng BC-1X và tại mỏ Đại Hùng chủ yếu là
trầm tích lục địa, phần dưới mặt cắt có lớp than mỏng; tập cát kết này có tính chất thấm
chứa tốt
Trong giếng TU-3X, trên cơ sở minh giải địa vật lý giếng khoan và thử vỉa đã xác
định được tầng sản phẩm và vỉa chứa, đó chính là tầng sản phẩm H30-1, H30-2 Miocen giữa và H80-3 Miocen dưới Trên diện tích nghiên cứu đã xác định được 16 vỉa
hydrocacbon (1-dầu, 3- dầu khí, 8 – khí condensate, 4- khí) trong số đó có 1 vỉa trong tập
trầm tích lục nguyên Miocen trên, 11 vỉa trong Miocen giữa, 3 vỉa trong tập Miocen dưới
và 1 vỉa trong đá móng
Đá chứa carbonat:
Trang 26lý giếng khoan, bề dày hiệu dụng tầng carbonat thay đổi từ 7,1 m tại giếng DH-4P đến
170 m tại giếng DH-1X Đá carbonat xen kẽ lớp sét tập trung chủ yếu tại các khối nâng
của móng, bề dày trong khoảng 137-290 m, độ rỗng thay đổi trong khoảng 2-25 %
Đá chứa móng nứt nẻ:
Đá móng nứt nẻ và phong hóa được phát hiện tai các giếng khoan ở mỏ Đại Hùng, cấu tạo Thiên Ưng-Mãng Cầu, Đại Bàng, Bồ Câu Trên các vùng khác nhau của mỏ Đại
Hùng, đã khoan 15 giếng thăm dò và khai thác với độ sâu khoan vào móng từ 18 m đến
1044 m Kết quả phân tích mẫu lõi xác định được độ rỗng của đá móng nứt nẻ thay đổi
trong khoảng 1,2đến 5,5%, độ thấm từ 0,04 đến 42,9 mD Khi tiến hành thử vỉa đá móng,
trong số 7 giếng đã khoan thì có 3 giếng thu được dòng dầu hoặc khí Giếng DH-10X thu
được dòng condensat lưu lượng 216 m3/ngày đêm và dòng khí lưu lượng 662,4 nghìn
m3/ng.đ với côn 25,4 mm
1.4.4 Bẫy chứa
1 Bẫy dạng khối: cấu tạo nếp lồi hoặc bán nếp lồi khép kín bởi 1, 2 hoặc 3 đứt gãy
Phân bố rộng trên khu vực nghiên cứu và được hình thành trong quá trình tạo rift khi tách
giãn đáy biển
2 Bẫy thạch học – địa tầng: đây là bẫy phi cấu tạo, tương đối phổ biến trong tập
trầm tích; chúng hình thành trong quá trình biến đổi trầm tích và thay đổi tướng Đặc
điểm của bẫy loại này là kích thước nhỏ và khó xác định khi tìm kiếm và thăm dò Để xác định bẫy loại này cần áp dụng phương pháp nghiên cứu đặc biệt như minh giải tài liệu địa chấn, chọn và phân tích thuộc tính địa chấn.Trong giới hạn của lô 04-3 xác định được các
bẫy loại này trong mặt cắt nằm dưới mặt bất chỉnh hợp mà trên đó là tập sét kết phủ lên
Trang 273 Bẫy hỗn hợp kiến tạo – địa tầng: đây là bẫy thạch học – địa tầng một phần bị giới
hạn bởi đứt gãy Chúng cũng có kích thước nhỏ, xác định các bẫy loại này khó và cần
những nghiên cứu bổ sung
1.4.5 Đá chắn
Trong lô 04-3 có 3 loại tầng chắn chính: khu vực, vùng, địa phương
Tầng chắn khu vực: phát triển rộng khắp trên toàn khu vực nghiên cứu Đó là tập
sét bề dày đến vài trăm m trong tập Pliocen-Đệ tứ Đá sét chủ yếu là illit, kaolinit,
monmorionit và các khoáng vật khác.Cùng với tập sét Pliocen-Đệ tứ trong mặt cắt phụ
tầng Nam Côn Sơn cũng xác định tập sét bề dày hơn 100m.Tập sét này phát triển rộng
trong khu vực nghiên cứu và cũng là tầng chắn khu vực tốt.Tập sét này chứa bột kết hàm
lượng không nhiều (2-10 %), ưa nước, trong thành phần của chúng chứa chủ yếu illit, kaolinit, clorit và các khoáng vật khác có khả năng trương nở Do chúng có khả năng chắn
tốt nên tại ranh giới dưới của tập sét này quan sát thấy dị thường áp suất cao
Tầng chắn vùng: là tập sét xen kẽ lớp mỏng carbonat của phụ tầng Thông – Mãng
Cầu Do chúng có bề dày nhỏ và phát triển theo diện tích giới hạn nên chúng chỉ đóng vai
trò là tầng chắn vùng
Trong cấu tạo Bồ Câu và Đại Hùng phát triển tầng sét có tên “sét G” bề dày 30-40m,
nằm ở nóc Miocen dưới; tầng sét này là tầng chắn vùng cho một số cấu tạo lô 04-3
Tầng chắn địa phương: là tập sét bề dày nhỏ, phát triển trên diện tích hẹp của các
Trang 28dầu.Chúng phát triển chủ yếu tại những vùng chìm sâu của lô, vắng mặt hoặc bề dày rất
mỏng tại vòm cấu trúc Mặc dù trong Miocen có các tập sét chắn tốt nhưng đa số bẫy bị
phá hủy bởi đứt gãy 1 hoặc cả 2 bên nên khả năng bảo tồn hydrocacbon trong bẫy phụ
thuộc vào khả năng chắn của đứt gãy Ngoài ra các hoạt động kiến tạo tại pha cuối cùng
cũng có khả năng phá hủy các bẫy đã hình thành trước đó Đó cũng là yếu tố rủi ro lớn khi tìm kiếm thăm dò tại các cấu tạo trong lô nghiên cứu
Trang 29CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ÁP SUẤT LỖ RỖNG
VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO DỊ THƯỜNG ÁP
SUẤT
2.1 Áp suất lỗ rỗng và dị thường áp suất cao
Áp suất lỗ rỗng hay áp suất vỉa là áp suất mà các chất lưu tác động lên bề mặt của đá
và ngược lại Khái niệm dị thường áp suất được hiểu là giá trị áp suất cao hơn hoặc thấp hơn áp suất bình thường của vỏ Trái Đất, gặp trong quá trình khoan Trong đó, gradient
áp suất bình thường là gradient thủy tĩnh của cột nước ngọt (0,43 psi/ft), nước lợ (0,433
psi/ft) hoặc nước muối (0,465 psi/ft)
Khi mở vỉa bằng các giếng khoan khác nhau thì trong giếng khoan cột chất lưu sẽ
dâng lên đến độ cao h Bề mặt đi qua đỉnh của các cột chất lưu dâng lên trong các giếng khoan được gọi là mặt áp lực Mặt áp lực này có thể là mặt phẳng nằm ngang, nhưng thường thì mặt này không bằng phẳng do tính chất bất đồng nhất của đất đá Mặt áp lực thể hiện sự dự trữ năng lượng của chất lưu so với một mốc nào đó, tại mực nước biển thì
dự trữ năng lượng của chất lưu bằng 0 Áp suất đo được trong các giếng khoan là giá trị
áp suất thực tế Trong nghiên cứu dầu khí người ta quy về một mốc cụ thể và áp suất được
tính theo các mốc đó, được gọi là áp suất quy đổi Do đó, điều kiện trong vỉa có dòng
chảy không phải là sự khác nhau của giá trị áp suất thực tế đo được mà phải có sự khác
nhau về giá trị của áp suất quy đổi
Trong quá trình khoan, các kĩ sư khoan để tránh được các hiện tượng không mong muốn như kick, sự bất ổn định của giếng khoan hay mất dung dịch vào các nứt nẻ nhất
Trang 30mùn khoan Nếu áp lực cột dung dịch khoan rơi xuống thấp hơn áp lực cục bộ trong vỉa
có độ thấm cao, hiện tượng kick sẽ xuất hiện, nếu điều này xảy ra trong vỉa có độ thấm thấp, bở rời giếng khoan có thể bị sụp đổ Do đó, để đảm bảo an toàn trong thi công
khoan, giới hạn dưới của tỷ trọng mùn khoan được chọn sao cho áp lực trong giếng khoan
lớn hơn hoặc bằng áp lực vỉa Mặc dù vậy, trong một số trường hợp, các kĩ sư khoan vẫn
có thể khoan dưới áp lực cân bằng để đẩy nhanh tốc độ khoan Ngược lại, nếu áp lực cột
dung dịch khoan lớn hơn lực căng cục bộ phá vỡ thành hệ, nứt nẻ thủy lực sẽ thành tạo
Nếu áp lực này vượt quá ứng suất ngang nhỏ nhất của đất đá, nứt nẻ sẽ mở rộng và gây ra
hiện tượng mất dung dịch khoan Điều kiện trên cho ta giới hạn trên của tỷ trọng mùn
khoan, đó là phải đảm bảo sao cho áp lực trong giếng nhỏ hơn áp lực vỡ vỉa
Trường hợp thực tế gặp phải ở bể Nam Côn Sơn, nơi các tập sét Pliocen dày hàng nghìn mét (> 2000 m) và giá trị gradient nhiệt độ đo được rất cao Dị thường áp suất cao,
nhiệt độ cao là phức tạp điển hình tại một số lô phía Đông Bắc như 05-1b, 05-2, 04-3…
và là nguyên nhân gây ra hàng loạt khó khăn trong thi công khoan, ảnh hưởng nghiêm
trọng đến tiến độ và chi phí khoan Hiện tượng này xuất hiện chủ yếu khi khoan qua các
tầng có dị thường áp suất cao thuộc các đối tượng Pliocen và Miocen, tại các độ sâu từ
hơn 1000 m đến gần 3000 m Ví dụ, khí xâm nhập xảy ra tại tầng cát kết Miocen trên như tại các giếng khoan C-1X, L-1X, L-3P ở độ sâu từ 1500 - 2000m là do các lớp cát kết xen
kẽ có chứa khí Tại một số giếng khoan thuộc Lô 04, 05, 05-2 và 05-3 hiện tượng khí xâm
nhập khi khoan qua tầng Miocen giữa và Miocen dưới có dị thường áp suất cao ở độ sâu
từ 2000 - 3000 m Tỷ trọng dung dịch chưa tăng kịp thời dẫn đến áp suất vỉa lớn hơn áp
suất cột dung dịch trong giếng Giải pháp duy nhất khi gặp hiện tượng này là tăng dần tỷ
Trang 31trọng dung dịch đồng thời tiến hành tuần hoàn dung dịch và quan sát đến khi tỷ lệ khí
trong dung dịch giảm đến mức cho phép Trong một số trường hợp, hiện tượng khí xâm
nhập xảy ra đồng thời với hiện tượng mất dung dịch (như ở giếng E-2X, D-1X) tại các tập
carbonate có dị thường áp suất cao nhưng áp suất vỡ vỉa thấp Khi tăng tỷ trọng dung dịch
để khống chế kick thì lại gây vỡ vỉa, mất dung dịch Biện pháp các nhà thầu đã áp dụng là tiến hành ép xi măng cô lập khoảng khoan này, đồng thời tăng tỷ trọng dung dịch để tiếp
tục tiến hành thi công giếng
Như vậy, rõ ràng dị thường áp suất vỉa có thể gây ra rất nhiều vấn đề đối với thi công khoan và cần được dự báo để hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn
2.2 Các nguyên nhân gây nên dị thường áp suất
Khi quá trình trầm tích xảy ra từ từ, sự nén ép diễn ra bình thường, đó chính là có sự
cân bằng giưa việc tăng ứng suất địa tĩnh và khả năng thải nước của đá Nếu tốc độ trầm
tích xảy ra nhanh và nhanh hơn tương đối với sự thải nước thì phần nước còn lại sẽ chịu
một áp suất địa tĩnh cùng với khung đá sẽ gây ra dị thường Vì vậy, để hiểu rõ hơn về
nguyên nhân chính gây ra dị thường áp suất khu vực bể Nam Côn Sơn, trước tiên ta cần
phải tìm hiểu quá trình tiến hóa địa chất và khôi phục lại mặt cắt cổ kiến tạo của bể
Lịch sử phát triển địa chất
Bồn trũng Nam Côn Sơn là bồn trũng tách giãn, phát triển vào nguyên đại Kainozoi
cùng với sự hình thành biển Đông, bao gồm hai pha hoạt động tách giãn chính với cơ chế
căng giãn khác nhau: pha căng giãn thứ nhất có trục tách giãn theo phương Bắc - Nam, là