1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở việt nam

179 302 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam” để thực hiện luận án tiến sĩ với mục đích

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ HỒNG LÊ

NH÷NG VÊN §Ò LÝ LUËN Vµ THùC TIÔN

VÒ B¶O VÖ QUYÒN PHô N÷ B»NG PH¸P LUËT H×NH Sù

ë VIÖT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ HỒNG LÊ

NH÷NG VÊN §Ò LÝ LUËN Vµ THùC TIÔN

VÒ B¶O VÖ QUYÒN PHô N÷ B»NG PH¸P LUËT H×NH Sù

ë VIÖT NAM

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 62 38 01 04

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS TRỊNH VĂN THANH

2 TS TRỊNH TIẾN VIỆT

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực và từ những nguồn hợp pháp Những kết luận khoa học của luận án chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Trần Thị Hồng Lê

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 7

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 7

1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 14

1.3 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 26

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN PHỤ NỮ BẰNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ 28

2.1 Khái niệm và sự cần thiết phải bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự 28

2.1.1 Khái niệm bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự 28

2.1.2 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự 35

2.2 Đặc điểm và các phương thức bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự 39

2.2.1 Đặc điểm của việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự 39

2.2.2 Các phương thức bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự 42

2.3 Các chuẩn mực và kinh nghiệm quốc tế đối với việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự 45

2.3.1 Các chuẩn mực quốc tế đối với việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự 45

2.3.2 Kinh nghiệm bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở một số quốc gia trên thế giới 52

Trang 5

Chương 3: THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN PHỤ NỮ BẰNG PHÁP LUẬT

HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 62

3.1 Bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam trong lịch sử lập pháp 62

3.1.1 Giai đoạn trước năm 1945 62

3.1.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1985 67

3.1.3 Giai đoạn từ năm 1985 đến trước năm 1999 70

3.2 Bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam trong thực tiễn pháp luật 74

3.2.1 Nội dung các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong Bộ luật hình sự năm 1999 74

3.2.2 Hạn chế của các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong Bộ luật hình sự năm 1999 84

3.3 Bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam trong thực tiễn áp dụng pháp luật 94

3.3.1 Kết quả áp dụng các quy định bảo vệ quyền phụ nữ của Bộ luật hình sự năm 1999 94

3.3.2 Tồn tại, hạn chế trong áp dụng các quy định bảo vệ quyền phụ nữ của Bộ luật hình sự năm 1999 100

3.3.3 Nguyên nhân tồn tại, hạn chế trong áp dụng các quy định bảo vệ quyền phụ nữ của Bộ luật hình sự năm 1999 108

Chương 4: HOÀN THIỆN VÀ ĐẢM BẢO THỰC THI CÁC QUY ĐỊNH BẢO VỆ QUYỀN PHỤ NỮ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY 116

4.1 Những yêu cầu và nội dung cần hoàn thiện của các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay 116

4.1.1 Những yêu cầu đối với việc hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay 116

4.1.2 Những nội dung cần hoàn thiện của các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay 120

4.2 Định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay 128

Trang 6

4.2.1 Định hướng tiếp tục hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ

trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay 128 4.2.2 Giải pháp hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp

luật hình sự Việt Nam hiện nay 134

4.3 Một số giải pháp đảm bảo thực thi các quy định bảo vệ quyền phụ

nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam 138

4.3.1 Nhóm giải pháp về xây dựng, kiện toàn lực lượng 138 4.3.2 Nhóm giải pháp về giải thích pháp luật và tuyên truyền, giáo dục 139 4.3.3 Nhóm giải pháp về hoàn thiện các cơ chế hỗ trợ nạn nhân của các tội

xâm phạm quyền phụ nữ 141

KẾT LUẬN 146 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐỀN LUẬN ÁN 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC 163

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm vụ án về tội phá thai trái

phép ở các Tòa án cấp tỉnh và huyện trên toàn quốc 95 Bảng 3.2 Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm vụ án về tội giết con mới

đẻ ở các Tòa án cấp tỉnh và huyện trên toàn quốc 96 Bảng 3.3 Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm vụ án về các tội có nạn

nhân là phụ nữ hoặc chủ yếu là phụ nữ ở các Tòa án cấp

Bảng 3.4 Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm vụ án về tội xâm phạm

quyền bình đẳng của phụ nữ ở các Tòa án cấp tỉnh và

Bảng 3.5 Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm quyền tự

do và an toàn về tình dục ở các Tòa án cấp tỉnh và huyện

Bảng 3.6 Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm các tội liên quan đến mại

dâm ở các Tòa án cấp tỉnh và huyện trên toàn quốc 98 Bảng 3.7 Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm vụ án về tội mua bán phụ

nữ (mua bán người) ở các Tòa án cấp tỉnh và huyện trên

Bảng 3.8 Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm vụ án về một số tội xâm

phạm quyền tự do hôn nhân ở các Tòa án cấp tỉnh và huyện

Bảng 3.9 Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm vụ án về tội ngược đãi

hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng ở các Tòa án cấp

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Miền khái niệm quyền phụ nữ trong các quyền con người

Biểu đồ 3.1 Diễn biến theo số lượng các vụ án đã xét xử sơ thẩm về

các loại tội phạm có nạn nhân là phụ nữ hoặc chủ yếu là

Biểu đồ 3.2 Kết quả khảo sát mối quan hệ giữa thủ phạm và nạn nhân

trong các vụ án hiếp dâm, cưỡng dâm theo tỉ lệ 102

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Phụ nữ - “một nửa của nhân loại” - không chỉ có khả năng đóng góp cho sự tiến bộ của thế giới ngang bằng với nam giới mà còn mang thiên chức thiêng liêng làm vợ, làm mẹ là cội nguồn hạnh phúc của loài người Với những phẩm giá đó, phụ nữ xứng đáng được tôn vinh bởi mọi lực lượng xã hội Tuy nhiên, những đặc thù về sinh học và sự tồn tại của định kiến xã hội khiến cho phụ nữ đã và đang phải gánh chịu rất nhiều sự phân biệt đối xử, các hình thức bạo hành, xâm hại tình dục và những cản trở đối với việc thực hiện thiên chức cũng như sự tiến bộ mọi mặt của

họ Bởi vậy, trong các văn kiện pháp lý, trong các hoạt động nghiên cứu cũng như thực tiễn về quyền con người trên thế giới, phụ nữ được được xác định là một trong

“các nhóm xã hội dễ bị tổn thương” (vulnerable groups) - là khái niệm chỉ tới

những nhóm người có nguy cơ cao bị tổn thương về quyền con người [19, tr.229] Trên cơ sở nhận thức đó, pháp luật quốc tế đã nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ quyền phụ

nữ ở phương diện quyền con người nói chung cũng như quyền đặc thù giới nói

riêng bằng nhiều văn kiện pháp lý quan trọng như: Hiến chương liên hiệp quốc năm 1945; Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948; Công ước về trấn áp việc buôn người và bóc lột mại dâm người khác năm 1949; Công ước về các quyền chính trị của phụ nữ năm 1952; Công ước về quốc tịch của phụ nữ khi kết hôn năm 1957; Công ước về đăng ký kết hôn, tuổi tối thiểu khi kết hôn và việc kết hôn tự nguyện năm 1962; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 (CEDAW)…

Bởi vậy, việc bảo vệ quyền phụ nữ được đặt ra như một nhiệm vụ trọng yếu đối với pháp luật của mọi quốc gia trên thế giới, nhất là pháp luật hình sự - lĩnh vực pháp luật vốn mang tư cách của ngành luật bảo vệ trong hệ thống pháp luật quốc gia Để bảo vệ quyền phụ nữ, ngoài những quy định nhằm bảo vệ quyền con người nói chung, luật hình sự còn cần phải có những quy định riêng, quy định nhấn mạnh cho phù hợp với đặc điểm giới và tính chất dễ bị tổn thương của đối tượng bảo vệ

Đáp ứng các yêu cầu trên, Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam năm 1999 sửa

Trang 10

đổi, bổ sung năm 2009 đã có những biện pháp bảo vệ quyền phụ nữ trực tiếp và mạnh mẽ nhất thông qua việc tội phạm hoá và trừng trị nghiêm khắc những hành vi xâm hại các quyền phụ nữ; quy định nguyên tắc bình đẳng, trong đó có bình đẳng

về giới trong quan hệ pháp luật hình sự để loại bỏ mọi yếu tố có thể tạo ra sự phân biệt đối xử, hạn chế đối với phụ nữ; đảm bảo các tiêu chuẩn chung về quyền phụ nữ trong quy định về trách nhiệm hình sự (TNHS) và hệ thống hình phạt Tuy nhiên, bản thân các quy định này vẫn còn nhiều hạn chế, khiếm khuyết như: bỏ lọt một số hành vi có tính chất tội phạm hoặc một số dạng của tội phạm cụ thể xâm phạm quyền phụ nữ; không mô tả cấu thành tội phạm hoặc mô tả không rõ ràng, không sát với thực tế tội phạm; chưa đáp ứng yêu cầu của các chuẩn mực pháp lý quốc tế hoặc chưa tương thích với quy định của Hiến pháp và các đạo luật khác của Việt Nam Mặc dù BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã khắc phục một số trong những hạn chế kể trên nhưng nhiều vấn đề trong đó vẫn chưa được BLHS mới giải quyết triệt để, đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện

Mặc dù pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay đã có một hệ thống quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ nhưng trên thực tế tình hình tội phạm xâm hại tình dục, bạo lực gia đình, buôn bán phụ nữ, phạm tội với phụ nữ mang thai… vẫn đang diễn biến phức tạp theo chiều hướng gia tăng Theo kết quả từ Nghiên cứu quốc

gia về bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt Nam năm 2010 thì có 58% phụ nữ từng

kết hôn đã từng bị ít nhất một trong ba loại bạo lực: thể xác, tinh thần hoặc tình dục bởi chồng; 35% phụ nữ Việt Nam đã từng bị bạo lực thể xác hoặc tình dục trong đời bởi bất kỳ một ai đó [89, tr.51, 67] Chỉ riêng các vụ phạm tội xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em, theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, trong 06 năm từ 2008 đến 2013, Tòa án các cấp đã xét xử theo thủ tục sơ thẩm

8772 vụ với 10265 bị cáo [86, tr.5] Có nhiều dạng hành vi xâm phạm nghiêm trọng quyền phụ nữ diễn ra phổ biến trên thực tế nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự như: phá thai vì lý do giới tính, quấy rối tình dục… Thực trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó những hạn chế tự thân các quy định của BLHS là một nguyên nhân cơ bản Bởi vậy, đầu tư nghiên cứu để hoàn thiện quy định đồng thời tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi của pháp luật hình sự nhằm bảo vệ quyền phụ nữ là một đòi hỏi cấp thiết

Trang 11

Thực tiễn pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự ở Việt Nam đều cho thấy việc nghiên cứu, hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự nước ta hiện nay là hết sức cấp thiết nhưng trong khoa học luật hình sự

đề tài này còn ít được quan tâm nghiên cứu Những năm gần đây đã có một số công trình khoa học liên quan đến đề tài, tuy nhiên, các nghiên cứu hầu hết ở quy mô bài viết trên tạp chí chuyên ngành hoặc chỉ nghiên cứu một khía cạnh của vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ hay đề cập đến đề tài này với tư cách là một nội dung, khía cạnh trong đề tài tổng quát hơn (cụ thể: xem phần tổng quan tình hình nghiên cứu dưới đây) Tuy đạt được một số thành tựu ban đầu nhưng các nghiên cứu hiện nay chưa giải quyết được một cách tổng thể những vấn đề lý luận và thực tiễn về đề tài cũng như chưa có tác động sâu sắc đến việc cải cách quy định pháp luật hình sự nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ các quyền phụ nữ Vì vậy, việc tiếp tục đầu tư nghiên cứu

đề tài trong giai đoạn hiện nay là hết sức cấp thiết

Những đòi hỏi về mặt lý luận, thực tiễn kể trên cho thấy việc tiến hành nghiên cứu đề tài bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam hiện nay là hoàn

toàn cấp bách và cần thiết Xuất phát từ lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Những

vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam” để thực hiện luận án tiến sĩ với mục đích nghiên cứu một cách sâu sắc vấn đề

bảo vệ quyền phụ nữ dưới góc độ luật hình sự nhằm tìm ra những giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của pháp luật hình sự trong lĩnh vực này

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Việc nghiên cứu đề tài Những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền

phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam hướng đến mục đích chính là: nghiên

cứu các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự ở Việt Nam về khía cạnh lập pháp và thực tiễn áp dụng nhằm kiến nghị giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng của những quy định này

Phục vụ mục đích nghiên cứu trên, luận án phải giải quyết các nhiệm vụ:

- Xây dựng cơ sở lý luận của việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình

sự, trong đó làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản như: khái niệm, đặc điểm, tính cần thiết, các phương thức, những chuẩn mực pháp lý quốc tế đối với việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự;

Trang 12

- Phân tích, đánh giá thực trạng và thực tiễn áp dụng các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam;

- Nghiên cứu so sánh các các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật các quốc gia trên thế giới để tham khảo, học tập kinh nghiệm lập pháp

- Xác định phương hướng, đề xuất giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả áp dụng của các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của luận án đúng như tên gọi của nó là: những vấn đề

lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Luận án nghiên cứu về đề tài bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam dưới góc độ của khoa học luật hình sự với phạm

- Hệ thống các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam từ thế kỷ XV cho đến nay

- Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hình sự bảo vệ quyền phụ nữ ở Việt Nam trong giai đoạn 2007 - 2016

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận là phép duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng

và Nhà nước ta về chính sách hình sự, lý luận luật hình sự và vấn đề giới

Phương pháp tiếp cận đồng thời là cơ sở khoa học của luận án là tiếp cận

dựa trên quyền con người, “lấy quyền con người làm trung tâm để xem xét và giải

quyết vấn đề” [25, tr.18] Với phương pháp tiếp cận này, luận án lấy các chuẩn mực chung về quyền con người của phụ nữ làm tiêu chí cơ bản để đánh giá và hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam

Trang 13

Trong quá trình thực hiện đề tài, các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng bao gồm:

- Phương pháp tổng hợp: tổng hợp các quan điểm, nhận thức lý luận liên quan đến khái niệm, đặc điểm, phương thức bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự;

- Phương pháp phân tích: phân tích nội dung quy định pháp luật hình sự để làm rõ những khía cạnh thể hiện của việc bảo vệ quyền phụ nữ; phân tích số liệu, vụ việc cụ thể để đánh giá vấn đề trên phương diện thực tiễn

- Phương pháp so sánh: so sánh lịch sử để làm rõ sự phát triển của các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam, so sánh nội dung quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam với các tiêu chuẩn quốc

tế, các quy định tương ứng trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới để đánh giá mức độ tương thích, học hỏi kinh nghiệm hoàn thiện những quy định này

- Phương pháp thống kê: thống kê số liệu xét xử, tư liệu thực tiễn liên quan đến việc áp dụng các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam

- Phương pháp điều tra xã hội học: được sử dụng trong việc phỏng vấn, khảo sát những vấn đề liên quan đến nhận thức, áp dụng các quy định bảo vệ quyền phụ

nữ trong pháp luật hình sự

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án sau khi bảo vệ thành công sẽ là công trình khoa học pháp lý đầu tiên của đất nước ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu đối với đề tài bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự Luận án giải quyết những vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn liên quan đến bảo vệ quyền phụ nữ pháp luật hình sự ở Việt Nam với những đóng góp dưới đây:

- Lần đầu tiên hệ thống hóa và đánh giá tổng quan về sự thể hiện, phát triển của các quan điểm về vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ trong khoa học luật hình sự trong

Trang 14

thực thực tiễn áp dụng các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS và xác định nguyên nhân hạn chế trong áp dụng các quy định này

- Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu kể trên, luận án đạt được kết quả quan trọng nhất là: Đề xuất định hướng hoàn thiện, kiến nghị mô hình lập pháp cụ thể cho việc tiếp tục hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS; đề xuất có hệ thống các giải pháp đảm bảo thực thi các quy định này

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

Về mặt lý luận: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học luật hình sự Việt Nam nghiên cứu một cách hệ thống và đồng bộ về vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả đã công bố các công trình khoa học trên một số sách báo pháp lý nhằm đóng góp trong khoa học luật hình sự Việt Nam những tri thức lý luận, thực tiễn về bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự

Về mặt thực tiễn: Những phát hiện của luận án trong đánh giá thực trạng và thực tiễn áp dụng các quy định bảo vệ quyền phụ nữ pháp trong luật hình sự Việt Nam; những kiến nghị của luận án về giải pháp hoàn thiện và đảm bảo thực thi những quy định này có thể phục vụ đắc lực cho công tác lập pháp cũng như áp dụng pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền phụ nữ nói riêng, quyền con người nói chung bằng pháp luật hình sự

Ngoài ra, luận án còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học - luật gia, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự trong các cơ sở đào tạo đại học, sau đại học tại Việt Nam

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án được cơ cấu thành 04 chương, cụ thể:

- Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

- Chương 2 Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật

hình sự

- Chương 3 Thực tiễn bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam

- Chương 4 Hoàn thiện và đảm bảo thực thi các quy định bảo vệ quyền phụ

nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Trước nhu cầu cấp bách của vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ, những nghiên cứu nhằm đề xuất chính sách, pháp luật, biện pháp hành động để bảo vệ các quyền của phụ nữ đã và đang được triển khai đẩy mạnh trên thế giới cũng như ở Việt Nam Riêng trong lĩnh vực khoa học luật hình sự, trường phái nữ quyền

(ferminism in criminal law) đã tạo nên một “làn sóng” nghiên cứu trên thế giới bắt

đầu từ những năm 1920, tạo ra ảnh hưởng đáng kể đối với việc hình thành các quy định pháp luật quốc tế và cải cách pháp luật quốc gia theo hướng chú trọng bảo vệ quyền phụ nữ [112, pp.3-4].Ở Việt Nam, đề tài này mới được quan tâm, chú ý trong khoa học luật hình sự những năm gần đây và đã đạt được một số thành tựu nhất định

Do vậy, việc tổng hợp, đánh giá tình hình, tham chiếu kết quả của những nghiên cứu trong và ngoài nước chính là một trong các cơ sở quan trọng để kiến tạo nền tảng lý luận, định hướng nghiên cứu và làm căn cứ đề xuất những kiến nghị hữu ích của luận

án tiến sĩ về đề tài bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, cấp độ khác nhau, có thể tiếp cận đề tài ở cấp độ nghiên cứu đa ngành luật học hoặc chuyên ngành luật hình sự hay tội phạm học

1.1.1 Các nghiên cứu đa ngành luật học

Trong khoa học pháp lý ở nước ta đã có những nghiên cứu về đề tài bảo vệ quyền phụ nữ, trong đó đề cập đến pháp luật hình sự với tư cách một trong những công cụ bảo vệ quyền phụ nữ bên cạnh các ngành luật, các công cụ khác Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ dưới góc

độ thực tiễn, có thể là những phân tích đối với pháp luật thực định hoặc đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ

Trang 16

a Nhóm công trình nghiên cứu thực tiễn pháp luật về bảo vệ quyền phụ

nữ có một số sách tham khảo, giáo trình điển hình sau:

1) Sách Sự bình đẳng về cơ hội kinh tế của phụ nữ trong pháp luật và thực

tiễn thi hành pháp luật ở Việt nam của Luật gia Ngô Bá Thành do NXB Chính trị

Quốc gia xuất bản năm 2000;

2) Giáo trình Lý luận chung về quyền con người của Khoa Luật Đại học

Quốc gia Hà Nội, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2009 Trong đó vấn đề quyền phụ

nữ thể hiện tập trung ở Chương VI - “Luật quốc tế về quyền của một số nhóm người

dễ bị tổn thương” và Mục 9.3, Chương IX - “Quyền của một số nhóm người dễ bị tổn thương trong pháp luật Việt Nam”;

3) Sách tham khảo Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn

thương của Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân - Khoa Luật

Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Lao động xã hội xuất bản năm 2011

Các công trình trên đã đề cập đến quyền phụ nữ với tính chất một bộ phận không thể tách rời của quyền con người và là quyền con người đặc thù của nhóm xã hội dễ bị tổn thương; phân tích nội dung các quy định về quyền phụ nữ trong pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam (bao gồm pháp luật hình sự) Tuy nhiên, các công trình này rất ít đề cập đến khía cạnh lý luận của vấn đề, chỉ tập trung vào phân tích, giải thích pháp luật thực định mà chưa đưa ra những đánh giá sâu sắc đối với nội dung quy định cũng như thực tiễn thực thi Vì thế, các nghiên cứu này cũng không

đề xuất giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền phụ nữ của pháp luật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng [36]; [76]; [94]

Bên cạnh các công trình nghiên cứu lớn kể trên còn có một số bài viết về đề tài bảo vệ quyền phụ nữ đăng các tạp chí chuyên ngành luật như: 1) “Bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” của TS Nguyễn

Hồng Bắc, Tạp chí Luật học, số Đặc san tháng 3 năm 2004; 2) “Bạo lực với phụ nữ

và trẻ em dưới góc độ nhân quyền” của TS Lưu Bình Nhưỡng trên Tạp chí Luật học, số 2 năm 2009; 3) “Tổng quan về quyền của phụ nữ theo pháp luật Việt Nam” của TS Lưu Bình Nhưỡng trên Tạp chí Luật học, số 2 năm 2010; 4) “Pháp luật bảo

vệ phụ nữ, trẻ em nhằm phòng chống bạo lực gia đình và một số giải pháp hoàn

Trang 17

thiện” của TS Nguyễn Cảnh Quý trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6 năm 2010 Đây cũng là những công trình tập trung vào mục đích phân tích các quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ của pháp luật trong nước hoặc quốc tế, bao gồm luật

hình sự, nhưng chỉ ở quy mô bài viết

b Nhóm công trình nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ tiêu biểu là một số đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Bộ sau:

1) Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt Nam của Tổng

cục Thống kê, năm 2010;

2) Báo cáo nghiên cứu: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ở Việt Nam: Bức

tranh khái quát và khung pháp lý để giải quyết do Bộ Lao động-Thương binh và Xã

hội phối hợp với Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thực hiện năm 2012;

3) Đề tài khoa học cấp Bộ: Nghiên cứu các giải pháp phòng, chống bạo lực

gia đình ở Việt Nam hiện nay do Vụ Gia đình - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

thực hiện, nghiệm thu năm 2014

Những nghiên cứu này có thiên hướng đi sâu vào đánh giá diễn biến thực tiễn của các hành vi xâm hại các quyền an ninh cá nhân, tự do và an toàn tình dục phụ nữ và mức độ đáp ứng của hệ thống pháp luật trước diễn biến thực tiễn ấy Trong đó, những quy định pháp luật hình sự có liên quan được phân tích sâu sắc về khía cạnh khả năng bảo vệ phụ nữ trước những loại bạo lực chủ yếu nhằm vào nữ giới Việc hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự liên quan được đề xuất với tư cách là một trong các giải pháp phòng, chống hành vi xâm hại các quyền phụ nữ nêu trên Tuy đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật hình sự nhưng các công trình này đều không đi đến kiến giải lập pháp cụ thể [8]; [89]; [109]

1.1.2 Các nghiên cứu chuyên ngành luật hình sự

Riêng trong khoa học luật hình sự ở Việt Nam hiện nay chưa có nghiên cứu quy mô lớn, chuyên biệt về vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ Ở một số công trình nghiên cứu lớn, việc bảo vệ quyền phụ nữ được đề cập đến với tư cách một khía cạnh của đề tài tổng quát hơn hoặc có công trình chỉ nghiên cứu riêng về một trong các nội dung, khía cạnh của vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự Các nghiên cứu này tập trung vào hai hướng nghiên cứu chính: Bảo vệ quyền phụ

Trang 18

nữ trên phương diện lý luận và thực tiễn pháp luật hình sự; Bảo vệ quyền phụ nữ trên phương diện thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự

a Nhóm nghiên cứu trên phương diện lý luận và thực tiễn pháp luật hình

sự liên quan đến đề tài có các công trình tiêu biểu như sau:

1) Sách chuyên khảo Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân

theo luật hình sự Việt Nam của tập thể tác giả do TS Trịnh Tiến Việt chủ biên, xuất

bản năm 2010 Cuốn sách này không giải quyết một cách tổng quát vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ mà chỉ đề cập đến hành vi xâm hại quyền bình đẳng của phụ nữ với

tư cách một trong những hành vi phạm tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ cơ bản

của công dân Liên quan đến Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ, tác phẩm phân tích nội dung quy định của BLHS Việt Nam năm 1999, so sánh với quy định tương ứng của pháp luật một số nước trên thế giới, đánh giá thực tiễn thi hành quy định này và kiến nghị hoàn thiện BLHS nhằm bảo vệ hiệu quả hơn quyền bình đẳng của phụ nữ [107]

2) Sách chuyên khảo: Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt

Nam xuất bản năm 2010 tại Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

do TS Võ Thị Kim Oanh chủ biên [60] Các chuyên đề trong cuốn sách này tập trung nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ ở các khía cạnh thực tiễn pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án Duy nhất trong chuyên đề đầu tiên “Những vấn đề chung về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự”, tác giả Lê Văn Cảm đã khái quát một số đặc điểm, yêu cầu của việc bảo

vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự - những tri thức có thể tham khảo trong việc tạo dựng cơ sở lý luận của việc bảo vệ quyền phụ

nữ bằng pháp luật hình sự Bên cạnh đó, những nghiên cứu về hình phạt tử hình trong chuyên đề thứ hai và thứ tư của cuốn sách cũng tiếp cận vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ khi nghiên cứu quy định liên quan đến hình phạt này trong pháp luật hình sự thực định ở Việt Nam [60, tr.5 -70]

3) Sách chuyên khảo: Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự của

tập thể tác giả do PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí chủ biên, xuất bản tại nhà xuất bản Hồng Đức năm 2015 Cuốn sách là công trình có tính khái quát cao về những vấn

Trang 19

đề lý luận, thực tiễn liên quan đến quyền con người trong tư pháp hình sự nói chung Trong đó, Chương 1 và Chương 2 đã làm rõ nhiều vấn đề lý luận cơ bản về quyền con người trong pháp luật hình sự như khái niệm, ý nghĩa, các khía cạnh thể hiện, các cơ chế bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự [14] Tuy không trực tiếp nghiên cứu về vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ nhưng những kết quả nghiên cứu của cuốn sách đã cung cấp một hệ thống nhận thức khá toàn diện về lý luận cũng như thực tiễn pháp luật liên quan đến quyền con người trong pháp luật hình sự

mà bao gồm trong đó các quyền phụ nữ

Bên cạnh các công trình quy mô lớn nêu trên còn có một số công trình tuy ở quy mô bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành nhưng lại là những nghiên cứu chuyên biệt dưới góc độ luật hình sự về vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ Trong đó phải

kể đến những nghiên cứu của một số tác giả tiêu biểu dưới đây:

- TS Phạm Hồng Hải (2001), “Bộ luật hình sự năm 1999 với vấn đề bảo vệ

quyền lợi của phụ nữ và trẻ em”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 155 [29, tr.15-29];

- TS Đỗ Đức Hồng Hà (2008), “Pháp luật hình sự và tố tụng hình sự ở Việt

Nam trong việc bảo vệ phụ nữ”, Tạp chí Luật học, số 3 [27, tr.9-17];

- TS Đỗ Đức Hồng Hà (2009),“Pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ phụ nữ khỏi

những hành vi bạo lực”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 10 [28, tr.65-71, 82-83];

- TS Dương Tuyết Miên (2010), “Pháp luật hình sự Lào với việc bảo vệ

quyền của người phụ nữ”, Tạp chí Luật học, số 2 (số chuyên đề về Quyền của phụ

nữ theo pháp luật các nước ASEAN) [51, tr.52-57];

- PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế (2012), “Bảo vệ quyền lợi phụ nữ trong Luật

Hồng Đức (Lê Triều hình luật) - Tính tiến bộ, nhân văn và giá trị đương đại”, Tạp

chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học, số 28 [62, tr.199-203]

Hầu hết các bài viết này đều tiếp cận vấn đề bảo vệ quyền của phụ nữ trong pháp luật hình sự ở phương diện thực tiễn pháp luật Trong đó cũng có nghiên cứu

về nữ quyền dưới góc độ lịch sử hoặc so sánh pháp luật hình sự Việt Nam với các quốc gia khác Về kết quả nghiên cứu, nhìn chung các bài viết chủ yếu đã chỉ ra và phân tích những quy định có ý nghĩa bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự ở nước ta, một số ít trong đó đã tiến xa hơn khi bước đầu đánh giá phê bình và kiến

Trang 20

nghị những đề xuất sửa đổi, hoàn thiện pháp luật thực định nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ các quyền phụ nữ

b Nhóm nghiên cứu trên phương diện thực tiễn áp dụng pháp luật liên

quan đến đề tài có các công trình tiêu biểu như:

1) Báo cáo Đánh giá tình hình phụ nữ trong hệ thống tư pháp hình sự Việt

Nam do Cơ quan Phụ nữ Liên hợp quốc thực hiện năm 2013 Đây là một nghiên cứu

thực tiễn về tình hình phụ nữ trong hệ thống tư pháp hình sự ở nước ta dưới nhiều góc độ Một mặt, Báo cáo đánh giá tình hình phụ nữ với tư cách là nạn nhân chủ yếu của các loại hình bạo lực trên cơ sở giới và những đáp ứng của hệ thống tư pháp hình sự đối với việc hỗ trợ các nạn nhân này Đồng thời, nghiên cứu này cũng phân tích tổng quan về tình hình phụ nữ ở tư cách là người phạm tội và những chính sách, phản ứng của hệ thống tư pháp hình sự đối với phụ nữ phạm tội Mặt khác, công trình còn xem xét vị thế của phụ nữ trong hệ thống cơ quan tư pháp hình sự, những khó khăn đối với giới này khi công tác trên cương vị đó và ảnh hưởng của nó đối với việc đảm bảo các quyền phụ nữ ở tất cả những tư cách trong hệ thống tư pháp nêu trên Dựa trên những đánh giá thực tiễn đó, các chuyên ra nghiên cứu đã

đề xuất những khuyến nghị có giá trị quan trọng giúp Nhà nước Việt Nam trong nỗ lực đảm bảo hiệu quả các quyền và vị thế bình đẳng của phụ nữ trong hệ thống tư pháp hình sự [17]

2) Báo cáo Đánh giá về kiểm soát và khởi tố tình trạng bạo lực tình dục đối

với phụ nữ và trẻ em gái tại Việt Nam do Bộ Tư pháp thực hiện năm 2014 Báo cáo

tập trung đánh giá các quy định pháp luật và thực tiễn xử lý tội phạm xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em Trên cơ sở phân tích quy định pháp luật, đánh giá tình hình khởi tố, xét xử các vụ án, Báo cáo tìm ra nguyên nhân hạn chế, phát hiện các khoảng trống về pháp luật và các cơ chế thực thi để đưa ra những đề xuất hoàn thiện, cải cách nhằm bảo vệ tốt hơn quyền tự do và an toàn về tình dục của phụ nữ, trẻ em gái trước sự xâm hại của tội phạm [9]

1.1.3 Các nghiên cứu chuyên ngành tội phạm học

Liên quan đến bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự, các công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành tội phạm học đề cập đến các quy định pháp luật

Trang 21

hình sự với tư cách là công cụ đắc lực trong đấu tranh phòng chống các tội phạm

xâm hại quyền phụ nữ Ở nhóm nghiên cứu này có một số công trình tiêu biểu sau:

1) Sách chuyên khảo: Công tác phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ

em ở Việt Nam của tác giả Trần Minh Hưởng xuất bản năm 2008 Nghiên cứu này

không đề cập đến vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ nói chung mà tập trung vào một loại hành vi hành vi tước đoạt quyền tự do, bóc lột, chà đạp nhân phẩm của phụ nữ là mua bán phụ nữ Tác giả đã hệ thống hóa các văn bản pháp luật quốc tế, quốc gia về phòng, chống buôn bán và bảo vệ phụ nữ, trẻ em làm nền tảng cho việc đánh giá diễn biến của tội phạm, tình hình hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm này trong thực tế Trong các kiến nghị mà tác giả đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống loại tội phạm này cũng bao hàm kiến nghị hoàn thiện các quy định có

liên quan của Bộ luật hình sự [35]

2) Sách chuyên khảo: Hoạt động phòng ngừa tội phạm về bạo lực gia đình ở

Việt Nam trong giai đoạn hiện nay của lực lượng cảnh sát nhân dân của T.S Phạm

Minh Chiêu, xuất bản năm 2012 tại NXB Công an nhân dân Cuốn sách nghiên cứu các tội phạm về bạo lực gia đình dưới góc độ tội phạm học và phòng ngừa tội phạm Những đánh giá về đặc điểm, tình hình tội phạm trong đó đã chỉ ra rằng phụ nữ là nạn nhân chủ yếu của các tội phạm về bạo lực gia đình và định kiến, sự bất bình đẳng giới đối với phụ nữ là một trong những nguyên nhân phát sinh loại tội phạm này Liên quan đến pháp luật hình sự với tư cách là một công cụ đấu tranh phòng ngừa tội phạm

về bạo lực gia đình, tác giả đã phân tích một số điểm hạn chế của quy định pháp luật hình sự hiện hành và kiến nghị hoàn thiện những quy định này [15] Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu chính là hoạt động đấu tranh phòng ngừa tội phạm về bạo lực gia đình của lực lượng cảnh sát nhân dân nên những vấn đề liên quan đến pháp luật hình sự trong cuốn sách không phải là nội dung chủ đạo

3) Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội: Đấu tranh

phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em trong giai đoạn hiện nay do TS

Chu Thị Trang Vân làm chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2010 Đề tài đã khái quát một

số vấn đề lý luận về tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em; Phân tích quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội buôn bán phụ nữ, trẻ em ở các phương diện: đặc điểm,

Trang 22

dấu hiệu pháp lý đặc trưng và đường lối xử lý; Đánh giá diễn biến, phương thức, thủ đoạn phạm tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội buôn bán phụ nữ, trẻ em và thực tiễn đấu tranh, xử lý các tội phạm này trong 05 năm từ 2004 đến 2009; Kiến nghị các giải pháp lập pháp và các giải pháp khác góp phần đấu tranh có hiệu quả với tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em [101]

Tóm lại, ở Việt Nam hiện nay chưa có nghiên cứu nào chuyên biệt về đề tài bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự Các công trình quy mô lớn có thể đề cập đến đề tài với tư cách là một trong các đối tượng nghiên cứu hoặc chỉ đề cập đến một khía cạnh, nội dung cụ thể của đề tài Một số công trình có hướng nghiên cứu riêng về đề tài thì chỉ ở quy mô bài viết đăng tạp chí và chủ yếu đánh giá thành tựu, hạn chế của pháp luật thực định mà chưa nghiên cứu tổng quát cả khía cạnh lý luận lẫn thực tiễn áp dụng pháp luật Nhìn chung, ở Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về đề tài bảo vệ quyền phụ

nữ bằng pháp luật hình sự, đặc biệt là ở cấp độ luận án tiến sĩ

1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Chiếm số lượng đông đảo nhất trong các nhóm xã hội dễ bị tổn thương nên phụ nữ luôn là đối tượng quan trọng trong các nghiên cứu về nhân quyền trên thế giới Trong khoa học luật hình sự quốc tế, các nghiên cứu về đề tài bảo vệ quyền phụ nữ khá sôi động và phong phú Trong đó có cả những công trình có tính khái quát về vấn đề nữ quyền trong luật hình sự cũng như công trình chỉ đi sâu vào một khía cạnh, nội dung cụ thể của đề tài này Cụ thể có thể chia thành ba nhóm nghiên cứu: 1) Những nghiên cứu chung về các vấn đề nữ quyền trong pháp luật hình sự; 2) Những nghiên cứu về các tội phạm xâm phạm quyền phụ nữ; 3) Những nghiên cứu

về trách nhiệm hình sự (TNHS) và hình phạt đối với phụ nữ phạm tội

1.2.1 Những nghiên cứu chung về quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự

Các công trình nghiên cứu này thường được xếp vào trường phái nữ quyền

trong luật hình sự (ferminism in criminal law) Ở nhóm này các nhà nghiên cứu lấy

lập trường nữ quyền làm căn cứ để đánh giá nội dung quy định pháp luật hình sự

hoặc hệ thống thực thi những quy định ấy với một số công trình tiêu biểu như:

- Sách chuyên khảo Những khía cạnh nữ quyền trong luật hình sự (Feminist

Trang 23

perspectives on criminal law) của tập thể tác giả do Donald Nicolson và Lois

Bibbings (giảng viên Đại học Bristol) đồng chủ biên, xuất bản năm 2000 Cuốn sách phê bình những khiếm khuyết của luật hình sự thực định trong việc bảo vệ quyền phụ nữ cả ở tư cách nạn nhân và người phạm tội Ba hạn chế cơ bản được các tác giả tập trung phê phán là: sự bảo vệ không đầy đủ đối với phụ nữ, sự phân biệt đối xử và cấu trúc giới của luật hình sự Phân tích nội dung quy định và thực tiễn thực thi pháp luật hình sự ở Anh Quốc, các tác giả đã chỉ ra những vấn đề tồn tại cơ bản như: Do pháp luật nhìn nhận từ quan điểm nam giới về hành vi hiếp dâm nên hành vi này nhất định phải thỏa mãn dấu hiệu giao cấu bằng cơ thể mới cấu thành tội phạm còn những hành vi tương tự nhưng thông qua công cụ khác thì không cấu thành tội phạm này và hiếp dâm trong hôn nhân hầu như không bị xử lý bởi quan điểm rằng trường hợp này đã có sự đồng thuận quan hệ tình dục ngay từ thời điểm kết hôn; Việc áp dụng quy định pháp luật về hiếp dâm trong thực tế tỏ rõ sự phân biệt đối xử khi xem xét phẩm hạnh của phụ nữ, gần như bỏ qua hiếp dâm đối với gái mại dâm hoặc truy ngược lại quá khứ tình dục của nạn nhân khi xem xét tội phạm; Cấu trúc giới trong những khuôn mẫu hành vi thiết lập bởi quy định pháp luật dường như khiến cho các nữ tội phạm giống như kẻ tâm thần, thiếu tự chủ hoặc đơn cử như mô típ của phòng vệ chính đáng luôn phải là phản ứng tức thời khiến cho sự phản ứng của phụ nữ sau khi chịu bạo lực kéo dài không được xem xét là phòng vệ chính đáng Nhìn chung cuốn sách đã đưa ra những chỉ trích sâu sắc về khía cạnh nữ quyền đối với pháp luật thực định ở Anh, tuy nhiên không đưa ra giải pháp cải cách cụ thể [118]

- Sách chuyên khảo Chủ nghĩa nữ quyền và tư pháp hình sự: Một cái nhìn

lịch sử (Feminism and criminal justice: A historical perspective) của tác Anne

Logan xuất bản tại Anh năm 2008 Đúng như tựa đề, cuốn sách cung cấp một cái nhìn lịch sử về ảnh hưởng của phong trào nữ quyền đối với việc cải cách hệ thống

tư pháp hình sự theo hướng cải thiện vị thế của phụ nữ trong hệ thống này Những thay đổi về vai trò của phụ nữ được tác giả cung cấp qua những tư liệu thực tiễn phong phú về số lượng, vị trí của nữ giới trong hệ thống cơ quan tư pháp như: thẩm phán, thành viên bồi thẩm đoàn; công chức, ủy viên hội đồng, thanh tra, thống đốc

Trang 24

trong nhà tù Với nguồn số liệu dồi dào được thống kê từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế

kỷ 21, tác giả đã chỉ ra rằng vị trí của phụ nữ trong hệ thống tư pháp hình sự đã được cải thiện rõ rệt, tuy sẽ còn gặp nhiều rào cản nhưng có triển vọng rõ ràng Và

đó là một trong những điều kiện quan trọng để đảm bảo nữ quyền được tôn trọng, thực thi trong hệ thống tư pháp hình sự [112]

Bên cạnh các nghiên cứu có quy mô lớn, còn có rất nhiều nghiên cứu ở cấp

độ bài viết nhưng là những đánh giá sâu sắc về pháp luật hình sự trên lập trường bảo vệ nữ quyền Tiêu biểu phải kể đến một số tác phẩm sau:

- Bài viết “Luật học nữ quyền: tại sao luật pháp phải cân nhắc những lập

trường của nữ giới” đăng trên Tạp chí trường luật William Mitchell, Hoa Kỳ (“Feminist jurisprudence: Why law must consider women's perspectives”, William

Mitchell Magazine, USA) năm 1991 của tác giả Ann Juergens Bài viết đã chỉ trích

những quy định pháp luật hình sự được xây dựng với tư duy nam giới Những vấn

đề cơ bản như phương diện chủ quan, khách quan của tội phạm hoàn toàn xuất phát

từ ý tưởng về tâm lý và hành vi của nam giới Thêm vào đó tình trạng thiểu số của phụ nữ công tác trong hệ thống cơ quan tư pháp hình sự (qua số liệu thực tế ở bang Minnesota, Hoa Kỳ) khiến cho việc thực thi pháp luật hình sự cũng phản ánh tư duy nam giới Tác giả đặt ra những giả định về sự thay đổi của luật hình sự nếu được xây dựng trên quan điểm của nữ giới Từ đó, tác giả luận chứng cho yêu cầu phải xem xét đến quan điểm của phụ nữ trong công tác lập pháp và đòi hỏi sự thay đổi lập trường tư duy của cả hệ thống tư pháp hình sự Tuy nhiên, tác giả chỉ đặt ra yêu cầu chứ không làm rõ phương hướng hay nội dung cụ thể cần phải cải cách trong quy định pháp luật và công tác áp dụng để đảm bảo sự trung tính, công bằng của pháp luật hình sự [111, pp.31-35]

- Bài viết “Thách thức nữ quyền trong luật hình sự” của Stephen J Schulhofer

trên Tạp chí luật Đại học Pennsylvania, Hoa Kỳ (“The feminist challenge in criminal law”, University of Pennsylvania Law Review) năm 1995 Bài viết đề cập đến vấn

đề bảo vệ quyền phụ nữ dưới góc độ nghiên cứu pháp luật thực định và thực tiễn thực thi pháp luật hình sự Những phân tích của tác giả chỉ ra rằng các quy định của luật hình sự được thiết kế cũng như áp dụng bởi khuôn mẫu nam giới về hành vi và tư

Trang 25

tưởng Chính những quy định có vẻ bề ngoài bênh vực và nương nhẹ đối với phụ nữ lại làm mất đi sự bình đẳng về tư cách của phụ nữ khi đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự Tác giả cũng phân tích thực tiễn áp dụng hình phạt, thi hành án để chỉ ra tác động nghiêm trọng hơn của các hình phạt đối với phụ nữ so với nam giới và những bất lợi mà tính chất thiểu số của nữ phạm nhân trong nhà tù mang lại cho chính họ Mặc dù đưa ra nhiều chỉ trích xác đáng về phương diện nữ quyền đối với luật hình sự nhưng bài viết không đề xuất giải pháp cho những hạn chế này [139, pp.2151-2207]

- Bài viết “Những thành tựu, thất bại “thông thường” của nữ quyền và luật

hình sự” trên Tạp chí nghiên cứu luật công và lý thuyết pháp lý Georgetown (“The

“normal” successes and failures of feminism and the criminal law”, Georgetown

Public Law and Legal Theory Research Paper) năm 2000 của Victoria Nourse Bài

viết rất đặc biệt khi chỉ ra rằng những thành tựu trong cải cách pháp luật nhằm bảo

vệ nữ quyền cũng đồng thời bộc lộ những thất bại của công cuộc ấy Ví dụ: Cải cách luật về hiếp dâm đã loại bỏ yêu cầu phải có dấu hiệu sự kháng cự của người phụ nữ nhưng thực tế áp dụng lại vẫn đòi hỏi chứng minh dấu hiệu này; Luật hiếp dâm không loại trừ hiếp dâm trong hôn nhân nhưng hành vi này thực tế hầu như không bị truy cứu; Quy định về bạo lực gia đình đổi mới theo hướng tăng cường ủng hộ phụ nữ nhưng lại không thừa nhận phản ứng của người phụ nữ sau quãng thời gian dài chịu bạo hành là hành vi phòng vệ chính đáng Những nhìn nhận mang tính chất phê bình ở đây có ý nghĩa gợi mở cho việc tiếp tục cải cách nhằm nâng cao giá trị bảo vệ quyền phụ nữ của pháp luật hình sự nhưng phương án cải cách cụ thể không được tác giả trực tiếp đề xuất [143, pp.951-978]

1.2.2 Những nghiên cứu về các tội phạm xâm phạm quyền phụ nữ

Đây là nhóm nghiên cứu khá sôi động, thường tập trung vào các quy định pháp luật hình sự hoặc chính sách thực thi pháp luật hình sự nhằm chống lại một hoặc một số loại tội phạm xâm phạm quyền phụ nữ Trong nhóm nghiên cứu này phải kể đến một số công trình có tầm cỡ như:

- Sách Bạo lực chống lại phụ nữ - Một tầm nhìn quốc tế (Violence against

women - An international perspective) xuất bản năm 2008 của các nhà tội phạm học

Canada và Phần Lan là Holly Johnson, Natalia Ollus và Sami Nevala Công trình

Trang 26

nghiên cứu hướng đến mục tiêu đưa ra những giải pháp phòng chống bạo lực đối với phụ nữ trên toàn thế giới thông qua điều tra thực tiễn ở 09 quốc gia: Argentina, Australia, Canada, Costa Rica, Đan Mạch, Indonesia, Italy, Kazakhstan, Phần Lan, Philippines, Serbia, Thụy Sĩ và Ukraine Làm cơ sở cho việc đánh giá thực tiễn, các tác giả đã phân tích tổng quan quy định pháp luật quốc tế liên quan đến bạo lực chống lại phụ nữ Khi đánh giá tình hình bạo lực chống lại phụ nữ, công trình đồng thời đánh giá phản ứng và mức độ đáp ứng của hệ thống tư pháp hình sự ở các quốc gia được khảo sát trước vấn đề này Cải cách pháp luật hình sự, hệ thống cơ quan tư pháp hình sự cũng là một trong những giải pháp mà các tác giả kiến nghị nhằm ngăn chặn bạo lực đối với phụ nữ trên toàn cầu [127]

- Sách Ngăn chặn bạo lực gia đình: Lý thuyết, chính sách và thực tiễn (Tackling domestic violence: Theories, policies and practice) của Lynne Harne và Jill

Radford phát hành năm 2008 tại Anh Quốc Cuốn sách là kết quả từ những nghiên cứu của các tác giả trong 10 năm tham gia đào tạo chuyên gia ứng phó bạo lực gia đình cho lực lượng cảnh sát, luật sư, các tổ chức hỗ trợ phụ nữ cho ở nước Anh, Bắc Ireland, Kazakhstan và Thổ Nhĩ Kỳ Cuốn sách có cách tiếp cận đa ngành đối với vấn

đề bạo lực gia đình trên lập trường bảo vệ phụ nữ và trẻ em với tư cách nạn nhân của loại bạo lực này Mặc dù lấy trung tâm nghiên cứu ở Anh nhưng nghiên cứu phản ánh những biến đổi liên quan đến vấn đề trên toàn cầu Các tác giả đã làm rõ bản chất, các mức độ biểu hiện của bạo lực gia đình, trong đó mức độ biểu hiện cực đoan nhất là một loại tội phạm trên cơ sở giới; đưa ra những đánh giá về tác động của bạo lực gia đình lên sức khỏe, nhân phẩm của phụ nữ, trẻ em; phân tích các quy định của pháp luật hình sự, luật hôn nhân và gia đình, luật bảo vệ trẻ em liên quan đến vấn đề bạo lực gia đình, đánh giá phê bình đối với những phản ứng của pháp luật trước bạo lực gia đình; đánh giá tác động tích cực của phong trào nữ quyền đối với cải cách chính sách, pháp luật về bạo lực gia đình; khuyến nghị các giải pháp phòng chống bạo lực gia đình Tuy nhiên các giải pháp mà nghiên cứu đề xuất chủ yếu trên phương diện hành động thực tiễn chứ không bao gồm giải pháp về mặt lập pháp [132]

Bên cạnh các công trình ở quy mô sách chuyên khảo, trong khoa học luật hình sự quốc tế còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí danh tiếng, nghiên cứu

Trang 27

về phản ứng của pháp luật hình sự đối với các loại tội phạm chủ yếu nhằm phụ nữ Trong đó phải kể đến:

- Nghiên cứu so sánh pháp luật về hiếp dâm của Gilbert Geis năm 1978: “Hiếp dâm trong hôn nhân: Pháp luật và cải cách pháp luật ở Anh, Hoa Kỳ và Thụy Điển”,

Tạp chí luật Adelaide, Úc (“Rape in marriage: Law and law reform in England, The

United States and Sweden”, Adelaide Law Review, Australia) Bài viết phân tích sự

thay đổi quan niệm về hiếp dâm trong hôn nhân theo thời gian qua các quy định pháp luật và vụ việc cụ thể ở ba nước Anh, Hoa Kỳ, Thụy Điển Vào cuối thế kỷ 19

ở các quốc gia này, hiếp dâm có nghĩa là hành vi bạo lực tình dục đối với một người phụ nữ xa lạ, ngoài vợ và người tình bởi vì hôn nhân, tình yêu được coi như thỏa thuận trong đó người phụ nữ tự nguyện trao thân thể mình ngay từ đầu cho nam giới Đến đầu thế kỷ 20, những cáo buộc về hành vi hiếp dâm trong hôn nhân bắt đầu xuất hiện trước tòa án Pháp luật các quốc gia này dần thừa nhận có hiếp dâm trong hôn nhân nhưng phải chứng minh được yếu tố bạo lực thể xác hay để lại thương tích Đến thập niên 50, 60 của thế kỷ 20, quan điểm về hiếp dâm trong hôn nhân đã thay đổi, đó là hành vi quan hệ tình dục trái với ý muốn của người vợ Tác giả cho rằng việc thừa nhận hiếp dâm trong hôn nhân, thay đổi quan niệm về bản chất của tội phạm theo hướng này là đúng đắn vì luật pháp dựa vào tính chất, hậu quả của hành vi để xác định tội phạm chứ không dựa vào mối quan hệ giữa thủ phạm với nạn nhân [123, pp 284-303]

- Bài viết “Cải cách luật hiếp dâm ở Canada: những thành tựu và hạn chế lập

pháp” trên Tạp chí Quốc tế về xử lý tội phạm và tội phạm học so sánh (“Rape Law reform in Canada: The success and limits of legislation”, International Journal of

Offender Therapy and Comparative Criminology) của Kwong-leung Tang năm 1998

Phù hợp với khuynh hướng nghiên cứu chủ đạo của tạp chí, bài viết là một đánh giá mang tính lịch sử và so sánh quốc tế về những cải cách trong quy đinh pháp luật về hiếp dâm ở Canada Trước tiên, tác giả nhìn nhận luật về hiếp dâm ở Canada là phương tiện quan trọng trong việc bảo vệ tự do và nhân phẩm của phụ nữ Tác giả phê bình quy định về hiếp dâm ở Canada trước cải cách năm 1983 ở những khía cạnh như: không coi tội phạm hiếp dâm là hành vi xâm hại đối với bản thân người

Trang 28

phụ nữ bị cưỡng hiếp mà là sự xúc phạm đối với người cha hoặc chồng của cô ấy; đòi hỏi hành vi hiếp dâm phải bị tố giác ngay sau khi xảy ra, nếu không cáo buộc sẽ

vô giá trị; hiếp dâm trong hôn nhân không phải tội phạm bởi người chồng có quyền

sở hữu đối với cơ thể vợ; truy xét uy tín và nhân cách của người phụ nữ bị hiếp dâm khi xem xét tội phạm Sau cải cách năm 1983, hiếp dâm đã được luật pháp Canada xếp vào một loại bạo lực mà nạn nhân chủ yếu là nữ giới, hiếp dâm trong hôn nhân cũng bị coi là tội phạm và việc truy ngược lịch sử tình dục, uy tín của nạn nhân bị cấm, hình phạt đối với các tội phạm về tình dục cũng nghiêm khắc hơn, cao nhất có thể là án tử hình Tác giả cũng so sánh quy định về hiếp dâm theo luật Canada so với một số quốc gia, khu vực trên thế giới Ví dụ, giống như ở Anh, luật Canada sau cải cách xác định cốt lõi của hiếp dâm là quan hệ tình dục mà không có sự đồng ý của người phụ nữ, khác với khu vực Bắc Mỹ vốn xác định phương thức bạo lực để thực hiện hành vi giao cấu mới là bản chất của vấn đề Tuy thừa nhận những bước tiến về mặt lập pháp đối với tội phạm hiếp dâm nhưng tác giả cho rằng những cải cách này chưa thực sự hiệu quả bởi những con số thống kê cho thấy tội phạm về tình dục vẫn gia tăng Theo tác giả, những giải pháp thiết thực hơn là: giáo dục nhận thức xã hội về tấn công tình dục, nâng cao ý thức cảnh giác cho phụ nữ, trẻ em gái, thành lập các cơ quan chuyên ứng phó với bạo lực tình dục, thu hút các tổ chức, cộng đồng tham gia đấu tranh với hình thức bạo lực này [131, pp.258-270]

- Bài viết “Luật hình sự và tội phạm tình dục: những cải cách gần đây trong luật hình sự Đức” (Penal Law and Sexuality: Recent Reforms in German Criminal Law) của Giáo sư Tatjana Hörnle (Đại học Humboldt - Đức) trên Tạp chí luật hình

sự Buffalo, tập 3, năm 2000 Những phân tích của tác giả đã cho thấy sự thay đổi lớn lao trong quan điểm về các tội phạm tình dục trong quá trình phát triển của luật hình sự Đức Từ khi BLHS Đức được ban hành trong thế kỷ 19 đến trước năm

1973, các tội phạm tình dục được coi là loại vi phạm về đạo đức Sau cải cách năm

1973, những hành vi này chính thức được coi là hành vi xâm phạm sự tự chủ về tình dục - loại tội phạm chống lại con người Năm 1997 được coi là một năm luật hình

sự Đức có nhiều cải cách đặc biệt cho nữ quyền liên quan đến hành vi hiếp dâm Trước đó, luật đòi hỏi hiếp dâm phải có yếu tố bạo lực hoặc đe dọa sử dụng bạo

Trang 29

lực Do vậy, trường hợp người phụ nữ bị quan hệ tình dục trái ý muốn khi đang say chất kích thích hoặc ốm yếu, mệt mỏi không được coi là hiếp dâm Sau năm

1997, việc quan hệ tình dục trái ý muốn do nạn nhân ở trong tình trạng yếu thế hoặc không thể tự vệ bắt đầu được coi là hiếp dâm Trước năm 1997, nạn nhân của hiếp dâm nhất định phải là phụ nữ và chỉ hành vi giao cấu mới cấu thành tội hiếp dâm nên thủ phạm chắc chắn là nam giới (trường hợp phụ nữ bị cưỡng bức thực hiện hành vi quan hệ tình dục đồng tính không phải là hiếp dâm) Sau đó quan điểm này đã được mở rộng, và cho đến nay, luật hình sự Đức không có yêu cầu nào về giới tính của thủ phạm hay nạn nhân của hành vi hiếp dâm Hơn nữa, những hành vi quan hệ tình dục đồng tính hoặc hành vi tương tự giao cấu cũng cấu thành tội hiếp dâm [140, pp.639-685]

- Bài viết “Phản ứng hình sự đối với bạo lực gia đình” của Heather Douglas

trên Tạp chí Luật Sysney năm 2008 (“The criminal response to dometic violence”,

Sydney Law Review) Trong khi các nhà hoạt động nữ quyền luôn vận động việc ghi

nhận bạo lực gia đình là một loại tội phạm thì tác giả lại cảnh báo những bất lợi do việc tội phạm hóa hành vi này đem lại Theo tác giả, nếu không tội phạm hóa bạo lực gia đình thì hành vi này vẫn có thể xử lý về hình sự như bất kỳ một dạng bạo lực nào khác Và thực tế, từ khi pháp luật ở Úc công nhận bạo lực gia đình là tội phạm thì hình phạt quy định cho tội phạm này lại chủ yếu là hình phạt tiền và án treo, rất nhẹ so với các hình thức bạo lực tương tự nhưng đối với người xa lạ Mặt khác, các con số thực tiễn tác giả đưa ra cho thấy phần lớn phụ nữ không tố giác hay trông cậy vào sự giúp đỡ của hệ thống tư pháp hình sự khi bị bạo lực gia đình bởi tâm lý ngại tiếp xúc với cảnh sát, sợ tan vỡ gia đình, lo lắng về ảnh hưởng đối với trẻ em khi gia đình vướng mắc vào tố tụng hình sự, sợ bạo lực tiếp tục tăng lên do người chồng trả thù sau khi thụ án (những mức án vốn không mấy nghiêm khắc) Trên cơ

sở những phân tích của mình, tác giả cho rằng phải quy định hình phạt nghiêm khắc hơn đối với bạo lực gia đình hoặc không cần tội phạm hóa hành vi bạo lực gia đình

mà áp dụng các quy định về tội phạm bạo lực nói chung để xử lý Và các biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình cần được ưu tiên trước khi vấn đề diễn biến đến mức phải xử lý về hình sự [126, pp.439-469]

Trang 30

- Bài viết “Quan điểm nữ quyền đối với hiếp dâm vị thành niên trong luật

hình sự Trung Quốc” đăng trên Tạp chí Trung tâm Tự do thuộc Trường Luật của

Đại học Cincinmati (“Feminist perspective to teenage rape in Chinese criminal

law”, Freedom Center Journal - University of Cincinmati College of Law) của tác

giả Gulazat Tursun năm 2010 Bài viết này là một phân tích phê bình đối với quy định về hiếp dâm trong luật hình sự Trung Quốc Luật nước này coi mọi giao cấu với trẻ em gái dưới 14 tuổi là hiếp dâm nhưng lại loại trừ trường hợp giao cấu với

sự đồng ý trẻ em gái dưới 14 tuổi mà người đó không biết, không thể biết được cô gái này dưới 14 tuổi và hành vi giao cấu gây hại không nghiêm trọng Theo tác giả, quy định loại trừ này là không hợp lý về mặt logic cũng như trên phương diện nữ quyền Thứ nhất, bởi pháp luật Trung Quốc xác định những người chưa đủ 14 tuổi

là người chưa có năng lực đầy đủ trong việc nhận thức, điều khiển hành vi của mình nên liệu việc đồng ý của họ thực sự có ý nghĩa? Thứ hai, không thể có hành vi quan

hệ tình dục với vị thành niên mà không gây hại nghiêm trọng bởi nếu không chịu thiệt hại về thể chất thì những tổn thương đối với tinh thần và bất lợi cho sự hình thành nhân cách của trẻ là không thể tránh khỏi Về phương diện nữ quyền, những hậu quả nguy hại của hành vi này rõ rệt hơn nhiều Đối với trẻ em gái, nhất là ở châu Á vốn không được chú ý giáo dục về giới tính thì việc mang thai ngoài ý muốn, mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục rất dễ xảy ra dẫn đến tổn thương cho cơ thể chưa phát triển toàn diện, ảnh hưởng đến cơ hội học tập, phát triển sự nghiệp và xây dựng hạnh phúc gia đình trong tương lai Chưa kể đến chính sách dân

số của Trung Quốc chỉ cho phép sinh một con sẽ khiến việc mang thai ngoài ý muốn trở thành sự tước đoạt quyền thực hiện thiên chức làm mẹ của bé gái khi lớn lên Gulazat Tursun vạch ra những phê bình sâu sắc như vậy nhằm gợi mở định hướng nữ quyền cho các nhà lập pháp Trung Quốc trong cải cách quy định về hiếp dâm nhưng ông không đề xuất kiến giải lập pháp cụ thể [124, pp.35-46]

- Nghiên cứu so sánh luật hình sự Đức và luật hình sự Israel về “Phẩm giá con

người với tư cách một lợi ích được bảo vệ trong luật hình sự” trên Tạp chí luật học

Israel (“Human dignity as a protected interest in criminal law”, Israel Law Review)

năm 2011 của Giáo sư Tatjana Hörnle (Đức) và Giáo sư Mordechai Kremnitzer

Trang 31

(Viện hàn lâm Israel) Xác định phẩm giá con người là một lợi ích được luật hình sự bảo vệ, các tác giả đã chỉ ra những quy định cấm đoán trong Bộ luật Hình sự Đức

và Bộ luật Hình sự Israel nhằm bảo vệ nhóm khách thể này Trong đó, phần lớn những hành vi bị cấm được các tác giả xác định là có đối tượng bị xâm hại chủ yếu

là phụ nữ như: hiếp dâm, quấy rối tình dục, khiêu dâm, buôn bán người vì mục đích mại dâm Các quy định liên quan đến những hành vi này trong luật hình sự của hai quốc gia phản ánh chính sách coi trọng phẩm giá con người, đặc biệt là phụ nữ Tuy nhiên, theo các tác giả, xét từ góc độ nữ quyền cần phải cân nhắc thêm một số vấn

đề như: 1) Theo luật của cả hai nước thì việc phát hành các tác phẩm khiêu dâm với người lớn, do diễn viên là người thành niên thực hiện không phải là tội phạm cho dù chứa đựng yếu tố bạo lực tình dục với phụ nữ, hiếp dâm hay tình dục giữa người với động vật Đây rõ ràng là một sự lăng mạ nhân phẩm tồi tệ, cần được tội phạm hóa 2) Luật của Đức và Israel đều không cấm mại dâm mà chỉ cấm buôn bán người

vì mục đích mại dâm Tuy nhiên, theo Bộ luật Hình sự Đức thì bất kỳ hình thức buôn bán người vì mục đích mại dâm nào cũng là tội phạm còn Bộ luật Hình sự Israel chỉ coi trường hợp có yếu tố lừa dối, cưỡng bức đối tượng (người phụ nữ bị bán không đồng ý) để buôn bán người vì mục đích mại dâm mới là tội phạm Điều này cần xem xét lại bởi việc buôn bán con người dù bằng cách này thì cũng chà đạp nghiêm trọng nhân phẩm do nó không thừa nhận tư cách con người của người bị mua bán mà chỉ coi họ như vật thể, hàng hóa [141, pp.143-167]

- Nghiên cứu về tội phạm quốc tế xâm hại phụ nữ đăng trên Tạp chí Luật của

phụ nữ cấp tiến năm 2013 của Elena Gekker: “Hiếp dâm, nô lệ tình dục và hôn nhân

cưỡng bức trước Tòa án Hình sự Quốc tế” (“Rape, sexual slavery, and forced

marriage at the International Criminal Court”, Hastings Women’s Law Journal

Volume 25) Tác giả đánh giá sự thay đổi quan điểm về các tội ác chống lại con người trên cơ sở sự xâm hại tình dục qua lịch sử xét xử các tội ác chiến tranh của Tòa

án Hình sự Quốc tế Trước Thế chiến II, những tội phạm này không được xem xét cùng các tội ác chiến tranh khác Sau đó, các Tòa án đặc biệt được thành lập xét xử các tội ác ở Rwanda, Nam Tư cũ, Kunarac, Sierra Leoni, Campuchia (Khmer đỏ) có xét xử các tội ác hiếp dâm, nô lệ tình dục nhưng không đề cập đến cưỡng bức hôn

Trang 32

nhân Lần đầu tiên vào năm 2004, tòa án Hình sự đặc biệt thiết lập cho vụ Bogora của Congo đã xét xử các bị cáo các tội ác chiến tranh và tội ác chống lại nhân loại, trong

đó có tội cưỡng bức hôn nhân Tuy nhiên, tội cưỡng bức hôn nhân đã không thành lập

do không đủ cơ sở pháp lý mặc dù có đầy đủ bằng chứng Trên cơ sở phân tích thực tiễn đó, tác giả lập luận rằng cưỡng bức hôn nhân cần được coi là tội ác chống lại con người về tình dục như tội hiếp dâm và nô lệ tình dục để đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc truy tố những hành vi này Sở dĩ như vậy bởi vì hôn nhân cưỡng bức, đặc biệt là trong chiến tranh không thực nhằm đến mối quan hệ ràng buộc về hôn nhân với người phụ nữ mà hướng tới mục tiêu tình dục là chính [119, pp.105-134]

1.2.3 Những nghiên cứu về trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với phụ

- Cuốn sách Phụ nữ phạm tội - nữ giới vi phạm pháp luật và hệ thống tư

pháp hình sự (Offending women - Female lawbreaker and ciminal justice system)

của Anni Worral xuất bản tại Anh Quốc năm 1990 Tác giả đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm này nhằm tìm hiểu lý do tại sao các tòa án và cơ quan phúc lợi xã hội đối

xử khác biệt đáng kể giữa người phạm tội là nữ giới so với nam giới phạm tội Phân tích của tác giả dựa trên thông tin thu thập được từ nhiều hồ sơ vụ án và các cuộc phỏng vấn với một số lượng lớn các phạm nhân nữ, quan tòa, nhân viên quản chế, luật

sư và nhà tâm thần học ở đất nước mình Từ đó, nghiên cứu đi đến kết luận rằng các nữ phạm nhân phải chịu đựng sự đàn áp rất tinh vi, phức tạp do định kiến của các chuyên gia cải huấn hoặc nhà quản lý phúc lợi xã hội Chủ yếu do tư tưởng bảo thủ về đạo đức của phụ nữ khiến cho những người thực thi pháp luật mặc nhiên kết luận rằng phụ nữ phạm tội là đặc biệt xấu xa Do đó họ thường tập trung vào trừng trị, quản lý phòng ngừa mà ít tạo cơ hội tái hòa nhập cho các nữ phạm nhân [113]

Trang 33

- Cuốn sách Hình phạt khắc nghiệt: Những trải nghiệm quốc tế về hình phạt

tù đối với phụ nữ (Harsh punishment: International experiences of women’s imprisonment) của các tác giả Sandy Cook và Sussan Davies, xuất bản tại Hoa Kỳ

năm 1999 Thông qua nghiên cứu thực tiễn thi hành hình phạt tù đối với phụ nữ ở Hoa Kỳ, Canada, Anh, New Zealand, Ba Lan và Thái Lan, các tác giả đã chỉ ra sự khắc nghiệt và những vấn đề bất cập trong áp dụng, thực thi hình phạt tù đối với phụ nữ Chính tư tưởng “nương nhẹ” đối với phụ nữ trong hệ thống tư pháp hình sự (vốn phổ biến trên thế giới) khiến cho những phụ nữ bị áp dụng hình phạt tù được nhìn nhận là hạng người không thể dung thứ Vì vậy, trong tù họ thường bị đối xử khắc nghiệt, chịu nhiều hình thức kỷ luật mang tính trừng phạt hơn là cải tạo Bên cạnh đó, tỉ lệ phụ nữ phạm tội vốn thấp, số lượng phụ nữ chịu án tù lại càng thấp hơn nên các vấn đề của phạm nhân nữ thường ít được quan tâm Kết quả là nữ phạm nhân thường xuyên phải đối mặt với tình trạng bị lạm dụng tình dục, bạo hành, thiếu sự chăm sóc về sức khỏe sản phụ khoa Những vấn đề tâm lý do bị tách khỏi gia đình, con cái thường gặp ở các nữ phạm nhân cũng ít được quan tâm vì nam tù nhân hiếm gặp phải vấn đề này Điều đó dễ dẫn đến khủng hoảng tâm lý và tái phạm tội với tính chất bạo lực ở nữ tù nhân sau khi được phóng thích Từ những kết luận nghiên cứu trên, các tác giả khuyến nghị việc hạn chế án phạt tù đối với nữ bị cáo, thay thế bằng các hình phạt không tách rời khỏi cộng đồng, gia đình; đồng thời cải cách chế độ nhà

tù để chú trọng đến những đặc thù giới của nữ phạm nhân [137]

- Chương 10 “Phụ nữ và bạo lực” trong sách Nghiên cứu về tội phạm bạo lực:

những mối tương quan của nó của Scott Mire và Cliff Roberson xuất bản tại Anh Quốc

năm 2011 (Chapter 10 - “Female and Violence” in Scott Mire and Cliff Roberson

(2011), The study of violent crime: Its correlates and concerns) Trong chương sách

này các tác giả cung cấp tư liệu về lịch sử và diễn biến thực tiễn của tình trạng phụ nữ phạm tội bạo lực ở Mỹ và Châu Âu Phân tích các yếu tố tương quan với tình hình tội phạm này, các tác giả chỉ ra rằng tỉ lệ phụ nữ có hành vi phạm tội bạo lực rất thấp so với nam giới và nguyên nhân sâu xa, chủ yếu là do bản thân họ vốn là nạn nhân của bạo lực gia đình hoặc phân biệt đối xử Do đó, trừng phạt không phải giải pháp hữu hiệu nhất cho vấn đề phụ nữ phạm tội bạo lực mà đảm bảo an ninh cá nhân, quyền bình đẳng của họ mới là cách phòng ngừa hiệu quả [138, pp.155-169]

Trang 34

Tựu chung lại, mặc dù rất sôi động nhưng các nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam, dù nghiên cứu toàn bộ vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ hay đi sâu nghiên cứu một nội dung, khía cạnh cụ thể của đề tài nhưng đều chủ yếu là các đánh giá về pháp luật thực định hoặc thực tiễn áp dụng các quy định này, hầu như chưa

có nghiên cứu nào đồng thời giải quyết sâu sắc, toàn diện các vấn đề lý luận, thực tiễn về đề tài bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự

1.3 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến

đề tài bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự cho thấy các nghiên cứu đều thống nhất về các vấn đề sau:

1) Thừa nhận bảo vệ quyền phụ nữ là một nội dung quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự;

2) Xác định trọng tâm của vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình

sự là hướng tới bảo vệ quyền con người đặc thù của phụ nữ - quyền thực hiện thiên chức làm mẹ và được bảo hộ đặc biệt đối với thiên chức này cùng với các quyền con người dễ bị tổn thương do chủ thể của quyền là phụ nữ như: quyền bình đẳng giới, quyền tự do và an toàn về tình dục, quyền tự do và an ninh cá nhân, quyền tự

do hôn nhân;

3) Khẳng định việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự gắn liền với những đặc thù giới của phụ nữ và có những khó khăn, thách thức xuất phát từ quan điểm xã hội về nữ giới

Tuy có sự thống nhất cơ bản về nội dung, định hướng nghiên cứu nhưng những công trình nghiên cứu điển hình về đề tài hầu hết vẫn tập trung vào khía cạnh thực tiễn pháp lý, chưa chú trọng khía cạnh lý luận Về kết quả nghiên cứu, các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra những phê bình sâu sắc trên phương diện nữ quyền đối với quy định của pháp luật hình sự nhằm thúc đẩy các nhà lập pháp tiến hành cải cách nhưng hầu hết không đề xuất phương án lập pháp cụ thể Một số nghiên cứu đề xuất các biện pháp thế mạnh trong việc bảo vệ phụ nữ chống lại các tội phạm chủ yếu nhằm vào giới này nhưng không chạm tới một hệ thống đồng bộ của các giải pháp lập pháp và hành động thực tiễn

Trang 35

Từ kết quả khảo sát tình hình nghiên cứu trên, tác giả nhận thấy những vấn

đề cần tập trung nghiên cứu và nghiên cứu sâu sắc hơn để có một cái nhìn toàn diện

về đề tài bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam bao gồm:

1) Nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận của việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự, trong đó làm rõ những nhận thức cơ bản như: khái niệm, đặc điểm, phương thức, sự cần thiết của việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự;

2) Tiếp tục đánh giá một cách cụ thể, sâu sắc hiện trạng các quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam;

3) Khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong áp dụng các quy định pháp luật hình sự nhằm bảo vệ quyền phụ

nữ ở Việt Nam;

4) Đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện và đảm bảo thực thi các quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam

Trang 36

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN PHỤ NỮ BẰNG

PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

Những nhận thức lý luận chuẩn mực và thực tiễn áp dụng của các quy định pháp luật chính là cơ sở đối sánh quan trọng nhất cho việc việc đánh giá, hoàn thiện bản thân các quy định ấy Vì vậy, để đánh giá, hoàn thiện những quy định nhằm bảo

vệ quyền phụ nữ trong BLHS Việt Nam hiện nay, nhất định phải làm rõ những vấn

đề lý luận cơ bản như: khái niệm, đặc điểm, sự cần thiết, ý nghĩa, các phương thức bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự

2.1 Khái niệm và sự cần thiết phải bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự

2.1.1 Khái niệm bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự

Để thiết lập một định nghĩa khoa học về việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp

luật hình sự, trước hết phải làm rõ khái niệm trung tâm của định nghĩa này là quyền

phụ nữ Khái niệm quyền phụ nữ gồm hai yếu tố cần được giải mã: một là chủ thể

của các quyền ấy - phụ nữ; hai là phạm vi quyền trong khái niệm quyền phụ nữ

Về phụ nữ - chủ thể của các quyền phụ nữ: trên phương diện ý nghĩa của ngôn

từ, “phụ nữ” cùng với một số từ khác như “đàn bà”, “con gái” có đặc điểm chung là

ám chỉ tới nữ giới Phân biệt với nam giới, dưới khía cạnh sinh học, nữ giới được cho

là những người thuộc giống cái, tức là người mang những đặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở một cách tự nhiên khi cơ thể họ hoàn thiện bình thường Tuy nhiên, “phụ nữ” là một thuật ngữ có tính phân biệt cao hơn

“nữ giới” về khía cạnh lứa tuổi hoặc tình trạng hôn nhân Trong đời sống dân sự, từ

“phụ nữ” thường được dùng để chỉ nữ giới trưởng thành [110, tr.1272] nhằm phân biệt với trẻ em hoặc vị thành niên mang giới tính nữ hoặc “phụ nữ” còn có thể còn được hiểu là nữ giới đã kết hôn trong sự so sánh với từ “con gái” để chỉ nữ giới chưa kết hôn

Mặc dù vậy, khi tiếp cận dưới góc độ nhân quyền, khái niệm “phụ nữ” lại không mang ý nghĩa phân biệt như trên mà chỉ tới toàn bộ nữ giới Văn kiện pháp lý

Trang 37

quốc tế quan trọng nhất về quyền phụ nữ - Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 (CEDAW) - tuy không xác định phụ nữ gồm những người nào nhưng đã khẳng định việc chống lại mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ bất kể tình trạng hôn nhân của họ như thế nào (Điều 1) và ghi nhận quyền bình đẳng của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống, bao gồm quyền bình đẳng trong học tập của trẻ em gái (Điều 10) Theo đó, Công ước CEDAW hướng tới bảo vệ quyền của tất cả những người thuộc nữ giới không kể họ đã kết hôn hay chưa, là người trưởng thành hay trẻ em

Sau Công ước CEDAW, một văn kiện quốc tế chuyên biệt về quyền phụ nữ khác - Tuyên bố về xóa bỏ bạo lực với phụ nữ năm 1993 - đã thể hiện rõ lập trường bảo vệ quyền phụ nữ là hướng tới tất mọi phụ nữ không phân biệt lứa tuổi, xuất

thân, địa vị xã hội, tình trạng kinh tế Trong Lời nói đầu, Tuyên bố này ghi nhận

mối quan ngại về bạo lực đối với phụ nữ như sau:

Lo ngại rằng, một số nhóm phụ nữ, chẳng hạn như phụ nữ thuộc các nhóm thiểu số, phụ nữ bản xứ, phụ nữ tỵ nạn, phụ nữ nhập cư, phụ

nữ đang sống trong những cộng đồng nông thôn xa xôi, phụ nữ trong hoàn cảnh bần hàn, phụ nữ trong các nhà giam, trẻ em gái, phụ nữ khuyết tật, phụ nữ cao tuổi và phụ nữ trong những hoàn cảnh có xung đột vũ trang, là những người đặc biệt dễ có nguy cơ phải chịu bạo lực

Cách tiếp cận khái niệm phụ nữ với ý nghĩa là mọi nữ giới, không phân biệt

về bất kể yếu tố nào, kể các tuổi tác như trên tiếp tục được khẳng định bởi Tuyên bố Vienna tại Hội nghị thế giới về quyền con người năm 1993, ngay tại Phần 1 (đoạn thứ 18): “Các quyền của phụ nữ và trẻ em gái là một bộ phận cấu thành, gắn liền

và không thể tách rời khỏi các quyền mang tính phổ biến của con người” [48]

Như vậy, dưới góc độ nhân quyền, phụ nữ với tư cách chủ thể của các quyền phụ nữ được hiểu thống nhất là tất cả các cá nhân thuộc giới nữ, bao gồm cả trẻ em gái Có thể có quan điểm ngược lại cho rằng trẻ em gái không thuộc nhóm chủ thể này mà là chủ thể của các quyền trẻ em Tuy nhiên, khi đã nói đến cụm từ “trẻ em gái” nghĩa là nhấn mạnh về phương diện giới tính nữ của trẻ em đó, nếu không liên quan đến khía cạnh này thì chỉ cần sử dụng thuật ngữ chung là “trẻ em” Bởi vậy,

Trang 38

các quyền của trẻ em gái là những quyền gắn với yếu tố giới tính nữ của trẻ em đó chứ không phải quyền gắn với yếu tố lứa tuổi của họ

Liên quan đến giới tính, thực tiễn xã hội hiện nay cũng đặt ra một vấn đề khác là liệu những người vốn không phải nữ giới thực hiện việc chuyển giới để trở thành nữ giới và những người vốn là nữ giới đã thực hiện chuyển giới để trở thành nam giới có được coi là phụ nữ trong bối cảnh của việc bảo vệ quyền phụ nữ Tuy nhiên, đối với giới tính mới của những người này, việc có được thừa nhận hay không còn tùy thuộc vào pháp luật của mỗi quốc gia Không ai có thể phủ nhận việc bản thân họ là những con người và có những nhân quyền như mọi cá nhân con người Nhưng vấn đề bảo vệ nhân quyền của những người này chắc chắn phải gắn với những đặc thù riêng của việc chuyển giới Bởi vậy, khi đề cập đến vấn đề bảo

vệ quyền phụ nữ, nghiên cứu này thống nhất rằng: Phụ nữ - với tư cách chủ thể của

các quyền phụ nữ - là những người mang giới tính nữ một cách tự nhiên, không phân biệt về tuổi tác, xuất thân, thành phần xã hội, địa vị, tình trạng kinh tế hay bất

cứ yếu tố nào khác

Về phạm vi quyền trong khái niệm quyền phụ nữ, trong khoa học pháp lý

tồn tại những cách hiểu khác nhau Ở Việt Nam, các nghiên cứu về quyền phụ nữ thường hướng đến nội dung các quyền thể hiện trong pháp luật thực định hoặc thực

tiễn bảo hộ, thực thi những quyền ấy Vậy nên khái niệm quyền phụ nữ, nữ quyền hay quyền của phụ nữ chưa từng được các nhà khoa học Việt Nam khái quát Trên

thế giới, các nghiên cứu về nữ quyền đã tạo thành một trường phái luật học phát triển mạnh [112, pp.3-4] nhưng xung quanh khái niệm quyền phụ nữ vẫn tồn tại những cách hiểu khác nhau Tuy rằng các nhà nghiên cứu đều thống nhất quyền phụ

nữ là các nhân quyền thuộc về phụ nữ nhưng lại có đến ba luồng quan điểm khác

nhau về phạm vi của các quyền ấy như sau: thứ nhất là các đặc quyền của riêng nữ giới; thứ hai là quyền bình đẳng về mọi quyền con người của phụ nữ với nam giới

và thứ ba là các quyền con người phản ánh đặc điểm giới của phụ nữ

Các hiểu thứ nhất được Fran P Hosken - nhà hoạt động xã hội, nhà nữ quyền Mỹ gốc Australia, người thành lập Mạng lưới Phụ nữ Quốc tế năm 1975, đề cập đến trong Quý san Nhân quyền của Đại học Johns Hopkins như sau: “Quyền

Trang 39

phụ nữ là thuật ngữ dùng để chỉ các quyền tự do và đặc quyền được cho là thuộc về

nữ giới” và “những quyền này thường được phân biệt với các quan niệm chung về quyền con người mà được ghi nhận là dành cho nam giới” [121, p.5] Quan điểm của Hosken giới hạn quyền phụ nữ trong phạm vi hẹp chỉ bao gồm các quyền đặc thù của phụ nữ, phân biệt với các quyền con người nói chung Hiểu như vậy nghĩa

là quyền phụ nữ chỉ bao gồm: quyền mang thai, sinh nở, quyền được bảo hộ thiên chức làm mẹ Trong khi đó, với tư cách con người, phụ nữ có tất cả những nhân quyền phổ biến ở mọi cá nhân trên thế giới Việc hiểu khái niệm theo cách này đã gạt bỏ phần lớn các quyền con người của phụ nữ Nói chung, các quyền đặc thù giới chỉ có thể là một bộ phận chứ không thể bao hàm toàn bộ khái niệm quyền phụ nữ

Cách hiểu thứ hai về phạm vi của quyền phụ nữ với ý nghĩa là quyền bình đẳng trong việc thụ hưởng các quyền con người của phụ nữ so với nam giới thường được diễn giải trong các từ điển tiếng Anh Thuật ngữ “women’s rights” (quyền của phụ nữ) trong Từ điển tiếng Anh Oxford được giải thích: “là những quyền mà thúc đẩy địa vị pháp lý và xã hội bình đẳng của phụ nữ với nam giới” [114, p.2076] Còn theo Từ điển Anh - Mỹ, thuật ngữ này có nghĩa là: 1) “quyền về sự bình đẳng trong các lợi ích và cơ hội so với nam giới, thuộc về phụ nữ và dành cho phụ nữ”; 2) “các quyền kinh tế - xã hội, chính trị, pháp lý dành cho phụ nữ bình đẳng hoặc tương đương với những quyền đó dành cho nam giới” [128, p.816]

Ruth Bader Ginsburg - nữ thẩm phán Do Thái đầu tiên của Tòa án Tối cao của Mỹ cũng từng nhìn nhận quyền phụ nữ với ý nghĩa là sự bình đẳng trong việc thụ hưởng các quyền con người: “Quyền của phụ nữ là một phần thiết yếu của quyền con người nói chung, hướng đến sự bình đẳng về phẩm giá và khả năng sống trong tự do mà tất cả mọi người nên hưởng thụ” [125, p.3] Bề ngoài, cách hiểu này dường như đem đến một phạm vi rộng hơn cho khái niệm quyền phụ nữ so với cách hiểu thứ nhất vì nó đề cập đến tất cả các quyền, tự do cơ bản của con người Tuy nhiên, cốt lõi của cách hiểu này khiến quyền phụ nữ thực chất chỉ gồm một quyền duy nhất là quyền bình đẳng về cơ hội hưởng thụ mọi quyền con người của phụ nữ

so với nam giới Bình đẳng về cơ hội hưởng thụ các quyền chính là nền tảng của nhân quyền nhưng không vì thế mà quyền bình đẳng ấy bao hàm tất cả các quyền

Trang 40

con người của phụ nữ Cách hiểu này đã thiếu sót ngay ở chỗ nó đã loại trừ những quyền đặc thù của phụ nữ ra khỏi khái niệm quyền phụ nữ vì các quyền đặc thù giới không bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới

Cách hiểu thứ ba được hai nhà hoạt động nữ quyền nổi tiếng Charlotte

Bunch và Samantha Frost - giảng viên Đại học Illinois - đề cập trong cuốn Bách

khoa toàn thư thế giới về phụ nữ: Những vấn đề và tri thức toàn cầu về phụ nữ như

sau: “Quyền phụ nữ là những quyền con người của phụ nữ thông qua lăng kính giới” [115, p.15] Theo đó, quyền phụ nữ cũng là các quyền con người nhưng phản ánh những đặc thù giới tính của phụ nữ Đây có lẽ là cách hiểu phù hợp nhất về khái niệm quyền phụ nữ Sở dĩ như vậy bởi vì với tư cách con người, phụ nữ có mọi nhân quyền như các cá nhân khác Tuy nhiên, khái niệm quyền phụ nữ không chỉ đến tất cả mọi nhân quyền đó bởi nếu mang ý nghĩa như vậy thì chỉ cần dùng khái niệm “quyền con người” (human rights) chung cho cả phụ nữ và nam giới mà không cần phải xác định một khái niệm “quyền phụ nữ” (women’s right) riêng Khái niệm quyền phụ nữ phải được hiểu trong bối cảnh gắn kết chặt chẽ của hai yếu tố: quyền con người và đặc thù giới của phụ nữ

Như vậy, quyền phụ nữ nên hiểu “là những quyền con người của phụ nữ thông qua lăng kính giới” Vấn đề cần được làm rõ hơn về khái niệm này là “lăng kính giới” đã tạo ra sự khác biệt như thế nào giữa quyền phụ nữ với quyền con người nói chung mà phụ nữ vốn cũng là một chủ thể được hưởng thụ

Đặc thù giới về sinh học và thiên chức xã hội đã mang lại cho phụ nữ một loại quyền con người riêng mà nửa kia của thế giới không có là quyền thực hiện thiên chức làm mẹ và được bảo hộ đặc biệt đối với thiên chức này Đặc thù giới tất nhiên cũng không làm mất đi bất kỳ một quyền con người nói chung nào của phụ

nữ bởi vì không ai có thể phủ nhận việc phụ nữ là con người Tuy nhiên, đặc thù giới có thể khiến một số quyền con người ở phụ nữ dễ bị tổn thương hơn so với quyền ấy ở nam giới Ví dụ như: do đặc điểm sinh học của cơ thể nên quyền tự do

và an toàn tình dục của phụ nữ dễ bị xâm hại hơn; do định kiến xã hội về giới, phụ

nữ dễ bị kỳ thị, phân biệt đối xử; đặc điểm thể chất và chức năng sinh sản, vai trò xã hội khiến phụ nữ dễ trở thành nạn nhân của bạo lực, tình trạng ngược đãi hoặc

Ngày đăng: 14/12/2017, 15:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm