chù nghĩa cộng sàn thô lỗ chi là "hình thức biểu hiện của sự ti tiện" và "hoàn thành một sự ghen ghét" với ché độ tư hữu.. Theo C.Mác, "sự phù định một cách triệt để" đối với chế độ tư h
Trang 1T ạp chí Khoa học Đ ÍỈQ C H N , K hoa hợc Xà hội và N h ân văn 26 (2010) 40-45
Quan điểm của C.Mác, P.Ănghen, V.I.Lênin
về vấn đề xóa bỏ tư hữu
Đặng Thị Lan*
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN
336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuán Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 25 tháng 04 năm 2009
Tóm tắt: Vấn đề sở hữu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống kinh té - xă hội Thực tiễn trên 20 năm đồi mới đất nước cho thấy, nếu giải quyết tốt vấn đề sờ hừu thì sẽ tạo động lực phát triên nên kinh tẽ một cách mạnh mẽ, nâng cao đời sông nhân dân
Trong các tác phẩm của mình, C.Mác, Ph.Ảngghen và V.Ỉ.Lẻnin đã bàn rất nhiều đén vấn đề
sờ hừu, coi sở hữu là một quan hệ kinh tế - xã hội Đồng thời các ông cũim cho rằng việc xoá bò chế độ sở hữu tư nhân tư bản chù nghĩa là một quá trình tất yếu của lịch sử Các ông cũng khônu quên nhắn mạnh nhừng điều kiện và khả năng để thực hiện quá trình đó Trờ về với quan điểm của các nhà kinh điển về sở hừu đề hiểu đúng và vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam là vấn đề cấp thiết hiện nay
Vấn đề sở hữu là vấn đề được các nhà kinh
điển của chù nghĩa Mác-Lênin đặc biệt quan
tâm Mặc dù không đưa ra một định nghĩa trực
tiép về sở hữu, song trong các tác phẩm chủ yếu
cùa mình, vấn đề sờ hữu đã được các ông bàn
đến rắt nhiều nhất là khi bàn về cách mạng xà
hội chù nglìĩa và sự nghiệp xây dựng chù nghĩa
xà hội
Các ông cũng khẳng định rằng: xoá bò sờ
hừu tư nhân tư bản chủ nghĩa là một quá trinh
lất ycu cùa lịch sử ỉoài người Tuy nhiên, các
ông cũng đà đề cập và phân lích nhừng điều
kiện, khà năng để thực hiện quá trinh đó
Thực tiễn đổi mới đất nước ờ Việt Nam trong
hơn 20 năm qua cũng cho thấy sờ hừu luôn là
DỊ ' ; 84-4-38540369
E-m ail:danglhilan61@ yahoo.com.vn
V ấ n đề đặc biệt nan giải và có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế - xà hội
Muốn vượt qua nhừtìg thách thức trên con đường hội nhập và phát triền, muốn x.ây dựng thành công chù nghĩa xă hội đòi hòi chíinu ta phải giải quyết đúng đan nhừng vấn đề về sở hừu
Vi vậy, nghiên cứu nhừng quan đicm cúa các nhà kinh điền về sờ hừii đc hicLi vả vặn
dụiMi một cách sáng tạo vào thực tiễn V iột Nam
hiện nay là vô cùng cần thiét
Những quan điểm cùa C.Mác, F.Anighen ve
sờ hừu được thể hiện rõ trons các tác pl iam "Hộ
tư tường Đức", "Chống ĐuyRinh", "T'if bàn",
"Bàn thảo kinh tế " triết học năm 1844" C.Mác và P.Ảnghen đã luôn nhất quán xem sờ hừu như một quan hẹ xà hội
Trong “ Bàn thảo kinh tế - triết bọc năm 1844”, khi phân tích sờ hưu dưới dạnií tư nhân
40
Trang 2D.T ỈMĨĨ! Tạp chí Kìĩoa học PhỉQ GỈ ỈN Khon học Xã hội và Nhân ĩmn 26 (20Ĩ0) 40-45 41
tư bàn chú nghĩa, c Mác chi rồ ràng, mặc dầu
được clie dấu đi nhưng dạng sờ hữu này luôn
chứa đựiig troniỉ đó ba mối quan hệ cơ bàn:
“Quan hệ cùa chế độ tư hừu coi như lao động”,
'‘quan hệ cùa nó coi như tư bản”, “mối tương
quan lẵn nhau cùa hai bên” Khi phân lích tính
chất xã hội của ba mối quan hệ này khi chúng
vận ảộnn trone quá trình sản xuất hiện thực, c
Mác cliỉ rõ: Mối quan hệ thứ nhất, chế độ tư
hừu đã bicn con người thành người hoàn toàn
xa iạ với con người tự nhiên Bời vì, con người
với tư cách là lao động lại chính là ''hoạt động
cùa con niiirời'’ - con người bị trừu tượng hoá
clìi còn là con nmrời lao động, ở mối quan hệ
thứ hai, che độ tư hCru đà tước bỏ '‘mọi tính qui
định tự nhiên và xà hội’' cùa đối tượng hoạt
động cùa con người” - đà bị trừu tượng hoá chi
còn là tư bàn Do vậv ờ mối quan hệ thứ ba, tư
bản và lao độtiíĩ trờ nên đối lập với nhau Đó
chính là sự đối lập giừa “ hoạt động của con
nmrời” với '"đối tượng hoạt động của con
nuười", sự đối lặp giữa hai mặt cùa “sự sán
XLiấr làm cho con người ngày càng xa lạ với “ý
tlìửc và biểu hiện sinh hoạt của mình” ,
Tư lường về sự cần thiết phải xoá bò chế độ
Uf hưu ỈR>ng cá c lác pliũni c ù a M ú c k liỏ n g plùii
clìi dcn "Bản llìảo kinh tế - triết học nám 1844"
niới xiiắt hiện Trước đỏ, troníi "l>ời nói đầu
uóp phần phê phán Iriét học pháp quyền của
ilcuhcn, tư tương này đà được trinh bày và trên
thực tc dă đạt đen trinh độ chín muồi khi C.Mác
xein xét nó trong tương quan với vấn đề sứ
mệnh lịch sứ của giai cấp vô sản, kè sẽ thực
hiện s ự Iiíihiệp \ o á b ò c h e đ ộ tư hừu.
Cũng trong tác phẩm "Bàn tháo kinh tế -
triốl học nàm 1844", C.Mác đã trình bày những
quan niệm khác nhau cùa một số trào lưu tư
tưòng cộnạ sán chủ nghĩa trước đó về vấn đe
xoá bỏ chế độ sờ hữu lư nhân, ô n g đã kịch liệt
phè phán "Chủ nghĩa cộng sản thô lỗ" khi nó
chu trươnu xoả bỏ tư hừu bằng chủ nghĩa bình
quvin '1'hco C.Mác, với chủ nghĩa bình quân
chù nghĩa cộng sàn thô lỗ chi là "hình thức biểu hiện của sự ti tiện" và "hoàn thành một sự ghen ghét" với ché độ tư hữu Theo C.Mác, "sự phù định một cách triệt để" đối với chế độ tư hừu chi có thề là phù định một cách tự nhiên, tức là phủ định bằng chính bản thân sự đối lập cùa ché
độ tư hữu - sự đối lập giữa bản chất cùa chế độ
tư hữu với chính chế độ ấy, nghĩa là sự đối lập giừa "lao động đà khách quan hoả" (tư bản) với chính bàn thân lao động, giữa "hoạt động của con người" với "chính đối tượng hoạt động của con người"
C.Mác cho rằng tội lỗi lớn nhất cùa ché độ
tư hừu là làm tha hoá con người Vi vậy, toàn
bộ sự vận động của lịch sử đang "sinh sàn ra hiện thực" một thứ chù nghĩa cộng sàn mới, chủ nghĩa cộng sàn "nhân đạo", "hoàn bị", "tự nhiên", chủ nghĩa cộng sản cao hơn tất cà những chù nghĩa cộng sàn đã có Nó sẽ "xoá bò một cáclì lích cực chế độ tư hữu - sự tự tha hoá
ấy cùa con người" [1]
Tiếp tục phát triển quan niệm đó, trong tác phẩm "Những nguyên lý cùa chủ nghĩa cộng sản" (1847), khi cho ràng giai cấp vô sàn chi có thể tự minh giải phóng cho minh sau khi đã xoá
b ỏ cl»c đ ộ tư liữu, F A iig h c ii k h a n g dinii rằng;
d ư ợ c t h a y h ằ ĩìị; v iệ c s ừ d ụ iìịi tắ í c ù m ọ i c ô n g c ụ
s â n XIUỈÍ v ù v iệ c p h ú n p h o i s à n p h a m th e o s ự
th o a ỉlìu ậ n c h u n g , í ú v lù h ằ n g c á i m ù n g t n / i ta
gọi là sự cộỉiịỉ (long về tài s à n ” [2, tr.452] ỏ n g
cho đó là cách nói ngẩn gọn nhất, và khái quát nhất về việc cải tạo toàn bộ chế độ xã hội mà giai cấp vô sàn có sứ mệnh phải thực hiện Tuy vậy, ngay cà khi quan niệm xoá bò chế độ tư hữu và thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sàn
xuẳt ”c1iểu hoàn íoàĩì cần thiết" và "cỏ thể thực
hiện được": P.Ảnghen vẫn luôn nhẳc nhờ rằng
việc xoá bò chế độ tư hữu chi củ íhể thirc hiện
được khi mà lire lirợrig sàn xuẩĩ đã phát triển ờ trình độ cao, rằng ‘'Hoàn toàn rõ rùng ìù cho
đ e n n a y lự c ỉic ợ ìig s á ìì x u ấ t v a n c h ư a p h á i tr iể n
Trang 342 Đ.T Lan/ Tạp chi Kỉĩon học Đ H Q G hỉN , KIwa học Xã hội và Nhân văn 26 (2010) 40-45
đến mức khiến cho ché độ tư hừu trờ ihùììh
xiểng xích ngân càn sự ph át triển cùa các hrc
lượng sáìĩ xuất đỏ'' [2, tr.453].
Khi trả lời câu hòi ''Liệu có thể thù íiéu chế
độ tư hCru ngay lập tức đirợc khóng?*\
P.Ảnghen đã phát biểu dứt khoát rằng "Không,
k h ô n g t h ế đ ư ợ c , c ũ n g V n h ư k h ô n g t h ế l à m c h o
lực liạm g schĩ xiiấỉ hiện cỏ tăng lên ngay lập
tức iới mức cần thiết để xây dim g một nền kinh
tế công hữi4 Cho nên, cuộc cách mạng cùa giai
cấp vô sàn sẽ chi có thê cái tạo xã hội một
cách dần dầu và chi khi nào đũ tạo nên đirợc
một khối ỉưộììg tư liệu sán xuất cán thiêt cho
việc cùi iọo đó thì khi ấy mới thù tiêu được chế
clộtưhữu'^ [2, tr.455].
Thiết nghĩ, ờ đây không có gì là mâu thuẫn
một khi P.Ảnghen cho rằng việc thù tiêu chế độ
tư hừu là cằn thiết khi nó đã trở thành cái cản
trờ sự phát triền cùa lực lượng sàn xuất Nhưng,
việc xoá bò đó chi có thể thực hiện được khi lực
lượng sản xuất đã phát triển đến một trình độ
cao, khi xã hội đà tạo nên được một khối lượng
lư liệu sàn xuất cần thiết Với ý nghĩa đó, chúng
tỏi thấy rằng công cuộc đồi mới mà chúng ta
đang tiến hành là nhằm phát triền nền kinh tế
h à n g h o á n h i c u t l i à n h p h ầ n v ù i I i l i ỉ c u l o ạ i h ì n h
SỜ hữu và hinh thức tổ chức kinh doanh phù
hợp với tính chất và trinh độ của lực lượng sản
xuất để từng bước xây dựng một nền kinh tế
phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện
đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất
chủ yếu Một điềm cần đặc biệt chú ý, đó là tư
tường cùa P.Ảnghen về những biện pháp quá độ
để dần dần đi đến chồ xoá bò chế độ tư hưu và
thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất
Khi xác định rằng công việc đầu tiên mà giai
cấp vô sản phải thực hiện là "Tạo ra một chế độ
dân chủ" Qua đó thiết lập quyền thống trị chính
trị của mình và sừ dụng chế độ dân chù đó "làm
phương tiện để thi hành các biện pháp rộng rãi,
trực tiếp đánh bại chế độ tư hữu, P.Ảnghen đã
đưa ra 12 biện pháp chù yếu và nhắc nhở rằng
phải xuất phát từ điều kiện cụ thể và không thể thi Ịiành tất cà các biện pháp đó ngay troiiị^ một đợi, biện pháp này sẽ dẫn đến biện pháp kh.ác Tính tất yếu cùa quá trinh xoá bỏ ché đ ộ tư hữu tư sản và thiết lập chế độ công liừu về tư
liệu sàn xuất dưới chù nghĩa xã hội được c Mác
tiếp tục khẳng định trong 'T ư bàn", "Sự độc quyền cùa tư bản trở thành những xiềng xích ràng buộc cái phươiig thức sản xuất đã Ithịnh vượng lẻn cùng với độc quyền đó và dưới độc quyền đó Sự tập trung tư liệu sàn xuất và xã hội hoá lao động đạt tới cái điềm nià chúng không còn thích họp với cái vỏ tư bản chù nghĩa của chúng nữa" [3, tr.317-318]
Ngoài ra, trong "Tuyên ngôn của Đảng cộng sàn", các ông còn đề cập đến vai trò lịch
sử thế giới của giai cấp vô sàn và ý nghĩa cùa cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa đối với sự thay đổi những tư tường và ý thức xã hội ở đây, các ông cho rằng cuộc cách mạng xoá bò chế độ tư hữu sẽ diễn ra trên phạm vi toàn thế giới Với sự phát triển cùa công nghiệp và thị trường, các ông nhận thấy "Những cách biệt" về dân tộc và quốc gia sẽ ngày càng mất đi
v ề mặt ý thức xã hội, iheo các ông, một khi ché dộ iư hưu đâ bị xoả bò, dói kháng giai cấp mất đi thì "những tư tưởng, những quan điềm
và những khái niệm" tức là "ý thức của người ta" sẽ thay đổi theo, tức là những hình thức bị quy định bởi sự tồn tại cùa sự đối kháng giai cấp nên khi xoá bỏ sự đối kháng giai cấp ’’cách mạng xà hội là sự đoạn tuyệt triệt đề nhất đối với ché độ sờ hữu cổ truyền"
Ọua nghiên cứu tư tường xoá bò chế độ tư hữu, chúng tôi nhận thấy, các nhà kinh điển đã khẳng định quan niệm của mình rằng, đã đến lúc lịch sử loài người phải thực hiện sự thù tiẻu hoàn toàn và triệt để chế độ sờ hữu tư nhân nói chung về tư liệu sản xuất, và tin tường rằng, sự phát triền tiếp theo của lịch sử sẽ tốt đẹp hơn Cũng theo các ông, việc thù tiêu chế độ tư hữu
tư bản chủ nghĩa sẽ diễn ra trong mội tương lai
Trang 4D ỉ Lan Ị Fạp chí Khoa học Đ H Q G H N , Khoa học Xã hội và Nhân vãn 26 (2010) 4 0 A 5 43
ịỉần và tuyệt đại các thành viên trong xã hội
(giai cấp bị bóc lột) đã bị tha hoá đến cùng cực
và muốn thực hiện cuộc cách mạng, mặt khác,
sự vận động cùa ché độ tư hữu tư bản chù nghĩa
đã đạt tới đinh điểm cùa nó, đă tích tụ trong
lòng nó những mâu thuẫn gay gắt, tất yếu phải
được giải quyết
Như vậy, rõ ràng cà C.Mác và P.Ẵnghen đà
xác đjnh rõ tiêu chuẳn cơ bàn để phân biệt xã
hội cộniỉ sàn chù niihĩa với tất cả chế độ xà hội
khác là ở việc thù tiêu khả năng nô dịch lao
động cùa người khác, là việc xoá bò chế độ
nmrời bóc lột người Điều này, theo các ông,
chi có the thực hiện bang giải pháp xoá bò chế
dộ sờ hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, thiết lập
nên chè độ sờ hừu mới, tiến bộ và hoàn thiện
hơn đối với nền sàn xuất xà hội
V.I.Lcnin đã bảo vệ những quan điểm cùa
C.Mác và P.Ảnghcn về van đề sờ hừu đặc biệt
là vẩn đề xoá bò sờ hữu tư nhân tư bản chủ
Iiíĩhĩa Ngay cà trong thời kỳ thực hiện chính
sách kinh tế mới Quan niệm này của V.l.Lẻnin
về sự cần thiết phải xoá bò tư hừu, về vai trò
của viộc xoá bò này trong quá trinh xây dựng
chủ n^lìTa xã hội V.I.Lẻnin chưa bao giờ nghi
ngờ khả năng và vai trò cùa việc thù tiẻu chế độ
tư hừu Vứi cách mạniỉ xã hội chú nghĩa ờ nước
Nga, ông là nuưừi đà hiện thực hoá nhừng quan
niệm vô \ o á bỏ chế độ tư hữu cùa C.Mác và
r.Ảnghen, đưa nó thành những giải pháp,
nhừng bước đi thích hợp trong bối cảnh cùa
turóc Nua lúc bấv giờ v ề mặt lý luận,
V.l.Lênin đà kế thừa và phát triển quan điểm
cùa C.Mác và P.Ãnghen trên các mặt sau:
Thử tĩhẩt, việc xoá bò chế độ tư hữu cũng
cỏ nghĩa là thiết lập chế độ công hừu về tư liệu
sản xuất, chuyển cà tư liệu sản xuất sang sờ hữu
loàn dân chứ không phải là sang một hình thức
sờ hừu trung gian nào khác
Chủ thể cùa sờ hừu toàn dân dưới chù nghĩa
xã hội là "tất cà những người lao động", toàn thể
xã hội, giai cấp công nhân, tất cà mọi công dân
Căn cứ vào tình hình cùa nước Nga lức bấy giờ, V.I.Lênin đã xem đối tượng của sở hữu toàn dân mà chù nghĩa xã hội cần phải tiến hành quốc hừu hoá là: ruộng đất, hầm mò, nhà máy, công xường, kho tàng, hải cảng, đường sắt, ngân hàng nói chung là hết thày mọi tư liệu sản xuất
Thực chất và mục đích cùa việc xoá bò sờ hữu tư nhân là mọi công dân có địa vị ngang nhau đối với tư liệu sản xuất cùa toàn thể xă hội, có nghĩa là tất cả mọi công dân đều có quyền làm việc ngang nhau đối với tư liệu sản xuất xã hội, trên ruộng đất thuộc về xã hội, công xường thuộc về xã hội
Thứ hai, đối tượng cùa việc xoá bò sờ hửu
tư nhân là tư liệu sàn xuất chứ khỏng phải tư liệu tiêu dùng, là sở hừu tư nhân về tư liệu sàn xuất chứ không phải sở hừu cá nhân V.I.Lênin cũng cho rằng chù nghĩa xã hội cũng không đòi hỏi điều gì giống như thế cả không một người
xà hội chù nghĩa nào lại đề nghị tịch thu tài sàn của hàng chục triệu công dán
Thử ba, về hai giai đoạn cùa chủ nghĩa cộng
sàn, V.I.Lẻnin khẳng định bản thân việc xoá bò chế độ tư hữu mới chi là sự cài lạo xã hội chủ nghĩa, là bước đi đầu tién để tiến lới xà hội cộng sàn chù nghĩa Một xă hội không chi uiới hạn ờ việc tước đoạt các còng xườiig, nhà máv, ruộng đất, và tư liệu sản xuất, không chỉ giới hạn ờ việc kiềm kê, kiểm soát một cách chặt chẽ việc sàn xuất và phân phối sản phẩm, mà còn đi xa hơn nừa Theo V.I.Lênin, trong chủ nghĩa xã hội ngoải việc ché độ tư hữu về tư liệu sản xuất bị xoá bò, còn có sự thực hiện nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo lao động V.I.Lênin còn coi việc biến tư liệu sàn xuất thành sở hữu xã hội để tạo ra "một nền sàn xuất tiến hành theo kế hoạch chung, nhằm phục vụ lợi ích cùa hết thày mọi thành viên trong xă hội" là mục đích lả thực chất và là vấn đề trung tâm cùa công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội V.I.Lênin đã coi mục tiêu đấu tranh của giai cấp
Trang 544 Đ.T Lan/ Tạp chí Kỉĩoa học Đ H Q G H N , Khoa học Xã hội và Nhân vãn 26 (2010) 40-45
vô sàn là "biến ruộng đất, công xường, nhà
máy, máy móc thành sở hữu chung của tất cả
những người lao động, trên cơ sở đỏ giải phóng
lao động khỏi cảnh nô lệ làm thuê, khòi cảnh
nghèo nàn túng bấn để xây dựng một chế độ xà
hội "không có ké giàu người nghèo", "mọi
thành quả lao động là thuộc về nhừng ai lao
động" [4]
Theo V.l.Lênin thi những nước có nền kinh
tế lạc hậu như nước Nga không thề chuyển trực
tiếp lẽn chù nghĩa xã hội như các nước tư bàn
phát triển mà phải qua nhiều khâu trung gian,
nhiều bước quá độ Ngay khi nội chiến chấm
dứt vào năm 1921, V.I.Lênin đà chù trương
phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
trong đó đặc biệt là thành phần kinh tể tư bản
Nhà nước, được xem là khâu trung gian để đi
lên chù nghĩa xã hội V.I.Lẽnin đã có nhừng
điều chinh quan trọng về mô hình chủ nghĩa xà
hội được thể hiện trong chính sách kinh te mới
(NEP)
V.I.Lênin đã đề ra con đường đề tiến lẽn
chủ nghĩa xã hội Đối với các nước tư bản phát
triển, sau khi giai cấp vô sản giành được chính
quyền sẽ chuyền trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội
Còn đối với các nước lạc hậu phải trài qua
nhiều khâu trung gian, nhiều bước quá độ khác
nhau
Trong tác phẩm "Bệnh ấu trĩ tà khuynh và
tính tiểu tư sàn", Người đã phẽ phán mạnh mẽ
những tư tường nóng vội muốn xác lập ngay
ché độ công hừu Người đà nêu ra tư tường về
nền kinh tế nhiều thành phần, về các hinh thức
kinh tế quá độ
V.I.Lênin là người chù trương chuyển từ
kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị
trường, đây là một sáng tạo lớn và nó cũng đạt
được những thành tựu rất đáng kề sau một năm
Liên Xô thực hiện NEP Chính V.I.Lênin đã
quan niệm về cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội
được phát triền từ kinh tế thị trường khi có
nhừng điều kiện chính trị là Nhà nước cùa nhân dân
Với các tác giả kinh điển cùa chù ntghĩa Mác -Lênin, nói đến chù nghĩa xà hội là nỏu đến việc xoá bò hoặc thù tiêu chế độ tư hữu, mà trước hết là chế độ tư hữu tư bàn chù nghĩa Đồng thời với việc xoá bò chế độ tư hữu v ề tư liệu sản xuất, các ông cũng luôn luôn nhất quán trong việc phân tích nhừng điều kiện, khả năng
để thực hiện nó Mục đích, lý tường cao cà mà các ông hướng tới là xây dựng mộí xà hội không có giai cấp, không cỏ áp bức bóc lột, xoá
bò mọi sự tha hoá cùa con người, giải phóng con người qua đó giải phỏng toàn nhân loại Những tư tường cùa C.Mác, P.Ảnchen, V.l.Lẽnin về vấn đề sở hữu nói chung và xoá bò
tư hừu nói riêng cho đen nay vẫn còn có ý nghĩa thời sự Nó giúp cho chúng ta một lần nừa nhìn
nhận lại những sai lầm chù quan duy ỷ chí, vi
phạm quy luật khách quan mà chúntg ta đã phạm phải khi vội vàng xoá bò mọi hinh thức
sở hừu cũ bằng biện pháp quốc hửu hơá và tập thể hoá trong hầu hết các lĩnh vực cùa nền kinh
tế quốc dân, trong khi chúng ta vẫn CÒOÌ là một nước nghèo, kém phát triển
Những thành tựu về kinh tế trong cc»ng cuộc đồi mới của chúng ta trẽn 20 năm qua d o nhiều nguyên nhân, song nguyên nliân cơ bàn và quan trọng nhất là do chúng ta đă tạo ra được sự đan xen giữa nhiều hinh thức sở hữu khàc nhau Chù trương phát triền nền kinh tế hảng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chù nghĩa cùa Đảng ta hiện nay là sự vận đụ ng đúniỉ đắn, linh hoạt và sáng tạo những tư tường cơ bàn cùa C.Mác, P.Ảnghen và V.l.Lônin về sờ hữu trong chù nghĩa xà hội Thực chất điều này
đã tạo ra một sức bật cơ bản, tạo đà phát triển cho nền kinh tế đắt nước trong mấy chiục năm qua, giúp cho chúng ta từng bước chién thang nghèo nàn, lạc hậu, tiến tới xây dựng một đất nước Việt Nam giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh
Trang 6Đ.T Lan ì Tạp chi Khoa học D H Q G H N , Khoỉĩ học Xã hội và Nhân vân 26 (20Ĩ0) 40-45 4 5
Tài liệu tham khảo
[II C.Mác, /ìan thao kinh tế - Iriéi học năm 1844, t^] c Mác, Tư bàn, Quyển 2, phần II, N X B Sự thật,
[2] Múc - Ẫngghen luyến láp (6 tập), tập 1, NXB Sự ’ ‘ập NXB Tiên bộ, thạt, llà Nọi, 1980 • • • Matxcơva, 1976.
The conception o f K Marx, F Engels and V.I Lenin on
liquidation o f private property ownership
Dang Thi Lan
College o f Social Sciences and Humanities, VNU
336 Nguyen Trai, Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam
1'here is an analysis o f the role of property ownership issue in sociai-economical life The development in Vietnam in over two decades since the Renovation shows that the reasonable settlement o f this issue could be an impulse and key conditions to improve economy as well as people's living standards
T he property ownership is a key issue in the works o f K Marx, F Engels and v l Lenin They all considered properly ownership as a social-economical relationship and emphasized the historical necessity o f liquidation o f private property ownership under capitalism They also argued possibilities for the process O f course, not all their meanings are now available The conception K Mane, F Himels and V.Ị Lenin on property ownership in context o f Renovation in Vietnam today is the content
ot the abstract