Vì thế, việc nghiên cứu sự điều chỉnh mô hình quản lý của các Tập đoàn kinh tế Nhật Bản sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam nhìn nhận rõ hơn khả năng của mình và tìm kiếm cơ hội hợp tác với họ
Trang 1Đề tài
Mô hình tập đoàn kinh tế Nhật Bản và giá trị tham khảo đối với việxây
dựng các tập đoàn kinh tế Việt Nam hiện nay
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
Ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế Quốc tế
Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế Quốc tế
VÀ HÀM Ý CHO VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SỸ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ QUỐC TẾ
Hà Nội, 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
====================
PHÙNG KIM ANH
ĐIỀU CHỈNH MÔ HÌNH QUẢN LÝ CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHẬT BẢN
VÀ HÀM Ý CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế
Mã số: 62.31.01.06
LUẬN ÁN TIẾN SỸ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ QUỐC TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1) GS.TS.Phùng Xuân Nhạ
2) PGS.TS Nguyễn Duy Dũng
Hà Nội, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận án “Điều chỉnh mô hình quản lý của các Tập đoàn kinh tế Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam” là công trình nghiên cứu
độc lập, của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đƣợc sử dụng trong luận án là trung thực, chính xác và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận án
Phùng Kim Anh
Trang 4Lời cảm ơn!
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận án, tôi luôn nhận được những tình cảm quý báu, sự ủng hộ, động viên và chia sẻ từ các giảng viên, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, các cán bộ làm việc ở các trường Đại học, các Viện nghiên cứu, các tổ chức doanh nghiệp, người thân trong gia đình và bạn bè.
Tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng và sâu sắc đặc biệt đến Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa và các Thày cô trong Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế, Phòng Đào tạo Trường Đại học Kinh tế ĐHQG Hà nội đã nhiệt tình chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu cũng như những kiến thức học thuật quý báu, tạo điều kiện thuận lợi và
hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện luận án này.
Tôi xin trân trọng bảy tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Tập thể giảng viên hướng dẫn, đặc biệt là GS.TS Phùng Xuân Nhạ, PGS.TS Nguyễn Duy Dũng – hai người Thầy đầy trách nhiệm đã hướng dẫn khoa học và chỉ bảo cho tôi
từ những bước xây dựng đề cương nghiên cứu ban đầu cho đến khi hoàn thành luận án.
Luận án đã hoàn thành, song chắc chắn vẫn còn có những hạn chế, thiếu sót
Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để luận án được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Nghiên cứu sinh
Phùng Kim Anh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU iiii
DANH MỤC CÁC HỘP iv
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ĐIỀU CHỈNH MÔ HÌNH QUẢN LÝ CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ 11
1.1 Những nghiên cứu về nền kinh tế Nhật Bản từ cuối thập kỷ 1990 đến nay11 1.2 Những nghiên cứu về mô hình tập đoàn kinh tế Nhật Bản 14
1.3 Những nghiên cứu về các tập đoàn kinh tế Việt Nam 18
1.4 Đánh giá những công trình nghiên cứu đã tổng quan và một số vấn đề đặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu 24
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐIỀU CHỈNH MÔ HÌNH QUẢN LÝ CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ 26
2.1 Khái quát tập đoàn kinh tế và mô hình quản lý của tập đoàn kinh tế 26
2.1.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế, mô hình quản lý của tập đoàn kinh tế 26
2.1.2 Một số lý thuyết về mô hình quản lý của tập đoàn kinh tế 32
2.1.3 Đặc điểm chủ yếu của tập đoàn kinh tế 38
2.1.4 Cấu trúc và mô hình quản lý của tập đoàn kinh tế 40
2.2 Điều chỉnh mô hình quản lý của tập đoàn kinh tế 47
2.2.1 Khái niệm điều chỉnh mô hình quản lý của tập đoàn kinh tế 47
2.2.2 Nguyên nhân của việc điều chỉnh mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế 48
2.2.3 Nội dung điều chỉnh mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế 52
Tiểu kết chương 2 55
Trang 6CHƯƠNG 3 ĐIỀU CHỈNH MÔ HÌNH QUẢN LÝ CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHẬT BẢN TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI ĐẾN NAY 56 3.1 Bối cảnh chung và nguyên nhân của việc điều chỉnh mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản 56
3.1.1 Bối cảnh kinh tế Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai 56 3.1.2 Nguyên nhân của việc điều chỉnh mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản 65
3.2 Điều chỉnh mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến đầu thập kỷ 1990 69
3.2.1 Nội dung điều chỉnh mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản 69 3.2.2 Đánh giá quá trình đổi mới mô hình quản lý của Keiretsu 79
3.3.Điều chỉnh mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản từ 1990 đến nay 83
3.3.1.Những khó khăn, hạn chế, thách thức đối với các tập đoàn kinh tế Nhật Bản và nhu cầu phải điều chỉnh mô hình quản lý 83 3.3.2.Quá trình và nội dung điều chỉnh mô hình quản lý của các tập đoàn kinh
tế Nhật Bản từ 1990 đến nay 88 3.3.3 Điều chỉnh mô hình quản lý của một số Tập đoàn của Nhật Bản 105
3.4.Đánh giá chung quá trình điều chỉnh mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản 116 Tiểu kết chương 3 130 CHƯƠNG 4 BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ QUÁ TRÌNH ĐIỀU CHỈNH
MÔ HÌNH QUẢN LÝ CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHẬT BẢN VÀ MỘT SỐ HÀM Ý ĐỐI VỚI VIỆT NAM 131 4.1 Bài học kinh nghiệm rút ra từ việc điều chỉnh mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản 132
4.1.1 Những bài học thành công 132
Trang 74.1.2 Những bài học chưa thành công 137
4.2 Khái quát về Tập đoàn kinh tế và mô hình quản lý của các Tập đoàn kinh tế Việt Nam 140
4.2.1 Một số đặc điểm của tập đoàn kinh tế Việt Nam 140
4.2.2 Khái quát về mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế Việt Nam 150
4.3 Một số hàm ý đối với Việt Nam 155
4.3.1 Đối với các Tập đoàn kinh tế Việt Nam 155
4.3.2 Đối với cơ quan quản lý vĩ mô 163
Tiểu kết chương 4 170
PHẦN KẾT LUẬN 171
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 174
TÀI LIỆU THAM KHẢO 175
Tiếng Việt 175
Tiếng Anh 185
Tiếng Nhật 188
Trang Web 190
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APO Asia Productivity
Organization Tổ chức Năng suất châu Á
ASEAN Association of South- East
Các nền kinh tế mới nổi
hai
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước
ngoài GDP Gross Domestic Products Tổng sản phẩm quốc nội
G7
(Group of Seven:Canada, France, Germany, Italy, Japan, United Kingdom and United States
Nhóm 7 nước
M&A Merger and Acquisition Sáp nhập và mua lại
MITI Ministry of International
Trade and Industry
Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế MNCs Multinational corporations Các công ty đa quốc gia
NIEs Newly Industrialized
Trang 9Development R&D Research and Development Nghiên cứu và triển khai
TNCs Transnational Corporations Các công ty xuyên quốc
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
2.1 Một số TĐKT chủ yếu - đặc điểm chung 36
2.3 So sánh mô hình quản lý – Phương Tây và Nhật
4.1 Quy mô vốn và ngành nghề các TĐKTNN thí
4.2 Xếp hạng một số TĐKTNN trong top 500 doanh
4.3 Dự toán chi ngân sách Trung ương cho các
4.4
Vị trí của các TĐKTNN trong các doanh nghiệp
Việt Nam và trong khu vực doanh nghiệp Nhà
nước năm 2009
146
Trang 11DANH MỤC CÁC HỘP
2.1 Sự hình thành, phát triển TĐKT thông qua lý
thuyết kinh tế học cận đại và hiện đại 31
3.1 Nhật Bản thiết lập mô hình văn minh mới, kết hợp
148
4.2 Hạn chế trong năng lực quản trị doanh nghiệp và
hạn chế tầm nhìn trong chiến lƣợc của Vinashin 149
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Nhiều năm qua, giới học giả và nghiên cứu trên thế giới đã tốn không ít
giấy mực đi tìm lời giải cho hiện tượng phát triển “ kinh tế thần kỳ” sau chiến tranh thế giới thứ Hai của Nhật Bản Một trong những kiến giải được chấp nhận, đó là nhờ có sự thành công của mô hình quản lý của tập đoàn kinh tế (TĐKT) - mô hình Keiretsu Với mô hình quản lý theo kiểu: nắm quyền kiểm soát nội khối; chọn mặt gửi vàng để làm đối tác chiến lược; hợp tác nội bộ tập đoàn; phối hợp nghiên cứu và hỗ trợ chéo trong hệ thống, tạo thuận lợi cho công nghệ mới phát triển nhanh và rộng; làm việc cùng với nhau một cách chặt chẽ trong nghiên cứu và triển khai (R&D) Keiretsu, trong một chừng mực nào đó, trở thành một hệ thống bất khả chiến bại trong cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Nhật Bản với các doanh nghiệp nước ngoài của Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) bởi mối liên kết chặt chẽ về cấu trúc công ty cũng như mạng lưới tương hỗ, đan xen các giám đốc, các mối quan hệ kinh doanh lâu dài trong hệ thống và mối liên hệ lịch sử xã hội trong hệ thống Phát triển công nghệ mới rất tốn kém và Nhật Bản không muốn lãng phí các nguồn lực vào quá nhiều các thử nghiệm, bởi vậy, việc các Keiretsu là các đối thủ cạnh tranh làm việc cùng với nhau một cách chặt chẽ trong R&D đã đem lại lợi thế cạnh tranh đáng kể của hàng hóa Nhật Bản trên khắp thế giới Chính vì vậy,
Keiretsu thực sự là xương sống của nền kinh tế Nhật Bản
Tuy vậy, trong những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, tình hình kinh tế
và chính trị thế giới có nhiều biến đổi sâu sắc: khủng hoảng và sụp đổ của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Đông Âu và Liên Xô cũ tạo bước ngoạt căn bản hình thành trật tự kinh tế và chính trị thế giới mới; sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ (KH-CN); sự tiến triển mạnh mẽ của toàn cầu hóa kinh tế; sự điều chỉnh chiến lược quan hệ kinh tế quốc tế của hàng loạt nước, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển làm cho xu hướng cạnh
Trang 13tranh và liên kết cũng diễn ra mạnh mẽ dẫn đến xung đột thương mại, đầu tư
giữa Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu trở nên căng thẳng hơn
Kinh tế Nhật Bản ở hai thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX đã rơi vào suy thoái kéo dài Điều đó không chỉ tác động đến vị thế kinh tế của Nhật Bản mà bản thân các TĐKT cũng đứng trước nhiều thách thức đầy cam go Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới sự suy giảm của các TĐKT, trong đó có sự không phù hợp và hiệu quả của mô hình quản lý truyền thống vốn được coi là “đặc sản” riêng của các doanh nghiệp Nhật Bản Vì thế, để tồn tại và phát triển bản thân nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp, nhất là các TĐKT cần phải nhanh chóng thay đổi và điều chỉnh, nhất là mô hình quản lý
Việc thay đổi một mô hình vốn đã làm nên sự thần kỳ kinh tế của Nhật Bản quả là không dễ dàng Song, nhận thức được sự cần thiết đó trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt, các TĐKT nước này ở các mức độ khác nhau đã có
sự điều chỉnh về mô hình quản lý Vậy sự điều chỉnh này được thực hiện như thế nào? Những kết quả và hạn chế ra sao? Những vấn đề đặt ra và triển vọng? Bài học kinh nghiệm gì có thể tham khảo cho Việt Nam? Đó là những nội dung cần phải được phân tích và làm rõ
Việc nghiên cứu điều chỉnh mô hình quản lý của Nhật Bản là chủ đề luôn cấp thiết và có tính thời sự khi mà mối quan hệ Nhật Bản và Việt Nam đang phát triển tốt đẹp Nhật Bản hiện là nước cung cấp ODA, nhà đầu tư và bạn hàng hàng đầu của Việt Nam Sự có mặt của nhiều Tập đoàn kinh tế hàng đầu của Nhật Bản tại Việt Nam, một mặt đóng góp vào sự phát triển kinh tế Việt Nam, mặt khác tạo nên hiệu ứng tốt về công nghệ, nhân lực và nhất là phong cách quản lý Sự ảnh hưởng đó còn tác động đến các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là khi họ có sự hợp tác với các Tập đoàn kinh tế Nhật Bản Vì thế, việc nghiên cứu sự điều chỉnh mô hình quản lý của các Tập đoàn kinh tế Nhật Bản sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam nhìn nhận rõ hơn khả năng của mình và tìm kiếm cơ hội hợp tác với họ
Trang 14Nghiên cứu điều chỉnh mô hình quản lý TĐKT Nhật Bản còn giúp chúng
ta kinh nghiệm để xây dựng và phát triển các Tập đoàn kinh tế Việt Nam Hơn 10 năm triển khai thí điểm, các tập đoàn kinh tế nhà nước (TĐKTNN) đã bước đầu đạt được nhiều kết quả, song cũng bộc lộ nhiều bất cập, yếu kém, thậm chí có những tập đoàn kinh doanh thua lỗ nặng nề đã gây những hậu quả nghiêm trọng, làm suy giảm và lãng phí nguồn lực quốc gia, gây bức xúc xã hội
Song song với các TĐKTNN, khu vực tư nhân cũng đã bắt đầu hình thành sự liên kết và hoạt động dưới một sự điều hành chung, điển hình như: FPT, Đồng Tâm, Kinh Đô, Trung Nguyên, Phú Thái, Hòa Phát, Việt Á…Tuy vậy, mô hình tập đoàn kinh tế tư nhân (TĐKTTN) ở Việt Nam mới khởi đầu
và đang vấp phải nhiều khó khăn
Đổi mới, cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn kinh tế (TĐKT), các tổng công ty nhà nước, được Đảng và nhà nước ta nhìn nhận là một mắt khâu quan trọng trong quá trình cơ cấu lại nền kinh tế đất nước trong chặng đường sắp tới Về chủ trương, Đảng nêu rõ: “ Đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước Khẩn trương cơ cấu lại ngành nghề kinh doanh của các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty nhà nước, tập trung vào một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế Từng bước xây dựng các doanh nghiệp mang tầm khu vực và
toàn cầu” [22, tr 208] Đối với các doanh nghiệp tư nhân, Đảng chỉ rõ “ Hoàn
thiện cơ chế, chính sách, để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế Phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế theo qui hoạch và qui định của pháp luật Tạo điều kiện hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”[22, tr 209]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục cụ thể hóa và nhấn mạnh “Thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại doanh nghiệp nhà
Trang 15nước, nâng cao hiệu quả hoạt động theo cơ chế thị trường; tăng cường tiềm lực và khả năng cạnh tranh; xây dựng hệ thống quản trị doanh nghiệp phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế [22, tr 290 – 292] Đối với doanh nghiệp tư nhân, Đại hội xác định: Tạo mọi điều kiện thuận lợi phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân; khuyến khích hình thành doanh nghiệp lớn, thương hiệu mạnh; hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu phát triển, ứng dụng tiến
bộ khoa học, đổi mới công nghệ nâng cao sức cạnh tranh và tham gia hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị trong và ngoài nước [23, tr 292] Hơn nữa cần phải “cởi mở, cầu thị tiếp thu tri thức nhân loại, đặc biệt “ vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam” là chủ trương và tư duy nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam [23, tr 69]
Xuất phát từ nhận thức về ý nghĩa lý luận, thực tiễn của vấn đề, nghiên
cứu sinh lựa chọn đề tài “Điều chỉnh mô hình quản lý của các tập đoàn kinh
tế Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam” làm nội dung luận án tiến sĩ
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nam trong quá trình đổi mới, cơ cấu lại các Tập đoàn kinh tế
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, các câu hỏi nghiên cứu sau đây cần được giải quyết:
i) Nguyên nhân nào dẫn đến việc điều chỉnh mô hình quản lý của các tập đoàn kinh kinh tế Nhật Bản?
ii) Quá trình điều chỉnh mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản diễn ra như thế nào?
Trang 16iii) Việt Nam rút ra được những kinh nghiệm thành công và thất bại gì
thông qua nghiên cứu quá trình điều hỉnh mô hình quản lý của các Tập đoàn kinh tế Nhật Bản?
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc điều chỉnh mô hình quản lý
của các tập đoàn kinh tế
- Phân tích bối cảnh, nguyên nhân dẫn đến việc điều chỉnh mô hình quản
lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay
- Phân tích, đánh giá quá trình điều chỉnh mô hình quản lý của các tập
đoàn kinh tế của Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay
- Rút ra các bài học kinh nghiệm, điều chỉnh mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản, đưa ra những hàm ý cho Việt Nam để có thể tham
khảo trong quá trình tái cơ cấu các tập đoàn kinh tế nhà nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu quá trình điều chỉnh mô hình quản lý của
các tập đoàn kinh tế Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay
Về thời gian:
Trang 17Luận án nghiên cứu điều chỉnh mô hình quản lý các tập đoàn kinh tế Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay gồm hai giai đoạn:
- Giai đoạn từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến đầu thập kỷ 1990
- Giai đoạn từ 1990 đến nay (2016)
Lý do Luận án lựa chọn mốc thời gian trên: Từ thập kỷ 1990 đến nay, đặc biệt trong hai thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, kinh tế Nhật Bản đã rơi vào suy thoái kéo dài, tác động lớn đến vị thế kinh tế Nhật Bản và đặt các TĐKT trước nhiều thách thức cam go Đây là giai đoạn khá đặc biệt đối với
sự phát triển kinh tế Nhật Bản và với các Tập đoàn kinh tế lớn của nước này,
trong đó có việc điều chỉnh mô hình quản lý
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Luận án tiếp cận nghiên cứu dưới góc độ kinh tế học quốc tế Do tình hình kinh tế và chính trị thế giới có nhiều biến đổi sâu sắc từ sau chiến tranh thế giới thứ Hai đến nay, dẫn đến hình thành trật tự kinh tế và chính trị thế giới mới; sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng KHCN; Xu hướng toàn cầu hóa kinh tế gia tăng mạnh mẽ khiến nhiều nước trên thế giới trong đó có Nhật Bản đã phải xây dựng chiến lược phát triển kinh tế phù hợp nhằm thích ứng với bối cảnh quốc tế mới Đặc biệt, các TĐKT Nhật Bản phải điều chỉnh
mô hình quản lý nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của TĐKT
Việc điều chỉnh mô hình quản lý các TĐKT Nhật Bản còn được nghiên cứu theo cách tiếp cận hệ thống, đặt trong mối quan hệ tổng thể với các chiến lược kinh doanh của các TĐKT
Luận án được xây dựng trên cơ sở quán triệt, vận dụng sáng tạo phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, cốt lõi là quan điểm lịch sử -
cụ thể, kế thừa - phát triển, phổ biến - đặc thù Sự phát triển và quá trình điều chỉnh mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản được xem xét, đánh giá trong mối quan hệ biện chứng với bối cảnh lịch sử cụ thể của thế giới, khu
Trang 18vực và đất nước Nhật Bản qua từng giai đoạn cụ thể Việc tham khảo những kinh nghiệm điều chỉnh mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản đối với tập đoàn kinh tế Việt Nam được xem xét trên cơ sở những tương đồng, khác biệt và nhất là những yêu cầu từ việc phát triển của chính các doanh
nghiệp lớn trong bối cảnh trong nước và quốc tế đang thay đổi
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả luận án sử dụng các phương pháp
nghiên cứu truyền thống, đặc biệt là các phương pháp sau đây:
Phương pháp phân tích và tổng hợp: Đây là phương pháp được sử dụng
để nghiên cứu chương 1, 2, 3, 4 của luận án
Ở chương 1, tác giả sẽ phân tích để làm rõ những nghiên cứu về mô hình TĐKT của các tác giả trong và ngoài nước và dùng phương pháp tổng hợp để khái quát lại những kết quả nghiên cứu đã đạt được của họ và tìm ra những
điểm cần phải tiếp tục nghiên cứu
Ở chương 2, tác giả tập trung bàn luận những vấn đề lý luận về điều chỉnh mô hình quản lý của các TĐKT Nhật Bản, tổng hợp để rút ra bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam
Ở chương 3, luận án phân tích đánh giá những thành công và hạn chế của điều chỉnh mô hình quản lý của các TĐKT Nhật Bản, từ đó đánh giá, tổng
hợp rút ra nhận xét, hàm ý chính sách cho Việt Nam
Chương 4 tập trung phân tích TĐKT ở Việt Nam, dựa trên những cơ sở
lý luận, thực tiễn để làm căn cứ đề xuất định hướng giải pháp đổi mới mô
hình TĐKT của Việt Nam
Phương pháp lịch sử - logic: Luận án xem xét quá trình điều chỉnh mô
hình quản lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ Hai đến nay, do vậy, vừa phải nhìn nhận, đánh giá mô hình quản lý của các
tập đoàn kinh tế Nhật Bản gắn với một giai đoạn, lịch sử cụ thể, nhận diện mô hình quản lý đó từ lát cắt đồng đại, vừa xem xét mô hình đó trong quá trình vận động, có tính lịch đại, chỉ ra được logic vận động phản ánh tính qui luật
Trang 19của quá trình điều chỉnh mô hình quản lý đó Phương pháp lịch sử - logic được thực hiện gắn với phương pháp phân tích - tổng hợp, bảo đảm tính cụ
thể, chân thực và tính khái quát
Phương pháp kế thừa: Nghiên cứu về tập đoàn kinh tế Nhật Bản là
hướng nghiên cứu không mới, đã có không ít công trình đề cập đến vấn đề này Đề tài luận án có kế thừa thành quả nghiên cứu của những người đi trước, đồng thời cung cấp thêm tư liệu và cách nhìn nhận mới, đầy đủ hơn về tập đoàn kinh tế Nhật Bản từ những thập niên cuối thế kỷ XX đến nay - những khó khăn, thách thức; những tìm tòi, thử nghiệm tự điều chỉnh mô hình quản lý; thành công và những vấp váp; giá trị tham khảo từ những kinh nghiệm quý
báu…
Luận án nghiên cứu quá trình điều chỉnh mô hình quản lý các tập đoàn kinh tế Nhật Bản với hàm ý tìm tòi, lựa chọn những kinh nghiệm thiết thực có thể tham khảo cho quá trình xây dựng, phát triển các tập đoàn kinh tế Việt
Nam
Phương pháp thống kê – so sánh: Phương pháp này được sử dụng bằng
việc thống kê các số liệu nghiên cứu, tác giả tiến hành so sánh để đánh giá mức độ điều chỉnh mô hình quản lý của các TĐKT trong từng giai đoạn
Trang 20Khung phân tích nội dung luận án
Tổng quan nghiên cứu về điều chỉnh mô hình quản lý của các TĐKT Nhật Bản
Khoảng trống nghiên cứu
Cơ sở lý luận & thực tiễn của việc điều chỉnh
mô hình quản lý của các TĐKT
Quá trình điều chỉnh mô hình quản lý của các TĐKT Nhật
Bản từ sau chiến tranh thế giới lần thứ Hai đến nay
Đánh giá thành công, hạn chế & nguyên nhân hạn chế điều chỉnh mô hình quản lý của các TĐKT Nhật Bản
Bài học thành công & thất bại của việc điều chỉnh mô hình
quản lý của các TĐKT Nhật Bản từ sau chiến tranh thế
giới lần thứ Hai đến nay
Hàm ý chính sách đối với Việt Nam
Trang 215 Những đóng góp mới của luận án
- Chỉ rõ bối cảnh và nguyên nhân dẫn đến việc điều chỉnh mô hình quản
lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai
- Phân tích, đánh giá những thành công và hạn chế của việc điều chỉnh
mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản
- Rút ra các bài học kinh nghiệm, đề xuất các quan điểm và giải pháp đổi mới các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hiện nay
Chương 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc điều chỉnh mô hình quản
lý của tập đoàn kinh tế
Chương 3 Điều chỉnh mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới hai đến nay
Chương 4 Bài học kinh nghiệm từ quá trình điều chỉnh mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản và một số hàm ý đối với Việt Nam
Trang 22
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ĐIỀU CHỈNH MÔ HÌNH
QUẢN LÝ CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ
1.1 Những nghiên cứu về nền kinh tế Nhật Bản từ cuối thập kỷ 1990 đến nay
Những thập niên cuối thế kỷ XX, nhất là những năm 1990, kinh tế Nhật Bản suy thoái trầm trọng, các tập đoàn kinh tế gặp nhiều khó khăn lớn, phải vật lộn, tìm cách vượt lên Giới nghiên cứu quan tâm, chia sẻ với thực tế này
Đã xuất hiện những công trình nghiên cứu đề cập đến giai đoạn nhiều cam go của tập đoàn kinh tế Nhật Bản, đáng chú ý là một số công trình sau đây:
S.Kwan (1998), Khủng hoảng tiền tệ châu Á nhìn từ đồng Yên và đồng Nhân dân tệ ( 円と元から見るアジア通貨危機) Trong ấn phẩm này, tác
giả Kwan - chuyên gia nghiên cứu tại Viện nghiên cứu Tổng hợp Nomura, đã phân tích về mối quan hệ giữa sự biến động tỷ giá Yên, Đôla với tỷ lệ gia tăng đầu tư trực tiếp của Nhật Bản sang Đông Á (NIEs, bốn nước ASEAN, Trung Quốc) và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của các nước này từ năm 1982 đến năm
1987
Joseph E Stiglitz và Shahid Yusuf (2002), Suy ngẫm lại sự thần kỳ Đông
Á, Ngân hàng thế giới Chương 2 và Chương 3 của cuốn sách xuất bản năm
1993 đã phân tích hiện trạng tăng trưởng và khủng hoảng của kinh tế Đông Á, trong đó có Nhật Bản; dự báo khả năng phục hồi của kinh tế Đông Á; gợi mở con đường thay đổi và tăng trưởng công nghệ ở các nước Đông Á, trước hết trong các tập đoàn kinh tế Trong ấn phẩm xuất bản năm 2002 có điều chỉnh,
bổ sung một số nhận xét, đánh giá về sự phát triển thần kỳ của Đông Á Mặc
dù, sự suy thoái và khủng hoảng kinh tế ở Nhật Bản buộc các nhà nghiên cứu phải suy ngẫm về những mặt chưa hợp lý, còn bất cập của mô hình các tập đoàn kinh tế Nhật Bản, song, một số nhà nghiên cứu vẫn khẳng định những
Trang 23tiềm năng to lớn, nhất là về khoa học công nghệ, của các doanh nghiệp Nhật Bản và khả năng tự điều chỉnh, tự đổi mới của các tập đoàn kinh tế trong bối cảnh mới
Mirey a Solís, Banking on Multinationals (2004), Public Credit and the Export of Japanese Sunset Industries (Dựa vào công ty đa quốc gia: Tín dụng
công và xuất khẩu của những ngành công nghiệp đang suy thoái của Nhật Bản), Stanford: Stanford University Press Ấn phẩm đã nêu ra và trả lời 2 câu hỏi chủ yếu trong chính sách công nghiệp Nhật Bản: Tại sao Nhật Bản - được biết đến là có nỗ lực trong việc kiểm soát thị trường, bảo vệ những ngành công nghiệp non trẻ, và luôn gia tăng xuất khẩu quốc gia - lại thực hiện chương trình công nghiệp lớn nhất thế giới để hỗ trợ cho việc mở rộng sự hợp tác của các công ty đa quốc gia? Tại sao Nhật Bản không lo sợ thất bại trong việc kiểm soát sự hợp tác đa quốc gia và sự xói mòn nền tảng xuất khẩu nội địa thông qua FDI với 3 nội dung: Đầu tư trực tiếp Nhật Bản trong viễn cảnh
lý thuyết và so sánh; quan điểm chính trị của chính sách công nghiệp và sự hợp tác của các công ty đa quốc gia Nhật Bản và nghiên cứu trường hợp của
sự điều chỉnh công nghiệp và FDI
Hibino Shozo (2009), Tư duy đột phá Tập quán tư duy của Toyota,
NXB Trẻ Thông qua tư duy kinh doanh luôn đổi mới, đáp ứng nhu cầu mọi thị trường, mọi hoàn cảnh của Toyota, tác giả khẳng định bản lĩnh và tầm trí tuệ của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản trước những biến động của kinh tế thế giới, đất nước
Top Managemnet Forum (2009), Management Innovation for Productivity Improvement in the Service Sector , Asia Productivity Organization, Tokyo
Tập hợp những bài thuyết trình của các nhà lãnh đạo APO (các chuyên gia hàng đầu đại diện các tập đoàn dịch vụ nổi tiếng đã giới thiệu và cung cấp các
ví dụ điển hình về các mô hình quản lý đã đưa các tập đoàn Nhật Bản tới thành công trên thị trường trong nước, quốc tế) tại hội nghị thường niên tổ
Trang 24chức ở Tokyo, Nhật Bản - được công bố trong ấn phẩm này đã minh chứng sức mạnh tiềm tàng của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản ngay cả trong những năm tháng sóng gió
Yoshiaki Takahashi (2009), Quản trị kinh doanh học và quản trị doanh nghiệp tại Nhật Bản, NXB Tri thức.Trong cuốn sách này, tác giả trình bày
nhiều vấn đề, trong đó đề cập đến cơ cấu tổ chức trong các doanh nghiệp lớn của Nhật Bản đang được chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng đa dạng hoá, mềm dẻo hoá; xu hướng tập đoàn hoá và tái cơ cấu tổ chức trong các tập đoàn; tiến trình đa quốc tịch hoá của các doanh nghiệp Nhật Bản
Các công trình của Hibino Shozo, của APO 2009, của Yoshiaki Takahashi
… đã góp một cách nhìn khách quan, giúp nhận diện một cách đầy đủ, toàn diện hơn về diện mạo các doanh nghiệp Nhật Bản trong một thập niên trở lại đây, đồng thời cũng gợi mở những xu hướng tự điều chỉnh, tự đổi mới của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản, cho phép có thể dự báo về triển vọng phát triển của các tập đoàn trong tương lai không xa
Vẫn theo hướng nghiên cứu này đã được các tác giả bàn luận thông qua nhiều Hội thảo được tổ chức ở Việt Nam và nước ngoài Đó là:
Ariyoshi Akira (2012), Bài học từ bong bóng tài sản của Nhật Bản, tham
luận tại Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm trong quản lý kinh tế vĩ mô, Bộ Tài
chính Việt Nam, Hà Nội, 24/7/2012 Nagase Toshio (2012), Chia sẻ một số kinh nghiệm của Nhật Bản về giải quyết nền kinh tế bong bóng và tái cơ cấu công nghiệp, tham luận tại hội nghị của Nhóm đối tác về quản lý tài chính công, Hà Nội, 31/5/2012.Naito Junichi (2012), Bài học của Nhật Bản từ kinh nghiệm khủng hoảng tài chính, tham luận tại Hội thảo tại Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 5/5/2012.Wada Yoshio (2012), Gợi ý từ kinh nghiệm của Nhật Bản: loại bỏ nợ xấu thông qua khôi phục tài chính và công nghiệp sau khi nền kinh tế bong bóng sụp đổ, tham luận tại Civil Service College, Singapore,
7/3/2012
Trang 25Từ những công trình nghiên cứu trên, dù chưa thật đầy đủ, song đã chỉ
rõ những khó khăn, thách thức mà kinh tế Nhật Bản phải đối mặt Điều này sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các công ty Nhật Bản, nhất là các Tập đoàn lớn của nước này
1.2 Những nghiên cứu về mô hình tập đoàn kinh tế Nhật Bản
Từ cuối những năm 1960 đầu những năm 1990 của thế kỷ XX, thậm chí đến đầu những năm 2000, đã xuất hiện rất nhiều công trình nghiên cứu về sự thành công của kinh tế Nhật Bản nói chung, của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản nói riêng
Có thể kể đến các công trình: Michaelis and Me Keown (1969 ); 20th Century Asia ( Châu Á thế kỷ XX ), Me Graw – Hill; Ono Toyoaki (1979):
Chiến lược tổ chức của doanh nghiệp Nhật Bản (日本企業の組織戦略); William Ouichi (1987): Mô hình quản lý xí nghiệp Nhật Bản, thuyết Z, Viện Kinh tế thế giới xuất bản; James C, Alegglen Stak (1988 ): Kaisha Công ty Nhật Bản, Viện Kinh tế thế giới xuất bản, tập II; J Schonberger (1989): Người Nhật quản lý sản xuất thế nào? Nxb Khoa học xã hội; V.A Promikov, L.D Ladanov (1989 ): Người Nhật, Nxb Tổng hợp Hậu Giang; Yutaka Kosai (1991): Kỷ nguyên tăng trưởng nhanh – những nhận xét về nền kinh tế Nhật sau chiến tranh, Viện Kinh tế thế giới xuất bản; Pierre Atoine – Donnet (1991 ): Nước Nhật mua cả thế giới, Nxb Thông tin – Lý luận, HN; Joseph E Stiglitz và Shahid Yusuf ( 1993 ): Sự thần kỳ Đông Á – Tăng trưởng và chính sách công, Ngân hàng Thế giới; Liên đoàn các tổ chức Kinh tế Nhật Bản
( Keidanren, 1995 ): Quản lý kiểu Nhật thời đại mới, Tokyo, Đóng góp của các công trình được công bố là đã phản ánh một cách sinh động sự đi lên của một quốc gia kiệt quệ sau chiến tranh, song đã vượt lên chính mình để nhanh chóng phục hồi và trở thành một trong những nền kinh tế hàng đầu của thế giới
Trang 26Trong số các công trình viết về mảng vấn đề này, đáng chú ý một số công trình nổi bật
Arthur M Whitehill (1996), Quản lý Nhật Bản: truyền thống và quá độ,
Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia xuất bản Ấn phẩm gồm 4 phần với 14 chương, trong đó phần 1 tác giả đề cập đến Nhật Bản với những dấu ấn của lịch sử, Phần 2 là bối cảnh Nhật Bản hiện đại, Phần 3 là Quá trình quản lý và Phần 4 là Nhật Bản trong viễn cảnh tương lai Đặc biệt ở phần 4, tác giả đã đề cập đến những thách thức hiện nay đối với vấn đề quản lý theo kiểu Nhật Bản, và cuối cùng là nội dung Nhật Bản trong “Kỷ nguyên Thái Bình Dương” Đây có thể coi là một công trình “cẩm nang” về quản lý của Nhật Bản trong đó đã chỉ rõ những đặc trưng cơ bản nhất của mô hình có một không hai trong giai đoạn „thần kỳ” của Nhật Bản
Shinichi Ichimura (1999), Kinh tế chính trị của sự phát triển của Nhật Bản và Châu Á, Nxb Thống kê; Đóng góp nổi bật và có giá trị nhất của công
trình này là đã khái quát và phân tích một cách toàn diện sự phát triển của đất nước Nhật Bản từ kinh tế đến chính trị, xã hội; nghiên cứu các vấn đề của cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ, kinh tế ở Châu Á và những hậu quả của cuộc khủng hoảng này
Charles R Taylor, Shaoming Zou, Gregory E Osland (1999), Các chiến lược gia nhập thị trường nước ngoài của các Công ty đa quốc gia Nhật Bản
(Foreign market entry strategies of Japanese MNCs), International Marketing Review Các tác giả đã nghiên cứu, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến các quyết định gia nhập thị trường nước ngoài của các công ty đa quốc gia Nhật Bản Đây là một công trình chuyên sâu xem xét cách thức xâm nhập của các công ty Nhật Bản ra thế giới Sự thành công của các công ty này cho thấy họ không chỉ thống trị kinh tế trong nước mà còn đang vươn ra bên ngoài với những cách thức rất hiệu quả
Trang 27Howard Rothman (2009) – 50 Công ty làm thay đổi thế giới, Nxb Trẻ
Tác giả đã giới thiệu cách mà các công ty nổi tiếng đã làm thay đổi thế giới,
bí quyết của họ để tạo ra những bước đột phá, trong đó có đề cập đến những thành công của một số công ty Nhật Bản Tác giả cung cấp thông tin về cấu trúc tổng thể của ngành kinh doanh cùng với cấu trúc xã hội trong vài thập kỷ gần đây Ấn phẩm với những thông tin về những con người có tầm nhìn rộng,
ý chí mạnh mẽ, lòng can đảm không giới hạn và sự tận tâm tuyệt đối trong công việc Họ là những người luôn nỗ lực hết mình để tìm ra ý tưởng mới và dẫn dắt công ty của họ đi đến thành công Chính xác hơn, họ chính là nguồn sức mạnh thực sự làm thay đổi thế giới mà chúng ta đang sống
Những công trình trên trực tiếp hoặc gián tiếp đều đề cập ở những mức
độ khác nhau đến quá trình hình thành, phát triển, vai trò, những đóng góp quan trọng và bí quyết thành công của mô hình tập đoàn kinh tế Nhật Bản, đặc biệt trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ Hai – thời kỳ vàng son của
mô hình Keiretsu Có thể tìm thấy trong các công trình này nhiều luận giải phong phú, sâu sắc về quá trình phát triển và những kinh nghiệm hay về con đường dẫn đến thịnh vượng của Nhật Bản và những kinh nghiệm quí về mô hình tổ chức, phương thức quản trị sản xuất, kinh doanh của các tập đoàn kinh
tế Nhật Bản
Bước vào thiên niên kỷ thứ ba, đầu thế kỷ XXI, các tập đoàn kinh tế Nhật Bản đang trong quá trình tự điều chỉnh, tự đổi mới để vượt qua thách thức, tiếp tục phát triển Sự điều chỉnh này có ý nghĩa tham khảo đối với doanh nghiệp ở các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi, trong đó có Việt Nam Một số công trình bước đầu đề cập đến vấn đề này, như:
Phùng Kim Anh (2004), 日本型経営システムの資源と特徴―ベトナムの企業改革への示唆 -(Sự khởi nguồn và nét đặc trưng của hệ thống quản lý kiểu Nhật - Bài học tham khảo cho sự đổi mới của các doanh nghiệp
Trang 28Việt Nam), luận văn thạc sĩ Tác giả, từ thực tiễn điều chỉnh hệ thống quản
lý của các doanh nghiệp Nhật Bản, bước đầu khái quát thành một số đặc trưng với hàm ý gợi mở hướng đổi mới của các doanh nghiệp Việt Nam
Trần Văn Thọ (2005), Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hoá Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Nội dung cuốn sách chia thành hai phần Phần I phân tích các biến chuyển kinh tế Đông Á và vị trí Việt Nam trong bản đồ công nghiệp Đông Á Đông Á ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm Đông Bắc Á và Đông Nam Á Phần này gồm 6 chương, trong đó có nhiều vấn đề “nóng”, thí dụ như thách thức của kinh tế Trung Quốc đối với ASEAN và Việt Nam (Chương 3) và thách thức của AFTA đối với công nghiệp Việt Nam (Chương 5) Phần II trình bày chiến lược công nghiệp hoá cho Việt Nam trong bối cảnh đã thảo luận trong Phần I Phần này bao gồm 10 chương và có thể xem như là phần chính yếu của sách Chương
7 đến 16 thảo luận và phân tích toàn diện chiến lược công nghiệp hoá Việt Nam, từ hiệu năng đến công bằng xã hội, từ chuyển hướng chiến lược đến phát triển công nghiệp phụ trợ, từ nội lực đến ngoại lực, từ nông thôn đến thành thị, từ sản xuất đến khám phá và tiếp cận thị trường tiêu thụ Đóng góp
có giá trị của cuốn sách không chỉ khắc họa thực trạng kinh tế Đông Á mà còn xem xét sự phát triển của Việt Nam thông qua con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà Việt Nam đã lựa chọn
Peter Brimble, Shujiro Utara (2006), Behavior of Japanese, Western and Asian MNCs in Thailand:Lessons for Japanese MNCs (ứng xử của Nhật,
Phương Tây và các công ty đa quốc gia Châu Á ở Thái Lan: Các bài học cho các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản)/ Peter Brimble, Shujiro Utara - Tokyo : Japan Center for Economic Research Công trình đã tập trung nghiên cứu chiến lược kinh doanh và cách ứng xử của các công ty đa quốc gia Nhật, Phương Tây và Châu Á trong quan hệ với Thái Lan Quan hệ mật thiết giữa các công ty trên với các tập đoàn bản xứ và người dân Thái Các hoạt động
Trang 29của các công ty đa quốc gia Nhật tại Thái như trợ giúp kỹ thuật, nghiên cứu, triển khai, nghiên cứu công nghệ và sưu tập thông tin…
Enworld & Navigos Search (2015), Tập đoàn đa quốc gia về tuyển dụng nhân lực cấp trung và các vị trí quản lý, Báo cáo “Thách thức trong tuyển
dụng nhân sự cấp trung và cấp cao” - Báo cáo được thực hiện trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương bao gồm Việt Nam, Thái Lan, Singapore, Nhật Bản…, www enworld.com/files/2015/11/NS Report - tiếng Việt.pdf
Các công trình nêu trên đã đề cập đến những động thái mới của TĐKT Nhật Bản cuối thế kỷ XX tác động của những chuyển động ở Đông Á, trong
đó có Nhật Bản, và với Việt Nam trong thập niên đầu của thế kỷ XXI, một số công trình đã cung cấp thêm cách tiếp cận theo bề rộng về mối tương quan giữa mô hình tập đoàn kinh tế Nhật Bản và mô hình tập đoàn kinh tế Việt Nam
1.3 Những nghiên cứu về các tập đoàn kinh tế Việt Nam
Mảng đề tài này có khá nhiều công trình nghiên cứu.TrầnThị Nhung,
Nguyễn Duy Dũng (2005), Phát triển nguồn nhân lực trong các công ty Nhật Bản hiện nay, Nxb Khoa học xã hội; Trần Tiến Cường (2005): Tập đoàn kinh
tế - lý luận và kinh nghiệm quốc tế ứng dụng vào Việt Nam, Nxb Giao thông vận tải; Nguyễn Văn Đặng (2005), Tổng công ty nhà nước hướng tới hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Giao thông vận tải; Bùi Văn Huyền (2006), Sự hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia; Lê Đức Khải, Hà Huy Ngọc (2009),
Phát triển các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Cộng sản, số 797; Nguyễn Tuấn Cường(2009), Một số suy nghĩ về tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam, Tạp chí Khoa học & ứng dụng,
số 10; Võ Văn Sen (2009), Một vài kinh nghiệm của Nhật Bản và con đường hiện đại hóa ở Việt Nam, Tạp chí Phát triển khoa học & công nghệ, số 15; Trần Thị Lan Hương (2010), Những vấn đề rút ra từ thí điểm mô hình tập
Trang 30đoàn kinh tế, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số tháng 8/2010; Đặng Văn Mỹ (2010), tập đoàn kinh tế: định hướng chiến lược kinh doanh trong bối cảnh toàn cầu hóa, Tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 5(40), 2010; Nguyễn Khương (2012), Tập đoàn kinh tế: Mô hình quản lý và chiến lược phát triển, Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, Kinh tế và Kinh
doanh 28(2012)…
Ngoài các bài viết đăng tải trên các Tạp chí chuyên ngành, nghiên cứu về
về bối cảnh quốc tế và các TĐKT đã có nhiều công trình tiêu biểu được công
bố như:
Nguyễn Văn Dân (2001), Những vấn đề của toàn cầu hóa kinh tế, Viện
Thông tin khoa học xã hội Trong ấn phẩm này, tác giả đã giới thiệu khái quát
về đối sách của các nước và khu vực chủ yếu trên thế giới đối với toàn cầu hóa; vai trò và tác động của các công ty xuyên quốc gia trong tiến trình toàn
cầu hóa kinh tế thế giới Hoặc công trình của Nguyễn Sỹ Hiệp (2003), Sự ra đời và một số đặc điểm chính của các công ty xuyên quốc gia của các nước mới công nghiệp hóa ở Đông Á, Viện Kinh tế thế giới Công trình đã tập trung
phân tích và làm rõ hoàn cảnh ra đời, những đặc điểm hoạt động chính của các NICs - TNCs, như: mô hình tổ chức, cơ chế quản lý, địa bàn hoạt động và
các loại hình đầu tư Bài viết của Hoàng Thị Bích Loan (11/2005), Mô hình nền kinh tế thị trường Nhật Bản cộng đồng, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số
330 cũng là chuyên luận đáng chú ý Trong đó, khi phân tích đến sở hữu, tổ chức kinh doanh và vai trò của nhóm, tác giả có đề cập đến mô hình Zaibatsu, xem đó là hình thức liên minh các doanh nghiệp; nêu rõ quá trình giải thể các Zaibatsu sau chiến tranh thế giới thứ hai, hình thành mô hình liên kết mới giữa các doanh nghiệp - tác giả gọi là các công ty thương xã tổng hợp (TNCs)
Tác giả Đinh Trung Thành (2006) với bài viết: Đầu tư trực tiếp của TNCs Nhật Bản ở Việt Nam - tổng quan và triển vọng, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế,
số 4 Trong bài nghiên cứu này, tác giả đã đánh giá tình hình đầu tư trực tiếp
Trang 31của TNCs Nhật Bản ở Việt Nam từ năm 1991- 2005 và những yếu tố tác động đến tình hình đầu tư Đánh giá triển vọng có thể tăng cường thu hút FDI của TNCs Nhật Bản vào Việt Nam trong thời gian tới, trong đó nhấn mạnh các chính sách liên quan trực tiếp đến việc cải thiện môi trường đầu tư nhằm nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong môi trường tự do hóa thương mại và đầu tư Ở bài viết khác của tác giả Đinh Trung Thành (2010),
Chiến lược chiếm lĩnh thị trường trong đầu tư trực tiếp của TNCs Nhật Bản ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, Số 4 Nội dung bài viết tập trung
làm rõ chiến lược chiếm lĩnh thị trường của các công ty xuyên quốc gia Nhật
ở Việt Nam trên cơ sở phân tích hoạt động FDI xét theo cơ cấu ngành kinh tế, theo hình thức đầu tư theo vùng lãnh thổ, theo trình tự công nghệ và theo quy
và “thập kỷ mất mát thứ ba” Tác giả đã chỉ ra, để tiếp tục duy trì và phát triển, TNCs Nhật Bản đang tích cực điều chỉnh và đổi mới theo 4 hướng chủ yếu:
đa dạng hóa mô hình để thích ứng, thúc đẩy tiến trình “đa quốc tịch hóa”, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, nguồn nhân lực và mở rộng thị trường…Dù phải đối mặt với không ít khó khăn, song với nỗ lực đổi mới, TNCs Nhật Bản sẽ có thêm sinh lực để tiếp tục phát triển Phùng Kim Anh,
Vũ Anh Dũng (2011), Tập đoàn kinh tế Nhật Bản - Thách thức và triển vọng,
Tạp chí Tuyên giáo Trong bài nghiên cứu, các tác giả đã khái lược quá trình phát triển, những vinh quang và thử thách của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản
từ sau Chiến tranh thế giới đến nay Đồng thời cũng chỉ ra những tìm tòi, thử nghiệm sáng tạo của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản trong quá trình vượt khó khăn để tiếp tục phát triển
Trang 32Trên mạng www.massagroup.com, ngày 24/6/2008 có đăng tải bài viết: Những mô hình tập đoàn kinh tế tiêu biểu Châu Á Tài liệu này dành phần đầu giới thiệu sơ lược về mô hình tập đoàn kinh tế Nhật Bản; trình bày về sự
ra đời, cơ cấu tổ chức, tình hình hoạt động của các Keiretsu, thành công và những hạn chế của mô hình này
Bùi Nguyên Hưng (2011), Ngân hàng của tập đoàn Nhật Bản và mối liên hệ với ngân hàng của tập đoàn ở Việt Nam, kilobooks.com Tác giả đã
chỉ ra một số tồn tại trong tập đoàn kinh tế tại Việt Nam như: Các văn bản duới luật về tập đoàn kinh tế đã bị “quá tải”; các tập đoàn kinh tế tư nhân đang phải chịu đựng sự bất bình đẳng trong việc đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong việc có được khung pháp lý thống nhất để phát triển trong một môi truờng kinh doanh cạnh tranh lành mạnh; sự thiếu nhất quán trong cách quan niệm về tập đoàn kinh tế nhà nuớc
Jacob Trần (2016), Bí quyết quản trị doanh nghiệp của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản, Getfly CRM Bài viết phân tích những điểm mạnh trong
quản trị doanh nghiệp của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản, nhấn mạnh sức mạnh của việc xác định đúng đắn, rõ ràng mục tiêu kinh doanh; sự phối hợp hữu cơ giữa các bộ phận trong tập đoàn và cuộc cách mạng quản trị theo tinh thần đổi mới sáng tạo khởi phát từ làn sóng văn minh thứ tư
Đáng chú ý ở Việt Nam, từ năm 2010, Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương phối hợp với Đảng uỷ khối Doanh nghiệp Trung ương và 9
tập đoàn kinh tế nhà nước triển khai đề tài nghiên cứu đặc biệt: Mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam - thực trạng và định hướng phát triển Ban
chủ nhiệm đề tài đã tổ chức hai cuộc hội thảo lớn: Lý luận và phương pháp luận nghiên cứu về mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới, năm 2010, và: Thực trạng hoạt động của các tập đoàn kinh tế nhà nước và những định hướng để đổi mới để phát triển, năm 2011 Đây là công
Trang 33trình có ý nghĩa tổng kết về lý luận, thực tiễn về mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam, có đối sánh với mô hình tập đoàn kinh tế một số nước, trong đó có Nhật Bản
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2011), Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam 2010, Nxb Thông tin và Truyền thông Ấn phẩm
này trình bày tổng quan môi trường kinh doanh Việt Nam; phân tích năng lực doanh nghiệp Việt Nam và một số xu hướng tái cấu trúc doanh nghiệp Đặc biệt, ấn phẩm có một phần trình bày khá cụ thể sự hình thành, phát triển các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam, xu hướng tái cấu trúc các tập đoàn kinh tế nhà nước và các tập đoàn kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Nguyễn Đức Thành (chủ biên, 2012), Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2015 “Đối diện với thách thức tái cơ cấu kinh tế”, Nxb Đại học quốc gia
Hà Nội Ấn phẩm gồm 7 chương; chương 5 “ Hướng tới lộ trình thực sự tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước” Các tác giả đã giới thiệu một số bài học kinh nghiệm quốc tế về cải cách doanh nghiệp nhà nước; đánh giá thực trạng doanh nghiệp nhà nước Việt Nam và đề xuất tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước
Nguyễn Đức Thành (2013), Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2013,
“Trên đường gập ghềnh tới tương lai”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Trong phần tổng quan tình hình kinh tế thế giới, tác giả có giới thiệu về
“Abenomics” và phân tích những khó khăn do tình trạng bong bóng tài sản của Nhật Bản
Nhằm tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới và chuẩn bị dự thảo các văn kiện Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã phối hợp với Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, Công ty cổ phần Tri thức doanh nghiệp quốc tế tổ chức cuộc hội thảo khoa học cấp quốc gia với chủ đề “ Doanh nghiệp nhà nước - thành công
và những bài học đắt giá” ở Hà Nội vào 25/ 6/ 2014 và ở Thành phố Hồ Chí
Trang 34Minh vào 30/6/2014 Nhà xuất bản Lý luận chính trị đã biên tập và xuất bản
63 bài tham luận tại hội thảo thành hai tập kỷ yếu Bài viết trong hai tập kỷ yếu tập trung phân tích, đánh giá thực trạng doanh nghiệp nhà nước Việt Nam, trong đó có các tập đoàn kinh tế; làm rõ những thành công và cả những thất bại, phân tích nguyên nhân, đề xuất một số cơ chế, chính sách nhằm tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, của các tập đoàn kinh tế Hai tài liệu này có phân tích kinh nghiệm phát triển tập đoàn kinh tế một số nước ( Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia…), rất tiếc kinh nghiệm của Nhật Bản không được đề cập
Trong chương trình nghiên cứu lý luận chính trị giai đoạn 2011- 2015 (Chương trình KX 04/11-15 ), có đề tài “ Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về xây dựng tập đoàn kinh tế Việt Nam” ( Mã số KX 04.12/11-15 ) do TS Trần Kim Hào làm chủ nhiệm Đề tài đã trình bày hệ thống cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế ( trong
đó có phân tích kinh nghiệm của Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc, Hàn Quốc Kinh nghiệm của Nhật Bản vắng bóng trong công trình này ! ); đánh giá thực trạng hình thành, phát triển và quản lý tập đoàn kinh tế ở Việt Nam;
đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển bền vững tập đoàn kinh
tế ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Viết Thông (2016), Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - qua 30 năm đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia Công trình là kết quả nghiên cứu của 31 đề tài khoa học cấp nhà nước thuộc chương trình nghiên cứu lý luận chính trị giai đoạn 2011- 2015 Công trình có phần viết sâu về một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng tập đoàn kinh tế ở Việt Nam; giới thiệu quá trình hình thành, phát triển và quản lý tập đoàn kinh tế ở Việt Nam; định hướng tiếp tục đổi mới, phát triển các tập đoàn kinh tế từ nay đến 2030
Trang 351.4 Đánh giá những công trình nghiên cứu đã tổng quan và một số vấn
đề đặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu
Từ các công trình đã phân tích ở trên có thể rút ra một số đóng góp có giá trị sau:
- Các công trình đã phân tích và làm rõ nguồn gốc hình thành và phát triển của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản và đi sâu đánh giá vai trò của các tập đoàn trong sự phát triển kinh tế Nhật Bản
- Phân tích và làm rõ mô hình quản lý kiểu Nhật Bản với những đặc điểm riêng biệt về tổ chức công ty, cách thức quản lý điều hành, chế độ đãi ngộ…Đây là những nét riêng biệt để tạo nên mô hình khó trộn lẫn của quản lý Nhật Bản
- Các công trình đã đi sâu xem xét những bất cập, thách thức đặt ra đối với mô hình quản lý Nhật Bản, nhất là sự chậm trễ trong việc thay đổi để phù hợp với điều kiện mới trong nước và quốc tế Sự khó khăn, suy thoái kinh tế Nhật Bản, sự trỗi dậy của các nước, nhất là trung Quốc cũng là những yếu tố đòi hỏi các TĐKT Nhật Bản phải thay đổi
Khoảng trống nghiên cứu:
- Nhiều nội dung về lý luận về mô hình quản lý của TĐKT chưa được đi sâu, nhất là trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều thay đổi
- Chưa phân tích và làm rõ những bất cập, nguyên nhân khách quan, chủ quan dẫn đến việc điều chỉnh mô hình quản lý của các TĐKT Nhật Bản
- Các nội dung cũng như quá trình điều chỉnh mô hình và cách thức quản
lý của các TĐKT Nhật Bản chưa phân tích đầy đủ và sâu sắc
- Các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về điều chỉnh mô hình quản lý của các TĐKT Nhật Bản chưa được làm rõ
Đây là những hạn chế của những công trình trên và cũng là những
“khoảng trống” mà luận án sẽ tập trung phân tích và làm rõ
Trang 36Những vấn đề Luận án sẽ đi sâu nghiên cứu:
Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan, đồng thời kết hợp với các nguồn tư liệu, Luận án sẽ nghiên cứu để làm rõ các vấn đề sau:
+ Bổ sung và làm rõ hơn khái niệm và nội dung về mô hình quản lý của các TĐKT
+ Phân tích và làm rõ bối cảnh và nguyên nhân của quá trình điều chỉnh
mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ Hai đến nay
+ Chỉ ra một số hạn chế và những vấn đề đặt ra đối với mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản trong bối cảnh hiện nay
+ Rút ra những bài học kinh nghiệm cho các tập đoàn kinh tế Việt Nam trong quá trình tái cơ cấu và đổi mới hoạt động của các TĐKT thời gian tới
Trang 37CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐIỀU CHỈNH
MÔ HÌNH QUẢN LÝ CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ 2.1 Khái quát tập đoàn kinh tế và mô hình quản lý của tập đoàn kinh tế
Để có cơ sở đánh giá chính xác về tập đoàn kinh tế Nhật Bản và quá trình điều chỉnh mô hình quản lý của các tập đoàn kinh tế Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ Hai đến nay, cần thiết phải làm rõ những nhận thức chung về tập đoàn kinh tế và mô hình quản lý của tập đoàn kinh tế
2.1.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế, mô hình quản lý của tập đoàn kinh tế
2.1.1.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế
Các TĐKT đã hình thành tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển tương đối lâu và có vai trò chi phối đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia này Các TĐKT ở các nước phát triển tập trung chủ yếu vào phát triển nguồn vốn, trong khi các tập đoàn ở các nền kinh tế mới nổi, các nước đang phát triển lại chú trọng vào việc đa dạng hóa kinh doanh với chi phí thấp Nếu quốc gia không kiểm soát được hệ thống tài chính, các TĐKT đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng nguồn ngân sách để đảm bảo việc hỗ trợ chính trị của giới doanh nghiệp từ việc cho phép họ khai thác các tài nguyên
Bên cạnh đó TĐKT cũng có vai trò quan trọng trong các nền kinh tế mới nổi như Brazil, Chile, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Mexico, Pakistan, Thái Lan; thậm chí cả các nước phát triển như Italia, Thụy Điển TĐKT đặc trưng bởi sự kết hợp của các công ty độc lập về mặt pháp lý, vận hành trong nhiều ngành công nghiệp (và thường không liên quan đến nhau);
có mối quan hệ chính thức (vốn cổ phần) hay không chính thức (mối quan hệ gia đình) Mức độ tham gia của các nhà đầu tư bên ngoài đặc trưng cho sự đa dạng của các doanh nghiệp trên thế giới Các tập đoàn cũng hết sức đa dạng,
có tập đoàn tập trung một số ngành, có tập đoàn kinh doanh trên nhiều lĩnh vực; có tập đoàn tích hợp theo chiều ngang và trao đổi với bên ngoài, có tập
Trang 38đoàn lại liên quan nhiều đến hoạt động tài chính và ngân hàng Ví dụ tập đoàn kinh tế ở Chi Lê đa dạng hóa hơn tập đoàn kinh tế ở Hàn Quốc, các tập đoàn Hàn Quốc lại đa dang hóa hơn Đài Loan; các tập đoàn kinh tế ở Philippines tích hợp theo chiều dọc hơn các tập đoàn Thái Lan và tham gia vào dịch vụ tài chính hơn các tập đoàn Ấn Độ Những tập đoàn kiểm soát theo chiều dọc có kiểu cấu trúc kim tự tháp, các tập đoàn liên kết theo chiều ngang với các cổ đông chéo; Sự mở rộng của mô hình tập đoàn từ gia đình thường là các tập đoàn chéo; có nhiều tập đoàn là nguồn lực chính trị quan trọng và có mối liên quan mật thiết với các vấn đề của chính phủ; tuy nhiên cũng có nhiều tập đoàn mối quan hệ này là không phổ biến
Định nghĩa TĐKT được diễn giải theo nhiều cách tiếp cận khác nhau Leff (1978) gọi TĐKT như "một nhóm các công ty kinh doanh tại các thị trường khác nhau trong cùng một kiểm soát hành chính, tài chính" và các thành viên của nó được “liên kết bởi các mối quan hệ tin tưởng giữa các cá nhân, trên cơ sở sự tương đồng về tính cách cá nhân, nguồn gốc dân tộc hoặc truyền thống kinh doanh” Tương tự, Granovetter (1995) đề cập đến các TĐKT như một bộ của các công ty riêng biệt về mặt pháp lý liên kết với nhau theo những cách chính thức hoặc không chính thức Mức độ ràng buộc là trung gian giữa hai thái cực, một là không phải TĐKT: tập hợp các công ty ký kết chỉ bằng cách liên minh chiến lược ngắn hạn, và những hợp nhất một cách hợp pháp thành một thực thể duy nhất
Các tài liệu lý thuyết hiện tại về sự hình thành của các tập đoàn kinh tế bao gồm tương đối các mô hình Raja Kali (1999) nghiên cứu sự hình thành nội sinh của mạng lưới kinh doanh để đáp ứng với hạn chế thực hiện hợp đồng của hệ thống pháp luật; Maurer và Sharma (2001) cũng tập trung vào quyền sở hữu hoàn hảo Maitreesh Ghatak và Kali (2001) và Kali (2003) nhấn mạnh thông tin không hoàn hảo trong thị trường vốn như một động lực tốt Nghiên cứu thực nghiệm hiện có sự hình thành của các TĐKT này thường
Trang 39dựa trên bộ dữ liệu nhỏ và sử dụng các kỹ thuật thực nghiệm, tuy nhiên cũng không phải hoàn toàn thuyết phục Ví dụ, Chung (2001, 2006) xem xét nguồn gốc và sự tiến hóa của các TĐKT tại Đài Loan, phân biệt giữa các lý do liên quan đến lực lượng thị trường, văn hóa, và các tổ chức xã hội Tsui-Auch (2005) dẫn chứng một xu hướng giữa các doanh nhân người Trung Quốc tại Singapore để hình thành tổ chức kinh doanh đa dạng (trong so sánh với các doanh nhân người Ấn Độ)
Các nhà nghiên cứu khác xác định TĐKT bằng cách nêu bật sự đa dạng của nó Ví dụ, Ghemawat và Khanna (1998) xác định tập đoàn kinh tế là “một hình thức tổ chức đặc trưng bởi sự đa dạng trên một phạm vi rộng của các doanh nghiệp, liên kết liên động tài chính một phần và trong nhiều trường hợp
có kiểm soát hệ thống” Gần đây, Fisman và Khanna (2004) định nghĩa TĐKT như một “tập hợp đa dạng của các doanh nghiệp, thường được khởi xướng bởi một hệ thống duy nhất, và liên kết với nhau bởi sở hữu cổ phần và thành viên hội đồng quản trị”
TĐKT bao gồm các công ty độc lập về mặt pháp lý ràng buộc với nhau bởi các mối quan hệ chính thức hoặc không chính thức và phổ biến rộng rãi trên thế giới, đặc biệt là ở các nền kinh tế mới nổi [137] Zhang và cộng sự (2012) sử dụng định nghĩa TĐKT là một tập hợp các công ty đã liên kết với nhau bằng cổ phiếu đang nắm giữ cũng như bằng các phương tiện khác nhau của cơ chế phối hợp
TĐKT cũng có thể được xác định một cách kỹ thuật hơn Ví dụ, Cục Quản lý Nhà nước về Công nghiệp và Thương mại Trung Quốc xác định tập đoàn kinh tế như sau: công ty cốt lõi cần phải có vốn điều lệ trên 50 triệu nhân dân tệ và ít nhất 5 công ty chi nhánh, và tổng số số vốn điều lệ của công
ty mẹ và công ty chi nhánh khác trên 100 triệu nhân dân tệ
Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu cũng đã chỉ ra một cách rõ ràng rằng các TĐKT có thể dựa trên các kiểu liên minh khác nhau như: quan hệ
Trang 40ngân hàng (Frank & Myer, 1994; Kojima, 1998); sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban giám đốc (Mizruchi & Galaskiewicz, 1993); các liên minh chủ sở hữu (Kim, 1991); chia sẻ thông tin (Japelli & Pagano, 1993); các liên doanh (Bergluwf & Perotti, 1994); và các liên minh kiểu Cartel (Green & Porter, 1984)
Như vậy có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “Tập đoàn kinh tế” (TĐKT) Xét về phương diện ngôn ngữ, tại các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, khi nói đến TĐKT người ta thường sử dụng các từ: “Consortium”,
“Conglomerate”, “Cartel”, “Trust”, “Alliance”, “Syndicate” hay “Group” Ở châu Á, trong khi người Nhật gọi TĐKT là “Keiretsu” hoặc “Zaibatsu” thì người Hàn Quốc lại gọi là “Cheabol”; còn ở Trung Quốc, cụm từ “Jituan Gongsi” được sử dụng để chỉ khái niệm này (chính xác hơn là Tổng công ty) Mặc dù về mặt ngôn ngữ, tùy theo từng nước, người ta có thể dùng nhiều
từ khác nhau để nói về khái niệm TĐKT, song trên thực tế, việc sử dụng từ ngữ lại phụ thuộc vào nguồn gốc xuất xứ và tính chất đặc trưng của từng loại
TĐKT Có thể định nghĩa TĐKT “ là tổ hợp các công ty có mối quan hệ sở
hữu xâu chéo; có quan hệ mật thiết về chiến lược, thị trường hay sản phẩm;
có mối liên kết trong hoạt động kinh doanh nhằm tập hợp và chia sẻ các nguồn lực nhằm tăng cường khả năng tích tụ tài sản, nâng cao năng lực cạnh tranh, tối đa hoá lợi nhuận và đạt được các mục tiêu chung” [69]
Ở Việt Nam, điều 38, Nghị định 102/2010/NĐ-CP xác định, TĐKT bao gồm nhóm công ty có quy mô lớn có tư cách pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại,
tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức công ty mẹ
- công ty con Trong tập đoàn theo mô hình công ty mẹ - công ty con thì công
ty mẹ kiểm soát công ty con theo vốn góp của công ty mẹ lớn hơn 50% tại