1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Nghiên cứu thống kê quy mô, cơ cấu, tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định của công ty đúc Tân Long thời kỳ 1999-2005

66 401 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thống kê quy mô, cơ cấu, tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định của công ty đúc Tân Long thời kỳ 1999-2005
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 747,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất nước chúng ta đang trên con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá, xây dựng nền công nghiệp vững mạnh là một tiền đề quan trọng để đất nước phát triển. Đi lên cùng đất nước, công ty đúc Tân Long luôn luôn không ngừng phấn đấu sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động của mình, hoàn thành tốt các công việc mà Đảng và nhà nước giao phó đồng thời mang lại cuộc sống ổn định cho cán bộ công nhân viên. Một doanh nghiệp để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao cần bao gồm nhiều yếu tố trong đó có yếu tố tài sản cố định. Là một doanh nghiệp công nghiệp, hoạt động sản xuất của công ty đúc Tân Long phụ thuộc rất nhiều vào tài sản cố định. Vì vậy em lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu thống kê quy mô, cơ cấu, tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định của công ty đúc Tân Long thời kỳ 1999-2005 ”. Trong khuôn khổ của chuyên đề, em xin trình bày một số vấn đề cơ bản sau: Chương I. Những vấn đề chung về tài sản cố định của doanh nghiệp Chương II: Lựa chọn hệ thống chỉ tiêu và các phương pháp thống kê vận dụng để nghiên cứu quy mô, cơ cấu, tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp Chương III: Vận dụng một số phương pháp thống kê để phân tích quy mô, cơ cấu, tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định của công ty đúc Tân Long thời kỳ 1999-2005 Trong chuyên đề này, em phân tích quy mô, cơ cấu, tình hình sử dụng và đưa ra một vài giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ trong công ty trong thời gian tới.

Trang 1

bộ công nhân viên

Một doanh nghiệp để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quảcao cần bao gồm nhiều yếu tố trong đó có yếu tố tài sản cố định Là một doanhnghiệp công nghiệp, hoạt động sản xuất của công ty đúc Tân Long phụ thuộc rất

nhiều vào tài sản cố định Vì vậy em lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu thống kê quy

mô, cơ cấu, tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định của công ty đúc Tân Long thời kỳ 1999-2005 ” Trong khuôn khổ của chuyên đề, em xin trình bày

một số vấn đề cơ bản sau:

Chương I Những vấn đề chung về tài sản cố định của doanh nghiệp

Chương II: Lựa chọn hệ thống chỉ tiêu và các phương pháp thống kê vậndụng để nghiên cứu quy mô, cơ cấu, tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản

cố định của doanh nghiệp

Chương III: Vận dụng một số phương pháp thống kê để phân tích quy mô,

cơ cấu, tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định của công ty đúc TânLong thời kỳ 1999-2005

Trong chuyên đề này, em phân tích quy mô, cơ cấu, tình hình sử dụng vàđưa ra một vài giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ trong công tytrong thời gian tới

Trang 2

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH

CỦA DOANH NGHIỆP:

I KHÁI NIỆM TÀI SẢN CỐ ĐỊNH

Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm đến tài sản cố định, bởi vì

nó là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong quá trình sản xuất Để sản xuấtkinh doanh, bên cạnh lao động, đối tượng lao động, doanh nghiệp cần phải có tưliệu lao động và tài sản cố định là một bộ phận của tư liệu lao động

Tài sản cố định là bộ phận quan trọng trong quá trình sản xuấtT, thường cógiá trị lớn và được sử dụng lâu dài Trong quá trình sản xuất kinh doanh, hình tháivật chất của tài sản cố định hầu như không thay đổi đồng thời đóng góp dần giá trịcủa mình vào kết quả sản xuất kinh doanh

II PHÂN LOẠI TÀI SẢN CỐ ĐỊNH CỦA DOANH NGHIỆP

Trong mỗi doanh nghiệp có nhiều loại tài sản cố định tuỳ theo tính chất,chức năng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó Và các TSCĐ cóchức năng, đặc điểm kỹ thuật, công dụng, đơn vị đo lường, năng suất… khác nhau

do đó doanh nghiệp phải tiến hành phân loại chúng Việc phân loại TSCĐ còn đểthuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán và nghiên cứu về tài sản cố định trongdoanh nghiệp Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, có thể phân loại TSCĐ căn cứ theocác tiêu thức chủ yếu sau:

1 Theo công dụng kinh tế:

Phân loại tài sản cố định theo công dụng kinh tế giúp ta thấy được vai tròcủa từng loại TSCĐ đối với hoạt động sản xuất Theo cách phân loại này, tài sản

cố định gồm TSCĐ dùng cho sản xuất và TSCĐ dùng cho không sản xuất Sự khácbiệt giữa hai loại tài sản cố định này là ở phương thức chu chuyển giá trị

Trang 3

Giá trị tài sản cố định dùng cho sản xuất sẽ giảm và chuyển dần giá trị củamình vào giá trị sản phẩm sản xuất ra và được thu hồi dần qua khấu hao, được tíchluỹ lại hình thành quỹ hay vốn khấu hao để tái sản xuất giản đơn tài sản cố định

Giá trị tài sản cố định dùng cho không sản xuất giảm và nguồn vốn để táisản xuất chúng là tiết kiệm (để dành®) thuần

2 Theo đặc tính hay hình thái biểu hiện:

Mỗi tài sản cố định có hình thái biểu hiện khác nhau do đó có phương thức

sử dụng, lưu trữ, bảo dưỡng… khác nhau Việc phân loại TSCĐ theo hình thái biểuhiện sẽ giúp doanh nghiệp có thể sử dụng, lưu trữ, bảo dưỡng từng loại TSCĐ mộtcách tốt nhất

- Máy móc, thiết bị: gồm các loại máy móc, thiết bị dùng trong sản xuất,kinh doanh

- Phương tiện, vận tải truyền dẫn: gồm ôtô, máy kéo, tàu thuyền, toa xe, hệthống thiết bị truyền dẫn như băng tải, hệ thống đường ống dẫn nước, dẫn nhiênliệu, hệ thống đường dây điện, truyền thanh thông tin …

- Thiết bị, dụng cụ quản lý: gồm các thiết bị, dụng cụ phục vụ cho việc quản

lý kinh doanh, quản lý hành chính như các thiết bị điện tử, dụng cụ đo lường, máy

vi tính, máy fax…

- Cây lâu năm, súc vật làm việc: gồm các loại cây lâu năm (chè, cao su, càphê…) và xúc vật làm việc (trâu, bò, ngựa, voi cày kéo)

Trang 4

- Tài sản cố định hữu hình khác: gồm các loại tài sản cố định chưa được xếpvào các loại trên như tác phẩm nghệ thuật, sách chuyên môn kỹ thuật.

Tài sản cố định hữu hình nói chung có các đặc điểm sau: Thứ nhất tham giavào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và vẫn giữ nguyên được hình thái vật chấtban đầu cho đến khi hư hỏng phải loại bỏ Thứ hai, trong quá trình sử dụng, nó bịhao mòn dần và đóng góp từng phần giá trị của mình vào chi phí sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp

2.2/ Tài sản cố định vô hình:

Là các tài sản không tồn tại dưới các hình thái vật chất cụ thể, nhưng xácđịnh được giá trị và do doanh nghiệp nắm vững, sử dụng trong sản xuất kinh doanhhoặc cho các đơn vị khác thuê

- Quyền sử dụng đất có thời hạn: bao gồm số tiền doanh nghiệp đã chi ra để

có quyền sử dụng đất trong một thời gian nhất định, chi phí cho đền bù, giải phóngmặt bằng, san lấp mặt bằng, lệ phí trước bạ…không bao gồm các chi phí chi ra đểxây dựng các công trình trên đất

- Nhãn hiệu hàng hoá: là các chi phí thực tế doanh nghiệp đã chi ra liên quantrực tiếp tới việc mua nhãn hiệu hàng hoá

- Quyền phát hành: là toàn bộ các chi phí thực tế doanh nghiệp đã chi ra để

- Bản quyền, bằng sáng chế: là các chi phí thực tế chi ra để có bản quyền tácgiả, bằng sáng chế

Trang 5

- Công thức và cách pha chế, kiểu mẫu, thiết kế và vật mẫu: là các chi phíthực tế doanh nghiệp đã chi ra để có công thức và cách thức pha chế, kiểu mẫu,thiết kế và vật mẫu.

- Tài sản cố định vô hình đang triển khai: các tài sản vô hình tạo ra trong giaiđoạn triển khai

3 Theo quyền sở hữu:

Theo quyền sở hữu, tài sản cố định của doanh nghiệp được chia thành tài sản

cố định tự có và tài sản cố định thuê ngoài Việc phân loại TSCĐ theo tiêu thứcnày giúp doanh nghiệp có kế hoạch sử dụng TSCĐ một cách hợp lý

3.1/ Tài sản cố định tự có:

Là tài sản được mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách cấp, nguồnvốn vay, nguồn vốn tự bổ xung, nguồn vốn liên doanh, các quỹ của doanh nghiệp

và các tài sản cố định đựơc biếu tặng…có nghĩa đây là những tài sản cố định thuộc

sở hữu của doanh nghiệp

3.2/ Tài sản cố định thuê ngoài:

Là tài sản đi thuê để sử dụng trong một thời gian nhất định theo hợp đồngthuê tài sản Căn cứ vào các điều khoản trong hợp đồng thuê tài sản mà tài sản cốđịnh đi thuê được chia thành:

a, Tài sản cố định thuê tài chính:

Hợp đồng thuê tài sản được coi là hợp đồng thuê tài chính khi thoả mãn ítnhất một trong các trường hợp sau:

- Nếu bên thuê huỷ bỏ hợp đồng và đền bù tổn thất phát sinh liên quan đếnviệc huỷ hợp đồng cho bên thuê

- Thu nhập tổn thất do sự thay đổi giá trị hợp lý của giá trị còn lại của tài sảnthuê gắn với bên thuê

- Bên thuê có khả năng tiếp tục thuê lại tài sau khi hết hạn hợp đồng thuê vớitiền thuê thấp hơn giá thuê thị trường

Trang 6

Tài sản cố định thuê tài chính cũng được coi là tài sản cố định của doanhnghiệp nên doanh nghiệp có trách nhiệm quản lý, sử dụng và trích khấu hao như tàisản cố định tự có của mình.

b, Tài sản cố định thuê hoạt động: là tài sản cố định thuê nhưng không thoả

mãn một điều khoản nào của hợp đồng thuê tài chính Bên đi thuê chỉ được quản

lý, sử dụng tài sản trong thời hạn của hợp đồng thuê và phải hoàn trả cho bên chothuê khi kết thúc hợp đồng

Bên cạnh các tiêu thức phân loại trên, tài sản cố định còn được phân chiatheo một số tiêu thức khác:

- Theo nguồn hình thành: tài sản cố định được chia ra tài sản cố định muasắm, xây dựng bằng nguồn vốn pháp định; bằng vốn đầu tư xây dựng cơ bản; bằngnguồn vốn tín dụng; bằng nguồn vốn cổ phần, liên doanh, liên kết

- Theo vai trò trong quá trình sản xuất: tài sản cố định chia ra tài sản cố địnhtích cực và tài sản cố định thụ động

III Nghiên cứu số lượng và giá trị tài sản cố định:

1 Nghiên cứu số lượng tài sản cố định:

Số lượng tài sản cố định được xác định dưới hình thái hiện vật và dưới hìnhthái này tài sản cố định được chia ra thành các loại khác nhau căn cứ theo côngdụng, chức năng kỹ thuật, đơn vị đo lường, thời gian sử dụng…Vì vậy muốn thống

kê số lượng tài sản cố định thì ta phải tiến hành phân loại chúng Chỉ tiêu số lượngtài sản cố định là chỉ tiêu tuyệt đối thời điểm

Xác định số lượng tài sản cố định theo hình thái hiện vật có tác dụng rất lớntrong việc nghiên cứu quy mô của từng loại tài sản cố địnhX, là cơ sở để lập kếhoạch mua sắm, sửa chữa, hiện đại hoá và tái sản xuất tài sản cố định trong từngdoanh nghiệp, từng ngành cũng như trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Tuy nhiênviệc nghiên cứu tài sản cố định dưới hình thái hiện vật không cho phép tổng hợp

Trang 7

toàn bộ tài sản cố định của từng doanh nghiệp, từng ngành và toàn bộ nền kinh tếquốc dân Do đó chúng ta cần có một cách đánh giá khác về quy mô tài sản cố định

- nghiên cứu thống kê giá trị tài sản cố định

2 Nghiên cứu thống kê giá trị của tài sản cố định:

Thống kê giá trị tài sản cố định thực chất là nghiên cứu tài sản cố định dướihình thái giá trị (tiền) từ đó cho phép đánh giá tổng hợp toàn bộ tài sản cố định củatừng doanh nghiệp, từng ngành và toàn bộ nền kinh tế quốc dân Chỉ tiêu giá trị tàisản cố định là chỉ tiêu tuyệt đối thời điểm Nghiên cứu thống kê giá trị tài sản cốđịnh cho phép ta xác định tổng giá trị tài sản cố định đã đầu tư ban đầu, tổng giá trịtài sản cố định đã hao mòn và tổng giá trị tài sản cố định còn lại Muốn vậy ta phảiđánh giá tài sản cố định theo các loại giá khác nhau: Giá ban đầu hoàn toàn, giákhôi phục hoàn toàn, giá ban đầu còn lại, giá khôi phục còn lại

* Giá ban đầu hoàn toàn:

Giá ban đầu hoàn toàn tài sản cố định là toàn bộ các chi phí doanh nghiệpphải bỏ ra để có được tài sản cố định tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạngthái sẵn sàng sử dụng (TSCĐ hữu hình) hay thời điểm đưa tài sản đó vào sử dụngtheo dự tính (TSCĐ vô hình) hay nói cách khác là toàn bộ chi phí để mua sắm hoặcxây dựng mới, chuyên chở, lắp đặt và chạy thử (nếu có) tài sản cố định đó vào thời

kỳ hình thành nó

Đánh giá tài sản cố định theo giá ban đầu hoàn toàn phản ánh đúng quy mônguồn vốn thực tế bỏ ra để có tài sản cố định, là cơ sở để tính khấu hao TSCĐ vàlập bảng cân đối TSCĐ Tuy nhiên do thời kỳ mua sắm hoặc xây dựng khác nhaunên cùng một loại tài sản cố định trong doanh nghiệp lại có nhiều giá ban đầu khácnhau gây khó khăn cho việc so sánh và nghiên cứu các chỉ tiêu về sử dụng tài sản

cố định Bên cạnh đó, đánh giá TSCĐ định theo giá ban đầu hoàn toàn không xácđịnh được trạng thái và giá trị còn lại của TSCĐ, không cho phép nghiên cứu biếnđộng thuần tuý về mặt khối lượng của TSCĐ

Trang 8

*Giá trị khôi phục hoàn toàn:

Giá khôi phục của TSCĐ là giá trị ban đầu hoàn toàn của tài sản cố địnhcùng loại được tái sản xuất trong điều kiện hiện tại của nền sản xuất xã hội vàothời điểm nghiên cứu, là tổng số tiền cần thiết để mua sắm, xây dựng, chuyên chở,lắp đặt và chạy thử (nếu có) TSCĐ trong điều kiện hiện tại

Đánh giá TSCĐ theo giá trị khôi phục hoàn toàn thực chất là đánh giá lại giátrị của những tài sản cố định cùng loại đã được sản xuất ở các thời kỳ khác nhautheo một giá thống nhất trong điều kiện hiện tại Cách đánh giá này giúp ta nắmđược tổng nguồn vốn để trang bị lại tài sản cố định ở tình trạnh mới nguyên từ đóxác định được mức độ hao mòn vô hình của TSCĐ và lập bảng cân đối TSCĐ

Tuy nhiên dùng loại giá này cũng không cho phép xác định được trạng thái

và giá trị còn lại của TSCĐ đồng thời để đánh giá tài sản cố định thao giá khôiphục hoàn toàn cần phải tổ chức tổng kiểm kê TSCĐ - là một công việc phức tạp

và tốn nhiều công sức

* Giá còn lại:

Giá còn lại của TSCĐ là hiệu số giữa giá ban đầu hay giá khôi phục hoàntoàn với tổng hao mòn của TSCĐ:

Giá trị còn lại = Giá ban đầu (giá khôi phục) - Tổng hao mòn

của TSCĐ hoàn toàn của TSCĐ của TSCĐ

Đánh giá TSCĐ theo giá còn lại phản ánh tương đối chính xác trạng thái,năng lực sản xuất của TSCĐ, phản ánh số tiền còn lại cần phải tiếp tục thu hồi dướihình thức khấu hao Trong đó đánh giá TSCĐ theo giá khôi phục còn lại phản ánhđúng đắn nhất hiện trạng của tài sản cố định vì nó đã loại trừ cả hao mòn hữu hình

và hao mòn vô hình

IV VAI TRÒ CỦA TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP:

Trang 9

Để tiến hành sản xuất kinh doanh mỗi doanh nghiệp cần phải đảm bảo nhiềuyếu tố sản xuất khác nhau, ngoài sức lao động và đối tượng lao động, doanh nghiệpcần phải có tư liệu lao động và tài sản cố định là một loại tư liệu lao động quantrọng Tài sản cố định là một bộ phận của của cải quốc dân và nó giữ một vai tròquan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Thứ nhất, trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, cùng với sức laođộng, tài sản cố định đã góp phần biến những tư liệu đầu vào thành sản phẩm đầu

ra mang lại doanh thu, lợi nhuận cho doanh nghiệp Đây là một chức năng quantrọng hàng đầu của mỗi doanh nghiệp Như vậy, tài sản cố định là một loại tư liệuquan trọng góp phần thực hiện chức năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Thứ hai, việc mở rộng và đổi mới tài sản cố định tức là nâng cao trình độkhoa học kỹ thuật cho sản xuất, từ đó giảm sự lao động nặng nhọc cho công nhân ởcác doanh nghiệp đồng thời mang lại năng suất cao, tạo ra nhiều sản phẩm, manglại lợi nhuận cao Tuy nhiên, việc sử dụng nhiều loại tài sản cố định kỹ thuật caovào sản xuất đòi hỏi người lao động cần có tay nghề, trình độ nhất định

Thứ ba, tài sản cố định là một bộ phận của của cải quốc dân, do đó việc mởrộng tài sản cố định cũng là mở rộng quy mô của cải quốc dân từ đó phát huy khảnăng khai thác, sử dụng cho hoạt động kinh tế xã hội

Tóm lại, tài sản cố định có vai trò quan trọng không chỉ trong hoạt động sảnxuất kinh doanh của từng doanh nghiệp mà còn trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Trang 10

CHƯƠNG II: LỰA CHỌN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ VẬN DỤNG ĐỂ NGHIÊN CỨU QUY MÔ, CƠ CẤU, TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ

DỤNG TÀI SẢN CỐ ĐỊNH CỦA DOANH NGHIỆP:

I LỰA CHỌN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH CỦA DOANH NGHIỆP:

1 Sự cần thiết phải lựa chọn hệ thống chỉ tiêu thống kê tài sản cố định của doanh nghiệp:

Mỗi doanh nghiệp khác nhau thì tính toán, so sánh, sử dụng các chỉ tiêu khácnhau khi nghiên cứu thống kê về tài sản cố định Khi nghiên cứu về tài sản cố định,công ty đúc Tân Long đang tính toán một số chỉ tiêu như sau:

- Số lượng tài sản cố định đầu kỳ, cuối kỳ K DK, K CK

- Số lượng tài sản cố định bình quân trong kỳ K

- Mức khấu hao năm C1

- Mức trang bị TSCĐ cho lao động M K

Việc phân tích các chỉ tiêu này tuy đã phản ánh đúng đắn song chưa toàndiện về tình hình sử dụng TSCĐ ở công ty Do đó phải tiến hành lựa chọn và hoànthiện hệ thống chỉ tiêu thống kê TSCĐ ở công ty

2 Nguyên tắc lựa chọn hệ thống chỉ tiêu thống kê tài sản cố định của doanh nghiệp:

Hệ thống chỉ tiêu thống kê TSCĐ của doanh nghiệp cần phải đảm bảo một

số nguyên tắc sau:

- Đảm bảo tính hướng đích: mỗi chỉ tiêu thống kê về TSCĐ phải đảm bảophục vụ cho một mục đích nghiên cứu nhất định Tránh việc tính toán, sử dụng cácchỉ tiêu ngoài mục đích gây tốn thời gian, công sức tính toán

Trang 11

- Đảm bảo tính hệ thống: các chỉ tiêu thống kê phải có mối liên hệ mật thiếtvới nhau, việc tính toán chỉ tiêu này cũng là tiền đề, cơ sở để tính toán, so sánh cácchỉ tiêu khác Và các chỉ tiêu này phải đảm bảo tính so sánh được Ví dụ khi có chỉtiêu về giá trị TSCĐ bình quân và lao động bình quân ta có thể tính toán chỉ tiêumức trang bị TSCĐ cho lao động…

- Đảm bảo tính khả thi: mỗi chỉ tiêu phải đảm bảo khả năng tính toán, sosánh thành công, nghĩa là chỉ tiêu này phải đảm bảo có nguồn số liệu tương ứng đểtính toán nó

- Đảm bảo tính hiệu quả: việc tính toán, so sánh các chỉ tiêu phải mang lạimột kết quả nhất định, phục vụ cho một mục đích nhất định, tránh gây lãng phícông sức, thời gian, tiền của khi tính toán chúng

- Đảm bảo tính linh hoạt: mỗi chỉ tiêu thống kê có thể tính toán bằng nhiềucách khác nhau để phù hợp với điều kiện về số liệu

3 Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê tài sản cố định của doanh nghiệp:

3.1/ Nhóm chỉ tiêu thống kê quy mô tài sản cố định:

Khi thống kê quy mô hay số lượng tài sản cố định tức là thống kê số lượngTSCĐ hiện có của doanh nghiệp Số lượng TSCĐ hiện có là số lượng TSCĐ doanhnghiệp đã đầu tư mua sắm, xây dựng, đã làm xong thủ tục bàn giao đưa vào sửdụng, đã được ghi vào sổ TSCĐ của doanh nghiệp Số lượng TSCĐ hiện có củadoanh nghiệp được thống kê theo hai chỉ tiêu: Số lượng TSCĐ có đầu kỳ, cuối kỳ

và số lượng TSCĐ có bình quân trong kỳ

a, Số lượng tài sản cố định có đầu kỳ và cuối kỳ:

Ta có thể nghiên cứu số lượng tài sản cố định có đầu kỳ hay cuối kỳ theohình thái hiện vật hoặc giá trị Theo hình thái hiện vật, ta chỉ có thể xác định sốlượng hay quy mô của từng loại TSCĐ tại thời điểm đầu kỳ hay cuối kỳ Theo hình

Trang 12

thái giá trị (tiền), ta có thể xác định được quy mô của toàn bộ tài sản cố định củadoanh nghiệp

Tuy nhiên xét theo hình thái nào thì số lượng tài sản cố định có đầu kỳ haycuối kỳ đều phản ánh quy mô, số lượng tài sản cố định hiện có của doanh nghiệptại hai thời điểm đầu kỳ và cuối kỳ Đây là chỉ tiêu tuyệt đối thời điểm Hai chỉ tiêunày cho ta biết tiềm năng về tài sản cố định của doanh nghiệp ở các thời điểm từ đó

có kế hoạch sử dụng trong thời kỳ tới Muốn có đựơc các chỉ tiêu này ta cần cónguồn số liệu về từng loại (nếu xét theo hình thái hiện vật) cũng như giá trị củatoàn bộ tài sản cố định (nếu xét theo hình thái giá trị)

b, Số lượng tài sản cố định bình quân trong kỳ:

Số lượng tài sản cố định bình quân trong kỳ (K ) cũng có thể tính theo hìnhthái hiện vật hoặc giá trị do đó cũng có thể xác định cho từng loại hay toàn bộ tàisản cố định Số lượng tài sản cố định bình quân trong kỳ phản ánh quy mô củatừng loại hay toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp trong thời kỳ nghiên cứu.Đây là chỉ tiêu tuyệt đối thời kỳ, có thể được xác định theo nhiều cách khác nhau:

n K K

ij

K : Số lượng TSCĐ i có trong ngày j của kỳ tính toán (những ngày nghỉ

lễ, nghỉ thứ bảy và chủ nhật thì lấy số lượng TSCĐ có ở ngày liền trước đó);

n : Số ngày theo lịch của ngày tính toán;

n ij : Tần số xuất hiện K ij trong kỳ tính toán;

ij n ij : Tổng các tần số ( ij n ij = n )

* Tính từ dãy số thời điểm có khoảng cách thời gian bằng nhau:

Trang 13

1

2

K K

in in i

i i

K i1, K i2,…, K in : Số lượng TSCĐ i có ở thời điểm thứ 1, thứ 2,…., thứ

n trong kỳ tính toán;

n : Số thời điểm thống kê được số lượng TSCĐ i trong kỳ tính toán

* Tài sản cố định có bình quân trong kỳ được tính chung cho các loại tài sản cố định khác nhau:

Giá trị TSCĐ có Giá ban đầu hoàn toàn + Giá ban đầu hoàn toàn bình quân trong kỳ = TSCĐ có ở đầu kỳ TSCĐ có ở cuối kỳ

(theo giá ban đầu hoàn toàn) 2

Chỉ tiêu này phản ánh quy mô tài sản cố định của doanh nghiệp đã đầu

tư cho sản xuất, kinh doanh trong kỳ tính theo giá ban đầu hoàn toàn

3.2/ Nhóm chỉ tiêu thống kê cơ cấu tài sản cố định:

Việc nghiên cứu cơ cấu của tài sản cố định có ý nghĩa rất quan trọng, kết cấuTSCĐ phản ánh tỷ trọng của từng loại hay nhóm TSCĐ trong toàn bộ tài sản cốđịnh của doanh nghiệp:

k K K i

K i

k K i : Kết cấu của loại hay nhóm TSCĐ i trong toàn bộ TSCĐ của doanhnghiệp;

K i : Giá trị của loại hay nhóm TSCĐ i

K : Tổng giá trị TSCĐ của doanh nghiệp

Từ công thức trên cho thấy kết cấu tài sản cố định có thể được tính cho từngthời điểm hoặc tính bình quân cho kỳ nghiên cứu trong đó K i và K được tính theonguyên giá hoặc giá đánh giá lại Việc nghiên cứu kết cấu tài sản cố định củadoanh nghiệp cho thấy đặc điểm trang bị kỹ thật của đơn vị, từ đó có kế hoạch điềuchỉnh, lựa chọn cơ cấu đầu tư tốt nhất

Trang 14

3.3/ Nhóm chỉ tiêu thống kê tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp:

a, Thống kê khấu hao tài sản cố định trong doanh nghiệp:

Trong quá trình sử dụng tài sản cố định bị hao mòn, giảm dần giá trị và cuốicùng bị thanh lý Tài sản cố định dùng cho sản xuất sẽ chuyển dần giá trị của mìnhvào giá trị của sản phẩm theo mức độ hao mòn Sau khi sản phẩm được tiêu thụ thìphần giá trị chuyển dịch đó được thu hồi lại dưới dạng trích khấu hao Như vậykhấu hao là sự tính toán và phân bổ một cách có hệ thống giá ban đầu của TSCĐvào chi phí sản xuất, kinh doanh trong suốt thời gian sử dụng của tài sản đó (thờigian sử dụng là thời gian mà TSCĐ phát huy được tác dụng cho sản xuất, kinhdoanh)

Một số chỉ tiêu thống kê khấu hao TSCĐ:

*Tổng mức khấu hao tài sản cố định (M):

Tổng mức khấu hao TSCĐ là toàn bộ giá trị của TSCĐ chuyển vào sảnphẩm và sẽ được thu hồi trong suốt thời gian hoạt động của TSCĐ

M  (G bd(kp)  G lb)  (G sclG hdh)

M : Tổng mức khấu hao

G bd (kp) : Giá trị ban đầu (khôi phục) hoàn toàn của TSCĐ

G lb : Giá trị ban đầu loại bỏ

G scl : Chi phí sửa chữa lớn TSCĐ dự kiến trong suốt thời gian hoạtđộng của TSCĐ

G hdh : Chi phí hiện đại hoá TSCĐ dự kiến trong suốt thời gian hoạtđộng của TSCĐ

Tổng mức khấu hao TSCĐ gồm hai bộ phận quan trọng:

- Tổng mức khấu hao cơ bản ( M CB)

M CB  (G bd(kp)  G lb)

- Tổng mức khấu hao sửa chữa lớn và hiện đại hoá ( ):

Trang 15

M SH  (G sclG hdh)

* Mức khấu hao tài sản cố định ( C1 ):

Mức khấu hao hàng năm là số tiền trích khấu hao bình quân hàn năm Cócác phương pháp khấu hao khác nhau, tuỳ thuộc vào phương pháp khấu hao mà cócông thức xác định mức khấu hao khác nhau:

- Phương pháp khấu hao đường thẳng (hay phương pháp khấu hao bình quântheo thời gian): số khấu hao hàng năm không thay đổi trong suốt thời gian sửdụngTSCĐ

C1(N) K n

)

(

1 N

C : Mức khấu hao TSCĐ trích bình quân hàng năm

n : số năm dự kiến khấu hao TSCĐ

Trường hợp thời gian sử dụng hay nguyên giá của TSCĐ thay đổi, doanhnghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao trung bình của TSCĐ bằng cách lấygiá trị còn lại của TSCĐ chia cho thời gian sử dụng xác định lại hoặc thời gian sửdụng còn lại

- Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh: số khấu haohàng năm giảm dần trong suốt thời gian dự kiến sử dụng tài sản:

)

(

1 Ni

C = Giá trị còn lại của TSCĐ x Tỷ lệ khấu hao

ở thời điểm đầu năm i nhanh

Tỷ lệ khấu hao nhanh = Tỷ lệ khấu hao bình quân x hệ số điều chỉnh

n = 4 năm  Hệ số điều chỉnh = 1,5

4 < n = 6 n ăm  Hệ số điều chỉnh = 2

n > 6  Hệ số điều chỉnh = 2,5

Theo phương pháp này, những năm cuối khi mức khấu hao năm bằng

hoặc thấp hơn mức khấu hao tính bình quân giữa giá trị còn lại và số năm sử dụngcòn lại của TSCĐ thì kể từ năm đó mức khấu hao được tính bằng giá trị còn lại của

Trang 16

TSCĐ chia cho số năm sử dụng còn lại của TSCĐ Và TSCĐ trích khấu hao theophương pháp này phải thoả mãn điều kiện là TSCĐ đầu tư mới đồng thời là cácloại máy móc, thiết bị, dụng cụ làm việc đo lường, thí nghiệm.

- Phương pháp khấu hao theo sản lượng:

Theo phương pháp này mức khấu hao hàng năm được tính theo công thức:

C 1 Ni( ) : Mức khấu hao năm thứ i

Q dk : Khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong thời gian dự kiến sử dụngTSCĐ (sản lượng theo công suất thiết kế)

Q i : Khối lượng sản phẩm TSCĐ sản xuất ra ở năm i

Trường hợp công suất thiết kế hoặc nguyên giá của TSCĐ thay đổi, doanhnghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao của TSCĐ

Theo phương pháp này, TSCĐ được trích khấu hao phải trực tiếp liên quanđến việc sản xuất sản phẩm, phải xác định được tổng khối lượng sản phẩm sản xuấttheo công suất thiết kế của TSCĐ và công suất sử dụng thực tế bình quân thángtrong năm không thấp hơn 50% công suất thiết kế

Mức khấu hao cũng bao gồm hai bộ phận:

- Mức khấu hao cơ bản năm ( C1CB )

- Mức khấu hao sửa chữa lớn và hiện đại hoá năm ( SH

C1 ):

T

M C

SH SH

 1

* Tỷ suất khấu hao tài sản cố định (k):

Tỷ suất khấu hao tài sản cố định là tỷ lệ phần trăm giữa mức khấu hao nămvới giá trị ban đầu (hoặc giá trị khôi phục) hoàn toàn của TSCĐ

Trang 17

* Quỹ (vốn) khấu hao tài sản cố định (V):

Quỹ (vốn) khấu hao là giá trị tài sản cố định đã được khấu hao và được tíchluỹ đén thời điểm nghiên cứu Quỹ khấu hao được sử dụng để tái sản xuất giản đơnTSCĐ và để bù đắp những chi phí sửa chữa lớn, hiện đại hoá TSCĐ

b, Thống kê hiện trạng của tài sản cố định:

Thống kê hiện trạng tài sản cố định có nhiệm vụ phản ánh đúng và kịp thờitrạng thái hiện tại TSCĐ của từng doanh nghiệp, từng ngành và toàn bộ nền kinh tếquốc dân Nhân tố cơ bản làm thay đổi trạng thái TSCĐ là do sự hao mòn Có haihình thức hao mòn TSCĐ:

- Hao mòn vô hình là hao mòn xuất hiện do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuậtcho ra đời một tài sản cố định cùng loại với tài sản cố định mà doanh nghiệp đang

sử dụng nhưng có giá rẻ hơn, có công suất và chất lượng sản phẩm sản xuất ra caohơn Loại hao mòn này phụ thuộc vào nhịp độ phát triển của tiến bộ khoa học kỹthuật và sự tăng năng suất của những TSCĐ cùng loại

- Hao mòn hữu hình là hao mòn vật chất do quá trình sử dụng TSCĐ hoặc

do tác động của thiên nhiên làm cho năng lực sản xuất của TSCĐ bị giảm sút dầnhoặc bị hư hỏng

Thống kê trạng thái tài sản cố định có các chỉ tiêu sau:

Trang 18

* Hệ số hao mòn tài sản cố định đầu kỳ hay cuối kỳ ( H hm ):

Hệ số hao mòn TSCĐ là tỷ số giữa tổng số hao mòn TSCĐ (giá trị TSCĐ đã

bị hao mòn) đầu hay cuối kỳ với giá trị ban đầu (hoặc giá trị khôi phục) hoàn toàncủa TSCĐ có vào đầu hay cuối kỳ

)

(KP

CB hm

* Hệ số còn sử dụng được (còn lại) của tài sản cố định đầu hay cuối kỳ (

CL

Hệ số còn sử dụng được (còn lại) là tỷ số giữa giá trị còn lại (đã trừ haomòn) của TSCĐ đầu hay cuối kỳ với giá trị ban đầu (hoặc giá trị khôi phục) hoàntoàn của TSCĐ có vào đầu hay cuối kỳ

)

(KP

CB

CL CL

G

G

H

Chỉ tiêu này phản ánh mức độ còn sử dụng được của TSCĐ ở đầu hay cuối

kỳ, biểu hiện tỷ lệ giá trị TSCĐ chưa chuyển vào giá trị sản phẩm, chưa thu hồi,cần tiếp tục thu hồi, là cơ sở để xác định năng lực sản xuất của các doanh nghiệp,các ngành và nền kinh tế quốc dân Hệ số còn lại tỷ lệ thuận với trạng thái TSCĐ

* Hệ số đổi mới tài sản cố định ( H dm ):

Hệ số đổi mới TSCĐ là tỷ số giữa giá trị ban đầu (hoặc khôi phục) hoàn toàncủa TSCĐ mới đưa vào hoạt động trong kỳ với giá trị ban đầu (hoặc giá trị khôiphục) hoàn toàn của TSCĐ có vào cuối năm

Hệ số = G CB ( KP) TSCĐ mới đưa vào hoạt động

đổi mới G CB ( KP) TSCĐ có cuối kỳ

Trang 19

Chỉ tiêu này phản ánh phần TSCĐ hoàn toàn mới trong toàn bộ TSCĐ cóvào cuối kỳ Chỉ tiêu này tỷ lệ thuận với trạng thái TSCĐ.

* Hệ số loại bỏ tài sản cố định ( H LB ):

Hệ số loại bỏ TSCĐ là tỷ số giữa TSCĐ bị loại bỏ do hao mòn, cũ ký trong

kỳ theo giá trị ban đầu (hoặc giá trị khôi phục) hoàn toàn với giá trị ban đầu (hoặcgiá trị khôi phục) hoàn toàn của TSCĐ có đầu kỳ

Hệ số = G CB ( KP) TSCĐ bị loại bỏ do hao mòn, cũ kỹ

đổi mới G CB ( KP) TSCĐ có đầu kỳ

Chỉ tiêu này phản ánh phần giá trị TSCĐ cũ, bị loại bỏ do hao mòn, cũ kỹtrong toàn bộ TSCĐ có vào đầu kỳ Nó tỷ lệ nghịch với trạng thái TSCĐ

c, Thống kê tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định:

* Thống kê tình trang bị tài sản cố định cho lao động của doanh nghiệp:

Đánh giá tình hình trang bị TSCĐ cho lao động được thực hiện thông quatính và so sánh chỉ tiêu mức trang bị TSCĐ cho công nhân sản xuất của doanhnghiệp (M K ):

M KK L

K : Giá trị TSCĐ bình quân trong kỳ

L : Số lao động bình quân trong kỳ

Chỉ tiêu này càng lớn phản ánh trình độ kỹ thuật của sản xuất, kinh doanhcàng cao từ đó tạo điều kiện cho việc tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượngsản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

* Thống kê tình hình sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp:

Việc đánh giá tình hình sử dụng TSCĐ được thực hiện thông qua tính và sosánh một số chỉ tiêu chủ yếu phản ánh hiệu quả sử dụng TSCĐ, gồm các chỉ tiêuhiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp

- Nhóm chỉ tiêu hiệu quả trực tiếp của TSCĐ:

Trang 20

+) Chỉ tiêu hiệu quả thuận: năng suất tài sản cố định (H K ):

M: Lợi nhuận hay lãi kinh doanh

- Nhóm chỉ tiêu hiệu quả gián tiếp của tài sản cố định:

+) Hiệu năng hay năng suất mức khấu hao TSCĐ (H C1 ):

1

1 C

Q

H C

C1 : Tổng mức khấu hao TSCĐ trích trong kỳ

+) Tỷ suất lợi nhuận hay mức doanh lợi tính trên mức khấu hao TSCĐ (R C1

Nếu kết quả so sánh tốc độ phát triển của M K,H K , R K ,H C1 vàR C1

lớn hơn 100 phản ánh tình hình trang bị và sử dụng tài sản cố định của doanhnghiệp kỳ nghiên cứu được cải thiện hơn so với kỳ gốc, nguyên nhân là do tốc độphát triển của Q và M lớn hơn tốc độ phát triển của K , C1

Trang 21

II LỰA CHỌN MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ ĐỂ PHÂN TÍCH QUY MÔ, CƠ CẤU, tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp:

1 Tại sao phải lựa chọn một số phương pháp thống kê khi nghiên cứu về tài sản cố định của doanh nghiệp:

Có nhiều phương pháp thống kê được sử dụng để nghiên cứu về tài sản cốđịnh và mỗi phương pháp này lại có những ưu, nhược điểm và điều kiện vận dụngkhác nhau Bên cạnh đó mục đích nghiên cứu cũng quyết định việc lựa chọnphương pháp nghiên cứu Do đó, tuỳ thuộc vào điều kiện của mỗi doanh nghiệp mà

có sự lựa chọn các phương pháp thống kê khác nhau khi nghiên cứu về tài sản cốđịnh

Tại công ty đúc Tân Long hiện nay đang sử dụng phương pháp dãy số thờigian khi nghiên cứu về tài sản cố định Tuy phương pháp này cho thấy được sựbiến động của các chỉ tiêu thống kê theo thời gian song chưa cho thấy ảnh hưởngcủa các nhân tố tới sự biến động đó chính vì vậy chúng ta phải tiến hành lựa chọncác phương pháp thống kê khi nghiên cứu về quy mô, cơ cấu, tình hình sử dụng vàhiệu quả sử dụng TSCĐ ở công ty đúc Tân Long trong những năm gần đây

2 Nguyên tắc lựa chọn các phương pháp thống kê khi phân tích về tài sản cố định:

Việc lựa chọn các phương pháp thống kê khi nghiên cứu về tài sản cố địnhcũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định:

- Phương pháp thống kê khi nghiên cứu về TSCĐ phải đảm bảo tính hiệuquả nghĩa là phải phục vụ cho mục đích nghiên cứu, mang lại lợi ích cụ thể Ví dụkhi vận dụng phương pháp chỉ số nghiên cứu sự biến động doanh thu do ảnhhưởng của các nhân tố năng suất TSCĐ và giá trị TSCĐ, ta sẽ biết nhân tố nào tácđộng nhiều hơn đến doanh thu từ đó có sự điều chỉnh thích hợp trong thời gian tới

Trang 22

- Các phương pháp thống kê phải đảm bảo tính khả thi nghĩa là lựa chọn cácphương pháp phù hợp với điều kiện của từng doanh nghiệp từ đó có thể thực hiệnđược.

- Các phương pháp phải đảm bảo tính hướng đích: việc thực hiện phươngpháp thống kê TSCĐ nào cũng nhằm một mục đích nghiên cứu nhất định, tránh sửdụng thừa các phương pháp gây lãng phí công sức, thời gian, tiền của

- Các phương pháp phải đảm bảo tính linh hoạt có nghĩa là được vận dụngtrong nhiều điều kiện khác nhau, có thể phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau

3 Một số phương pháp thống kê vận dụng để phân tích quy mô, cơ cấu, tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp:

3.1/ Vận dụng phương pháp chỉ số khi nghiên cứu về tài sản cố định:

a, Khái niệm phương pháp chỉ số:

Phương pháp chỉ số là phương pháp phân tích thống kê nghiên cứu sự biếnđộng của các hiện tượng kinh tế phức tạp bao gồm những đơn vị, phần tử mà cácđại lượng biểu hiện không thể trực tiếp cộng được với nhau Xây dựng chỉ số đốivới hiên tượng kinh tế phức tạp thì biểu hiện về lượng của các phần tử đượcchuyển về dạng chung để có thể trực tiếp cộng được với nhau dựa trên cơ sở mốiquan hệ giữa nhân tố nghiên cứu với các nhân tố khác Khi có nhiều nhân tố thamgia trong công thức chỉ số, việc phân tích biến động của một nhân tố được đặttrong điều kiện giả định các nhân tố khác không thay đổi

Trang 23

theo không gian, phương pháp chỉ số so sánh sự khác biệt, sự chênh lệch về mức

độ của hiện tượng qua không gian

Thứ hai, phương pháp chỉ số phân tích tình hình thực hiện kế hoạch về cácchỉ tiêu kinh tế

Thứ baT, phương pháp chỉ số cho phép xác định vai trò và ảnh hưởng biếnđộng của các nhân tố khác nhau đối với sự biến động của hiện tượng phức tạpđược cấu thành từ nhiều nhân tố

c, Đặc điểm vận dụng phương pháp chỉ số khi nghiên cứu thống kê tài sản

cố định của doanh nghiệp:

Chỉ số thống kê được vận dụng trong phân tích kinh tế đối với nhiều chỉ tiêuthuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá xuất khẩu, chỉ

số giá thành, chỉ số năng suất…

Phương pháp chỉ số cũng được vận dụng khi nghiên cứu thống kê về tài sản

cố định Tuy nhiên sử dụng phương pháp chỉ số trong nghiên cứu thống kê tài sản

cố định có những điểm khác biệt như: khi nghiên cứu về hiệu quả tài sản cố địnhthì ta sẽ nghiên cứu sự biến động của các chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh doảnh hưởng của các nhân tố trong đó có nhân tố về tài sản cố định và các chỉ tiêuphải đảm bảo tính so sánh được

Do đóD, trong thống kê tài sản cố định, ta có thể vận dụng phương pháp chỉ

số để phân tích một số vấn đề như:

- Phân tích sự biến động của kết quả sản xuất, kinh doanh ảnh hưởng của cácnhân tố về sử dụng tài sản cố định như giá trị TSCĐ, mức khấu hao TSCĐ, tỷ suấtkhấu hao TSCĐ

- Phân tích sự biến động của kết quả sản xuất kinh doanh do ảnh hưởng tổnghợp của các nhân tố về sử dụng tài sản cố định và lao động

3.2/ Vận dụng phương pháp dãy số thời gian trong nghiên cứu tài sản cố định của doanh nghiệp:

Trang 24

a, Khái niệm phương pháp dãy số thời gian:

Dãy số thời gian là một dãy các trị số của chỉ tiêu thống kê được sắp xếptheo thứ tự thời gian Khi xây dựng dãy số thời gian phải đảm bảo tính chất so sánhđược giữa các mức độ trong dãy số, cụ thể là:

- phải thống nhất về nội dung và phương pháp tính chỉ tiêu qua thời gian

- thống nhất về phạm vi tổng thể nghiên cứu

- các khoảng cách thời gian trong dãy số nên bằng nhau nhất là đối với dãy

số thời kỳ thì phải bằng nhau

Kết cấu của dãy số thời gian bao gồm hai phần: Thứ nhất là thời gian có thể

là ngày, tháng, năm, quý…Độ dài giữa hai thời gian đều nhau gọi là khoảng cáchthời gian Thứ hai là chỉ tiêu về hiện tượng nghiên cứu bao gồm tên chỉ tiêu và trị

số của chỉ tiêu.Các trị số của chỉ tiêu gọi là các mức độ của dãy số thời gian

b, Tác dụng của phương pháp dãy số thời gian:

Dãy số thời gian có hai tác dụng chính đó là cho phép thống kê nghiên cứucác đặc điểm về sự biến động của hiện tượng qua thời gian, vạch rõ xu hướng vàtính quy luật của sự phát triển đồng thời dự đoán các mức độ của hiện tượng trongtương lai

c, Đặc điểm vận dụng phương pháp dãy số thời gian trong nghiên cứu

thống kê tài sản cố định của doanh nghiệp:

Phương pháp dãy số thời gian cũng được vận dụng để nghiên cứu thống kêtài sản cố định Phương pháp này được vận dụng để nghiên cứu sự biến động củacác chỉ tiêu theo thời gian do đó khi nghiên cứu về tài sản cố định, nó được dùng

để phân tích một số chỉ tiêu sau:

- phân tích sự biến động của chỉ tiêu giá trị tài sản cố định theo thời gian

- Phân tích sự biến động của chỉ tiêu mức khấu hao tài sản cố định

Tuy nhiên khi vận dụng phương pháp này ta cần quan tâm chỉ tiêu là thờiđiểm hay thời kỳ

Trang 25

Chương III: VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP

THỐNG KÊ ĐỂ PHÂN TÍCH QUY MÔ, CƠ CẤU, TÌNH HÌNH

SỬ DỤNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỐ ĐỊNH CỦA CÔNG TY ĐÚC TÂN LONG THỜI KỲ 1999-2005

I Khái quát về công ty đúc Tân Long:

1 Quá trình hình thành và phát triển công ty đúc Tân Long:

a, Một vài điểm mốc quan trọng trong quá trình thành lập công ty đúc Tân Long:

Để trưởng thành như ngày hôm nay, công ty đúc Tân Long đã trải qua mộtquá trình phát triển lâu dài, sau đây là một vài điểm mốc quan trọng trong quá trìnhthành lập công ty

Công ty đúc Tân Long ra đời từ một phân xưởng đúc của Xí nghiệp cơ khí19-8 Hải Phòng, nó được tách ra xây dựng thành xí nghiệp chuyên đúc lấy tên là

Xí nghiệp đúc Tân Long (nay là công ty đúc Tân Long – COTREXIM, theo quyếtđịnh số 02/2003 QĐ-BXD ra ngày 7/2/2003)

Xí nghiệp đúc Tân Long được UBND thành phố Hải Phòng ra quyết địnhthành lập số 600 ngày 6/10/1964 và hoạt động chính thức ngày 01/01/1965 Thực

Trang 26

hiện nghị định 388/HĐBT ngày 20/01/1991 ban hành quy chế thành lập và giải thểdoanh nghiệp nhà nước, xí nghiệp đúc Tân Long đã lập hồ sơ xin đăng ký thànhlập lại doanh nghiệp nhà nước Ngày 12/11/1992 UBND thành phố Hải Phòng đã

ra quyết định số 1296/QĐ-TCCQ về việc thành lập xí nghiệp đúc Tân Long

Đến ngày 15/03/1999, xí nghiệp đúc Tân Long đổi tên thành công ty đúcTân Long theo quyết định số 387QĐ/UB của UBND thành phố Hải Phòng về việcthay đổi tên doanh nghiệp Tháng 2/2003, sát nhập công ty Bộ Xây dựngCONTREXIM theo mô hình công ty mẹ con thành công ty đúc Tân LongCONTREXIM

b, Quá trình phát triển của công ty đúc Tân Long:

Xuất thân từ một phân xưởng đúc của nhà máy cơ khí 19-8 nên công nghệlúc đó còn rất lạc hậu và thiếu thốn, chủ yếu đúc ống bằng phương pháp đúc khuôncát và khuôn vĩnh cửu (khuôn cát chỉ đúc một lần, khuôn vĩnh cửu đúc được nhiềulần) Với công nghệ này, xí nghiệp đúc Tân Long chủ yếu đúc các chi tiết máy, đúcphôi cho công nghiệp chế tạo cơ khí và tàu thuyền, phục vụ công nghiệp nhẹ, làmthiết bị cho nhà máy sản xuất giấy, phục vụ phân lân nung chảy, phục vụ cho xâydựng sản xuất xi măng, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và các loại bơm, vỏ, lựuđạn phục vụ quốc phòng… Ngoài còn sản xuất thép và kim loại màu, đồng, nhôm

Để tập trung chuyên môn hoá, năm 1968 xí nghiệp đúc Tân Long đã chuyểnphần đúc kim loại màu và đúc thép cho đơn vị khác Xí nghiệp tập trung cho đúccác sản phẩm bằng gang (dúc ống và chi tiết máy) Dưới ánh sáng nghị quyếtTrung ương Đảng và thành uỷ, với sự chỉ đạo chặt chẽ và đầu tư kịp thời củaUBND thành phố và sở công nghiệp thành phố Hải Phòng, xí nghiệp đã nghiêncứu thành công phương pháp đúc ống liên tục thay thế phương pháp đúc khuôn cát

và khuôn vĩnh cửu lạc hậu, hiệu quả chất lượng kém

Đến những năm đầu 1977-1978, sản lượng ống của xí nghiệp đạt 13000 tấn /năm Với sản lượng đó chiếm trên 85% sản lượng ống gang sản xuất của toàn

Trang 27

quốc Trên toàn quốc có 5 nhà máy sản xuất ống bằng phương pháp này: bộ xâydựng co hai nhà máy, Hà Nội có hai nhà máy và Hải Phòng có một nhà máy.

Sau những năm 1980, nguồn vốn của nhà máy giảm sút do tình hình chungcủa cả nước dẫn đến sản lượng của xí nghiệp có chững lại và giảm xuống với thờigian gần 7 năm

Những năm 1989-1990, nhu cầu về cấp nước có tăng trở lại nhưng nó đòihỏi yêu cầu cao hơn Mặt khác do nền kinh tế thị trường đã tạo ra nhiều cơ hội tiếpxúc, giao lưu với nền kinh tế nước ngoài rộng rãi hơn, để cạnh tranh với thị trườngquốc tế, xí nghiệp đã cải tiến công nghệ, thay đổi mẫu mã, sản xuất sản phẩm cóchất lượng cao ống lắp gioăng TYTON, ống chịu áp lực cao, tráng vữa xi măng vàsơn phủ sơn butimen

Trong những năm 1990-1991 là những năm khó khăn vầ nguyên vật liệu, xínghiệp chủ yếu sử dụng gang của Liên Xô mà gang nhập khẩu vào nước ta đang có

xu hướng giảm, giá thành lại cao, không đáp ứng đủ nhu cầu cung cấp ống gangcho các đơn vị trong nước cũng như xuất khẩu tại chỗ cho Phần Lan lắp đặt tại HảiPhòng Trước những vấn đè khó khăn đó, xí nghiệp đã thay đổi cong nghệ, sử dụngnguyên vật liệu của khu gang thép Thái Nguyên và Cao Bằng Đồng thời xí nghiệpcũng nghiên cứu, thực hiện thành công đề tài thiết kế cải tiến lò luyện gang, thaythế sử dụng nguyên liệu than cốc nhập ngoại bằng sử dụng 100% than angtraxitmỏ

Trong những năm gần đây, tiếp thu những thành tựu đã đạt được cùng với sựphấn đấu không ngừng để đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ cán bộ quản lý vàtay nghề của công nhân, xí nghiệp đã đang đáp ứng được nhu cầu sản xuất trongnước cũng như xuất khẩu nước ngoài

2 Chức năng và nhiệm vụ hoạt động của công ty đúc Tân Long:

Cũng như các doanh nghiệp công nghiệp khác, hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty là hoạt động sử dụng kết hợp các yếu tố đầu vào tạo ra sản phẩm

Trang 28

công nghiệp cung cấp cho các đối tượng sản xuất, tiêu dùng trong và ngoài nước,nhằm mang lại thu nhập cho tập thể lao động và cho doanh nghiệp.

Chức năng của công ty là tiến hành hoạt động kinh doanh nhằm tạo ra lợinhuận cao nhất đáp ứng yêu cầu của xã hội, đảm bảo cuộc sống cho tập thể cán bộcông nhân viên Cụ thể, chức năng hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu củacông ty là sản xuất các mặt hàng đúc gang và gia công cơ khí phục vụ cho nền kinh

tế quốc dân, ngoài ra còn kinh doanh, sản xuất ngánh nghề khác theo quy định củapháp luật

Xuất phát từ chức năng đó, công ty đã đặt ra hai nhiệm vụ cơ bản sau: Thứnhất là tạo ra và cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội qua đó đạt doanh

số tối đa Thứ hai là tạo ra giá trị thặng dư và phấn đấu đạt mức lợi nhuận tối đa

3 Cơ cấu bộ máy quản lý và sản xuất của công ty đúc Tân Long:

Sơ đồ bộ máy quản lý sản xuất của công ty đúc Tân Long

Giám đốc

Phó giám đốc

kỹ thuật

Phó giám đốcSXKD

Phó giám đốc nội chính

Phòng cung tiêu

Phòng kinh tế

Phòng

TC HC

Phòng đời sống

Phòng bảo vệ

Phân xưởngđúc ống

Phân xưởngđúc máy

Phân xưởng

cơ khí

Trang 29

a, Hệ thống cơ cấu sản xuất của công ty:

Với cơ cấu tính chất của quá trình sản xuất kinh doanh, các bộ phận sản xuấtcủa công ty bao gồm 3 phân xưởng, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Nhiệm vụ chính của các phân xưởng như sau:

- Phân xưởng đúc ống: có nhiệm vụ nấu luyện, sản xuất ống và hoàn thiện ống

- Phân xưởng đúc máy: có nhiệm vụ nấu luyện, tạo khuôn mẫu, đúc các chi tiết máy và phụ kiện đường ống

- Phân xưởng cơ khí: có nhiệm vụ gia công cơ khí các chi tiết máy và phụkiện dường ống

b, Hệ thống cơ cấu quản lý của công ty:

* Đứng đầu bộ máy quản lý của công ty là Giám đốc công ty chịu trách nhiệm chính như:

- Bảo toàn vốn và nộp thuế cho Nhà nước

- Bảo đảm đời sống cho cán bộ công nhân viên của công ty

- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của công ty

Giúp việc cho giám đốc là các phó giám đốc phụ trách từng bộ phận: Phógiám đốc kỹ thuật, phó giám đốc sản xuất kinh doanh, phó giám đốc nội chính.Mỗi phó giám đốc chịu trách nhiệm về một số phòng ban chuyên trách cụ thể

* Các phòng ban nghiệp vụ chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ quản lý riêng của mình:

- Phòng kỹ thuật sản xuất: chịu trách nhiệm điều lệ sản xuất, giám sát kỹthuật - bảo hộ lao động - lập kế hoạch sản xuất

- Phòng K.C.S: chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm đầu ra và vật liệuđầu vào, kết hợp với phòng kỹ thuật sản xuất hướng dẫn thực hiện quy trình côngnghệ sản xuất và chịu trách nhiệm giao hàng (sản phẩm) cho khách hàng tới tậnchân công trình

Trang 30

- Phòng công nghệ: chịu trách nhiệm nghiên cứu đề tài công nghệ, sáng kiếncải tiến kỹ thuật, hướng dẫn phụ trách thực hiện các quy trình công nghệ mới, xâydựng cơ bản giúp nâng cao chất lượng, giảm giá thành, nâng cao hiệu quả hoạtđộng của công ty.

- Phòng cung tiêu: chịu trách nhiệm cung cấp các vật tư, thiết bị, phụ tùngthay thế, kết hợp với phòng kinh tế và kỹ thuật sản xuất để thưch hiện chức năngtiêu thụ sản phẩm

Các phòng ban trên chịu sự quản lý điều hành của phó giám đốc kỹ thuật

- Phòng kinh tế: làm chức năng của tài vụ tính lương, thưởng cho cán bộcông nhân viên, cân đối thu chi, trực tiếp thực hiện nộp nghĩa vụ đối với nhà nước,tham mưu để ký kết các hợp đồng kinh tế

- Phòng tổ chức hành chính: tiếp nhận bố trí nhân lực, sắp xếp tổ chức bảođảm cân đối và hợp lý, theo dõi việc thực hiện các chế độ cho cán bộ côngnhânviên trong công ty như tiền lương, thưởng, bảo hộ lao động…, lập định mứclao động, xây dựng quỹ tiền lương, chịu trách nhiệm về hành chính, y tế

Phòng đời sốngP: bảo đảm phục vụ đời sống cho toàn bộ cán bộ công nhânviên trong công ty

- Phòng bảo vệ: bảo đảm an ninh trật tự, giữ gìn mọi tài sản của công ty.Các phòng, ban này chịu sự quản lý của phó giám đốc nội chính

Phó giám đốc sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệm quản lý các phân xưởngsản xuất trực tiếp

Đây là một hình thức quản lý tương đối hoàn thiện§, cán bộ quản lý đượctinh giản nhiều, hiệu quả quản lý cao, phù hợp với tình hình kinh tế của nước tahiện nay

4 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm gần đây:

Trang 31

Do còn nhiều bỡ ngỡ trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tậptrung sang cơ chế thị trường nên bộ phận lãnh đạo, quản lý của công ty cũng nhưtoàn thể cán bộ công nhân viên nói chung phải đương đầu với những thử thách lớn,gặp phải không ít khó khăn Tuy nhiên, bằng nỗ lực, cố gắng nghiên cứu tìm tòisáng tạo trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, cán bộ công nhân viênluôn tự hoàn thiện mình, phấn đấu trong công viẹc mang lại hiệu quả kinh tế cao.Trong những năm gần đây, công ty đã mạnh dạn đầu tư những dây chuyền sản xuấtcông nghệ mới, tiên tiến hiện đại cùng với tinh thần trách nhiệm trong làm việccủa cán bộ công nhân viên nên năng suất chất lượng tăng cao, mẫu mã đẹp, sảnphẩm đã từng bước phù hợp với thị hiếu của nguời tiêu dùng, khẳng định uy tín đốivới khách hàng trong và ngoài nước.

Trải qua 40 năm xây dựng và phát triển với bao khó khăn thuận lợi, nhưngvới quyết tâm cao, miệt mài tìm tòi sáng tạo của Đảng bộ, ban lãnh đạo và tập thểcán bộ công nhân viên các phòng ban, xí nghiệp đúc Tân Long đã luôn hoàn thànhnhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao phó Những cống hiến đó đã được Nhà nước,thành phố Hải Phòng ghi nhận thể hiện qua những bằng khen, huy chương Cụ thểnhư:

- Huân chương lao động hạng 3

- Nhiều bằng khen của Trung ương và thành phố

Tại các kỳ hội chợ triển lãm kinh tế - kỹ thuật hàng công nghiệp toàn quốc,công ty đã được tặng:

- Năm 1983: huy chương bạc cho ống gang dẫn nước DN

Trang 32

+ 3 huy chương vàng cho quả lô xeo giấy DN700 - DN1000 và DN1300 mm+1 huy chương vàng cho thân bao xilanh máy lạnh 2AD150

- Năm 1988: là đơn vị duy nhất ở Việt Nam đựoc nhà nước cấp dấu chấtlượng cấp I

- Năm 1992: 3 huy chương vàng cho các loại ống gang cấp nước chịu áp lựccao theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 13-78 DN300, DN400 và DN600 mm

- Năm 1994: 7 huy chương vàng cho các loại ống gang dẫn nước áp lực caotheo tiêu chuẩn quốc tế ISO 13-78

- Năm 1998: huy chương vàng cho các ống gang dẫn nước chịu áp lực caotráng xi măng tiêu chuẩn quốc tế ISO 13-78

- Năm 2000: huy chương vàng cho các loại ống gang dẫn nước chịu áp lựccao tráng xi măng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 13-78

Sông song đó, công ty còn sản xuất các loại ống gang theo tiêu chuẩn ViệtNam TCVN 2943-79

Chính vì vậy mà từ năm 1992, công ty đúc Tân Long đã thắng thầu quốc tếtại Hensiky để cung cấp ống và phụ kiện cấp nước chương trình cấp nước PhầnLan tại Hải Phòng cho khu công nghiệp Numora - Hải Phòng, khu công nghiệpAmata - Đồng Nai, cho liên doanh kính nổi Việt Nhật - Bắc Ninh và công trình cấpnước Nhật Bản, Gia Lâm - Hà Nội và một số công trình cấp nước khác ở ViệtNam

- Trong các năm từ 2001-2005, công ty còn đạt thêm một số huy chươngvàng và bằng khen khác của Trung ương và thành phố

II HƯỚNG PHÂN TÍCH:

1 Phân tích quy mô tài sản cố định:

Khi phân tích quy mô tài sản cố định, ta vận dụng phương pháp dãy số thờigian để phân tích sự biến động của quy mô TSCĐ trong giai đoạn 1999-2005

Ta tính toán các chỉ tiêu sau:

Trang 33

- Lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn, lượng tăng (giảm) tuyệt đối bìnhquân.

- Tốc độ phát triển liên hoàn, tốc đọ phát triển bình quân

- Tốc độ tăng (giảm), tốc độ tăng (giảm) bình quân

- Giá trị tuyệt đối của 1% tăng giảm

2 Phân tích cơ cấu tài sản cố định:

Ta tiến hành phân tích cơ cấu TSCĐ theo một số cách phân loại khác nhaunhư:

- Cơ cấu TSCĐ theo đặc tính kinh tế

- Cơ cấu TSCĐ theo hình thái biểu hiện

- Cơ cấu TSCĐ theo quyền sở hữu

3 Phân tích tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định:

Ta tiến hành phân tích một số vấn đề sau:

* Phân tích khấu hao tài sản cố định;

- vận dụng phương pháp dãy số thời gian phân tích sự biến động chỉ tiêumức khấu hao TSCĐ

- tính toán chỉ tiêu tỷ suất khấu hao TSCĐ

* Phân tích tình hình trang bị TSCĐ cho lao động thông qua tính toán, sosánh chỉ tiêu mức trang bị tài sản cố định cho lao động

* Phân tích hiệu quả sử dụng TSCĐ thông qua tính toán các chỉ tiêu:

- Nhóm chỉ tiêu hiệu quả thuận:

+ Năng suất TSCĐ tính theo giá trị tổng sản lượng

+ Năng suất TSCĐ tính theo tổng doanh thu

+ Năng suất TSCĐ tính theo tổng sản phẩm

+ Năng suất mức khấu hao TSCĐ tính theo giá trị tổng sản lượng

+ Năng suất mức khấu hao TSCĐ tính theo tổng doanh thu

Ngày đăng: 27/07/2013, 09:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bộ máy quản lý sản xuất của công ty đúc Tân Long  Giám đốc - “Nghiên cứu thống kê quy mô, cơ cấu, tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định của công ty đúc Tân Long thời kỳ 1999-2005
Sơ đồ b ộ máy quản lý sản xuất của công ty đúc Tân Long Giám đốc (Trang 28)
Bảng 1: Tổng hợp tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty đúc Tân Long trong giai đoạn 1999-2005 - “Nghiên cứu thống kê quy mô, cơ cấu, tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định của công ty đúc Tân Long thời kỳ 1999-2005
Bảng 1 Tổng hợp tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty đúc Tân Long trong giai đoạn 1999-2005 (Trang 35)
Bảng 3: Cơ cấu tài sản cố định của công ty đúc Tân Long trong giai đoạn 1999-2005 - “Nghiên cứu thống kê quy mô, cơ cấu, tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định của công ty đúc Tân Long thời kỳ 1999-2005
Bảng 3 Cơ cấu tài sản cố định của công ty đúc Tân Long trong giai đoạn 1999-2005 (Trang 38)
Bảng 6: Mức khấu hao tài sản cố định của công ty đúc Tân Long giai đoạn 1999-2005 - “Nghiên cứu thống kê quy mô, cơ cấu, tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định của công ty đúc Tân Long thời kỳ 1999-2005
Bảng 6 Mức khấu hao tài sản cố định của công ty đúc Tân Long giai đoạn 1999-2005 (Trang 44)
Bảng 7: Tỷ suất  khấu hao tài sản cố định của  công ty đúc Tân Long trong giai đoạn 1999-2005 - “Nghiên cứu thống kê quy mô, cơ cấu, tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định của công ty đúc Tân Long thời kỳ 1999-2005
Bảng 7 Tỷ suất khấu hao tài sản cố định của công ty đúc Tân Long trong giai đoạn 1999-2005 (Trang 45)
Bảng 8: Mức trang bị tài sản cố định cho lao động của công ty đúc Tân Long trong giai đoạn 1999-2005 - “Nghiên cứu thống kê quy mô, cơ cấu, tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định của công ty đúc Tân Long thời kỳ 1999-2005
Bảng 8 Mức trang bị tài sản cố định cho lao động của công ty đúc Tân Long trong giai đoạn 1999-2005 (Trang 46)
Bảng 9: Hiệu quả sử dụng tài sản cố định theo giá trị sản xuất của công ty đúc Tân Long giai đoạn 1999-2005 - “Nghiên cứu thống kê quy mô, cơ cấu, tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định của công ty đúc Tân Long thời kỳ 1999-2005
Bảng 9 Hiệu quả sử dụng tài sản cố định theo giá trị sản xuất của công ty đúc Tân Long giai đoạn 1999-2005 (Trang 48)
Bảng 10: Hiệu quả sử dụng tài sản cố định theo doanh thu của công ty đúc Tân Long giai đoạn 1999-2005 - “Nghiên cứu thống kê quy mô, cơ cấu, tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định của công ty đúc Tân Long thời kỳ 1999-2005
Bảng 10 Hiệu quả sử dụng tài sản cố định theo doanh thu của công ty đúc Tân Long giai đoạn 1999-2005 (Trang 52)
Bảng 10: Hiệu quả sử dụng tài sản cố định theo tổng sản phẩm của công ty đúc Tân Long giai đoạn 1999c-2005 - “Nghiên cứu thống kê quy mô, cơ cấu, tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng tài sản cố định của công ty đúc Tân Long thời kỳ 1999-2005
Bảng 10 Hiệu quả sử dụng tài sản cố định theo tổng sản phẩm của công ty đúc Tân Long giai đoạn 1999c-2005 (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w