1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Báo cáo về tình hình hệ thống hóa văn bản QPPL kỳ đầu thống nhất trong cả nước BC TTCP.31.7.2014

8 237 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 103,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện nhiệm vụ hệ thống hóa văn bản kỳ đầu thống nhất trong cả nước quy định tại Khoản 1 Điều 22 Nghị định số 16/2013/NĐ-CP, các Bộ, ngành, địa phương đã tổ chức thực hiện và đạt đượ

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: /BC-BTP Hà Nội, ngày tháng 8 năm 2014

BÁO CÁO Tình hình hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật

kỳ đầu thống nhất trong cả nước

Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ Ngày 06/02/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2013/NĐ-CP về rà soát,

hệ thống hóa văn bản QPPL (sau đây gọi tắt là Nghị định số 16/2013/NĐ-CP) nhằm thống nhất, nâng cao chất lượng rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL (sau đây gọi tắt

là văn bản) trong cả nước, giúp công tác xây dựng, áp dụng, thi hành pháp luật được

hiệu quả, thuận tiện, tăng cường tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật Thực hiện nhiệm vụ hệ thống hóa văn bản kỳ đầu thống nhất trong cả nước quy định tại Khoản 1 Điều 22 Nghị định số 16/2013/NĐ-CP, các Bộ, ngành, địa phương đã

tổ chức thực hiện và đạt được kết quả nhất định Bộ Tư pháp xin báo cáo Thủ tướng Chính phủ như sau:

I QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Theo quy định tại Nghị định số 16/2013/NĐ-CP, thời điểm hệ thống hóa kỳ đầu thống nhất trong cả nước là ngày 31/12/2013 (Khoản 1 Điều 22); kết quả hệ thống hóa văn bản phải được công bố chậm nhất là 30 (ba mươi) ngày đối với văn bản của Trung ương, 60 (sáu mươi) ngày đối với văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp kể từ thời điểm hệ thống hóa (Điểm c Khoản 5 Điều 25)

Để triển khai thực hiện nhiệm vụ rà soát, hệ thống hóa văn bản theo Nghị định số 16/2013/NĐ-CP, Bộ Tư pháp đã ban hành các văn bản sau:

- Thông tư số 09/2013/TT-BTP ngày 15/6/2013 quy định chi tiết thi hành Nghị

định số 16/2013/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Thông tư số 09/2013/TT-BTP);

- Quyết định số 1051/QĐ-BTP ngày 06/5/2013 về việc ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị định số 16/2013/NĐ-CP;

- Công văn số 5117/BTP-KTrVB ngày 27/6/2013 về việc triển khai thực hiện nhiệm vụ rà soát, hệ thống hóa văn bản theo quy định tại Nghị định số

16/2013/NĐ-CP gửi các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Trong đó, nhấn mạnh yêu cầu các Bộ, ngành và địa phương

“Xây dựng Kế hoạch và chuẩn bị các điều kiện bảo đảm để tổ chức hệ thống hóa văn bản kỳ đầu thống nhất trong cả nước theo quy định tại Khoản 1 Điều 22 Nghị định số 16/2013/NĐ-CP”;

- Công văn số 780/BTP-KTrVB ngày 19/3/2014 về việc báo cáo kết quả hệ thống hóa và việc đôn đốc rà soát văn bản để phù hợp với Hiến pháp năm 2013 gửi các Bộ,

cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

Trang 2

- Công văn số 2355/BTP-KTrVB ngày 19/5/2014 về việc đôn đốc việc công bố

và báo cáo kết quả hệ thống hóa văn bản kỳ đầu thống nhất trong cả nước gửi các Bộ,

cơ quan ngang Bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Ngoài ra, để việc hệ thống hóa văn bản được thực hiện đúng quy định, Bộ Tư pháp đã chủ trì tổ chức 03 Hội nghị tập huấn về công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản cho các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, các Bộ, ngành, địa phương (tháng 07/2013)

Thực hiện quy định của Nghị định số 16/2013/NĐ-CP, Thông tư số 09/2013/TT-BTP và các văn bản hướng dẫn, đôn đốc của Bộ Tư pháp, các Bộ, ngành, địa phương

đã tương đối tích cực triển khai nhiệm vụ hệ thống hóa văn bản kỳ đầu, cụ thể như sau:

- Ban hành Kế hoạch của Bộ, ngành, địa phương về việc triển khai Nghị định số 16/2013/NĐ-CP1;

- Ban hành Kế hoạch thực hiện hệ thống hóa văn bản tại Bộ, ngành, địa phương2;

- Tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ về rà soát, hệ thống hóa văn bản cho cán bộ thực hiện rà soát, hệ thống hóa văn bản tại các đơn vị trực thuộc3;

- Chuẩn bị các điều kiện bảo đảm cần thiết (kinh phí, nhân lực, ) để triển khai thực hiện hệ thống hóa văn bản tại cơ quan mình;

- Thực hiện hệ thống hóa văn bản theo quy trình quy định tại Nghị định số 16/2013/NĐ-CP và Thông tư số 09/2013/TT-BTP

Trong quá trình triển khai thực hiện hệ thống hóa văn bản theo quy định, Bộ Tư pháp đã thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương để giải đáp vướng mắc, hướng dẫn nghiệp vụ rà soát, hệ thống hóa văn bản, từ đó giúp các Bộ, ngành, địa phương từng bước tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để bảo đảm chất lượng tốt nhất của kết quả hệ thống hóa văn bản theo yêu cầu

II TÌNH HÌNH HỆ THỐNG HÓA VĂN BẢN

1 Tại các Bộ, ngành

Nhận thức được tầm quan trọng, tính cấp bách của nhiệm vụ hệ thống hóa văn bản được quy định tại Nghị định số 16/2013/NĐ-CP, nhìn chung, các Bộ, ngành đã tập trung triển khai nhiệm vụ này tại cơ quan mình Theo đề nghị báo cáo kết quả hệ thống hóa văn bản kỳ đầu thống nhất trong cả nước tại Công văn số 780/BTP-KTrVB ngày

19/3/2014 và 2355/BTP-KTrVB ngày 19/5/2014 của Bộ Tư pháp, tính đến hết ngày

1 Như: Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, An Giang, Bắc Kạn, Bắc Ninh, Bến Tre, Bình Dương, Bình Định, Bình

Thuận, Cao Bằng, Cần Thơ, Đà Nẵng, Đắk Lắk, Đắk Nông, Đồng Nai, Đồng Tháp, Hà Giang, Hà Nam, Hà Nội, Hải Dương, Hòa Bình, TP Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Kiên Giang, Kon Tum, Lai Châu, Lào Cai, Lạng Sơn, Lâm Đồng, Nam Định, Ninh Thuận, Phú Thọ, Phú Yên, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ninh, Quảng Ngãi, Sóc Trăng, Tây Ninh, Thái Bình, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế, Tiền Giang, Trà Vinh, Tuyên Quang, Vĩnh Long

2 Như: Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Công thương, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Giáo dục và Đào tạo,

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Ủy ban Dân tộc, Bắc Giang, Bắc Kạn, Bắc Ninh, Bình Dương, Bình Định, Cao Bằng, Cà Mau, Cần Thơ, Đà Nẵng, Đồng Nai, Hà Giang, Hà Tĩnh, Hòa Bình, Kiên Giang, Kon Tum, Lai Châu, Long An, Phú Yên, Sơn La, Tây Ninh, Thừa Thiên Huế, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Yên Bái

3 Như: Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Tài

chính, Bộ Tư pháp, An Giang, Bình Định, Đồng Tháp, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Phú Yên, Phú Thọ, Tây Ninh, Thanh Hóa, Trà Vinh, Quảng Nam, Quảng Ninh, Quảng Ngãi, Yên Bái

2

Trang 3

30/7/2014, Bộ Tư pháp đã nhận được 18/22 thông tin, báo cáo của các Bộ, ngành4,

trong đó có 17/18 Bộ, ngành cung cấp số liệu hệ thống hóa văn bản Tuy nhiên, mới có 07/17 Bộ, ngành công bố kết quả hệ thống hóa văn bản, 10/17 Bộ, ngành còn lại đang

hoàn thiện kết quả hệ thống hóa để trình Lãnh đạo Bộ ký công bố

Tổng hợp kết quả hệ thống hóa văn bản của các Bộ, ngành đã có thông tin về Bộ

Tư pháp như sau:

- Tổng số văn bản còn hiệu lực: 7 981 văn bản;

- Tổng số văn bản hết hiệu lực toàn bộ5 hoặc hết hiệu lực một phần: 5 996 văn bản;

- Tổng số văn bản cần sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới: 1 313

văn bản

(Thông tin chi tiết xin xem Phụ lục số 01, Phụ lục số 02 và Phụ lục số 03).

Tại Bộ Tư pháp: Ngày 29/8/2013, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch

thực hiện hệ thống hóa văn bản thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp đến hết ngày 31/12/2013 (kèm theo Quyết định số 2164/QĐ-BTP) Thực hiện Kế hoạch hệ thống hóa văn bản đã đặt ra, ngày 03/3/2014, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Quyết định

số 480/QĐ-BTP công bố kết quả hệ thống hóa văn bản thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp đến hết ngày 31/12/2013 Kết quả hệ thống hóa văn bản của Bộ

Tư pháp đã được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp và Danh mục văn bản QPPL hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp đến hết ngày 31/12/2013 đã được gửi đăng Công báo theo đúng quy định

2 Tại các địa phương

Ngay sau khi việc xây dựng thể chế cho công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản được hoàn thành, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã tương đối tích cực triển khai thực hiện, trong đó đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng Kế hoạch hệ thống hóa văn bản kỳ đầu thống nhất trong cả nước

Tính đến hết ngày 30/7/2014, Bộ Tư pháp đã nhận được 60/63 thông tin, báo cáo của các địa phương Theo đó, 55/60 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã cung

cấp số liệu hệ thống hóa văn bản, trong đó:

- 41/55 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương công bố kết quả hệ thống hóa văn bản;

- 14/55 tỉnh, thành phố cung cấp sơ bộ số liệu và đang trình Chủ tịch Ủy ban nhân

dân xem xét, ký Quyết định công bố kết quả hệ thống hóa văn bản

Tổng hợp kết quả hệ thống hóa văn bản của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã có thông tin về Bộ Tư pháp như sau:

- Tổng số văn bản còn hiệu lực: 21 578 văn bản;

- Tổng số văn bản hết hiệu lực toàn bộ hoặc hết hiệu lực một phần: 15 558

văn bản;

4 Số liệu này chưa bao gồm các báo cáo của các cơ quan thuộc Chính phủ Hiện nay, các cơ quan thuộc Chính phủ không thực hiện chức năng quản lý nhà nước, không có thẩm quyền ban hành văn bản QPPL Công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản tại các cơ quan này được thực hiện trên cơ sở phối hợp với các Bộ, ngành có chức năng quản lý nhà nước có liên quan đến lĩnh vực hoạt động của các cơ quan thuộc Chính phủ

5 Khoảng thời gian xác định tổng số văn bản hết hiệu lực toàn bộ tại các Bộ, ngành, địa phương không giống nhau vì phụ thuộc vào tình hình thực hiện hệ thống hóa cụ thể tại các cơ quan trước khi Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2013/NĐ-CP.

3

Trang 4

- Tổng số văn bản cần sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới: 4 575

văn bản

(Thông tin chi tiết xin xem Phụ lục số 01, Phụ lục số 02 và Phụ lục số 04)

Đối với việc hệ thống hóa văn bản thuộc trách nhiệm của cấp huyện, cấp xã thì trên cơ sở Kế hoạch triển khai thi hành Nghị định số 16/2013/NĐ-CP, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng đã quán triệt, triển khai công tác này đến cấp huyện, cấp xã Do đó, công tác hệ thống hóa văn bản tại nhiều địa phương đã được triển khai toàn diện ở cả ba cấp Tuy nhiên, phần nhiều cấp huyện, cấp xã chưa hoàn thành việc

hệ thống hóa văn bản vì phụ thuộc nhiều vào kết quả hệ thống hóa văn bản của cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

III MỘT SỐ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ; KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT

1 Một số nhận xét, đánh giá

Qua tổng hợp báo cáo và trao đổi với các Bộ, ngành, địa phương về việc thực hiện nhiệm vụ hệ thống hóa văn bản kỳ đầu thống nhất trong cả nước, Bộ Tư pháp thấy rằng:

1.1 Về quá trình tổ chức thực hiện hệ thống hóa văn bản

Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2013/NĐ-CP, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị định này (kèm theo Quyết định số 1051/QĐ-BTP), trong đó đã xác định hệ thống hóa văn bản kỳ đầu thống nhất trong cả nước là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng nhằm sắp xếp, đánh giá lại một cách hệ thống tất cả các văn bản QPPL còn hiệu lực trên cả nước Đây cũng chính

là cơ sở để thống nhất một thời điểm hệ thống hóa văn bản định kỳ tại các cơ quan có trách nhiệm hệ thống hóa văn bản

Trên cơ sở các quy định của Nghị định số 16/2013/NĐ-CP và ý nghĩa quan trọng của công tác hệ thống hóa văn bản đối với việc chỉ đạo, điều hành các lĩnh vực quản lý nhà nước cũng như để bảo đảm sự minh bạch, thống nhất của hệ thống pháp luật, các

Bộ, ngành, địa phương về cơ bản đã ý thức được tầm quan trọng của công tác hệ thống hóa văn bản Qua theo dõi, Bộ Tư pháp nhận thấy phần lớn các Bộ, ngành, địa phương đều xây dựng Kế hoạch tổ chức hệ thống hóa văn bản kỳ đầu tại cơ quan mình Nhiều

Bộ, ngành, địa phương còn tổ chức tập huấn nghiệp vụ, thành lập các tổ rà soát, hệ thống hóa văn bản, chuẩn bị các điều kiện bảo đảm cần thiết để thực hiện việc hệ thống hóa văn bản Thực tế cho thấy, thời gian qua, một số Bộ, ngành, địa phương đã thực hiện việc hệ thống hóa văn bản tương đối tốt, do đó có nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ (như các Bộ: Tư pháp, Văn hóa, Thể thao

và Du lịch và các địa phương: Bắc Giang, Bình Dương, Bình Thuận, Hòa Bình, Phú Thọ, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Vĩnh Phúc )

Bên cạnh đó, một số cơ quan còn chưa triển khai tốt nhiệm vụ này như ban hành

Kế hoạch hệ thống hóa còn muộn, thậm chí gần đến thời hạn công bố mới ban hành

Kế hoạch hệ thống hóa (như Bắc Kạn, Hải Phòng, Ngân hàng Nhà nước ) Việc ban hành Kế hoạch hệ thống hóa văn bản muộn đã ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ hệ thống hóa, cũng như chất lượng hệ thống hóa văn bản Cụ thể là, việc các cơ quan có trách nhiệm hệ thống hóa văn bản ở cấp trên chậm công bố kết quả hệ thống hóa đã

4

Trang 5

làm ảnh hưởng đến việc cập nhật, xác định tình trạng pháp lý văn bản của địa phương

và các cơ quan cấp dưới

1.2 Về chất lượng kết quả hệ thống hóa văn bản

Theo quy định tại Nghị định số 16/2013/NĐ-CP, phạm vi văn bản hệ thống hóa là tất cả các văn bản được ban hành đến hết ngày 31/12/2013 qua rà soát xác định còn hiệu lực (bao gồm cả các văn bản được ban hành đến hết ngày 31/12/2013 nhưng chưa

có hiệu lực) Qua theo dõi, đôn đốc và hướng dẫn nghiệp vụ, Bộ Tư pháp nhận thấy các Bộ, ngành và địa phương đã xác định và tập hợp được tương đối chính xác, đầy đủ các văn bản thuộc đối tượng, phạm vi văn bản thuộc trách nhiệm phải hệ thống hóa Trên cơ sở đó, các cơ quan đã rà soát, xác định được cụ thể tình trạng pháp lý của văn bản và sắp xếp các văn bản vào các danh mục theo các tiêu chí được hướng dẫn trong Nghị định số 16/2013/NĐ-CP và Thông tư số 09/2013/TT-BTP bảo đảm sự rõ ràng, chính xác thông tin về văn bản, giúp quá trình tra cứu văn bản được thuận tiện; thực hiện việc công bố kết quả hệ thống theo đúng quy định Một số cơ quan, địa phương

đã thực hiện việc in ấn, phát hành tập hệ thống hóa để các cơ quan, đơn vị có liên quan

có thể tra cứu, thực hiện pháp luật được thuận lợi

Bên cạnh đó, một số cơ quan chưa xác định được đầy đủ các văn bản thuộc trách nhiệm hệ thống hóa của cơ quan mình; việc xác định, đánh giá tình trạng pháp lý của văn bản chưa chính xác; việc sắp xếp văn bản vào các danh mục cũng như việc lập Hồ

sơ hệ thống hóa văn bản tại một số Bộ, ngành và địa phương cũng chưa đầy đủ, chưa đúng quy định; việc xác định thời điểm hệ thống hóa (đến hết ngày 31/12/2013) chưa chính xác; nhiều Bộ, ngành, địa phương hiểu chưa đúng về văn bản được tập hợp phục

vụ hệ thống hóa và văn bản thuộc đối tượng hệ thống hóa…

1.3 Về hệ thống văn bản đã được hệ thống hóa

Một trong những ý nghĩa quan trọng của hoạt động hệ thống hóa văn bản là hoạt động này cho thấy bức tranh toàn cảnh về hệ thống văn bản pháp luật trong một giai đoạn nhất định Qua đó, các cơ quan nhà nước có thể đánh giá được mức độ phù hợp của hệ thống pháp luật đối với yêu cầu điều chỉnh của các quan hệ xã hội để có những điều chỉnh phù hợp

Qua thông tin báo cáo, đánh giá của các Bộ, ngành, địa phương về hệ thống văn bản được hệ thống hóa cho thấy, các văn bản được ban hành cơ bản đã tuân thủ về trình tự, thủ tục, thể thức ban hành văn bản; nội dung của các văn bản khi xây dựng được chú trọng để bảo đảm không trái với các quy định trong văn bản của cơ quan có thẩm quyền cấp trên và phù hợp với điều kiện thực tế Tuy nhiên, qua hoạt động rà soát văn bản để phục vụ hệ thống hóa cho thấy, đang tồn tại không ít văn bản có nội dung chồng chéo, mâu thuẫn cũng như không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội Nhiều văn bản được ban hành đã lâu, nội dung đã được điều chỉnh tại văn bản khác, song chưa được xử lý về mặt hiệu lực, thậm chí nhiều văn bản không xác định được tình trạng hiệu lực cũng như các thông tin khác liên quan đến văn bản Thông qua hoạt động rà soát, hệ thống hóa, các văn bản đã lạc hậu hoặc nội dung văn bản không phù hợp với các văn bản của cơ quan có thẩm quyền cấp trên, với tình hình phát triển kinh tế - xã hội đã được đưa vào Danh mục văn bản cần sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới để kịp thời xử lý theo quy định Hiện nay, trên cơ sở kết quả hệ thống hóa văn bản, một số cơ quan, địa phương đã tiến hành xử

5

Trang 6

lý các văn bản cần sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới như Trà Vinh, Long An, Bến Tre, Hải Dương

1.4 Về việc sử dụng kết quả hệ thống hóa văn bản

Theo quy định tại Nghị định số 16/2013/NĐ-CP thì kết quả hệ thống hóa văn bản bao gồm Tập hệ thống hóa văn bản và các danh mục văn bản (Danh mục tổng hợp các văn bản thuộc đối tượng hệ thống hóa; Danh mục văn bản hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần; Danh mục văn bản còn hiệu lực và Danh mục văn bản cần sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc ban hành mới)

Như đã trình bày, kết quả hệ thống hóa văn bản cho thấy bức tranh toàn cảnh về

hệ thống văn bản pháp luật trong một giai đoạn nhất định Qua đó, các cơ quan nhà nước có thể điều chỉnh hệ thống văn bản để bảo đảm sự thống nhất, đáp ứng yêu cầu điều chỉnh của các quan hệ xã hội Kết quả hệ thống hóa văn bản còn giúp việc tra cứu trong áp dụng, thi hành pháp luật và xây dựng pháp luật được hiệu quả, thuận tiện, tăng cường tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật Tuy nhiên, việc chậm trễ hệ thống hóa văn bản đã làm kết quả hệ thống hóa bị lạc hậu, việc xử lý các văn bản không còn phù hợp không được thực hiện kịp thời

Ngoài ra, hoạt động hệ thống hóa văn bản kỳ đầu thống nhất trong cả nước được thực hiện trong bối cảnh Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 2013, có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 Sự kiện Hiến pháp năm 2013 được thông qua đã đặt ra yêu cầu rà soát đối với toàn bộ hệ thống văn bản còn hiệu lực tính đến ngày 01/01/2014 để bảo đảm phù hợp với Hiến pháp năm 2013 Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong Kế hoạch triển khai thi hành Hiến pháp của các cơ quan nhà nước Theo đó, kết quả hệ thống hóa văn bản kỳ đầu thống nhất trong cả nước có ý nghĩa hết sức quan trọng, là điều kiện thuận lợi, phục vụ đắc lực nhiệm vụ rà soát văn bản theo Hiến pháp năm 2013 Trên cơ sở kết quả hệ thống hóa (danh mục các văn bản quy phạm pháp luật còn hiệu lực), các Bộ, ngành, địa phương đã tiến hành rà soát các văn bản thuộc trách nhiệm của mình để phù hợp với Hiến pháp năm 2013 theo Quyết định số 251/QĐ-TTg ngày 13/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch của Chính phủ tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việc chậm trễ hệ thống hóa văn bản tại một số Bộ, ngành và địa phương đã khiến việc rà soát văn bản theo Hiến pháp năm 2013 gặp nhiều khó khăn, không bảo đảm thời gian đề ra6

1.5 Khó khăn, vướng mắc

Qua tổng hợp báo cáo và trao đổi với các Bộ, ngành, địa phương về thực hiện nhiệm vụ hệ thống hóa kỳ đầu, Bộ Tư pháp thấy nổi lên một số khó khăn, vướng mắc như sau:

- Về kỹ năng nghiệp vụ, cách thức tổ chức thực hiện: Nhiều Bộ, ngành, địa

phương còn lúng túng về cách thức triển khai, kỹ năng nghiệp vụ, do đây là nhiệm vụ tương đối khó khăn, phức tạp và lần đầu được triển khai trên diện rộng từ trung ương đến địa phương, thống nhất trong cả nước;

- Về xác định, tập hợp văn bản phục vụ hệ thống hóa: Việc xác định và tập hợp

đầy đủ các văn bản phục vụ hệ thống hóa gặp nhiều khó khăn, do việc lưu trữ các văn

6 Hiện nay, Bộ Tư pháp đang tổng hợp báo cáo về tình hình và kết quả rà soát văn bản theo Hiến pháp năm 2013 của các Bộ, ngành, địa phương.

6

Trang 7

bản thuộc nguồn văn bản phục vụ rà soát, hệ thống hóa theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 16/2013/NĐ-CP tại các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm rà soát, hệ thống hóa văn bản còn nhiều bất cập;

- Về việc xác định tình trạng pháp lý của văn bản phục vụ hệ thống hóa: Đây là

một việc hết sức khó khăn, vì nhiều văn bản được ban hành chưa tuân thủ đúng quy định về kỹ thuật xây dựng văn bản, đặc biệt là quy định về hiệu lực của văn bản hoặc được ban hành trước khi Luật Ban hành văn bản QPPL năm 1996 có hiệu lực, nhiều trường hợp chưa phân định được là văn bản QPPL hay văn bản hành chính Ngoài ra,

có văn bản được sửa đổi, bổ sung rất nhiều lần nhưng chưa có văn bản thay thế đã gây khó khăn cho việc xác định các nội dung hết hiệu lực và còn hiệu lực Hơn nữa, với việc pháp luật cho phép nhiều chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản QPPL và với số lượng văn bản QPPL lớn như hiện nay thì để phát hiện ra những nội dung chồng chéo, mâu thuẫn, không còn phù hợp, bảo đảm sự thống nhất, minh bạch của hệ thống pháp luật là một nhiệm

vụ không dễ dàng

- Về sự phối hợp của các cơ quan chuyên môn: Nhận thức về trách nhiệm thực

hiện, tầm quan trọng của công tác rà soát, hệ thống hóa tại một số cơ quan, đơn vị còn chưa đầy đủ, có nơi coi đây là nhiệm vụ chỉ của cơ quan tư pháp và tổ chức pháp chế nên không chủ động, tích cực thực hiện nhiệm vụ, thiếu sự phối hợp giữa cơ quan chuyên môn với tổ chức pháp chế, cơ quan tư pháp trong triển khai hệ thống hóa;

- Về nhân lực: Cán bộ làm công tác hệ thống hóa ở tổ chức pháp chế các Bộ,

ngành, cơ quan tư pháp địa phương còn thiếu, trình độ chuyên môn chưa đồng đều, một số chưa nắm vững nghiệp vụ rà soát, hệ thống hóa văn bản Cán bộ làm công tác pháp chế tại các sở, ngành ở địa phương chủ yếu là kiêm nhiệm, nhân sự không ổn định;

- Về kinh phí: Hiện nay, quy định về hỗ trợ kinh phí cho công tác hệ thống hóa

văn bản còn chưa rõ ràng, cụ thể, dẫn đến việc nhiều Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương chưa dành kinh phí thỏa đáng cho công tác này Trong khi đó, đây là công việc hết sức nặng nề, không chỉ thuộc trách nhiệm của tổ chức pháp chế hay cơ quan

tư pháp mà là trách nhiệm của tất cả cơ quan, đơn vị chuyên môn được giao quản lý nhà nước, tham mưu cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản QPPL

2 Một số kiến nghị, đề xuất

Từ kết quả hệ thống hóa văn bản của các Bộ, ngành và địa phương nêu trên, Bộ

Tư pháp xin kiến nghị Thủ tướng Chính phủ một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, địa phương chưa hoàn thành việc hệ

thống hóa văn bản (tại Phụ lục số 01 và Phụ lục số 02) khẩn trương hoàn thành và thực hiện công bố kết quả hệ thống hóa theo đúng quy định của Nghị định số 16/2013/NĐ-CP;

Thứ hai, chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, địa phương trên cơ sở kết quả hệ

thống hóa văn bản khẩn trương hoàn thành việc rà soát văn bản theo Hiến pháp năm

2013 thuộc trách nhiệm rà soát của mình;

Thứ ba, chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, địa phương khẩn trương tiến hành sửa

đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới văn bản (trường hợp văn bản thuộc thẩm quyền xử lý) hoặc kiến nghị các cơ quan, người có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới văn bản (trường hợp văn bản không thuộc thẩm quyền xử lý) để bảo đảm sự phù hợp, thống nhất của hệ thống pháp luật;

7

Trang 8

Thứ tư, yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tăng cường ý thức trách nhiệm đối với

công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản, thực hiện nghiêm Luật Ban hành văn bản QPPL, Nghị định số 16/2013/NĐ-CP, đồng thời tiếp tục quan tâm chỉ đạo củng cố tổ chức, biên chế, nâng cao năng lực cho cán bộ, công chức làm công tác rà soát, hệ thống hóa, bố trí kinh phí thoả đáng cho công tác này

Trên đây là báo cáo về tình hình thực hiện hệ thống hóa văn bản kỳ đầu thống nhất trong cả nước theo quy định tại Nghị định số 16/2013/NĐ-CP, Bộ Tư pháp xin báo cáo Thủ tướng Chính phủ./

Nơi nhận:

- Như trên;

- Các Phó Thủ tướng CP (để b/c);

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ;

- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

- Các Thứ trưởng Bộ Tư pháp;

- Vụ Pháp luật -Văn phòng Chính phủ;

- Tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ;

- Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

- Lưu: VT, Cục KTrVB.

BỘ TRƯỞNG

Hà Hùng Cường

8

Ngày đăng: 14/12/2017, 21:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w