Phân tích một vài tương ứng từ vựng giừa những ngôn ngừ thuộc nhỏm Việt - Mường song tiết disyllabe/sếsquisyllabc như Arem, Mã Liềng, Sách, Rục hay Ahcu của nhánh Môn - Khmer họ Nam Á vớ
Trang 1T ạp c h í Khoa học Đ H Q G H N , K hoa h ọ c Xâ hội và N h â n v ã n 25 (2009) 121-126
Đ ông N am Á
Trần Trí Dõi*
Trường Đụi học K hoa học X ã hội và Nhún vân, DHQGHN
336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 20 tháng 6 năm 2009
Tóm tát Hiện nay, trong sự phân loại các ngôn ngừ ở vùng Đông Nam Á, có hai cảch lý giải khác
nhau về mối quan hệ giừa các ngôn ngừ Nam Á (Ausưoasiatic) và Nam Đảo (Ausưonésian)
Nhiều ý kién cho rảng giữa hai họ ngôn ngừ này chi lả quan hệ vay mượn, nhưng cũng có ỷ kiên
cho rằng quan hệ giừa chúng là quan hộ cội nguồn
Phân tích một vài tương ứng từ vựng giừa những ngôn ngừ thuộc nhỏm Việt - Mường song
tiết (disyllabe/sếsquisyllabc) như Arem, Mã Liềng, Sách, Rục hay Ahcu của nhánh Môn - Khmer
họ Nam Á với ngôn ngữ Cham, chúng tôi thấy ràng giữa những ngôn ngữ này chi cổ thể là quan
hệ vay mượn, cho đù những từ tương ứng giừa chúng thuộc lớp từ cơ bản Chính vì thé qua đó,
người ta thấy rằng quan hệ vay mượn giữa chúng là quan hệ vay mượn đặc biệt
1 N ăm 1973, khi giải thích thêm về khái
niệm N am - Thái (A ustro - T hai, A T ) đà đư a ra
trước đây và phâr tích m ối qu an hệ cù a n ó với
họ N am Á (A ustroasiatic, A A ), P.K B enedict
cho rằng giữa các n gôn n g ữ N am Đ ảo
(A ustronésian, AN ) và N am Á ch i là qu an hệ
“cơ tầng” (substratum ) [1] K hái niệm N am -
Thái của ông b a o gồm các ngôn n g ữ M èo - D ao
(M iao -Y ao), Thái - Kađai (K adai) và N am Đảo
C ũng tro n g năm 1973, S.E Jak ho n tov đã
phát biểu quan điểm củ a ông về m ối qu an hệ
giừa hai họ ngôn ngừ này V ới việc coi tiéng
V iệt thuộc h ọ N am Á (ông gọi là M ôn - K hm er)
và tiéng T hái cỏ chung cộ i ngu ồn với N am Đảo
(ông gọi là Indonesia) c h ứ khô ng phải với tiéng
# ĐT~ 84-4- 35588603.
E-mail: doihanh@ yahoo.com
H án, đối với ông n h ư vậy, giữa N am Á và N am Đảo chi là quan hệ vay mượn lẫn nhau mà thôi [2] Sau đỏ m ột năm , A G H auđricourt cũ ng đà
c ó cách phân tích đ ồ n g quan điểm với P.K
B enedict và S.E Jakhontov [3,4] N hưng ỏng nhấn m ạnh thêm rẳn g sự vay m ượn lẫn nhau giữa chúng là khá đặc biệt vì những từ chung thư ờ ng là những từ vừa thuộc lớp cơ bản vừa có
m ặt trong những nhóm ngôn ngữ khác nhau
C hẳng hạn, ông chi ta rằn g tro n g tiếng M alai có
“ những từ M ôn - K hm er m à tiếng C ham không
có, ví dụ: “crab e" (cu a) ketam, B ahnar koíam,
K hm er kíam, M on gatam , Sam re tham, K hasi
tham , W a tam " [3, tr.33] H ay các ngôn ngữ
M ôn - K hm er (M K ) n h ư M aa, M nong, B ahnar
c ó vay m ượn từ C ham do sự thống trị hàng thiên niên kỷ của người C ham và “N hững từ
m ượn ấy hoặc có gốc S a n sk rit ; hoặc có gốc
từ tiếng Indonesien” [3, tr.33]
Trang 2122 T.T Dõi / Tạp chi Khoa học D H Q G H N , Khoa học Xa hội vò Nhản vữn 25 (2009) 121 126
v á n dề tương như không có gi cân phài nói
thêm T uy nhicn từ dó cho dến nay, chúng ta
còn gập thêm m ột vài quan niệm khác về sự
phàn loại các họ ngôn ngũ trong khu vực
Chẳng hạn, mới đây nhất, L Sagart sau khi
chứng m inh mối quan hộ nguồn gốc giữa N am
Đảo và Thái - K ađai (Tai - Kadai) đã cho rằng
còn có thẻ tái lập một dạng proto giữa Hán -
Tạng (Sino - T ibetan, ST ) và N am Đ ào [5]
Điều này cũng có nghĩa là, dối với L Sagart, ỡ
khu vực Đ ông N a m Á và m iền nam Trung
Quốc các ngôn ngữ Hàn - Tạng, N am Đ ào và
Thái - Kadai xưa kia phái thuộc vào m ột họ
ngôn ngữ chung T ừ sự quan niệm như thế của
ông, có thồ hiểu ờ khu vực này, b èn cạnh một
họ ngôn ngữ Hán T ạng - N am Đ ào (Sino-
Tibetan - A ustronósian) chi còn một họ ngôn
ngữ khác nữa là họ N am Á hiện diộn
Như vậy, dù phân tích ờ những góc dộ khác
nhau, những nhà ngôn ngữ học m à chúng tôi
dẫn ra ờ trên dều cho thầy ờ D ông N am Á mối
quan hộ giữa các ngôn ngừ N am Á, cụ thẻ hơn
là các ngôn ngữ M ôn - Khmer, và N am Đảo
không phái là quan hộ cội nguồn nià thuần tuý
chi là quan hệ vay m ượn hay tiốp xúc
2 Trong nỗ lực xây dựng m ột quan niệm về
“ngôn ngữ hỗn hợp (languc m ixte)” do tiếp xúc,
Phạm Đức D ương trong nhicu năm qua dã giữ
nguyên một già thuyct vc “ ngữ hộ Đ ông N am
Á ” mà ông cho lá “Ticn A ustroasiatic” Theo
đó, ông cho rằng n g ữ hộ này b ao gồm các ngôn
ngữ N am Á, N am Đ ào và Đồng Thái (tương
ứng với khái niệm Thái - Kadai của nhiều nhà
ngôn ngữ học khác) [6, tr.30] Điêu này cũng có
nghĩa là, theo ông, giữa các ngôn ngữ N am Á
và N am Đảo phải lá quan hộ cội nguồn, về sau
nó tách thành ba b ộ phận khác nhau là N am Á,
N am Đào và Đồng Thái như hiện nay
Q uan niệm m à Phạm Đức D ương trinh b ày
chi là sự thề hiện “ bằng lời” cụ thề của m ột vài
nhà nghiên cứu khác Vá diều dáng chú ý là về
mặt ngôn ngữ học, vào thời dicm hiện nay, nó
chì thuần tuý m ang tinh "già th u y ế t” ch ứ chưa thê hay chưa được chứng m inh; còn “g iả thuyết ấy” chi được tác giã m inh chứng b ằn g nhiều cứ liệu nghiêng vồ “ ngôn ngữ dân tộc h ọc” Và đó
là sự khác biột giữa ông với cách phân tích lý giải của những tác giả mà chúng tòi đã phân tích ở trên Tuy nhiên, ý kicn má Phạm Đức
D ương nêu ra, rõ ràng dà cho thấy, quan hệ giữa N am Á v ả N am Đào, đúng như A.G
H audricourt nhận định, là một mối quan hệ rất đặc biệt
Chinh vi thó, de tiếp tuc làm sáng tỏ mối quan hệ nảy chúng ta cần quan sát thêm cứ liệu của các ngôn ngữ khác nhau của khu vực
3 Khi nghiên cứu những ngôn ngữ còn bão lưu nhiều nct cổ xưa của nhóm V iệt • Mường (VM ) [7], m ột Iihóm ngôn ngữ thuộc nhánh
M ôn - K hm er của họ N am Á, chúng tôi nhận thấy giữa nhóm ngôn ngữ này với m ột vài ngôn ngừ N am Đào có những lương ứng từ vựng khá
cơ bàn Phân tich b ản chất từ vựng của những tương ứng ấy, theo chủng tôi, sẽ góp phần làm sáng tỏ tính chát mối quan hộ giữa những ngôn ngữ N am Đào trong khu vực với các ngôn ngữ Việt - Mường Rồi qua đó, chúng ta cũng sẽ thấy rõ hơn mối quan hệ giữa những ngôn ngữ
M ôn - Khmcr thuộc phần đòng bác với các ngôn ngữ Nam Đáo ờ phần lục dịa Đông Nam Ả
N hững ngôn ngữ thuộc nhóm Việt - Mường còn b ão lưu nhiều nót cồ xưa lá những Iìgôn
ngữ so n g tiết (disyllabc/scsquisyllabe) nhu
A rem (A r), M ã Liềng (M L), Sách (S), Rục (R) hay A heu (Ah), K hạ Phọng (K h) Tính chất song tiét cùa những ngôn ngữ n ảy chứng minh chúng là những ngôn ngữ còn lưu giữ đặc diêm ngôn ngữ cùa giai doạn proto Việt - Mường (PVM ), giai doạn còn b ào lưu tốt nhất những dặc điểm Môn - K hm er (M K ) của nhóm Cho nên, những tương ứng từ vựng giữa Viợt - Muờng
và N am Đào dưới dây, vi thế, rát có ý nghĩa
Địa bàn tụ cư cúa những người nói các
ngôn ngữ Việt - M ường song tiết là ớ vùng núi
Trang 3T.T Dồi / Tạp chí Khoa học Đ H Q G H N , Khoa học Xã hội và Nhãn văn 25 (2009) 121- ì 26 123
N ghộ Ar (xin xem bủn đồ) Đây là vùng núi
cao, đi lù khó khản và thời tiết khăc nghiệt
N hiều ĩứà ngôn ngữ học đều thấy rằng chính
đặc điềm địa lý nói trôn khién cho những ngôn ngữ n ày còn lưu giữ khá tốt những dạng thức ngữ âm của tiếng proto V iệt - M ường [8]
ỷ Ki
Wwm
Ỵ & M
■ U kị
M ử ' v;
Bản đồ địa lý cư trú của những ngôn ngừ Việt - Mường song tiết (vùng đường đỏ).
3.1 Tình hình tư liệu
Quan sát từ vựng của những ngôn ngữ Việt
- M ường so n g tiết, chúng tôi nhận thấy giữa
chúng và các ngôn ngữ C ham cỏ những tương
ứng thuộc lớp từ cơ bản Trong hinh tư liệu hiện
nay, chúng tôi xin ncu ra những loạt tương ứng
từ vựng sau đây Có thể nói, hai loạt từ vựng
m à chúng ta quan sát thuộc vào lớp từ rắt “cơ
b ản” của mỗi m ột ngôn ngữ
3 / I N h ữ n g từ c h i các khái niệm liên quan đến “đất, đá ”
Các ngôn ngừ Ch am Tiéng Việt và tiểng Mường Các ngôn ngừ VM song tiét
chơk (C), “rocky mountain”
patầu (C)“stone”
haluk (C) "earứi”
haluk lơn (C) “d a y ”
chuah (C) “sand’
núi đá (V), nùi lá (M)
“ roc.ky moutìtairí’
đá (V), lá (M) “stone”
đất (V), lất (M) “earth”
đắt sét (V) “c ỉ a f cát (V)? kách (M) “sanđ’
ctt (R), lakù:/i ?at€? (Ar)
“rocky mountairí'
latá (R, S), ?at£? (Ar) “stone”
bon (R, S), ?alắk (Ar) “earttí'
ban tl£t (R), ?alảk kupec (ML) “c/ạy”
tokắc (R), ?at£? kất, takaic (Ar) "sand'
Trang 43.1.2 N h ữ n g từ ch ỉ khái niệm liên quan đến “thời g ia n ”
1 2 4 T.T Dõi / Tạp chí Khoa học D H Q G H N , Khoa học Xã hội và N hân văn 25 (2009) 12Ĩ-Ĩ26
haray(C), “ day”
gok pagẽ (C) “early ơrning'
ja là (C ) “noon”
raưđơm (C) “n ig h t”
mưđơm mưđcrm (C) “night”
bilan (C) “month”
bilan (C) “moorí’
(hun (C) uyear>'
ngày (V), ngày (M) "day"
sáng sớm (V), làng khờm (M)
“early moming'’
trưa ( V), tlưa (M) “rtoon”
đèm (V), têm (M) “night”
đêm hôm (V), têm (M) “nighr tháng (V), khảng (M) “month”
ứăng (V), tlăng (M) “moon”
năm (V)* năm (M) '‘year
pakinh (S, R), b£h (Ar) palo: (Kh) “daỷ' /Am (R, S), ?ar^m, (Ar) “early morniĩìg"
pakuDh (S, R), ciỉÌA (Ar) kal+a (ML) “noon” lim (S, R), lấm (Ar) ‘‘night'
hom (S, R), tar)Dp (ML)
t V íS R ), t £ịj’(At) "night"
palian (Sy R), ?nư£Ali (Ar) “m oorí’
nảm (S, R), tNui (Ar), saiiăm (Kh) “year*1
G h i chủ: T ư liệ u tiế n g C h ỗ m c h ủ n g tô i d â n th e o B ù i K h á n h T h ế [9 ]; tư liệu tiế n g M ư ờ n g d â n theo N guỵên Văn K h a n g [ 1 0 ]; t ư liệu tiế n g R ụ c d â n th eo N g u y ê n P hú P h o n g [ 1 1]; t ư liệu tiế n g R ục, A r e m , Sách, M ã Liềng, K h ạ P h ọ n g là n g u ồ n t ư liệu d o c h ú n g tô i th u íhộp q u a đ iề n dã D o i vở i tiế n g C h â m v à tiến g M ư ờ n g
c h ủ n g tô i g h i th e o tà i liệu g ố c ; n h ữ n g n g ô n n g ữ c ò n lạ i d ù n g cá c h g h i th e o q u y đ ịn h c ù a IPA.
3.2 M ộ t vài nhận x é í về tư liệu
Hai nhỏm từ vựng mà chúng tôi dần ra ở
trên, rõ ràng, là những nhóm từ vựng chỉ khái
niệm thuộc lớp từ cơ bản cù a m ột ngôn ngữ
T heo cách xử lý mà P.K Benedict, S.E
Jakhontov, A G H audricourt và cà L Sargat
d ã phân tích thì khi những từ thuộc lóp từ như
thế tươ ng ứng nhau, thoạt nhìn, sự tương ứng
ấy nghiêng v ề tươ ng ứ ng cội nguồn Tuy nhiên,
néu p h ân tích m ột cách chi tict hơn, tình hình
chưa chắc đã như thc C húng ta có thể nhận
thấy điều đó như sau
3.2.1 T h ử nhất, ờ nhóm từ chi khái niệm
“đất, đá” nếu s o sánh giữa tiếng Rục với tiéng
Chảm , chúng ta thấy cỏ các khái niệm núi đ á ”
rocky m o u n ta in ”, đất “ea rth” là tương ứng
nhau Còn ờ nhóm từ chỉ khái niệm “thời g ian ”,
tình hỉnh tươ ng ứ n g g iữ a ticng C hăm với các
ngôn ngữ V iệt - M ường đa dạng hơn Cụ thể,
chi giữa C h ăm v à V iệt tươ ng ứng nhau về khái
niệm ngày “d a ý '\ nhưng giữa C hảm và Việt,
M ường, A rem , M ă Liềng tương ứng nhau về
khái niệm trư a “ /Iỡỡ/z” ; trong khi giữa C hăm và
V iệt, M ường, Sách, Rục lại tương ứng nhau về
khái niệm trâng “m o o n ” (dồng n g h ĩa với khái niệm tháng “m onth” ở tiéng C hăm ); nhưng chi
giữa C hăm và A rem tương ứng n h a u về khái
niệm năm “y e a r ”\ và ở m ột mức độ nào đấy có
thể nói giữa C hăm v à Sách, Rục, Khạ Phọng
tương ímg nhau vẻ khái niộm sá n g sớm “early
m o rn in g \
Rõ ràng, những khái niệm tươ ng ứng nói trên thuộc lóp từ rắt cơ bàn Và chúng ta khỏng khỏ nhận thay mối quan hệ ngữ â m đều đặn
giữa chủng (ví dụ C hăm bilatĩ, Việt trăng,
M ường blõng/tlõng, Sách và R ục palian) Vì
thé, nếu chi nhìn vào những tương ứ ng như vậy, việc cho rằng quan hệ giữa tiéng C h ăm với các ngôn ngữ nhóm V iệt - M ường là quan hệ nghicng về cội nguồn cũng có cái cơ sở nhắt định của nỏ
3.2.2 Tuy nhiên, nếu phân tích kỹ những tương ứng nói trên, tình hình hoàn toàn không đơn giản như vậy
Q uan sát những tươ ng ứng giữa tiéng Chăm
và các ngôn ngữ Việt - M ường đà dẫn ra ờ trên, chúng ta thấy những từ chung trong hai nhóm
từ cơ bản không phải lúc nào cũng đều dận ở
Trang 5T.T Dũi / Tạp chí Khoa học D H Q G H N , Khoa học x s hội và Nhân vân 25 (2009) 121-126 125
nhóm Việt - M ường Đ iêu náy có nghĩa là, có
những từ ờ ngôn ngữ n à y thi tương ứng với
tiến g C hăm nhưng nó lại không tương ứng với
n g ô n ngữ khác trong cùng nhỏm Ví du, ớ tiếng
A rem khái niệm "nủm (yea r)" là ỉ'un tương ứng
với tiếng C hăm thun, nhưng những ngôn ngữ
V iệt - M ường khác là nỡm hay sanăm-, hay như
k h ái niệm “trủng ịm o o n )" giữa tiếng Châm,
V iệt, M ường, Sách, Rục là tương ứ ng nhưng ờ
tiếng A rem nó lại là ?mr£Ah\ hay như ờ khái
niệm "trưa (noon)” g iữ a các ngôn ngữ mã
chúng ta so sánh là tư ơ n g ứng, trong khi chi
ricng Sách, Rục lại là m ột dạng thức khác; ở
khái niệm “núi đá (rocky m ountain)" và cỏ thè
là "đ ấ t (ẹarth)" chi ric n g ticng Sách, Rục lá
tương ứng với Chăm , còn những ngôn ngữ Việt
- M ường còn lại là một dạng thức khác
Có lẽ, sự giống nhau không đều dặn trong
nội bộ những ngôn ngữ V iệt - M ường với tiếng
C hăm ờ m ột vài khái niộm dã nói lên rằng
những tươ ng ứng dã có là đơn lè Sự dơn lò ấy
thể hiộn quan hệ giữa các ngôn ngữ V iệt -
M ường với ticng C h ăm dường như là quan hệ
vay mượn N hư vậy, cho dù tim thấy giữa V iệt -
M ường và C hăm nh ữ n g từ cơ bàn giống nhau
(như đã ncu ra ờ nhận x ét 3.2 /) , tinh đơn lẽ cùa
những tuơng ứng ấy th ic n về phản ánh mối
quan hệ do v ay mượn m à có
T u y nhiên, cũng c ó thề lý giãi thêm rang sự
giống nhau đ ơn lò tro n g nội b ộ nhóm V iệt -
M ường là do nguyên n h ân ờ ngòn ngữ Việt -
M ường này thi giữ nguyên những tương ứng
với tiống C hăm , còn ờ nh ữ n g ngôn ngữ V iệt -
M ường khác dã không lư u giữ lại Vì thé tính
đơn lê tro n g nội bộ nhóm V iệt - M ường chưa
đủ cơ sờ đề phù nhận m ối quan hộ cùng gốc của
sự tươ ng ứ ng giữa những từ cơ bàn nói trên
3.2.3 Phàn tich ch i tiết sự tương ứng giữa
những từ cơ bàn thuộc hai loạt chi khái niệm
“dát, đ á và thời gian" cù a tiếng C h ăm và những
ngôn n g ữ so n g tiết V iệt - M ường, chúng ta thấy
cỏ m ột dấu hiệu rất thú vị Đ ó là tinh trọn vẹn ờ
mỗi m ột luạl lừ đã dcm ra so sánh ờ trên giữa
tiếng C hãm và những ngôn ngữ song riết V iệt - Mường Và đây có lò lá dấu hiệu tốt nhất đê chứng m inh mối quan hộ vay m ượn giữa tiếng
C hăm và những ngôn ngữ V iệt - M ường
Ỡ loạt từ thứ nhất chi khái niệm “ đất, đ á ”,
t r o n g n h ó m s o n g t i ế t V i ệ t - M ư ờ n g c ó s ự t ư ơ n g ứng ư ọ n vẹn với các khái niệm tươ ng tự cùa
V iệt và M ường là đà núi đá, đất, đất sét, cát Tuy tiếng Rục ờ từ núi đá v à đất có khác biệt
nhưng ờ những ngôn ngữ còn lại nó vần lưu giữ đầy đu tương ứng ấ y chứng tò trong nội b ộ của nhóm tinh tương ứng trọn vẹn cú a loạt từ vẫn được tôn trọng Ờ loạt từ thứ hai chi khái niệm 'th ờ i gian”, tinh hinh cũng tươ ng tự như vậy
Sự tương ứng cùa loạt từ sớm , trưa, hôm (đêm),
tháng, năm trong nhóm V iệt - M ường là trọn
vẹn V iệc chcn vào hai từ ng à y và trăng không
làm vờ tinh tưcmg ứng hộ thống cùa loạt từ chi thời gian của nhóm ngôn ngữ V iệt - M ường
N hư vậy, dối với chúng tôi, chính sự tương ứng ừ ọn vẹn về loạt từ cùa nhỏm n gôn ngữ Việt
- M ường đã chứng m inh những từ thuộc lóp từ
cơ bản giống với tiếng C h ăm chen vào hệ thống
ấy là những từ được vay m ượn Và do chúng là vay m ượn nên khi thi lưu lại ở ngôn ngữ V iệt -
M ường nảy, khi thi lưu lại ờ ngôn ngữ V iệt -
M ường khác m à không đồng thời lưu giũ đầy
đù ừ ong cả nhóm N ói cách khác, đúng là giữa nhóm C ham cùa họ N am Đ ảo v à các n gôn ngữ
V iệt - M ường thuộc nhánh M ôn - K hm er của họ
N am Á có những từ cơ b àn giống nhau N hưng
sự giống nhau ấy chi p h àn ánh quan hệ vay mượn đặc biệt giữa chủng m à thôi
Với cách nhin nhận như vậy, trong quan niệm cùa chúng tôi, Đ ông N a m Á là m ột khu
v ục hiện diộn năm họ ngôn ngữ là N a m Á (A ustroasiatic), N a m Đ áo (A ustronesian), Thái
- K ađai (Tai - K adai), H án T ạng (S ino - Tibetan) và M ông - D ao (M iêu - Yao) Q uan niệm m á chúng tôi chấp nhận cũng là cách nhìn nhận của m ột vài tác già khác và nó không loại
Trang 6126 T.T Dồi / Tạp chí Khoa học D H Q G H N , Khoa học Xữ hội và Nhần văn 25 (2009) Ĩ2Í-126
bỏ cách nhin nhận coi Đ ông N am A có m ột sự
tương đ ồng về ngôn ngữ - vãn hoá của cả khu
vực Sự khác biột ở dây chi là nót tương đồng
về ngôn ngữ - văn hoá của cả khu vực không dồng
nhất với sự tươ ng d ồng về nguồn gốc ngôn ngữ
T à i liệu th a m k h ả o
[1J P.K B e n e d ic t, A ustro - Thai a n d A ustroasiatic,
A u stro a sia tic S tu d ie s, p a rt I, 1976, p p 4-36.
[2] S.E Jakhontov, v ề sự phân loại các ngôn ngừ ở
Đông Nam châu Ả, Ngôn ngừ n°l (1991) 73-77.
[3] A.G Haudricourt, Limites et connexions de
1'austroasiatique au Nord - Est, Aĩỉe du Sud-Est
e t m o n d e insulinduen 5 , N°1 (1 9 7 4 ) 1-14
[4] A G H a u d ric o u rt, G iớ i h ạ n và n ố i k ẻt củ a n g ô n
n g ừ N a m Á ở Đ ô n g B ắc, Ngôn ngừ n ° l (1 9 9 1 )
3 3 -40.
[5] L S a rg a t, The h ỉg h er p h ylogeny o f Austronesian
and the position o f Tai - Kadai, Workshop on
“ P rcm icres a u sư o n é sic n : la n g u e s , gènes,
sy stè m e s d c p a re n té " , P aris, M a y 5 , 2 0 0 4
[6] Phạm Đức Dương, Bức tranh ngôn ngừ-văn hoá
tộ c ngư ờ i ờ Việt N a m và Đ ô n g N a m Á, N X B Đại
họ c Q u ố c g ia H à N ộ i, 2007.
[7] T rần Tri D õ i, G iáo trình lịch s ử tiến g Việt (sơ tháo), N X B Đ ạ i họ c Q u ố c gia H à N ộ i, 2005 [8] M P erlu s, The O rigin o f Tones in Viet-Muơng,
SALS XI* Conference, Mahidol University,
B a n g k o k , T h a ila n d , M a y 16-18-2001.
[9] Bùi Khánh Thể (Chủ biên) (1996), Từ điển Việt -
Chăm, N X B K h o a họ c X ã h ộ i, 1996.
[10] Nguyễn Vản Khang (Chủ biên), Từ điền Mườìig-
Việt NXB Vản hoa dân tộc, l là Nội, 2002.
[11] N g u y ễn P h ú P h o n g et a l, Lexique Vietnamien -
Rục - Francũis Univerite de Paris VII, Paris
1988.
On the relationship between the Austroasiatic and
Austronesian languages in Southeast Asia
Tran Tri Doi
College o f Social Sciences and Humaniiies, VNU
336 Nguyen Trai Thanh Xuan, ỉỉanoi, Vietnam
As havc b ccn knovvn, the A ustroasiatic and A ustronesian languages phonetically and lcxically
havc correspondcnce H ow cvcr, w hcthcr this is borrow ed o r inherited relationship has long bccn an
issue o f controversy, because plausiblc cvidence to these points o f view is still unavailable
In this p ap er, cquivalent data from basic vocabulary betvveen the Vict M uong disyllablc / sesquisyllable languagcs (e.g A rcm , M a Lieng, Sach, Ruc, Aheu) and thc C ham ic language arc careíully invcstigatcd D espite the sharcd basic vocabulary, this kin d o f equivalcnce lends íurthcr
w cight to th e v iew th a t p reíerence is given to the borrow ed rclationship F o r that rcason, thcse lcxical
resem blances are o f a restricted rangc which supports thc view point o f a specially borroved
relationship b etw een the tw o languages