1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động theo tinh thần của hiến pháp năm 2013

186 172 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 186
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy nên, việc nghiên cứu triển khai Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền của NLĐ làm nền tảng pháp lý hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ là việc cần thiết và cấp bách bởi vì i

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN BÌNH AN

HOµN THIÖN PH¸P LUËT

VÒ B¶O §¶M QUYÒN CñA NG¦êI LAO §éNG THEO TINH THÇN CñA HIÕN PH¸P N¡M 2013

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN BÌNH AN

HOµN THIÖN PH¸P LUËT

VÒ B¶O §¶M QUYÒN CñA NG¦êI LAO §éNG THEO TINH THÇN CñA HIÕN PH¸P N¡M 2013

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, số liệu tham khảo, trích dẫn trình bày trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận án

Nguyễn Bình An

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Nguyễn Đăng Dung, Khoa Luật, ĐHQGHN – Người Thầy đã định hướng nghiên cứu, tận tình hướng dẫn

và giúp tôi tháo gỡ những khó khăn trong suốt quá trình làm luận án

Trong quãng thời gian thực hiện luận án, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình về chuyên môn của các Thầy, Cô, Nhà khoa học của Bộ môn Hiến pháp – Hành chính thuộc Khoa Luật - ĐHQGHN Bên cạnh đó, tôi cũng nhận được sự động viên, góp ý khoa học của các Nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp Bằng tình cảm chân thành nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa Luật - ĐHQGHN, Phòng quản lý đào tạo đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi học tập và tham gia nghiên cứu để hoàn thành luận án này

Tôi xin gửi lời cảm ơn từ trái tim mình tới bố mẹ tôi, vợ và các con tôi đã luôn bên cạnh, yêu thương, động viên, khích lệ và ủng hộ tôi trong suốt thời gian vừa qua

Tác giả luận án

Nguyễn Bình An

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng số liệu

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 7

1.1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 7

1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề chung về bảo đảm quyền con người theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 7

1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề về bảo đảm quyền của người lao động theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 9

1.1.3 Nhóm các công trình ở nước ngoài nghiên cứu những vấn đề về bảo đảm quyền của người lao động 20

1.2 Đánh giá chung tình hình nghiên cứu và những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết 23

1.3 Giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, cơ sở lý thuyết 24

1.3.1 Giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu 24

1.3.2 Cơ sở lý thuyết 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25

Chương 2: HIẾN PHÁP NĂM 2013 VÀ TINH THẦN CỦA HIẾN PHÁP LÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 26

2.1 Vai trò, những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền của người lao động ở Việt Nam 27

2.1.1 Vai trò của Hiến pháp năm 2013 với việc bảo đảm quyền của người lao động 27

Trang 6

2.1.2 Những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 tác động đến việc bảo

đảm quyền của người lao động 29

2.2 Những yêu cầu đặt ra của Hiến pháp 2013 và những tiêu chí đánh

giá mức độ hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động ở Việt Nam 33

2.2.1 Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động theo tinh

thần của Hiến pháp năm 2013 là nhu cầu tất yếu khách quan cấp bách hiện nay 33 2.2.2 Những yêu cầu đặt ra của Hiến pháp 2013 với việc hoàn thiện pháp

luật về bảo đảm quyền của người lao động ở Việt Nam 62 2.2.3 Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền

của người lao động 67

2.3 Hiến pháp và pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động của

một số nước trên thế giới và những giá trị tham khảo cho Việt Nam 71

2.3.1 Hiến pháp và pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động của

một số nước trên thế giới 71 2.3.2 Những giá trị tham khảo cho Việt Nam 74 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 75

Chương 3: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT

VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY THEO TINH THẦN CỦA HIẾN PHÁP NĂM 2013 76 3.1 Khái quát quá trình phát triển pháp luật Việt Nam về bảo đảm

quyền của người lao động 77

3.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985 77 3.1.2 Quá trình phát triển pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền của người lao

động từ năm 1986 đến nay 78

3.2 Thực trạng pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động

được triển khai theo tinh thần của Hiến pháp năm 1992 và đang

có hiệu lực 80

3.2.1 Những thành tựu của pháp luật hiện hành về bảo đảm quyền của người lao

động bước đầu đáp ứng một số yêu cầu nhất định của Hiến pháp năm 2013 80 3.2.2 Những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về bảo đảm quyền

của người lao động đang tồn tại, chưa theo kịp những yêu cầu và tiêu chí đặt ra của Hiến pháp năm 2013 94

Trang 7

3.3 Thực trạng pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động đã được

xây dựng, sửa đổi, bổ sung theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 105

3.3.1 Những thành tựu của pháp luật về bảo đảm quyền của người lao

động đã đạt được 105 3.3.2 Một số hạn chế của pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động

cần được sửa đổi theo đúng tinh thần của Hiến pháp năm 2013 114 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 122

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG THEO TINH THẦN CỦA HIẾN PHÁP NĂM 2013 123 4.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của người

lao động theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 123

4.1.1 Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động bảo đảm tính

toàn diện, thống nhất và khả thi, đồng thời nâng cao kỹ thuật lập pháp 123 4.1.2 Bảo đảm quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ giữa người sử

dụng lao động và người lao động 126 4.1.3 Thể chế hóa các quyền của người lao động bảo đảm yêu cầu hội

nhập quốc tế 127

4.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của người lao

động theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 129

4.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật ghi nhận quyền của người lao động 129 4.2.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật thúc đẩy, bảo vệ quyền của

người lao động 138 KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 154

KẾT LUẬN 156 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 159 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 160 PHỤ LỤC 174

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ

ATVSLĐ: An toàn, vệ sinh lao động

BHTN: Bảo hiểm thất nghiệp

BHXH: Bảo hiểm xã hội

BHYT: Bảo hiểm y tế

ICCPR: Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (The

International Covenant on Civil and Political Rights)

ICESCR: Công ước Quốc tế về các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966

(The International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights)

IFC: Tổ chức Tài chính Quốc tế (The International Finance Corporation)

ILO: Tổ chức Lao động Quốc tế (The International Labour Organization)

LCĐ: Luật Công đoàn

LĐTBXH: Lao động – Thương binh và xã hội

TLĐLĐVN: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

TPP: Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (The Trans-Pacific Partnership)

Tr.: Trang

TS.: Tiến sỹ

TT: Thông tư

UBND: Ủy ban nhân dân

UDHR: Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (Universal

Declaration of Human Rights)

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1: Quyền của người lao động trong Hiến pháp 1992 và Hiến

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu Tên biểu đồ, hình vẽ Trang

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong 2 năm gần đây (2015-2016), ở nhiều tỉnh, thành phố khác nhau, rất nhiều cuộc đình công rất lớn đã xảy ra liên tiếp với số lượng hàng nghìn công nhân tham gia, điển hình như là khoảng 1.000 công nhân công ty TNHH Lợi Tín Lập Thạch (tỉnh Vĩnh Phúc) đình công phản đối người quản lý đánh đập lao động nữ; khoảng 3.000 công nhân công ty TNHH Inkel Việt Nam (thành phố Hà Nội) đình công phản đối công ty đã thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật lao động; khoảng 20.000 công nhân công ty TNHH PouChen Việt Nam (tỉnh Đồng Nai) đình công phản đối cách tính lương của công ty; hoặc cuộc đình công lớn nhất Việt Nam xảy ra vào tháng 3/2015 là khoảng 90.000 công nhân công ty TNHH PouYuen Việt Nam (thành phố Hồ Chí Minh) đình công phản đối quy định tại Điều 60, Luật BHXH năm 2014 (Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016)

Trong khi đó, Hiến pháp năm 2013 - nền tảng pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01/01/2014, đã khẳng định quyền con người trong lao động là quyền hiến định, được Hiến pháp ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm Trong chế định về quyền con người tại Chương II - Hiến pháp năm 2013, các quyền của NLĐ đã được ghi nhận, cụ thể như quyền làm việc, quyền được bảo đảm an sinh xã hội, bảo đảm các điều kiện làm việc công b ng, an toàn, được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi Hiến pháp năm 2013 dành riêng Điều 57 khẳng định trách nhiệm của Nhà nước phải bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ, NSDLĐ và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến

bộ, hài hòa và ổn định

Nội dung của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện những cam kết của Đảng và Nhà nước ta về việc đề cao, tôn trọng, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho NLĐ Tuy nhiên, thực tiễn phản ánh những bức xúc của NLĐ thông qua các cuộc đình công lớn thời gian gần đây đã cho thấy pháp luật hiện hành chưa theo kịp những yêu cầu của Hiến pháp năm 2013 nên quyền của NLĐ chưa thực sự được đảm bảo; điển hình là trường hợp Luật BHXH năm 2014, mặc dù được thông qua ngày 20/11/2014 - thời điểm Hiến pháp năm 2013 đã có hiệu lực, nhưng đã bị NLĐ đình công phản đối Điều 60 của Luật này vào tháng 3/2015 - thời điểm Luật này chưa có hiệu lực thi hành

Trang 12

Vậy nên, việc nghiên cứu triển khai Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền của NLĐ làm nền tảng pháp lý hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ là việc cần thiết và cấp bách bởi vì (i) tuân thủ mục tiêu chung về bảo đảm các quyền con người theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013, trong đó “tinh thần của Hiến pháp năm 2013” được hiểu: Trước tiên, đó là các quy định của Hiến pháp, không phụ thuộc vào một vài điều khoản cụ thể mà xuyên suốt trong toàn bộ nội dung của Hiến pháp năm 2013; sau đó là các quan điểm, tư tưởng thể hiện, phản ánh các quy định của Hiến pháp năm 2013; (ii) là sự đòi hỏi tất yếu từ xã hội bởi nó đảm bảo cuộc sống

và sự phát triển toàn diện của NLĐ, ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của đất nước; và (iii) những yêu cầu từ những hiệp định quốc tế trong xu thế hội nhập của Việt Nam Bảo đảm quyền của NLĐ, theo nhìn nhận của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama trong bài phát biểu của mình tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội ngày 24/5/2016, là nh m “bảo đảm thịnh vượng kinh tế và an ninh quốc gia” [106]

Với mong muốn góp phần vào việc đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013, tác giả đã

lựa chọn và thực hiện nghiên cứu ở bậc tiến sỹ với đề tài “Hoàn thiện pháp luật về

bảo đảm quyền của người lao động theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013”

Theo tác giả, đề tài cần thiết được nghiên cứu bởi vì:

Thứ nhất, giống như nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam rất chú trọng

việc xây dựng và hoàn thiện các chế định bảo đảm, bảo vệ quyền con người nói chung, quyền của NLĐ nói riêng Do đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu những cơ sở lý luận quan trọng từ Hiến pháp nh m hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền của NLĐ

là cần thiết và có cơ sở

Thứ hai, Hiến pháp năm 2013 ghi nhận các quyền của NLĐ và cần thiết

phải bảo đảm Vì vậy, đề tài nghiên cứu triển khai Hiến pháp năm 2013 thiết lập

cơ sở pháp lý nh m đưa ra quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ

Thứ ba, khi tham gia các hiệp định song phương và đa phương, phục vụ cho

sự phát triển bền vững của đất nước, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu bức thiết phải hoàn thiện về mặt lý luận và thực tiễn bảo đảm quyền của NLĐ theo các chuẩn mực quốc tế được cộng đồng quốc tế công nhận Do vậy, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và định hướng bảo đảm các quyền của NLĐ xuất phát từ thực tiễn khách quan, tất yếu nếu muốn hướng tới sự phát triển bền vững

Trang 13

Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy, việc ghi nhận, thúc đẩy và bảo vệ quyền của NLĐ đi từ pháp luật vào thực tiễn cuộc sống đã được xây dựng và phát huy hiệu quả nhất định nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập chưa theo kịp những yêu cầu đặt ra từ Hiến pháp năm 2013 như là: còn có một số quy phạm pháp luật chưa rõ ràng, minh bạch; còn chứa đựng nhiều quy định thiếu hợp lý; còn tồn tại một số quy định chưa khả thi, chưa phù hợp với thực tiễn; còn một số quy định chưa đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất Những điều này đòi hỏi phải có sự sửa đổi,

bổ sung nh m hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ, phù hợp với những yêu cầu theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở nhận thức rõ về tính cấp thiết của đề tài, mục đích nghiên cứu của Luận án là nghiên cứu lý luận từ Hiến pháp năm 2013 và thực trạng pháp luật bảo đảm quyền của NLĐ, đề xuất những quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo đảm những quyền đó

Để đạt được những mục đích nêu trên, Luận án sẽ phải thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau đây:

Thứ nhất, phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài,

những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu; đưa ra giả thiết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu để làm sâu sắc thêm lý luận hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ từ nền tảng pháp lý quan trọng là Hiến pháp năm 2013

Thứ hai, nghiên cứu cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền

của NLĐ: làm rõ vai trò, những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền của NLĐ; những yêu cầu đặt ra của Hiến pháp năm 2013 với việc hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ ở Việt Nam; những tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ; tham khảo Hiến pháp và pháp luật một số quốc gia trên thế giới về bảo đảm quyền của NLĐ, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Thứ ba, khái quát quá trình phát triển, đánh giá thực trạng pháp luật về bảo

đảm quyền của NLĐ ở Việt Nam Qua đó, khẳng định những bước phát triển, những ưu điểm phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 cần được phát huy, đồng thời, tìm ra những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về bảo đảm quyền của NLĐ ở Việt Nam chưa đáp ứng những yêu cầu đặt ra của Hiến pháp năm 2013

Trang 14

Thứ tư, trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về bảo

đảm quyền của NLĐ ở Việt Nam, luận án đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm các quyền của NLĐ tại Việt Nam phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực

tiễn pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 và tinh thần của Hiến pháp về bảo đảm quyền của NLĐ

- Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ trong toàn quốc nhưng chỉ giới hạn ở NLĐ mang quốc tịch Việt Nam trong bối cảnh quan hệ lao động tại Việt Nam

Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu Hiến pháp và pháp luật Việt Nam từ năm 1992 cho đến nay

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử là những phương pháp luận khoa học chủ yếu được vận dụng trong toàn bộ các chương của luận án để làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, luận án còn dựa trên cơ sở các quan điểm, định hướng của Đảng và nhà nước về quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

- Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử

dụng để thực hiện luận án bao gồm phương pháp hồi cứu các tài liệu, thống kê, phân tích, chứng minh, so sánh, tổng hợp, phỏng vấn chuyên gia Cụ thể là:

+ Phương pháp hồi cứu các tài liệu được sử dụng để tập hợp các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài dựa trên các mốc thời gian, lĩnh vực pháp luật

nh m lựa chọn, tập hợp một cách đầy đủ nhất các tài liệu liên quan đến đề tài ở các nguồn khác nhau Phương pháp này được sử dụng để tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài và được kết hợp với các phương pháp khác trong quá trình tìm hiểu các vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ

+ Phương pháp thống kê được sử dụng để ghi chép, cập nhật số liệu, các thông tin, sự kiện theo trình tự, cách thức nhất định Phương pháp này được áp

Trang 15

dụng cho những vấn đề cần chứng minh từ số liệu, sự kiện được tập hợp và có độ tin cậy xác định

+ Phương pháp phân tích được sử dụng ở tất cả các nội dung của luận án

nh m để phân tích và tìm hiểu các vấn đề lý luận, các quy định của Hiến pháp cũng như thực trạng pháp luật, các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ theo mục đích và nhiệm vụ mà luận án đã đặt ra

+ Phương pháp chứng minh được sử dụng ở hầu hết các nội dung luận án,

nh m đưa ra các dẫn chứng (các quy định, tài liệu, số liệu, vụ việc thực tiễn ) làm

rõ các luận điểm, luận cứ trong các nội dung về lý luận ở chương 1, chương 2, các nhận định trong các nội dung ở chương 3 và đặc biệt là những giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ trong chương 4 của luận án

+ Phương pháp so sánh được dùng ở hầu hết các nội dung của luận án nh m đối chiếu các quan điểm khác nhau giữa các nhà khoa học trong các công trình nghiên cứu; giữa quy định của Hiến pháp n m 2013 về bảo đảm quyền của NLĐ với quy định của Luật Nhân quyền Quốc tế và ILO

+ Phương pháp tổng hợp được sử dụng để tổng hợp các số liệu tri thức có từ hoạt động phân tích tài liệu, tham khảo ý kiến của chuyên gia Việc tổng hợp nh m mục đích đưa ra những luận giải, đề xuất của chính tác giả luận án Phương pháp tổng hợp sẽ được sử dụng ở chương 3, chương 4

+ Phương pháp phỏng vấn chuyên gia được sử dụng để khai thác ý kiến đánh giá của các chuyên gia có trình độ cao để xem xét, nhận định vấn đề khoa học để tìm ra giải pháp tối ưu cho vấn đề đó Phương pháp này được viết ở chương 4

5 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Kết quả của việc nghiên cứu luận án đối với đề tài “Hoàn thiện pháp luật về

bảo đảm quyền của người lao động theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013” đem

lại những điểm mới sau đây:

Thứ nhất, luận án phân tích hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ

trên cơ sở lý luận từ Hiến pháp năm 2013 và tinh thần của Hiến pháp về bảo đảm quyền của NLĐ: làm rõ vai trò, những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền của NLĐ; những yêu cầu đặt ra của Hiến pháp năm 2013 với việc hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ ở Việt Nam, góp phần làm phong phú

về mặt học thuật của khoa học luật về bảo đảm quyền của NLĐ

Trang 16

Thứ hai, luận án phân tích và đánh giá khá đầy đủ và tương đối toàn diện

thực trạng pháp luật về bảo đảm các quyền của NLĐ ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra được những khiếm khuyết, hạn chế và bất cập của pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ ở Việt Nam

Thứ ba, trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về bảo đảm quyền

của NLĐ, luận án nghiên cứu, đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm các quyền của NLĐ tại Việt Nam theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

So với các công trình đã công bố, luận án đề cập một cách hệ thống và tương đối toàn diện đối với pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn

Về mặt lý luận: Luận án là công trình chuyên khảo cấp độ luận án tiến sỹ nghiên cứu pháp luật về bảo đảm quyền hiến định của NLĐ ở Việt Nam, là công trình nghiên cứu các vấn đề lý luận hiến định về bảo đảm quyền của NLĐ, đánh giá thực trạng pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ, kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ ở Việt Nam theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập của sinh viên, học viên luật trong các cơ sở đào tạo luật

Về mặt thực tiễn: Những nghiên cứu, kết luận, đề xuất của luận án có ý nghĩa quan trọng đối với việc triển khai Hiến pháp năm 2013 nh m xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ ở Việt Nam; góp phần phát triển

lý luận pháp luật về bảo đảm quyền con người trong lao động theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013

7 Bố cục của Luận án

Luận án này bao gồm phần Mở đầu và bốn (4) chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những

vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Chương 2: Hiến pháp năm 2013 và tinh thần của Hiến pháp là cơ sở lý luận

hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động

Chương 3: Quá trình phát triển và thực trạng pháp luật về bảo đảm quyền của

người lao động ở Việt Nam hiện nay theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013

Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền

của người lao động theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

Con người khác loài vật ở chỗ phải lao động, đồng thời lao động cũng là yếu

tố cơ bản cho việc phát triển xã hội và phát triển con người Vì vậy, bất cứ chế độ nào cũng cần phải quan tâm đến vấn đề lao động của con người Quyền của con người trong lao động được cộng đồng quốc tế công nhận trên phạm vi toàn cầu kể

từ khi có UDHR, ICCPR, ICESCR ILO đã cụ thể hóa các quyền của NLĐ thông qua 189 Công ước Từ tầm quan trọng đó, nghiên cứu pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ luôn là đề tài cho các học giả, các chuyên gia nghiên cứu góp phần thúc đẩy các quốc gia thành viên thực hiện các nghĩa vụ ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền của NLĐ trong thực tiễn

Cho đến nay, rất nhiều đề tài nghiên cứu, sách, báo, tạp chí đã đề cập đến các vấn đề, các khía cạnh liên quan pháp luật bảo đảm quyền của NLĐ ở các góc độ tiếp cận khác nhau Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu, các công trình của các tác giả trong và ngoài nước, luận án khái quát đánh giá và phân tích các công trình nghiên cứu có liên quan thành nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề chung

về bảo đảm quyền con người theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013, nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề về bảo đảm quyền của người lao động theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013, và nhóm các công trình ở nước ngoài nghiên cứu những vấn đề về bảo đảm quyền của người lao động nh m tránh được sự trùng lặp

về góc độ tiếp cận cũng như nội dung

1.1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề chung về bảo đảm quyền con người theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013

Hiến pháp năm 2013 xác định rõ ràng các quyền của NLĐ, và theo GS.TS

Hoàng Thị Kim Quế trong bài “Nghĩa vụ của con người, công dân: Những vấn

đề đặt ra trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992” đăng trên Tạp chí Nghiên

cứu lập pháp số 18 năm 2012, Hiến pháp thể hiện vai trò, giá trị, công năng thiết thực và uy tín của hiến pháp trong việc bảo vệ, bảo đảm các quyền, tự do của con người [89, tr.19]

Trong bài “Những chế định mới về quyền con người trong Hiến pháp năm

Trang 18

2013” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 24 năm 2014, tác giả Hoàng Văn

Nghĩa cũng đưa ra biện pháp rà soát hệ thống pháp luật và chính sách, bao gồm việc sửa đổi, bổ sung BLLĐ, Luật BHXH và nhấn mạnh trách nhiệm thi hành Hiến pháp và tôn trọng, bảo đảm và thực hiện quyền con người nói chung trước hết thuộc

về các cơ quan nhà nước [77, tr.14]

Theo tác giả Chu Hồng Thanh trong bài Hiến pháp năm 2013 với việc thực

thi các điều ước quốc tế về quyền con người của Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 đã

củng cố hầu hết các quyền, trong đó gồm có quyền về lao động – việc làm (Điều 35), quy định rõ hơn hoặc tách thành các điều riêng cho phù hợp với các quy định trong các điều ước quốc tế về nhân quyền [96, tr.23]

TS Hoàng Hùng Hải nhận định trong bài Bảo đảm quyền con người: Tư

tưởng chủ đạo của Hiến pháp năm 2013, Hiến pháp năm 2013 lấy tư tưởng, quyết

tâm bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người làm tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt trong quá trình sửa đổi, xây dựng Hiến pháp Đi đôi với củng cố, phát triển quyền con người trong xây dựng Hiến pháp, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang nỗ lực phấn đấu đưa những quy định của Hiến pháp vào thực hiện trong thực tiễn cuộc sống [47, tr.73]

Trong bài Quy định hiến pháp năm 2013 về khiếu nại, tố cáo & những yêu

cầu đặt ra trong việc hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo của GS.TS Nguyễn

Đăng Dung, hoạt động giải quyết khiếu nại của công dân, cơ quan, tổ chức chính là biện pháp hữu hiệu nh m bảo đảm quyền khiếu nại của nhân dân được thực hiện trên thực tế, qua đó bảo vệ, khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của họ khi bị xâm hại bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước Đồng thời, thực hiện tốt hoạt động này còn giúp các cơ quan nhà nước phát hiện những sai lầm, hạn chế trong hoạt động của mình để kịp thời uốn nắn, sửa chữa nh m nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước [21, tr.15]

Trong bài Vai trò bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân

của tòa án theo Hiến pháp năm 2013, GS.TS Nguyễn Đăng Dung nhìn nhận, một

trong những thành công lớn của Hiến pháp năm 2013 là việc quy định tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người; bởi nếu không nâng cấp tòa án trở thành nơi thực hiện quyền tư pháp bảo vệ công lý, thì những quy định về nhân quyền của Hiến pháp có nguy cơ trở thành những tuyên bố chung chung một cách hình thức, mà không có hiệu lực thực thi Ngược lại, nếu không có quy định một cách rõ ràng

Trang 19

quyền con người trong Hiến pháp, thì tòa án cũng không có phương hướng rõ rệt cho việc bảo vệ [24, tr.743-744]

Trong bài “Vai trò của tòa án trong việc bảo vệ quyền công dân” của Đặng Công

Cường đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 22 năm 2013, tác giả nêu cơ sở lý luận về vai trò của tòa án trong việc bảo vệ quyền công dân và kiến nghị một số giải pháp nâng cao vai trò của tòa án, trong đó yêu cầu Hiến pháp cần quy định trao quyền xét xử hành

vi vi hiến của cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp cho tòa án [16, tr.11]

Trong bài “Bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong pháp

luật hành chính Việt Nam (Một số vấn đề có tính phương pháp luận, định hướng nghiên cứu” đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học số 28 năm 2012,

các tác giả Phạm Hồng Thái và Nguyễn Thị Thu Hương nhận định, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân là việc tạo ra các tiền đề, điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý và tổ chức để cá nhân, công dân, các tổ chức của công dân thực hiện được các quyền, tự do, lợi ích chính đáng của họ đã được pháp luật ghi nhận [93, tr.1-2]

1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề về bảo đảm quyền của người lao động theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013

Nội dung của nhiều công ước ILO đã được các nhà làm luật đưa vào Hiến pháp năm 2013 Các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về quyền của người lao động theo Hiến pháp năm 2013, về quyền của người lao động theo các công ước của ILO

Đề tài nghiên cứu khoa học: “Hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam trong

tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” năm 2007 do PGS.TS Lê Thị Hoài Thu làm chủ

nhiệm đã nghiên cứu những nội dung cơ bản của pháp luật lao động Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới Trên cơ sở đó, đề tài chỉ ra lợi ích của các bên trong quan hệ lao động và đưa ra thực trạng pháp luật lao động Việt Nam trong những năm qua để từ đó thấy được sự bất cập cả về mặt lập pháp cũng như thực tiễn thực hiện Đồng thời đưa ra một số nhận xét và phương hướng khắc phục những bất hợp lý trong quy định hiện hành, bổ sung, sửa đổi hoặc tách BLLĐ thành những đạo luật riêng, xây dựng LCĐ nh m hoàn thiện pháp luật lao động và quyền công đoàn của NLĐ trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới

Đề tài khoa học cấp trường (Đại học luật TP Hồ Chí Minh): “Quyền con người

của NLĐ trong Luật lao động Việt Nam” nghiệm thu vào tháng 12/2010 do TS Lê Thị

Trang 20

Thúy Hương làm chủ nhiệm đã nghiên cứu, phân tích thực trạng về sự bảo đảm quyền con người của NLĐ, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại cần khắc phục

Từ những nghiên cứu đó, đề tài đã đưa ra những kiến nghị nh m hoàn thiện pháp luật lao động ở góc độ bảo đảm quyền con người của NLĐ

Đề tài nghiên cứu khoa học với mã số QG.10.33: “Pháp luật về quan hệ lao

động Việt Nam - thực trạng và phương hướng hoàn thiện” năm 2012 do PGS.TS Lê

Thị Hoài Thu làm chủ nhiệm đã nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản

về quan hệ lao động như: cách tiếp cận, quan niệm hiện nay, chủ đề, đặc điểm, điều kiện tồn tại và phát triển, yêu cầu của việc điều chỉnh pháp luật Đề tài cũng đã tham khảo các công ước, khuyến nghị có liên quan của ILO, qui định của pháp luật một số nước về quan hệ lao động làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật về quan hệ lao động ở Việt Nam Đánh giá thực trạng pháp luật về quan hệ lao động ở Việt Nam, chỉ

ra những nội dung còn hạn chế, thiếu sót, chưa phù hợp Từ đó, đề tài luận giải về nhu cầu hoàn thiện các qui định của pháp luật về quan hệ lao động ở Việt Nam

Trong bài Những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 liên quan đến các

quyền về lao động, việc làm và một số kiến nghị, tác giả Lê Thị Hoài Thu đã phân

tích những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 liên quan đến các quyền về lao động, việc làm, gồm có quyền về lao động, việc làm; quyền được hưởng lương;quyền nhân thân; quyền bảo đảm an sinh xã hội của công dân; dẫn chiếu pháp luật Việt Nam hiện hành và so sánh với một số công ước của ILO [98, tr.638-656]

Tác giả Trần Nguyên Cường đã có những phân tích chi tiết đối với quan niệm về quyền việc làm trong pháp luật quốc tế và trong pháp luật Việt Nam cùng

với những biện pháp bảo đảm trong bài Bảo đảm quyền việc làm theo Hiến pháp

năm 2013 [19, tr.657-666]

Tác giả Phan Thị Nhật Tài đã có những phân tích chi tiết về các quy định

chống lao động cưỡng bức trong các công ước của ILO trong bài Quy định chống

lao động cưỡng bức trong các công ước ILO đăng trên Tạp chí Pháp luật và phát

triển Theo đó, tác giả nhận định, các công ước quốc tế qui định khá cụ thể về những hành vi được coi là lao động cưỡng bức và trách nhiệm của các quốc gia trong việc ban hành các qui định pháp luật để chống lại hiện tượng lao động cưỡng bức một cách có hiệu quả Những hình thức lao động cưỡng bức rất đa dạng và nhiều khi rất ẩn Vì thế, cần xây dựng được những tiêu chí cụ thể để xác định lao động cưỡng bức [91, tr.32]

Trang 21

Trong bài “Hiến định về an sinh xã hội” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập

pháp số 14 năm 2014, tác giả Bùi Ngọc Thanh đã trình bày nội hàm cơ bản của an sinh xã hội, vấn đề hiến định nội hàm của an sinh xã hội trong Hiến pháp năm

2013 Qua đó, tác giả nhấn mạnh hiến định về an sinh xã hội trong Hiến pháp năm

2013 đã có sự hội nhập quốc tế sâu rộng, thể hiện hoàn chỉnh các nội dung mà Việt Nam đã nhất trí về 8 mục tiêu trong Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ Đại Hội đồng Liên hiệp quốc tháng 9/2000 tại NewYork, Hoa Kỳ [94, tr.19-25]

Về quyền được bảo đảm an sinh xã hội trong Hiến pháp năm 2013, TS

Lương Minh Tuân nhận định trong bài Quyền được bảo đảm an sinh xã hội, quyền

được sống trong môi trường trong lành trong Hiến pháp năm 2013: Khả năng thực hiện và kiến nghị, Nhà nước phải có nghĩa vụ tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền

được bảo đảm an sinh xã hội Nghĩa vụ này của Nhà nước được thực hiện bởi các

cơ quan nhà nước khi thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và cả khi thực hiện quyền tư pháp [112, tr.692-693]

Trong cuốn chuyên khảo “Quyền an sinh xã hội và đảm bảo thực hiện trong

pháp luật Việt Nam” của Khoa Luật – ĐHQGHN do PGS.TS Lê Thị Hoài Thu chủ

biên, in tại NXB ĐHQGHN năm 2014, PGS.TS Lê Thị Hoài Thu khẳng định, mặc

dù hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ nhưng khả năng xảy ra vi phạm, xâm hại đến quyền của NLĐ (quyền an sinh xã hội) là điều khó tránh khỏi Do đó, việc quy định và áp dụng các biện pháp chế tài thích hợp đối với các chủ thể xâm hại quyền

của NLĐ là điều cần thiết [60, tr.309]

Trong bài Quyền tự do hiệp hội trên thế giới và gợi mở cho việc bảo đảm

quyền này theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013, các tác giả Lã Khánh Tùng và Vũ

Công Giao nhìn nhận, khái niệm “quyền lập hội” trong Hiến pháp năm 2013 hẹp hơn khái niệm “quyền hiệp hội”; và hệ thống luật pháp về quyền tự do hiệp hội ở Việt Nam mang nặng tính hành chính, coi trọng sự quản lý thuận tiện của nhà nước và coi nhẹ quyền tự do ý chí, tự do thỏa thuận, hợp đồng của người dân [111, tr.467-468]

Trong bài viết “Pháp luật chống phân biệt đối xử về giới tại nơi làm việc ở

Việt Nam và Australia – Nghiên cứu so sánh” đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý

số 1 năm 2010, theo tác giả Đỗ Hải Hà, căn cứ theo quy định của Ðạo luật phân biệt giới tính năm 1984 thì ở Australia, việc đối xử thiếu thiện cảm với một người vì giới tính, tình trạng hôn nhân hoặc thai nghén của họ, được coi là một hành vi phạm

Trang 22

pháp Ðạo luật này cũng ngăn cấm việc sa thải nhân viên vì những trách nhiệm của

họ đối với gia đình Đồng thời, đạo luật phân biệt giới tính còn ngăn cấm hành vi sách nhiễu tình dục Từ đó, tác giả phân tích, đối chiếu với các quy định của pháp luật Việt Nam và kiến nghị các biện pháp hoàn thiện pháp luật [41, tr.45-54]

Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 23 năm 2014 có đăng bài “Kiến nghị hoàn

thiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động từ kinh nghiệm quốc tế” của tác giả Bùi Sỹ

Lợi Theo đó, tác giả đã chỉ ra những quy định trong các Công ước do ILO ban hành như Công ước số 155, số 61, số 120, số 152, số 167, số 176, số 184 , các quy định của Liên minh Châu Âu, Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản Qua đó, tác giả kiến nghị cần phải có Luật ATVSLĐ; tiếp cận phòng ngừa rủi ro tai nạn nh m đảm bảo tính mạng, an toàn cho NLĐ [68, tr.59-64]

Về quyền tự do công đoàn của NLĐ, tác giả Cao Nhất Linh đã nêu lên trong

bài “Quyền thành lập, tham gia công đoàn trong luật quốc tế và luật Việt Nam” đăng

trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 5 năm 2010, theo ILO, quyền tự do công đoàn của NLĐ bao gồm quyền được thành lập và gia nhập công đoàn theo sự lựa chọn của

họ căn cứ theo Điều 2, Công ước số 87 của ILO (năm 1948) NLĐ được thành lập nhiều công đoàn khác nhau trong một cơ sở lao động Những NLĐ khác có quyền tự

do lựa chọn tham gia vào công đoàn này, hay công đoàn khác để bảo vệ lợi ích của mình một cách tốt nhất Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa phải là thành viên của bất kỳ Công ước nào của ILO về quyền tự do công đoàn nêu trên LCĐ Việt Nam vẫn chưa đảm bảo hết quyền tham gia thành lập và gia nhập công đoàn của NLĐ bởi một số hạn chế nhất định Những hạn chế này sẽ không có khả năng khắc phục nếu chúng ta không chấp nhận đa nguyên công đoàn và không chấp nhận cho người nước ngoài thành lập

và gia nhập công đoàn khi họ lao động trên lãnh thổ Việt Nam [66, tr.37-40]

Luận án Tiến sĩ luật học “Pháp luật công đoàn trong điều kiện phát triển

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” (năm 2012) của tác giả

Trần Thị Thanh Hà, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã tập trung nghiên cứu về pháp luật công đoàn Tác giả đã nêu quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật công đoàn ở Việt Nam như sau: Sửa đổi, bổ sung LCĐ năm 1990

nh m nâng cao vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi của NLĐ; sửa đổi,

bổ sung pháp luật về lao động, việc làm, về giải quyết tranh chấp lao động; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật công đoàn; nâng cao chất lượng xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp với chính quyền chuyên môn cùng

Trang 23

cấp; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện LCĐ; đổi mới tổ chức và hoạt động của công đoàn [44]

Trong bài “Kinh nghiệm từ các quy định về thành lập và tổ chức đại diện lao

động của một số nước” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 8 năm 2015, tác

giả Đào Mộng Điệp đã trình bày các nguyên tắc thành lập, gia nhập tổ chức đại diện lao động và chủ thể có quyền thành lập, gia nhập tổ chức đại diện lao động, cũng như các thủ tục, cơ cấu tổ chức có liên quan, trong đó nhấn mạnh tính độc lập của tổ chức đại diện lao động và đưa ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam [35, tr.59-62]

Tác giả Đào Mộng Điệp viết bài “Đại diện lao động trong BLLĐ” đăng trên

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN - Luật học số 28 năm 2012 cho r ng, nội dung BLLĐ sửa đổi gồm rất nhiều vấn đề về thương lượng tập thể, thỏa ước lao động tập thể; HĐLĐ; tiền lương; kỷ luật lao động đặc biệt là chế định đại diện lao động Những

cơ sở pháp lý điều chỉnh về đại diện lao động trong BLLĐ tạo ra một “rào chắn an toàn” để bảo đảm quyền lợi của tập thể lao động trong quan hệ lao động, xác lập vị thế bình đẳng giữa NLĐ và NSDLĐ Tuy nhiên, nội dung của việc sửa đổi, bổ sung

để đáp ứng được điều kiện hội nhập sâu rộng quốc tế với thị trường lao động đa dạng phong phú là một thách thức đặt ra trong giai đoạn hiện nay [36, tr.224]

Luận án Tiến sĩ luật học “Quyền của lao động nữ theo pháp luật Việt Nam”

năm 2016 của tác giả Đặng Thị Thơm tại Học viện Khoa học xã hội đã nghiên cứu phân tích quyền của lao động nữ dưới góc độ quyền con người, thực trạng bảo vệ quyền của lao động nữ ở Việt Nam Tác giả nhận định, bảo vệ quyền của lao động

nữ được thực hiện thông qua nhiều biện pháp mang tính xã hội như liên kết tổ chức, thương lượng tập thể hoặc kinh tế như bồi thường thiệt hại, đình công, xử phạt hoặc mang tính tư pháp như giải quyết tranh chấp tại Tòa án, truy tố tội phạm trong lĩnh vực lao động Từ đó, tác giả kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền của lao động nữ xoay quanh các biện pháp xã hội, kinh tế và tư pháp [97]

Trong bài “Pháp luật HĐLĐ từ quy định đến thực tiễn” đăng trên Tạp chí

Nghiên cứu lập pháp số 23 năm 2014, tác giả Lê Thị Hoài Thu đã trình bày các quy định của pháp luật có liên quan đến quyền làm việc của NLĐ trong quan hệ lao động Theo đó, tác giả đã nêu các quy định về giao kết HĐLĐ; thực hiện, sửa đổi,

bổ sung, tạm hoãn HĐLĐ; chấm dứt và giải quyết chế độ cho NLĐ khi chấm dứt

HĐLĐ [100, tr.51-58] Trong bài “Hoàn thiện pháp luật về việc làm dưới tác động

của công cuộc hội nhập quốc tế” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 20 năm

Trang 24

2012, tác giả Trần Thắng Lợi đã chỉ ra tác động của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực việc làm, qua đó kiến nghị hoàn thiện pháp luật về việc làm theo các định hướng

mở rộng đối tượng điều chỉnh, chính sách bảo đảm việc làm, bảo đảm các quyền làm việc, quyền bình đẳng về việc làm giữa nam và nữ trong công việc, quyền không bị phân biệt đối xử [67, tr.40-41] Tác giả Nguyễn Duy Phương kiến nghị về giải quyết việc làm: giải quyết việc làm phải thực hiện một nguyên tắc cơ bản là đảm bảo công b ng xã hội; nhà nước hỗ trợ về tài chính để xúc tiến việc làm, đào tạo nghề cho NLĐ; cụ thể hóa các điều 12, 13, 14 của BLLĐ [83, tr.44-45]

Trong bài viết “Thực thi nghiêm chỉnh pháp luật về quan hệ lao động để bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công nhân lao động” của TS Bùi Ngọc Thanh

được đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4 năm 2007, tác giả đã phân tích quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật của ba chủ thể: Nhà nước – NLĐ – NSDLĐ, chỉ ra những khuyết nhược điểm chủ yếu Từ đó, tác giả nêu lên những giải pháp cho cả ba bên nh m mục đích thực thi nghiêm chỉnh các quy định pháp luật về quan hệ lao động [95, tr.33-35]

Tác giả Lê Thị Hoài Thu cũng có nhận định cần xây dựng các đạo luật chuyên biệt để giải quyết từng nhóm vấn đề lớn liên quan đến các quyền an sinh xã

hội, việc làm, ATVSLĐ trong bài “Quan hệ lao động và những vấn đề đặt ra

trong việc điều chỉnh pháp luật ở Việt Nam” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp

số 23 năm 2013 [102, tr.47]

Tác giả Lưu Bình Nhưỡng đã chỉ ra hàng loạt những hạn chế của thực trạng

lao động, việc làm trong hệ thống pháp luật lao động trong bài viết “Thực tiễn áp

dụng BLLĐ và hướng hoàn thiện pháp luật lao động” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu

lập pháp số 5 năm 2009, gồm có: thiếu tính pháp điển, thiếu những định nghĩa cơ bản, chính xác, chưa tiếp thu hết những quy tắc căn bản của quan hệ lao động trong kinh tế thị trường, có quy định chưa chuẩn hợp với các đạo luật liên quan, vai trò của Nhà nước chưa rõ ràng, chưa tiếp cận, tiếp nhận và thích ứng mạnh với các tiêu chuẩn lao động quốc tế [79, tr.38-40]

Tác giả Bùi Sỹ Lợi phân tích khái quát thực trạng bất cập trong BLLĐ hiện

hành trong bài Những bất cập của BLLĐ hiện hành và một số quan điểm sửa đổi

BLLĐ trong Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 1+2 năm 2012 Theo đó, tác giả nhấn

mạnh nguyên tắc thỏa thuận trong quan hệ lao động chưa được tôn trọng, Nhà nước can thiệp quá sâu vào vấn đề riêng của NLĐ và doanh nghiệp, các quy định trong

Trang 25

giải quyết tranh chấp vẫn bế tắc và không được thực tiễn chấp nhận [69, tr.65-66]

Trong cuốn chuyên khảo Bảo đảm quyền con người trong pháp luật lao động

Việt Nam của Khoa Luật - ĐHQGHN, NXB ĐHQGHN (năm 2013), các tác giả đã

thống kê các quyền cơ bản trong lao động, gồm có quyền được làm việc, quyền tự

do không bị lao động cưỡng bức, quyền được hưởng mức lương công b ng, hợp lý

và được trả lương b ng nhau cho những công việc như nhau, quyền được đảm bảo điều kiện làm việc an toàn và vệ sinh, quyền nghỉ ngơi, quyền công đoàn và quyền hưởng an sinh xã hội Qua đó, các tác giả đã nêu ra hàng loạt kiến nghị nh m khắc phục những hạn chế, bất cập đó, hướng tới đảm bảo quyền của người lao động theo những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận [62]

Sách chuyên khảo Giới thiệu pháp luật về quan hệ lao động của một số nước

trên thế giới của Trung tâm hỗ trợ phát triển quan hệ lao động – Bộ LĐTBXH,

NXB Lao động – xã hội, năm 2011 Theo đó, trong các bài viết ở Phần 1, các tác giả đã nêu ra, luật pháp về quan hệ lao động tác động lên hai nhân tố cơ bản: (i) Nhân tố chủ thể: NLĐ, tổ chức đại diện NLĐ và NSDLĐ, tổ chức đại diện NSDLĐ;

và (ii) Sự tương tác giữa các chủ thể đó Theo đó, nhiệm vụ chính của nhà nước là công nhận quyền tự do hiệp hội và thương lượng của hai bên, tôn trọng tối đa quyền

tự quyết của các bên trong thương lượng, tạo cơ chế để các bên tương tác theo hướng thỏa thuận một cách hài hòa, cùng có lợi và giảm tối đa xung đột [108]

Thực trạng của thủ tục thương lượng tập thể cũng được nhiều công trình

khoa học phản ánh: với hai bài viết “Quy trình thương lượng tập thể trong quan hệ

lao động ở Việt Nam hiện nay” và bài “Đại diện thương lượng phía tập thể lao động trong doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay” đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật

trực tuyến, tác giả Nguyễn Huy Khoa đánh giá BLLĐ năm 2012 đã bảo đảm tốt hơn

sự tham gia của NLĐ trong quá trình chuẩn bị thương lượng và trong quá trình thông qua thỏa ước Tuy nhiên, BLLĐ năm 2012 lại chưa có những quy định về sự tham gia của NLĐ trong chính quá trình thương lượng Vì vậy, tác giả Nguyễn Huy Khoa kiến nghị cần quy định cụ thể hơn về vai trò của công đoàn cấp trên trực tiếp trong thương lượng tập thể tại doanh nghiệp đã có công đoàn cơ sở theo hướng công đoàn cấp trên trực tiếp có quyền thương lượng trực tiếp và đầy đủ đối với thương lượng tập thể ở những doanh nghiệp đã có tổ chức công đoàn [57, 58] Với những quan điểm tương đồng với tác giả Nguyễn Huy Khoa, các tác giả Hoàng Thị

Minh đề cập trong luận án tiến sĩ của mình, tác giả Đỗ Thị Dung với bài “Hoàn

Trang 26

thiện pháp luật về thỏa ước lao động tập thể ở nước ta trong thời gian tới”, tác giả

Đỗ Năng Khánh với bài “Hoàn thiện và thực hiện pháp luật về thỏa ước lao động

tập thể”, sau khi đánh giá thực trạng đều chung nhận định r ng, một khi cơ chế thực

hiện pháp luật không hiệu quả, quyền lợi của NLĐ sẽ trở nên bấp bênh, như lương thấp, điều kiện làm việc kém, thời giờ làm việc kéo dài, bị đối xử bất công ; qua

đó kiến nghị tăng cường hoạt động của tổ chức công đoàn, trong đó ưu tiên phát triển công đoàn cơ sở; tạo điều kiện cho công đoàn hoạt động độc lập b ng biện pháp trước mắt là sắp xếp cán bộ công đoàn chuyên trách và những cán bộ này nên hưởng lương từ nguồn thu của công đoàn cơ sở, gắn liền với hiệu quả hoạt động của công đoàn [55, tr.53-54]

Tác giả Hoàng Thị Minh đề cập các quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục thương lượng tập thể (chủ thể, trình tự ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập

thể) trong luận án tiến sĩ “Thỏa ước lao động tập thể - nghiên cứu so sánh giữa pháp

luật lao động Việt Nam và Thụy Điển” năm 2011 Tác giả nghiên cứu các vấn đề liên

quan đến thỏa ước lao động tập thể như khái niệm, đặc trưng của thỏa ước lao động

tập thể; ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể [72, tr.35-60] Trong bài “Một

số vấn đề lý luận về thỏa ước lao động tập thể”, tác giả Đỗ Năng Khánh đã chỉ ra bản

chất, đặc điểm, ý nghĩa, vai trò của thỏa ước lao động tập thể [56, tr.48-51]

Trong bài “Chế định về hòa giải viên lao động và nhu cầu hòa giải tranh

chấp lao động hiện nay” đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 22 năm 2012, tác giả

Hoàng Thị Việt Anh đã phân tích thực trạng hoạt động hòa giải của hòa giải viên lao động, trong đó chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu về điều kiện tuyển chọn hòa giải viên lao động, thời gian tổ chức phiên họp hòa giải và kinh phí cho hoạt động hòa giải [3, tr.16-17]

Tác giả Vũ Thị Thu Hiền đã trình bày vai trò, ý nghĩa của hòa giải viên lao động tiến hành thủ tục hòa giải để giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích

trong bài viết “Thực trạng pháp luật giải pháp tranh chấp lao động tập thể về lợi

ích tại hòa giải viên lao động và kiến nghị hoàn thiện” đăng trên Tạp chí Dân chủ

và pháp luật số 6 năm 2015 Tác giả cũng đã nghiên cứu pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới về các quy định trong thủ tục hòa giải, cách thức ghi nhận và thực hiện kết quả hoà giải [47, tr.43-48]

Về thủ tục hòa giải, tác giả Dương Quỳnh Hoa đã viết bài “Hòa giải trong tố

tụng dân sự của Việt Nam và Nhật Bản nhìn từ góc độ so sánh” đăng trên Tạp chí Nhà

Trang 27

nước và pháp luật số 2 năm 2008 Tác giả đã giới thiệu thủ tục hòa giải trong tố tụng dân sự theo pháp luật Nhật Bản, bao gồm thẩm quyền hòa giải, trung gian hòa giải, bí mật thông tin và văn bản thỏa thuận Tác giả đã so sánh pháp luật về hòa giải giữa Việt Nam và Nhật Bản, chỉ ra một số bất cập và đưa ra ý kiến góp phần hoàn thiện pháp luật

về hòa giải trong tố tụng dân sự Việt Nam Qua đó, tác giả kiến nghị cần thiết lập được mối liên hệ hữu cơ giữa các phương thức giải quyết tranh chấp lao động [48, tr.34]

Theo bài viết “Đánh giá quy định của BLLĐ về đình công và giải quyết đình

công” của tác giả Nguyễn Xuân Thu đăng trên Tạp chí Luật học số 9 năm 2009,

pháp luật về đình công và giải quyết đình công đã có nhiều điểm tiến bộ, nhưng bên cạnh đó, những hạn chế về đình công và giải quyết đình công vẫn còn tồn tại trong pháp luật về lao động Từ đó, tác giả kiến nghị một số ý kiến hoàn thiện, bao gồm sửa đổi khái niệm về đình công, điều kiện cho cuộc đình công hợp pháp, giải quyết đình công của tòa án và quan tâm hơn về ý chí của tập thể lao động đối với đại diện của mình tổ chức và lãnh đạo đình công [103, tr.59-62]

Tác giả Trần Minh Yến đã trình bày, phân tích những đặc điểm và nguyên nhân

xảy ra đình công trong bài “Đình công, tiền lương – hai vấn đề nổi bật trong lĩnh vực

lao động, việc làm ở nước ta hiện nay” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 353

năm 2007 Sau khi chỉ ra được những nguyên nhân chính, tác giả kiến nghị cần hoàn thiện pháp luật về lao động; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra từ các cơ quan quản lý nhà nước; thúc đẩy phổ biến pháp luật cho NSDLĐ và NLĐ [122, tr.47-48]

Trong bài “Thực trạng tranh chấp lao động, đình công và kiến nghị việc sửa

đổi, bổ sung trong dự thảo BLLĐ sửa đổi, bổ sung” đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân

số 10 năm 2012, tác giả Phạm Công Bảy đã phân tích thực trạng tranh chấp lao động, đình công từ năm 2006 – 2010, trong đó nhấn mạnh phạm vi điều chỉnh của pháp luật

về giải quyết tranh chấp lao động chưa được xác định rõ ràng, thiếu nhất quán giữa nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động với trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động, cơ chế giải quyết tranh chấp lao động được xây dựng trên nền tảng quan hệ lao động thiếu đồng bộ và ổn định [7, tr.23-24] Từ đó, tác giả kiến nghị xóa bỏ hội đồng hòa giải lao động cơ sở, giao cho hòa giải viên lao động thực hiện yêu cầu hòa giải; phán quyết của trọng tài lao động phải là quyết định cuối cùng và tập thể lao động không được quyền đình công khi không đồng ý với phán quyết trọng tài [7, tr.30-32]

Luận án Tiến sĩ luật học “Pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp lao

động cá nhân tại tòa án ở Việt Nam” của tác giả Phạm Công Bảy tại Học viện Khoa

Trang 28

học xã hội năm 2011 đã nghiên cứu pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án, là luật về hình thức, được xây dựng trên cơ sở tính chất,

đặc điểm của quan hệ lao động và tranh chấp lao động Xuất phát từ thực tiễn đó,

tác giả luận án muốn làm sáng tỏ cơ sở lí luận và thực tiễn của pháp luật về thủ tục

tố tụng trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án; đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng BLTTDS trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân; trên cơ sở đó, đề xuất mô hình pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án cho phù hợp với điều kiện Việt Nam hiện nay [8]

Tác giả Lưu Bình Nhưỡng đã có bài viết “Về tranh chấp lao động tập thể và

việc giải quyết tranh chấp lao động tập thể” đăng trên Tạp chí Luật học số 2 năm

2001 Trong bài viết này, tác giả Lưu Bình Nhưỡng đề cập đến 02 nội dung: các dấu hiệu cơ bản để xác định một tranh chấp lao động tập thể; một số kiến nghị nh m hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể tại Hội đồng trọng tài lao động và Tòa án nhân dân cấp tỉnh

Cuốn Pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động tập thể: Kinh nghiệm của

một số nước đối với Việt nam do Trần Hoàng Hải chủ biên, NXB Chính trị quốc

gia, năm 2011, đã lựa chọn và nghiên cứu mô hình giải quyết tranh chấp lao động tập thể có tính điển hình của nhiều nước trên thế giới và trong khu vực Cuốn sách

đã trình bày một cách có hệ thống và khá toàn diện về những vấn đề pháp lý và thực tiễn về cơ chế giải quyết tranh chấp lao động tập thể của Việt Nam, từ đó chỉ ra những điểm mạnh và những hạn chế so sánh với quy định tương ứng trong mô hình các nước, cùng với những kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoàn thiện pháp luật [46]

Theo Hội thảo về “Định hướng những nội dung về tố tụng lao động trong

BLTTDS (sửa đổi)” do Bộ LĐTBXH tổ chức ngày 3/2/2015, về thực tiễn giải quyết

tranh chấp lao động tại tòa án, số lượng các vụ tranh chấp lao động đưa đến Tòa án

so với các vụ án dân sự, thương mại là không nhiều Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào

số lượng các vụ án mà tòa án đã thụ lý giải quyết để khẳng định tranh chấp lao động xảy ra ít, là không đủ căn cứ và không thuyết phục Thực tế, số lượng này là không nhỏ, nhưng không phải tất cả đều được tòa án thụ lý giải quyết Nhiều vụ việc tòa

án phải trả lại đơn khởi kiện vì chưa đủ điều kiện khởi kiện Từ những đặc thù của các tranh chấp lao động dẫn đến yêu cầu cần phải có những quy định nh m tăng cường khả năng và cơ hội hòa giải tại bất cứ giai đoạn tố tụng nào của việc giải quyết tranh chấp, ngoài thủ tục hòa giải bắt buộc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; và

Trang 29

nh m tạo điều kiện thuật lợi hơn cho NLĐ trong việc tham gia tố tụng về một số phương diện như: điều kiện khởi kiện, thụ lý vụ án; thời hạn tố tụng; sự tham gia tố tụng của tổ chức đại diện của họ là công đoàn

Nhiều cuộc hội thảo khoa học đã được tổ chức xung quanh chủ đề an sinh xã

hội như Hội thảo quốc tế về “Thúc đẩy giải quyết tranh chấp lao động ngoài toà án ở

Việt Nam” do TLĐLĐVN đã tổ chức trong hai ngày 20 và 21/4/2011 Tại hội thảo,

hầu hết các đại biểu đều cho r ng, cần thay đổi những chế tài còn bất cập, nếu không thì việc giải quyết tranh chấp lao động chỉ như “chữa cháy” Theo ông Richard Fincher - hoà giải viên, kiêm trọng tài lao động Mỹ: “Việc phát sinh tranh chấp lao động là một hiện tượng khách quan, thông thường giải quyết tranh chấp lao động

b ng con đường toà án rất phức tạp Vì vậy, hoà giải, thương lượng trong giải quyết tranh chấp lao động là một biện pháp đơn giản và hữu hiệu được áp dụng tại Mỹ”

Trong bài Hoàn thiện các quy định của pháp luật về tố tụng lao động của

tác giả Lê Thị Hoài Thu đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 23 năm 2015, tác giả nêu những đặc điểm riêng biệt của tranh chấp lao động, bao gồm tranh chấp lao động phát sinh, tồn tại gắn liền với quyền lợi của hai chủ thể là NLĐ và NSDLĐ; tranh chấp lao động không những phát sinh từ việc vi phạm thỏa thuận,

vi phạm pháp luật mà còn phát sinh trong trường hợp hoàn toàn không có sự vi phạm thỏa thuận, vi phạm pháp luật (tranh chấp lao động về lợi ích); tham gia tranh chấp lao động trong nhiều trường hợp là tổ chức công đoàn – tổ chức đại diện của NLĐ [99, tr.51] Tác giả kiến nghị cần tôn trọng quyền thương lượng và tự định đoạt của các bên trong giải quyết tranh chấp lao động; bảo vệ NLĐ, đáp ứng kịp thời các yêu cầu khách quan của thực tiễn giải quyết tranh chấp lao động tại tòa

án nhân dân; đảm bảo tính khả thi, tính đồng bộ giữa các quy định của pháp luật về

tố tụng lao động với các lĩnh vực pháp luật khác có liên quan; về lâu dài nên nghiên cứu thành lập Ủy ban về tranh chấp lao động và đình công (theo khu vực) với chức năng hoà giải và trọng tài các tranh chấp lao động; tranh chấp lao động tập thể (cả tranh chấp lao động tập thể về quyền và tranh chấp lao động tập thể về lợi ích) đều không nhất thiết phải qua thủ tục hoà giải [99, tr.55-57]

Ngoài ra, tác giả Lưu Bình Nhưỡng trong luận án tiến sĩ “Tài phán lao

động theo quy định của pháp luật Việt Nam” tại Trường Đại học luật Hà Nội

(năm 2002) kiến nghị thành lập và đưa vào hoạt động những cơ cấu trọng tài lao động tự nguyện [80, tr.96-98]

Trang 30

Bài viết “Bàn về một số quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm

2012” của tác giả Nguyễn Tuấn An, đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số

tháng 2 năm 2015 Theo đó, tác giả đã có những bình luận, phân tích sâu sắc và đưa

ra đề xuất nh m khắc phục, giải quyết khó khăn, bất cập trong thực tiễn thi hành một số quy định như là việc xin gia hạn để xác minh, thu thập chứng cứ; về việc thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp người bị xử phạt không có khả năng thi hành [1, tr.35]

Trong bài “Đánh giá các quy định về thanh tra lao động của Việt Nam với

Công ước số 81 và một số kiến nghị” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 13

năm 2013, tác giả Lê Thị Hoài Thu đã trình bày các quy định của ILO và Việt Nam

về thanh tra lao động, bao gồm các quy định về chức năng của hệ thống thanh tra lao động, thanh tra viên lao động, xử lý vi phạm và công tác báo cáo Tác giả Lê Thị Hoài Thu kiến nghị cần hoàn thiện các quy định pháp luật về thanh tra lao động trong BLLĐ, tăng cường số lượng và chất lượng đội ngũ thanh tra viên, tuyên truyền, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật lao động; và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tham gia (phê chuẩn) đầy đủ các công ước của ILO về quản lý lao động và thanh tra lao động [101, tr.45-52]

Theo bài viết “Bảo vệ quyền của NLĐ trong vấn đề BHXH từ các quy định

của luật hình sự” của Trương Văn Dũng đăng trên Tạp chí Nghiên cứu con người

số 6, năm 2010, trong những năm gần đây, các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH đang có chiều hướng gia tăng, gây ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của NLĐ Căn cứ vào tính chất của hoạt động BHXH, tác giả chia những hành vi này thành 03 nhóm chính Tác giả nhận thấy, chế tài hành chính, với mức xử phạt thấp không đủ sức răn đe cũng như các biện pháp đảm bảo thực hiện thiếu tính khả thi; chế tài dân

sự cũng chưa thật sự giải quyết hiệu quả đối với những đơn vị cố tình vi phạm, không thực hiện nghiêm quyết định thi hành án dân sự nên đã làm cho tình trạng trốn tránh trách nhiệm đóng BHXH, tình trạng gian lận để hưởng BHXH đang gia tăng, ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của NLĐ Từ đó, tác giả kiến nghị BLHS cần phải bổ sung những quy định cụ thể các tội danh xử lý hình sự các hành vi vi phạm pháp luật BHXH xuất phát từ đòi hỏi và vì quyền lợi chính đáng của NLĐ [32]

1.1.3 Nhóm các công trình ở nước ngoài nghiên cứu những vấn đề về bảo đảm quyền của người lao động

Trong cuốn chuyên khảo Conciliation and Arbitration Procedures in Labour

Trang 31

Disputes: A Comparative study (Thủ tục hòa giải và trọng tài các tranh chấp lao

động) của tác giả Eladio Daya và được ILO xuất bản năm 1995, đã đề cập đến một

số vấn đề chung về tranh chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động; giải quyết tranh chấp lao động, đình công và đóng cửa doanh nghiệp; thủ tục hòa giải và trọng tài tự nguyện; hệ thống hòa giải và trọng tài do Chính phủ thiết lập và chức năng, nhiệm vụ, quy trình tiến hành các thủ tục hòa giải, trọng tài đó Cuốn sách chủ yếu đề cập đến thủ tục hòa giải, trọng tài như là những phương thức giải quyết tranh chấp lao động đang được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới

Trong bài ILO principles concerning the right to strike (Các nguyên tắc của

ILO liên quan đến quyền đình công) được đăng trên International Labour Review (Tạp chí Lao động quốc tế) số 137 năm 1998, các tác giả Bernard Gernigon, Alberto Odero và Horacio Guido đã cho r ng, thật đáng ngạc nhiên khi thấy r ng quyền đình công không được thiết lập một cách rõ ràng trong Công ước và Khuyến nghị của ILO Sau khi nêu lên những nguyên tắc cơ bản của quyền đình công, các khái niệm về quyền đình công, cơ sở pháp lý cho NLĐ được hưởng các quyền đình công

và những người bị loại trừ, các điều kiện, trình tự, thủ tục đình công, cũng như sự bảo vệ chống lại hành động phân biệt đối xử chống lại công đoàn trong kết nối với các cuộc đình công, các tác giả đã đề nghị ILO xem xét các nguyên tắc liên quan đến quyền đình công, bao gồm các cuộc đình công trong đó có việc đảm bảo bồi thường nếu quyền đình công bị từ chối và các cơ chế bảo vệ chống lại sự trả thù cho hành động đình công của NLĐ [132]

Trong cuốn International and comparative labour law: current challenges (Luật

Lao động quốc tế và so sánh: Những thách thức hiện nay), NXB Palgrave MacMillan, Anh, xuất bản năm 2009, tác giả Arturo Bronstein đã phân tích một cách toàn diện những thách thức phải đối mặt với pháp luật lao động trong phạm vi toàn cầu ở thế

kỷ XXI Tính chất đa quốc gia của chuỗi cung ứng toàn cầu đồng nghĩa với pháp luật lao động của các quốc gia đang ngày càng không thể bảo vệ một cách hiệu quả chống lại những điều kiện làm việc vô nhân đạo Tác giả cung cấp cách tiếp cận khác nhau để nâng cao hiệu quả của pháp luật lao động trong thời đại toàn cầu hóa, trong đó có việc phê chuẩn các Công ước của ILO, hài hòa hóa pháp luật lao động trong khu vực có thị trường thương mại quan trọng, bao gồm các khoản trợ giúp xã hội trong các hiệp định thương mại quốc tế và việc áp dụng mã số trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trên toàn chuỗi cung ứng [123]

Trang 32

Cuốn Labour law and worker protection in developing countries (Luật Lao

động và sự bảo vệ NLĐ trong các quốc gia đang phát triển), một ấn bản của ILO được in tại NXB Hart, Vương quốc Anh, năm 2010 đã phê bình cách thức bảo vệ NLĐ cũng như tính không đầy đủ của loại hình pháp luật Ngoài các vấn đề trong việc áp dụng pháp luật lao động, tồn tại sự không phù hợp giữa thực tiễn của các nước đang phát triển và nền tảng chính trị, kinh tế và xã hội được quy định trong pháp luật lao động Một số lượng đáng kể NLĐ đang n m ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật lao động và không được bảo vệ Trong bối cảnh này, cuốn sách bước đầu giới thiệu và tổng kết những quy định và chính sách ở các cấp độ quản lý khác nhau, đồng thời nêu ra một số kiến nghị và giải pháp nh m mở rộng phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và các cơ chế bảo vệ NLĐ trong pháp luật lao động tại châu Mỹ Latinh, Nam Á và miền Nam châu Phi [139]

Theo quan điểm của tác giả Susan Hayter được trình bày trong cuốn: The Role

of Collective Bargaining in the Global Economy: Negotiating for Social Justice (Vai

trò của thương lượng tập thể trong nền kinh tế toàn cầu: Đàm phán cho công b ng

xã hội), NXB Edward Elgar, Vương quốc Anh, năm 2011, thương lượng tập thể đóng vai trò đảm bảo cho NLĐ có thể có được sự chia sẻ lợi ích công b ng phát sinh từ việc tham gia vào nền kinh tế toàn cầu và trong việc cung cấp biện pháp chống lại các rủi ro về việc làm và tiền lương Cuốn sách này đã chỉ ra rất nhiều những thách thức trong thương lượng tập thể và vai trò cực kỳ quan trọng của Chính phủ trong việc thiết lập hành lang pháp lý giúp các bên cân b ng khả năng thương lượng tập thể trong nền kinh tế toàn cầu [140]

Vào tháng 02/2012, ILO đã ấn bản chuyên khảo: Work Inequalities in the

Crisis: Evidence from Europe (Những bất bình đẳng về công việc trong cuộc khủng

hoảng: Chứng cứ từ châu Âu) do Daniel Vaughan-Whitehead chủ biên Cuốn sách này cung cấp cách nhìn tổng quan sâu sắc về những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đối với sự bất bình đẳng trong thế giới việc làm Trong đó, cuốn sách tập trung tìm hiểu thực tiễn về những bất bình đẳng đa chiều, nhìn từ góc độ việc làm, điều kiện làm việc và đối thoại xã hội thông qua các cuộc khảo sát trong 30 quốc gia châu Âu Từ đó chỉ ra những vấn đề còn tồn tại về quyền tiếp cận với hệ thống pháp luật đảm bảo việc làm và cơ chế bảo vệ nạn thất nghiệp không công b ng, đồng thời nêu ra một số giải pháp hoàn thiện [128]

Trang 33

1.2 Đánh giá chung tình hình nghiên cứu và những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết

Các công trình, các sách, báo, tạp chí và luận án của các tác giả nêu trên có rất nhiều vấn đề liên quan đến đề tài luận án Có thể thấy, quyền của NLĐ và bảo đảm quyền của NLĐ được nghiên cứu ở mỗi phương diện và mức độ khác nhau; dù còn khác về chủ đích và khía cạnh tiếp cận nhưng mỗi công trình đều có những

đóng góp nhất định cho việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm

quyền của người lao động theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013” Ý nghĩa, vai

trò của Hiến pháp năm 2013 trong việc bảo đảm quyền con người trong lao động được nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến Tất cả những kết quả đó đều được tác giả luận án tiếp thu và phát huy trong đề tài nghiên cứu của mình

Tuy nhiên, trong bối cảnh Hiến pháp năm 2013 được ban hành, các nghiên cứu, đánh giá pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ không còn phù hợp với những đòi hỏi từ bản Hiến pháp mới, những đề xuất, kiến nghị có liên quan của các tác giả chỉ mang tính tham khảo Ngoài ra, một số đề tài, bài viết tập trung nghiên cứu về quyền cụ thể của NLĐ trong Hiến pháp năm 2013, ví dụ như quyền làm việc, quyền được hưởng an sinh xã hội mang tính chất nghiên cứu trao đổi, có công trình khoa học nghiên cứu ngắn gọn trên tạp chí mang tính gợi mở Có thể nhận thấy, vẫn còn những khoảng trống trong việc nghiên cứu pháp luật về bảo đảm quyền hiến định của NLĐ, những tác động của Hiến pháp năm 2013 với việc bảo đảm quyền của NLĐ, những yêu cầu của Hiến pháp năm 2013 đòi hỏi hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ và những đánh giá thực trạng pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ ở Việt Nam hiện nay theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013

Chính vì vậy, cùng với sự kế thừa các công trình của người đi trước (về việc tham khảo, trích dẫn kết quả nghiên cứu, ý tưởng, số liệu từ các công trình trên và nhiều nguồn khác), luận án sẽ tập trung nghiên cứu các nội dung như sau:

Thứ nhất, luận án phân tích cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về bảo đảm

quyền của NLĐ; luận giải chi tiết nền tảng pháp lý quan trọng bảo đảm quyền của NLĐ là Hiến pháp năm 2013, trong đó làm rõ vai trò và những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền của NLĐ; những yêu cầu đặt ra từ Hiến pháp năm

2013 với việc hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ Luận án đưa ra các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ Đồng thời, tham khảo Hiến pháp và pháp luật một số quốc gia trên thế giới về bảo đảm quyền của NLĐ, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Trang 34

Thứ hai, luận án khái quát quá trình phát triển của pháp luật về bảo đảm các

quyền của NLĐ ở Việt Nam, phân tích và đánh giá đầy đủ, toàn diện thực trạng pháp luật về bảo đảm các quyền của NLĐ ở Việt Nam hiện nay, nêu bật những thành tựu và tìm ra đƣợc những khiếm khuyết, hạn chế và bất cập của pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ ở Việt Nam trên cơ sở đánh giá theo những tiêu chí hoàn thiện pháp luật và yêu cầu đặt ra từ Hiến pháp năm 2013

Thứ ba, trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về bảo đảm

quyền của NLĐ, luận án nghiên cứu, đề xuất những quan điểm và giải pháp kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo đảm các quyền của NLĐ ở Việt Nam theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013

1.3 Giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, cơ sở lý thuyết

1.3.1 Giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu

Với mục đích làm sâu sắc thêm lý luận hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ từ nền tảng pháp lý quan trọng là Hiến pháp năm 2013, tác giả đặt

ra giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nhƣ sau:

Giả thuyết nghiên cứu: Mặc dù đã có những cố gắng nhất định trong việc thể

chế hóa những quy định của Hiến pháp năm 2013 song pháp luật về lĩnh vực bảo đảm quyền của NLĐ vẫn cần phải hoàn thiện hơn nữa trong việc bảo đảm quyền của NLĐ theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013

Câu hỏi nghiên cứu 1: Hiến pháp có vai trò gì đối với việc bảo đảm quyền của

NLĐ? Hiến pháp năm 2013 có những điểm mới gì về bảo đảm quyền của NLĐ so với Hiến pháp năm 1992? Quyền của NLĐ và cơ chế bảo đảm quyền của NLĐ theo Hiến pháp năm 2013 và pháp luật nhƣ thế nào? Những yêu cầu gì đƣợc Hiến pháp năm 2013 đặt ra với việc hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ? Các tiêu chí nào đƣợc dùng để đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật?

Câu hỏi nghiên cứu 2: Thực trạng pháp luật về bảo đảm các quyền của NLĐ

ở Việt Nam hiện nay nhƣ thế nào – Những thành tựu và hạn chế đối chiếu với các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật và những yêu cầu đƣợc Hiến pháp năm 2013 đặt ra?

Câu hỏi nghiên cứu 3: Quan điểm nào hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền

của NLĐ? Giải pháp nào hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ?

Trang 35

1.3.2 Cơ sở lý thuyết

Luận án sử dụng một số lý thuyết như sau:

- Các học thuyết, tư tưởng về quyền con người dựa trên các nguyên tắc: dân chủ, tự do, công b ng, bình đẳng, thừa nhận giá trị và phẩm giá con người

- Học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, về Nhà nước và pháp luật

- Các chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách của Nhà nước về chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đảm bảo quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Những công trình nghiên cứu khoa học trên có ý nghĩa nhất định trong việc hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động Trong đó, nhiều công trình khoa học của học giả trong nước và nước ngoài nghiên cứu có giá trị tham khảo để hoàn thiện lý luận và thực tiễn pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động ở Việt Nam; nhiều công trình của các học giả trong nước cần nghiên cứu và được nghiên cứu sinh kế thừa trực tiếp Tuy vậy, phần lớn các công trình khoa học hiện nay có liên quan đến đề tài luận án chưa có những nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và đầy đủ về pháp luật bảo đảm quyền của người lao động từ những yêu cầu theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 với việc bảo đảm quyền của người lao động, tạo cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động

ở Việt Nam hiện nay

Trang 36

Chương 2 HIẾN PHÁP NĂM 2013 VÀ TINH THẦN CỦA HIẾN PHÁP LÀ CƠ SỞ

LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA

Cuộc đấu tranh về việc bảo đảm quyền của NLĐ là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, quyết liệt bắt đầu từ khi xuất hiện nhà nước và kéo dài cho tới tận ngày nay Sự kiện quan trọng mang tầm quốc tế được ghi nhận chính thức trong các văn kiện quốc tế là việc Đại hội quốc tế Cộng sản II nhóm họp tại Paris ngày 20/6/1889 đã quyết định lấy ngày 01/5 hàng năm làm ngày quốc tế của NLĐ Phải mất hơn 50 năm sau sự kiện này, với việc thành lập Liên hợp quốc (24/10/1945) cùng với việc ra đời các tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc, trong đó có ILO, thì cơ sở pháp lý của pháp luật quốc tế bảo đảm quyền của NLĐ được hình thành và phát triển ngày càng sâu rộng Năm 1948, UDHR tuyên

bố r ng tất cả mọi người được hưởng các quyền con người cơ bản, trong đó ghi nhận các quyền của NLĐ như là quyền được bảo đảm an sinh xã hội, quyền được làm việc, tự do lựa chọn nghề nghiệp và được trả lương ngang nhau cho những công việc như nhau, được thành lập hoặc gia nhập công đoàn Từ nền tảng UDHR, các quyền của NLĐ đã được thể hiện cụ thể trong ICESCR, ICCPR và nhiều Công ước của ILO Qua nghiên cứu các văn bản pháp luật quốc tế có thể thấy r ng, “quyền của NLĐ là một trong những quyền hết sức quan trọng của con người, có vai trò quan trọng đối với cá nhân NLĐ hoặc tập thể lao động, gắn liền với tự do và giải phóng con người” [64, tr.17]

Chương này sẽ phân tích cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ theo Hiến pháp năm 2013 và tinh thần của Hiến pháp, trong đó làm

rõ vai trò, những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền của NLĐ;

Trang 37

những yêu cầu đặt ra của Hiến pháp năm 2013 với việc hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ ở Việt Nam; và những tiêu chí đặt ra của Hiến pháp năm 2013 đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của NLĐ

2.1 Vai trò, những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền

của người lao động ở Việt Nam

2.1.1 Vai trò của Hiến pháp năm 2013 với việc bảo đảm quyền của người lao động

“Hiến pháp” là một thuật ngữ có cội nguồn xa xưa từ tiếng Latinh cổ là

“Constutio”, được hiểu theo nhiều nghĩa như “quy định”, “tổ chức”, “cơ cấu” Theo từ điển luật Black’s Law Dictionary, “hiến pháp” là “luật tổ chức cơ bản của một quốc gia hay một nhà nước thiết lập các thể chế và bộ máy của chính quyền, xác định phạm vi quyền lực của chính quyền, và bảo đảm các quyền và tự do của công dân” [126, tr.353] Một cách giản dị hơn, “hiến pháp” được hiểu là “một tập hợp những quy tắc điều chỉnh các cấu trúc nền tảng và hoạt động của các thiết chế

quản trị trong một quốc gia” [116, tr.9]

Hiến pháp thành văn xuất hiện đầu tiên ở châu Mỹ từ thế kỷ XVII và bản Hiến pháp thành văn đầu tiên hoàn chỉnh nhất của nhân loại là Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 Hiến pháp mang tính pháp chế tối thượng, là cơ sở thực thi, bảo vệ vững chắc và hữu hiệu các quyền, tự do của con người [15, tr.26-27] Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác cũng đã thấy rõ “giá trị to lớn của những bản Hiến pháp dân chủ lúc bấy giờ trong quá trình đấu tranh chống chế độ chuyên chế, đề cao phẩm giá con người, các quyền về tự do cá nhân” [59, tr.37] Là đạo luật cơ bản của nhà nước, Hiến pháp

có “hiệu lực pháp lý tối cao của mỗi quốc gia, điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng, điển hình nhất, Hiến pháp ngày càng có vị trí vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh đời sống chính trị của mỗi quốc gia” [28, tr.8]

Tại Việt Nam, ngay sau ngày thành lập nước 02/9/1945, tại phiên họp đầu

tiên của Chính phủ lâm thời ngày 03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Trước

chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ” Với tư

tưởng này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi tới cùng của vấn đề - đó là bảo đảm quyền

tự do, hạnh phúc cho con người Ở nghĩa đó, Hiến pháp thể hiện “sự đồng thuận của

Trang 38

Nhân dân về những mục tiêu và Hiến pháp làm được chức năng người bảo vệ lợi ích và các quyền tự do của con người” [59, tr.33-34]

Sau 4 bản Hiến pháp ban hành năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm

1992, được sửa đổi năm 2001, Hiến pháp năm 2013 thông qua ngày 28/11/2013 được xem là “bản Hiến pháp đã kết tinh được tinh hoa trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân, thể hiện được ý Đảng, lòng dân và sự đồng thuận của

cả hệ thống chính trị” [70, tr.7] “Hiến pháp có vị trí vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các quyền và tự do của con người” [61, tr.19]

“Hiến pháp năm 2013 xác định rõ ràng các quyền của NLĐ, thể hiện vai trò, giá trị, công năng thiết thực và uy tín của hiến pháp trong việc bảo vệ, bảo đảm các quyền, tự do của con người” [89, tr.19] Các quy định trong Hiến pháp năm 2013 ghi nhận các quyền của NLĐ, “tạo ra các giới hạn pháp lý cho tổ chức

và hoạt động của nhà nước nh m bảo vệ chặt chẽ hơn các quyền cơ bản của con người” [29, tr.41] “Quyền con người là các giá trị thiêng liêng, vốn có của mỗi người và phải được pháp luật bảo vệ b ng các nguyên tắc pháp quyền, trong xã hội tiến bộ, văn minh và dân chủ” [77, tr.12] Theo đó, các quyền hiến định của NLĐ chỉ có thể bị giới hạn bởi luật Giới hạn quyền của NLĐ có thể hiểu khái quát là việc cho phép nhà nước áp đặt điều kiện hay hạn chế với việc thực hiện/hưởng thụ một số quyền con người nhất định (trong lao động) nh m bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng “Thông thường, những quyền mà nhà nước có thể đặt ra những giới hạn trong việc áp dụng bao gồm quyền thành lập, gia nhập công đoàn, quyền đình công” [61, tr.276-277]

Hiến pháp có vai trò quan trọng trong việc đặt ra các quy tắc chặt chẽ ràng buộc trách nhiệm và nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền của NLĐ

“Một khi Nhà nước ghi nhận và khẳng định quyền và tự do của người dân trong Hiến pháp đồng nghĩa với việc Nhà nước xác định nghĩa vụ, trách nhiệm của mình phải bảo đảm thực hiện” [25, tr.114] Hay nói cách khác, Nhà nước là chủ thể đầu tiên và quan trọng trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền của NLĐ Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận ba nghĩa vụ này của nhà nước trong các Điều 3 và Điều 14, “không chỉ phù hợp với Luật Nhân quyền Quốc tế mà còn tạo cơ sở hiến định ràng buộc các cơ quan nhà nước phải thực hiện đầy đủ và nghiêm túc những nghĩa vụ về quyền con người trong thực tế, đặc biệt là hai nghĩa vụ bảo vệ và bảo đảm” [39, tr.13] Việc hiến định nguyên tắc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, “tạo

Trang 39

lập cơ sở chính trị - pháp lý, trật tự cho cả hệ thống pháp luật và ý thức xã hội, vì Hiến pháp là Luật cơ bản của quốc gia, dân tộc, thể hiện ý chí, lợi ích của mọi người dân trong xã hội” [87, tr.6]

“Chủ thể cơ bản có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người là Nhà nước mà cụ thể là chính phủ, các cơ quan, viên chức và những đối tượng khác làm việc cho Nhà nước” [4, tr.91] Các quyền con người trong lao động được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 “đặt ra những nghĩa vụ của Nhà nước trong việc hiện thực hóa các quyền trên thực tế: tôn trọng, bảo vệ và thực hiện các quyền con người” [114, tr.80] Bảo đảm quyền con người chỉ b ng việc tôn trọng không thôi thì chưa đủ mà “Nhà nước là chủ thể chính còn phải nhận về mình nghĩa

vụ bảo vệ quyền con người tránh mọi hành vi xâm hại đồng thời phải tạo điều kiện cần thiết cho những quyền con người đã được ghi nhận, được thực thi trong thực tiễn cuộc sống” [45, tr.70] “Nghĩa vụ bảo đảm là nghĩa vụ chủ động khi Nhà nước chủ động đưa ra những biện pháp, sáng kiến trong xây dựng thể chế, pháp luật, cơ chế thực thi nh m ngăn chặn vi phạm quyền con người của bên thứ ba” [2, tr.58]

2.1.2 Những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 tác động đến việc bảo đảm quyền của người lao động

Hiến pháp năm 2013 là kết quả của quá trình đổi mới tư duy lập hiến, trong

đó có sự đổi mới tư duy lý luận về quyền con người Các nguyên tắc và quy định về quyền con người trong Hiến pháp không ngừng mở rộng về chủ thể và nội hàm, phù hợp với các chuẩn mực nhân quyền quốc tế Với tinh thần đổi mới đó, Hiến pháp năm 2013 đã có nhiều điểm thay đổi theo hướng hoàn thiện hơn so với Hiến pháp năm 1992 về bảo đảm quyền của NLĐ

Thứ nhất, nếu như trước đây, Hiến pháp năm 1992 tôn trọng quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội và được thể hiện trong khía cạnh hẹp là các quyền công dân (Điều 50), thì đến Hiến pháp năm 2013, văn bản pháp lý có giá trị cao nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã khẳng định sự bảo đảm về quyền con người Theo đó, Điều 3, Hiến pháp năm 2013 quy định, Nhà nước tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; Điều 14 nhấn mạnh cụ thể và chi tiết hơn sự bảo đảm về quyền của NLĐ, theo đó, ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân

về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Sự bổ sung mới này của Hiến pháp năm 2013 có

Trang 40

ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ bảo đảm sự hài hòa giữa Hiến pháp Việt Nam với Luật Nhân quyền Quốc tế mà còn thiết lập quy định có tính ràng buộc các cơ quan nhà nước phải thực hiện đầy đủ và nghiêm túc những nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong thực tế, đặc biệt là nghĩa vụ bảo vệ và bảo đảm quyền của NLĐ Về mặt

lý luận cũng như trên thực tế, không chỉ ở Việt Nam mà nhận thức chung của các nhà lập hiến, lập pháp trên thế giới, “quyền con người được quy định trong Hiến pháp không chỉ xác lập vị trí của cá nhân, công dân - chủ thể mang quyền, mà còn

là nguyên tắc, mệnh lệnh bắt buộc các chủ thể có nghĩa vụ phải tuân thủ” [54, tr.5]

Thứ hai, so sánh với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 đã có sự thay đổi “nhảy vọt” cả về lượng và chất về việc ghi nhận các quyền của NLĐ Hiến pháp năm 2013 ghi nhận một cách đầy đủ các quyền cơ bản của NLĐ đối chiếu với Luật Nhân quyền Quốc tế, các điều ước quốc tế về quyền con người và các công ước của ILO Theo đó, Điều 35, Hiến pháp năm 2013 ghi nhận về quyền làm việc, quyền không bị lao động cưỡng bức, quyền được bảo đảm các điều kiện làm việc vệ sinh và an toàn, và quyền nghỉ ngơi; Điều 34 ghi nhận về quyền được hưởng an sinh

xã hội; Điều 26 ghi nhận về quyền bình đẳng về cơ hội và đối xử trong việc làm và nghề nghiệp; đối với quyền tự do liên kết, Hiến pháp năm 2013 không ghi nhận một cách trực tiếp mà được đặt trong nội hàm của quyền lập hội quy định tại Điều 25

Có thể nói, nội dung của Hiến pháp năm 2013 ghi nhận các quyền của NLĐ đã có

sự phù hợp với yêu cầu thực tiễn và các quy định trong Luật Nhân quyền Quốc tế, các điều ước quốc tế về quyền con người và các công ước của ILO

Thứ ba, Hiến pháp năm 2013 yêu cầu các chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác Đây là một yêu cầu bắt buộc theo quy định tại Khoản 2, Điều 15, Hiến pháp năm 2013 Trước đây, Hiến pháp năm 1992 chỉ yêu cầu công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội, trong đó, quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân (Điều 51) Nhưng quy định mới của Hiến pháp năm 2013 đã cho thấy sự thay đổi trong tư duy lý luận về quyền con người Quyền của chủ thể này đặt ra nghĩa vụ của các chủ thể khác có liên quan Các chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng và không được vi phạm quyền của người khác

“Điều này vô cùng quan trọng và ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay khi mà xu hướng tuyệt đối hóa nhấn mạnh đến quyền mà quên đi nghĩa vụ, trách nhiệm và bổn phận của cá nhân đối với người khác, với cộng đồng và xã hội” [75, tr.65] Theo quy định của BLLĐ hiện hành, quan hệ lao động giữa NLĐ với NSDLĐ được xác lập qua

Ngày đăng: 14/12/2017, 15:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w