Ngôn ngữ học xã hội sau khi ra đời đã p h á t triển m ạnh ở các nước phương Tây vào khoảng th ập kỷ 60 với sự th am gia của các n h à nghiên cứu thuộc b a lĩnh vực chính là ngôn ngữ học,
Trang 1LÝ THUYẾT CỘNG Đ ổ N G NGÔN TỪ VÀ VIỆC N G H IÊ N cứu
NGÔN N G Ử TRO N G B ố i CẢNH VẢN HOÁ XÃ HỘI
1 V ấ n đề
S au lời k ết luận của F de S au ssu re
cách đây hơn một t h ế kỷ: “đổi tượng duy
n h ấ t và chân thực của ngôn ngữ học là
ngôn ngữ, xét trong bản th â n nó và ƯÌ
bản thân nó“, n g ô n n g ữ h ọ c t h e o t r ư ờ n g
phái của ông có đến hơn nửa t h ế đã
trá n h xa cái mà ông gọi là lời nói (hay
ngôn từ) và các vấn đề liên quan đến m ặt
cá n h â n trong hoạt động ngôn ngữ Phải
đến giữa t h ế kỷ 20 vừa qua, vói sự r a đời
của nhiều trường phái và k h u y n h hướng
lý th u y ế t mới n h ư ngữ p h á p chức năng,
ngữ d ụ n g học có sự x u ấ t hiện một xu
hướng nghiên cứu sát sao, gần gũi hơn
với thực tiễn ngôn ngữ và đời sông ngôn
(Sociolinguistics) là một p h â n n g à n h của
ngôn ngữ học đi theo hưỏng ấy
Ngôn ngữ học xã hội sau khi ra đời
đã p h á t triển m ạnh ở các nước phương
Tây vào khoảng th ập kỷ 60 với sự th am
gia của các n h à nghiên cứu thuộc b a lĩnh
vực chính là ngôn ngữ học, nhân học và
xã hội học Lấy đỗi tượng nghiên cứu là
các biến th ể ngôn từ (hay lời nói), một
lãnh địa mà S a u ssu re đã từ n g coi là một
p h ạ m trừ tâm lý cá the hỗn độn, không
p h ả i đ ố i tượng nghiên cứu của ngôn ngữ
học, ngôn ngữ học xã hội q u an tâm giải
thích h à n g loạt các vấn đề liên q u an tới
việc sử dụng các biến th ể trong mỗi
tương q u a n với các n h â n tô' tâm lý, xã
Trịnh c ẩ m L a n (,)
hội, văn hóa của người th am gia giao tiếp B ắt đầu từ việc coi ngôn từ là một
h à n h vi (hành vi bằng lời), khi các nhà
nghiên cứu tìm cách lý giải loại h àn h vi này, họ đều tìm kiếm n hữ ng chỗ dựa lý
th u y ết từ các trường phái lý thuyết về
h à n h vi của con người nói chung, v ề
p h ần mình, ngôn ngữ học xã hội trong nhiều th ập kỷ gần đây chịu ảnh hưởng của nhiều trường phái lý thuyết Trong
đó, một trường phái lý th u y ết nổi lên khá
m ạnh ở nhiều nước phương Tây vỏi một đội ngũ h ù n g h ậ u các n h à nghiên cứu (như w Labov, L Milroy, p Trudgil, R Fasold, J Cheshine ), với những th àn h tựu nghiên cứu r ấ t đáng kể là trường
D urkheim với n h ữ n g mô tả có tính chất dân tộc học về ngôn từ Đại biểu vối
n hững lý th u y ết cơ bản đầu tiên của trường phái này là Dell Hymes, một nhà
n h â n chủng học người Mỹ Ong đã xây dựng lý th u y ế t của mình trên nền tảng
của khái niệm cộng đồng ngôn từ với những qui lu ậ t về cách sử d ụ n g ngổn từ
và m ối liên qua n giữ a ngôn từ và cảnh huống [5] Lý th u y ế t này mở đầu cho sự
ra đời của k h u y n h hướng nghiên cứu
ngôn từ trong bối cảnh văn hóa xã hội của nó, một k h u y n h hướng có r ấ t nhiều
đóng góp cho ngôn ngữ học xã hội th ế giới và b ắ t đầu được n h e n nhóm ỏ Việt Nam trong vài năm trở lại đây
n TS., Trường Đại học Khoa học Xả hội & Nhân văn, ĐHQGHN.
6 5
Trang 26 6 Trịnh c ẩ m Lan
2 Sự ra đời của m ột trường phái lý
t h u y ế t
Vào n hững năm đầu th ậ p kỷ 70, việc
N Chomsky phục hồi lại sự đối lập ngôn
ngữ và lời nói của F S a u ssu re dưới cái
tên gọi năng lực ngôn n gữ (competence)
và sự hàn h chức ngôn n gữ (performance)
và quan trọng hơn là việc ông công n h ậ n
tín h độc lập của cú p h á p trong hành
chức ngôn ngữ đã thúc đẩy n h ữ n g sự chú
ý mỏi tới việc nghiên cứu ngôn ngữ trong
bối cảnh văn hóa xã hội Đối lập năng lực
ngôn ngữ và sự h à n h chức ngôn ngữ là
sự đối lập một bên là sự hiểu biết của
chúng ta về ngôn n g ữ còn bên kia là sự
sử d ụ n g ngôn ngữ trong thực t ế và con
người, theo N Chomsky, chỉ có th ể nắm
b ắ t được n ăn g lực ngôn ngữ chứ không
th ể làm n h ư vậy với sự h à n h chức ngôn
ngữ Cả hai quan điểm theo trường phái
Chomsky dường n h ư đã n g ăn chặn hầu
h ế t n h ữ n g v ấ n đ ề t h ú v ị v ề s ự h à n h c h ứ c
của ngôn ngữ trong xã hội Nói như vậy
vì thực chất nó chỉ q u a n tâ m đến cái gọi
là “ngôn ngữ” với n h ữ n g quy tắc của nó
Hơn nữa, th ừ a n h ậ n sự độc lập của cú
pháp trong các loại mô h ìn h cấu trúc có
khả năng tạo sinh thực c h ất chỉ là một
cách nói khác đi vể n h ữ n g gì thuộc về đôi
tượng của ngôn ngữ học theo trường phái
cấu trúc luận Một sô' không nhỏ những
n h à ngôn ngữ học đã có n h ữ n g nỗ lực
vượt lên chính m ình và vượt ra khỏi sự
chi phổi nghiệt ngã của ngôn ngữ học
cấu trúc để xây dựng n h ữ n g khái niệm,
n h ữ ng học th u y ết ngôn ngữ mới mẻ hơn
trong đó mối q u an hệ ngôn ngữ với các
n h â n tô" xã hội được xein là q u an trọng
nh ất Vì điều này m à một sỗ* nhà nghiên
cứu cho rằn g Chomsky là người đã gián
tiêp thúc đẩy sự p h á t triể n vượt bậc của ngôn ngữ học xã hội ở phương Tây vào
th ập kỷ 60 của t h ế kỷ 20 vừa qua
Trong sô' r ấ t n h iều n h à nghiên cứu đi ngược lại vói Chom sky ở q u an điểm cho rằn g năng lực ngôn ngữ bị h ạ n c h ế bởi tính hệ thông của nó có Dell Hymes Ông cho rằn g n ă n g lực ngôn ngữ không chịu
sự chi phôi của tín h hệ thông, rằn g tính
hệ thông nằm ngoài n ă n g lực ngôn ngữ Hymes đã mở rộng khái niệm n ă n g lực ngôn ngữ, cho nó bao trù m lên cả n hữ ng địa h ạ t mà Chom sky gọi là sự h à n h chức ngôn ngữ C hẳng h ạn , Hymes đã định
(communicative competence) là tri thức
vê những qui lu ậ t tr ừ u tượng của ngôn ngữ để tạo ra n h ữ n g sự tương ứng âm
th an h , ý nghĩa với h ìn h th ái ngôn ngữ và khả năng sử dụn g n h ữ n g sự tương ứng
đó một cách phù hợp ở các bình diện văn hóa và xã hội” Nói cách khác, theo Hymes, n ă n g lực giao tiếp, ngoài năng lực p h á t âm , hiếu vốn từ, dùng đúng những qui tắc ngữ p h á p còn là n ăn g lực
sử dụng ngôn từ thích hợp trong những cảnh huông giao tiếp cụ thể Tất nhiên, ở đây chúng tôi đ a n g chỉ nói riêng ở lĩnh vực ngôn ngữ học xã hội với trọng tâm là
mô tả n h ữ n g qui lu ậ t giao tiếp bằng lời
và sử dụng ngôn từ thích hợp với bối cảnh xã hội Bên cạn h các n h à ngôn ngữ học xã hội, các n h à lý th u y ế t về h à n h vi ngôn từ n h ư J A ustin, J Searle (cùng trong khoảng đầu th ậ p kỷ 70) cũng quan tâm đên các qui l u ậ t sử dụng ngôn từ thích hợp N hư ng nếu các nhà ngôn ngữ học xã hội q u an tâ m nhiều đến những cảnh huống v ăn hóa xã hội thì các nhà lý
th u y êt h à n h vi lại n h ấ n m ạnh việc diễn
Tạp chi Khoa học DHQGHN, KHXH & N V T.XXJI, SỔI, 2006
Trang 3tả ý định của các cá n h â n , các n h â n vật
hội thoại Nói chung, n h ữ n g người mở
đầu cho các k h u y n h hướng lý th u y ết mới
trên đây dù có n h ữ n g cách tiếp cận khác
nh au , th ậm chí q u a n tâm đến những
biểu hiện, n h ữ n g k h ía cạn h khác nhau
của ngôn từ n h ư n g đều có chung một
n h ậ n định là lý th u y ế t của Chomsky quá
h ạ n chế, không p h ù hợp để giải thích rấ t
nhiều thực tr ạ n g của ngôn ngữ, đặc biệt
là đòi sông của ngôn ngữ với tư cách là
một loại h à n h vi xã hội của con người
3 N ội dung lý th u y ế t
3.1 K h á i n iêm cô n g đ ồ n g ngôn từ
Đây là khái niệm lầ n đầu tiên do Dell
Hym es đưa ra đế tìm cơ sở lý giải cho
tính đa dạng của ngôn từ C ũng từ đó, nó
trở th à n h tâm điểm của nhiều lý thuyết
ngôn ngữ học xã* hội và gây được sự chú ý
đáng kể của giỏi n g h iên cứu
Việc định n g h ĩa k h á i niệm “cộng
đồng ngôn từ ' từ lâ u đã là một vấn đề
không mấy đơn giản tro n g ngôn ngữ học
xã hội Nó đã trở th à n h một vấn đề
g iành được sự q u a n tâ m đặc biệt của các
nhà nghiên cứu, n h ấ t là các n h à nghiên
cứu theo trường p h ái định lượng Theo
trường phái này, có ít n h ấ t ba q u an điểm
khác n h a u về cộng đồng ngôn từ, mỗi
quan điểm lại n h ấ n m ạ n h vào những khía
cạnh xã hội k hác n h a u của khái niệm
(1) Q uan điểm th ứ n h ấ t n hìn n h ận
cộng đồng ngôn từ n h ư là một sô" lượng
lớn d â n cư thuộc các giai tầ n g kinh t ế xã
hội khác n h a u n h ư n g cùng cư t r ú trên
một k h u vực địa lý đơn lẻ, thường là các
khu vực th à n h thị rộng lớn [chúng tôi
tạm dịch từ 6] Theo Keith W alter, đại
diện cho quan điểm này có w Labov
1972 với nghiên cứu cộng đồng ngôn từ New York, p Trudgill 1974 với nghiên cứu cộng đồng Norwich và một sô" nhà nghiên cứu khác được xem là n h ữ n g người theo k h u y n h hướng định lượng cổ
đ i ể n (“classic” - chúng tôi dịch nguyên gốc) Theo hướng tiếp cận này, các n h â n chứng thường được p h â n loại dựa trên
n hữ ng thông số’ xã hội khác n h a u n h ư giới, tuổi, th à n h p h ầ n kinh tế, nghề nghiệp và k ết quả của sự phân loại đó
là các nhóm xã hội
(2) Q uan điểm th ứ hai n h ìn n h ậ n cộng đồng ngôn từ n h ư một loại m ạng xã hội (social network) với tậ p hợp của các
cá n h â n trê n cơ sở một loại quan hệ nào
đó Có r ấ t nhiều loại quan hệ được tính đến ở đây như q u an hệ xóm giềng (neighbours), q u an hệ cùng m àu da hay quan hệ sắc tộc (skin), q u an hệ đồng nghiệp (workmates) rồi th ậm chí cả quan
hệ đồng môn (colleagues) Và, theo các
n h à nghiên cứu thì mỗi cá n h â n có th ể thuộc vể một hay một sô' m ạng xã hội khác n h a u tuỳ theo ý nguyện của cá
n h â n đó Đại diện cho quan điểm này là
L Milroy 1982 với lý th u y ết nổi tiếng về
m ạng xã hội và những phương pháp
p h â n tích m ạng xã hội, J Russell 1982
và một vài n h à nghiên cứu khác nữa (3) Q u an điểm th ứ ba về cộng đồng
ngôn từ thì chỉ chú ý đến cá n h â n tự bản
th â n nó (indiuisual him -or herself) hơn
là n hữ ng tầ n g lớp h a y nhóm kinh t ế - xã hội cho dù trên cơ sỏ của loại q u an hệ nào Đại biểu của quan điểm này là Le Page 1978 với nghiên cứu về cộng đồng song ngữ ở St Lucia Nghiên cứu này đưa
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, KHXH & NV, T.XXII, SỔI, 2006
Trang 46 8 Trịnh c ẩ m Lan
tác giả đến sự n h ìn n h ậ n về h à n h vi
ngôn ngữ như là n h ữ n g h à n h động nhậ n
thức (acts o f identity) Theo tác giả, mỗi
cá n h ân có th ể tạo lập cho m ình n hữ ng
hình thái ứng xử ngôn từ để thích hợp
với cái nhóm mà an h ta muôn n h ậ n thức,
và ngược lại, với cái nhóm m à a n h ta
muốn tách biệt
Q uan điểm th ứ n h ấ t, theo chúng tôi,
vừa rộng lại vừa hẹp Rộng ở chỗ cộng
đồng ở đây được n h ậ n diện theo tiêu chí
địa điểm cư tr ú là chính, nó có một sự
tương ứng tương đối vối một cộng đồng
phương ngữ địa lý, nó chỉ được h ạ n định
về m ặt địa lý mà không được h ạ n định về
b ấ t kỳ một tiêu chí xã hội nào khác Vì
thế, cộng đồng theo nghĩa n à y có th ể r ấ t
lớn và cũng có th ể r ấ t nhỏ n h ư n g cực kỳ
phức tạp và khó p h â n xuất Hẹp ở chỗ
quan điểm này chỉ nói về cộng đồng ngôn
từ ở các kh u vực th à n h thị, còn ở các k h u
vực nông thôn thì sao? Sẽ n h ư t h ế nào
nếu áp dụng quan điểm này ỏ các quốc
gia nông nghiệp vối tỉ trọng d â n cư nông
thôn lỏn hơn th à n h thị r ấ t nhiều?
Q uan niệm th ứ h ai q u a n niệm về
cộng đồng hẹp hơn, k ế t quả là nó có th ể
cho ra n h ữ n g cộng đồng chỉ tương ứng
với một nhóm xã hội hay n g h ề nghiệp
nào đó, đơn vị tương đương với các nhóm
sau khi p h â n loại theo q u a n điểm th ứ
n h ất Keith W alter cho rằ n g Labov là
người quan niệm về cộng đồng theo
hưống th ứ n h ấ t n h ư n g chúng tôi thì cho
rằn g ông đã khắc phục được sự vừa rộng
vừa hẹp của hai q u a n điểm trên Nghiên
cứu của Labov chọn vùng Đông th ấ p của
New York, một tiêu ch uẩn đia lý, nhưng
ông đã r ấ t th à n h công bởi sự sáng suốt
của ông là ở chỗ ông đã đưa vào sự lựa
chọn của m ình th êm một tiêu chí xã hội,
một sự n h ậ n diện xã hội khác - người M ỹ
da đen.
Q uan điểm th ứ ba do chỉ chú ý đến nhừng h à n h vi ngôn từ của cá n h â n để thích hợp vối nhóm mà cá n h â n đó đang giao tiếp n ên có một sự gần gũi n h ấ t
định với nội dun g L ý th u yết thích nghi (accom m odation theory) của Howard
Gills trong ứ n g xử ngôn từ và vì t h ế k h á i niệm cộng đồng ở đây đã lùi xuống vị trí
th ứ yếu
Sau khi tìm hiểu ba q u an điểm trê n đây, chúng tôi nghĩ rằng, có th ể quan niệm về cộng đồng ngôn từ một cách đầy
đủ n h ư sau: cộng đồng ngôn từ là một
tập hợp n h ữ n g người có chung m ột hay
m ột sô loại g iá trị xã hội nào đó k h i nhữ ng người này cùng sử d ụ n g m ột ngôn ngữ Theo cách hiểu này, một cộng đồng
ngôn từ có th ể có quy mô r ấ t nhỏ nhưng cũng có th ể có quy mô r ấ t lớn; có thể cư
tr ú ở th à n h thị n h ư n g cũng có th ể cư tr ú
ỏ nông thôn; có th ể là cộng đồng đơn ngữ, song ngữ hay đa ngữ
3.2 Nôi d u n g lý th u yết cộng đồng
n g ô n từ
Những nội d ung lý th u y ế t về cộng đồng ngôn từ được Hymes xây dựng trên
cơ sở n h ững quy lu ật về cách sử dụng ngôn từ thích hợp với cảnh huống
N hững qui l u ậ t này x á c định mối tương quan n h ấ t định giữa ngôn từ và cảnh huống M ặt khác, chúng cũng được xem như n hữ ng th iế t ch ế tạo nên cấu trúc của cộng đồng ngôn từ
Trong mối q u a n hậ với ngôn từ, cảnh huống (hay bối cảnh), theo Hymes bao
gồm các yếu tô" sau:
Tạp chi Khoa học ĐHQGHN, KHXtỉ & NV T.XXII, Số 1, 2006
Trang 5- Loại h ìn h giao tiếp như: giảng bài,
đọc diễn văn, m ua bán, họp hay đôi thoại
h à n g ngày được xét trong quan hệ
không th ể tách rời với phạm vi, môi
trường giao tiếp
- N h ữ n g yếu tô' trong bối cảnh như:
vai trò của người nghe và người nói trong
giao tiếp, loại ngôn ngữ giao tiêp (bằng
lời, bằng cử chỉ )
- Ch ức n ă n g của ngôn từ theo loại
h à n h vi ngôn từ như: để miêu tả, để biểu
thị th ái độ, để duy trì cuộc giao tiêp, để
th a y đổi th á i độ của người nghe, để tìm
kiến sự đồng th u ậ n
Cùng với sự tương thích n h ấ t định
giữa ngôn từ và cảnh huống, Hymes
n h ấ n m ạn h một k h á i niệm cơ b ả n của lý
th u y ế t này, khái niệm nă n g lực giao tiếp,
được xem là khả n ă n g sử d ụ n g ngôn từ
của cá n h â n để đ ạ t được tương thích nói
trên Khả n ă n g sử d ụ n g n à y cần thiết
phải được h iểu từ nghĩa hẹp đến nghla
rộng Đ ầu tiên, đó là k h ả n ăn g lựa chọn
n hữ ng biến th ể ngôn từ thích hợp với
cản h h uống giao tiếp để sử dụng Tiêp đó
là khả n ă n g duy trì và điều tiêt các môi
quan hệ tro n g giao tiếp Chức n ăn g của
việc sử dụn g ngôn từ theo quy lu ậ t (phù
hợp với cản h huống) k hông chỉ là tái tạo
và làm rõ vai trò cũng n h ư q u a n hệ giữa
người nói và người nghe m à còn duy trì
sự giao tiếp xã hội Ở một mức cao hơn,
có th ể nói, nó còn có chức n ă n g định hình
các q u an hệ xã hội và “tái tạo cáu trúc xã
hộỉ” [4].
N hững ý niệm có liên q u a n đên cộng
đồng ngôn từ của H ym es đưa đên một sô
hệ lu ận q u a n trọng, rằng:
- T hứ n h ấ t, m ột cộng đồng ngôn từ có
th ể sử dụng n h iều ngôn ngữ/ phương ngữ
khác n h a u để giao tiếp (cộng đồng đa ngữ/ đa phương ngữ) và theo đó sẽ có
nh ững quy lu ậ t về việc khi nào thì sử dụng ngôn ngữ/ phương ngữ này hay ngôn ngữ/ phương ngữ kia
- Thứ hai, n h ữ n g người nói cùng một ngôn ngữ có th ể thuộc về nhiều cộng đồng ngôn từ khác n h a u mà ví dụ điển
h ìn h là các cộng đồng phương ngữ với việc xây dựng n h ữ ng qui lu ậ t ngôn từ riêng cho m ình khác h ẳ n với các phương ngữ của cùng m ột ngôn ngữ chung đó
3.3 Phương p h á p nghiên cứu cộng
đ ồ n g ngô n từ Qua khảo sát, tìm hiểu một số công
trìn h nghiên cứu về cộng đồng ngôn từ, chúng tôi n h ậ n th ấy không thể không đồng tìn h với k ết lu ận của Gregory R
Guy rằn g thực t ế thì tấ t cả nhữ ng nghiên cứu trong lĩn h vực này cho đến nay đều được tiến h à n h theo kiểu p h â n tầng xã hội (social stratification) [3] mà w
Labov đã thực hiện ở cộng đồng người
Mỹ da đen tại New York Mục đích của phương pháp nghiên cứu này là khám phá ra các mô h ìn h và các mốì tương liên
về lượng mà trong đó th ể hiện các cấu trúc ngôn ngữ trong sự h à n h chức của chúng
Đối với phương pháp nghiên cứu này,
việc xác đ ịn h p h ạ m vi của bối cảnh là
điều quan trọng V ấn đề này cũng gây không ít tr a n h luận Labov thì n h ấn
m ạn h tỏi h à n g loạt các n h â n tổ’ thuộc về
đặc tín h của các th à n h viên th am gia giao tiếp n h ư n h ư giới tính, tuôi tác, chủng tộc, g ia i tầng k in h t ế - xã hội
th ậm chí ông còn m ang cả vào danh sách
này yếu tô"p h o n g cách và xem nó như là
Tạp chí Khoa học Đ H Q G H N , KHXH & NV, T.XXJI, Sô 1, 2006
Trang 67 0 Trịnh c ẩ m Lan
“sự lưu tăm trong sử d ụ n g ngôn t ừ ’ hay
là “mức độ chú ý đối với lời n ó i”.
Một sô' n h à nghiên cứu b ìn h diện dân
tộc học của ngôn từ thì k hông đồng ý n h ư
vậy vì theo họ phong cách k h ô n g liên
quan gì đến sản p h ẩm ngôn ngữ Họ cho
rằng, phạm vi của bối cảnh cần p h ả i hẹp
hơn nhiều, nó chỉ bao gồm người nói,
người nghe và tìn h huống g ia o tiếp tức
thời trong đó h à n h vi lời nói được thực
hiện Tuy nhiên, thực t ế n g h iê n cứu và
k ết quả nghiên cứu nhiều cộng đồng
ngôn từ khác n h a u n h ư cộng đồng da
đen ỏ Neww York trong n g h iê n cứu của
Labov 1972 [8], cộng đồng Norwich trong
nghiên cứu của Trudgill 1974 [2], cộng
đồng Belfast trong nghiên cứu của
Milroy 1980 [11], cộng đồng Q u ả n g Đông
ở Hồng Kông trong nghiên cứu của
B auer 1983 [1] và cộng đồng Nghệ
Tĩnh ở Hà Nội trong n g h iên cứu của
chúng tôi - T rịnh c ẩ m L an 2003 [9] đều
cho thấy ảnh hưởng của p h o ng cách đô'i
với ngôn từ là không th ể bỏ q u a được
Gum per thì lại cho r ằ n g p h ạ m vi bối
cảnh cần được q u an tâm trưốc h ế t trong
n h ữ ng nghiên cứu này là cái m à ông gọi
là “tìn h huống p h i giao tiếp" tro n g đó
h à n h vi lời nói diễn ra và h à n h vi lời nói
gắn với tình huông ấy [1],
Một số quan điểm khác lại cho rằ n g
các đặc tính khác cần q u a n t â m của bốì
cảnh mà họ cho là p h ù hợp với ngôn từ
bao gồm các n h â n tố n h ư tri thức, ý đ ịn h ,
giả định, hàm ý C húng có t h ể bao gồm
(1) Các hàn h vi p h i lời n h ư n g có nghĩa
đ i trước, đ i cùng h ay đì sa u h à n h vi lời
nói đó; (2) Đặc điểm của q u a n hệ người
nói - người nghe ở vào thời đ iể m h à n h vi
lời nói được thực hiện; và (3) Đ ặc điểm
về người nói và người nghe được các
th à n h viên trong cộng đồng biết đến n h ư giới tính, tuổi tác, trìn h độ văn hóa, chủng tộc v.v
Mặc dù mỗi n h à nghiên cứu đ ề u cố gắng th ể hiện bằng cách này h a y cách khác quan điểm của m ình vê p h ạ m vi của bôi cảnh và quan điểm của họ ít nhiều không giông n h a u xong t ấ t cả
cùng chung ở sự coi trọng thực sự đối với
các bôi cảnh và quan niệm cho r ằ n g môi quan hệ qua lại giữa ngôn từ và bối cản h
là hiện hữu và không được phép bỏ qua, chỉ có điều, họ khác n h a u ở sự n h ìn n h ậ n mức độ quan trọng của bôi cảnh, và trong hai m ặt của nó: m ặt xã hội và m ặ t ngôn ngữ, họ coi trọng m ặt nào hơn?
Sự lựa chọn bôi cảnh n h ư vậy có liên
q uan đến phương cách thực hiện Để thực hiện nghiên cứu này, tư liệu thường
được th u th ậ p từ các điều tra điền dã hay còn gọi là nghiên cứu thực đ ịa (field research) và là k ết quả tổng hợp n h ữ ng
n h â n tô mà tác giả cho là thuộc về bôi cảnh Tư liệu có th ể bao gồm nhiều dạng khác n h a u có liên q u a n đến mục tiêu nghiên cứu của từng đề tài Việc th iế t k ế nghiên cứu h a y chọn m ẫ u nghiên cứu cũng cần được coi trọng vì nó là sự đảm bảo đầu tiên đôi với th à n h công của nghiên cứu
Như tấ t cả các n h à ngôn ngữ học xã hội khác, các n h à nghiên cứu thực hiện ở các cộng đồng ngôn từ thường lấy đơn vị
nghiên cứu là các biến th ể (variation, variant hay variety) của các biến ngôn ngữ (u ariable) nào đó tro n g môi tương quan với các biến xã hội (social variable), phương pháp phố biến là p h â n tích định lượng để tìm sự đồng biên giữa hai loại
Tạp chi Khoa học ĐHQGHN.KHXH & NV, T.XXII, Sô7 , 2006
Trang 7biến đó Cách p h ân tích chủ yếu n h ấ t
thường được áp dụn g là p h â n tích môi
tương quan giữa hai biến thường là một
biến ngôn ngữ và một biên xã hội Trong
trường hợp người nghiên cứu nghi ngờ
r à n g tương quan đó có th ể bị gây nhiễu
bởi một biến thứ ba thì phải dùn g một
cách p h ân tích phức tạp hơn n h ư n g cũng
cho ra độ tin cậy thông kê cao hơn là
p h ả n tích m ối tương quan giữ a ba biến
h a y nhiều hơn N hững mối tương quan
có ý nghĩa về m ặt thông kê theo cách
p h â n tích này được coi n hư n h ữ n g đường
đồng biến
TÀI L IỆ U T H A M K H Ả O
1 Bauer R s, Cantonese Sociolinguistics Patterns: Correlating social characteristics of speakers with phonological variable in Hong Kong Cantonese, Docteral Thesis,
Copyright 1983 by Bauer, Robert Stuart, University of California, Berkeley
2 Chamber J.K & Trudgill p, Dilcctology, Cambridge University Press, Cambridge
1980
Volume 4, 1990
4 Lương Văn Hy, Ngôn từ, giới và nhóm xã hội từ thực tiễn tiếng Việt, NXB KHXH, Hà
Nội, 2000
Philadelphia: University of Pennsylvania, 1974
6 Keith Walters, Dialectology, Linguistics: Investigation, Cambridge, Volume 4, 1990.
7 Nguyễn Văn Khang, Ngôn ngữ học xã hội - những vấn đề cơ bản, NXB Khoa học xã hội,
Ha Nội, 1999
8 Labov.w, The Social Stratification o f (r) in New York city Department Stotes,
Sociolinguistics Pattern, Copyright 1972, University of Pensylvama Press, 1972
9 Trịnh c ẩ m Lan, Nghiên cứu hiện tượng biến đổi ngôn từ của những người từ các phương ngữ khác đến Hà Nội (Trên cứ liệu cách phát âm của người Nghệ Tĩnh ở Hà
Nội), Đề tài NCKH cấp Trường Đại học KHXH & NV, Đại học Quốc gia Hà Nội
10 Lavendera B R, The study o f language in its socio-cultural context, Linguistics:
Investigation, Cambridge, Volume 4, 1990
11 Milroy, L., Language and Social Networks, Basil Blackwell, Oxford, 1980.
12 Trudgill p, Sociolinguistics - An introduction to language and Society, New Edition,
Penguin Books, England, 1974
T rên đây là n h ữ n g tiếp n h ậ n của
ch ú n g tôi sa u k h i tìm hiểu lý th u y ết cộng đồng ngôn từ với việc nghiên cứu ngôn ngữ tro n g bôi cảnh văn hóa - xã hội của
nó Đây là m ột lý th u y ết mới được bắt đầu áp d ụ n g tro n g nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội ở Việt Nam và bước đầu đã
th u được n h ữ n g th à n h công đầy ấn tượng Hy vọng rằng, càng ngày, lý
th u y ế t và phương pháp này càng được
q u a n tâ m và á p dụng rộng rãi trên thực tiễn tiến g Việt
Tạp chí Khoa liọc ĐHQGHN, KHXH & N V , T.XXII, SỔI, 2006
Trang 87 2 Trịnh c ẩ m Lan
VNU JOURNAL OF SCIENCE, soc., SCI., HUMAN, T.XXII, NpỊ 2006
THE SPEECH COMMUNITY THEORY AND THE STUDY OF
LANGUAGE IN ITS SOCIO-CULTURAL CONTEXT
Dr T r in h C am L a n
College o f Social Sciences and H um anities, VNU
The report points out th e b irth of one of theory tren d s in W estern sociolinguistics in
th e 60-70th decade of the 20th century after N Chom sky’s theory This is successful tren d with an a m o u n t of researchers
The Speech com m unity theory given by Dell Hymes in order to explain th e diversity
of speech The content of rep o rt points out the following problems:
- Explaining the concept “speech comm unity” by analyzing different points of view related to this concept
- Major contents of this theory with the im p o rtan t point is th e study of language in its socio-cultural context, with rules of using language sq u ared with context or rules of correlating between speech an d context
- Object and methodology of th e study of speech community
Tap chi Khoa hoc DHQGHN, KHXH á NV, T.XX1I S o l , 2006