Hiệu quả là vấn đề cơ bản sản xuất kinh doanh của một hình thái kinh tế xã hội. Các chủ thể tham gia vào nền kinh tế tiến hành sản xuất kinh doanh phải đặc mục tiêu hiệu quả lên hàng đầu cùng với nâng cao năng suất và chất lượng. Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả là doanh nghiệp thoả mãn tối đa nhu cầu về hàng hoá - dịch vụ của xã hội trong giới hạn cho phép của nguồn lực hiện có và thu được nhiều lợi nhuận nhất, đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất. Như vậy có thể nói mục đích chính của sản xuất kinh doanh là lợi nhuận. Mục đích lợi nhuận là mục tiêu trước mắt, lâu dài và thường xuyên của hoạt động sản xuất kinh doanh và nó cũng là nguồn động lực của sản xuất kinh doanh. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây với chế độ hạch toán kinh tế mang nặng tính hình thức.. hoạt động đã được kế hoạch trước trên cơ sở cân đối thu chi từ một trung tâm chỉ huy và giao kế hoạch chỉ tiêu cho từng đơn vị. Lãi nộp Nhà nước bù. Dẫn đến tình trạng lãi giả, lỗ thật triệt tiêu động lực sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, kìm hãm sử phát triển của các doanh nghiệp và tăng trưởng nền kinh tế. Kể từ khi đối mới, nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường với chế độ hạch toán kinh doanh đúng thực chất thì các vấn đề sản xuất kinh doanh đều được giải quyết thông qua thị trường. Doanh nghiệp có điều kiện chủ động trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao nhất trên cơ sở khai thác các khả năng hiện có. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại vàp hát triển được cần phải tạo ra lợi nhuận. Vì vậy yêu cầu đặt ra cho các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh và phải đảm bảo có lợi nhuận và lợi nhuận cao. Xuất phát từ tầm quan trọng cũng như tính cấp bách của vấn đề lợi nhuận và sự cần thiết phải phấn đấu tăng lợi nhuận, qua quá trình học tập tại trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân và thời gian thực tập tại Công ty TNHH Xây Dựng Tổng hợp Tiến Thành Em đã chon đề tài "Lợi nhuận và các biên pháp tăng lợi nhuận tại Công ty TNHH Xây Dựng và tổng hợp Tiến Thành" làm chuyên đề tốt nghiệp.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Hiệu quả là vấn đề cơ bản sản xuất kinh doanh của một hình thái kinh tế xãhội Các chủ thể tham gia vào nền kinh tế tiến hành sản xuất kinh doanh phảiđặc mục tiêu hiệu quả lên hàng đầu cùng với nâng cao năng suất và chất lượng.Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả là doanh nghiệp thoả mãn tối đanhu cầu về hàng hoá - dịch vụ của xã hội trong giới hạn cho phép của nguồn lựchiện có và thu được nhiều lợi nhuận nhất, đem lại hiệu quả kinh tế xã hội caonhất Như vậy có thể nói mục đích chính của sản xuất kinh doanh là lợi nhuận.Mục đích lợi nhuận là mục tiêu trước mắt, lâu dài và thường xuyên của hoạtđộng sản xuất kinh doanh và nó cũng là nguồn động lực của sản xuất kinhdoanh
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây với chế độ hạch toánkinh tế mang nặng tính hình thức hoạt động đã được kế hoạch trước trên cơ sởcân đối thu chi từ một trung tâm chỉ huy và giao kế hoạch chỉ tiêu cho từng đơn
vị Lãi nộp Nhà nước bù Dẫn đến tình trạng lãi giả, lỗ thật triệt tiêu động lựcsản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, kìm hãm sử phát triển của các doanhnghiệp và tăng trưởng nền kinh tế
Kể từ khi đối mới, nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường với chế độhạch toán kinh doanh đúng thực chất thì các vấn đề sản xuất kinh doanh đềuđược giải quyết thông qua thị trường Doanh nghiệp có điều kiện chủ động trongmọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao nhấttrên cơ sở khai thác các khả năng hiện có Trong điều kiện cạnh tranh gay gắtcủa nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại vàp hát triển được cầnphải tạo ra lợi nhuận Vì vậy yêu cầu đặt ra cho các doanh nghiệp trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh và phải đảm bảo có lợi nhuận và lợi nhuận cao
Xuất phát từ tầm quan trọng cũng như tính cấp bách của vấn đề lợi nhuận
và sự cần thiết phải phấn đấu tăng lợi nhuận, qua quá trình học tập tại trường
ĐH Kinh Tế Quốc Dân và thời gian thực tập tại Công ty TNHH Xây Dựng Tổng
Trang 2hợp Tiến Thành Em đã chon đề tài "Lợi nhuận và các biên pháp tăng lợi nhuận tại Công ty TNHH Xây Dựng và tổng hợp Tiến Thành" làm chuyên đề
tốt nghiệp
Do thời gian nghiên cứu, thu thập thông tin và iến thức còn hạn chế nên
Em rất mong được sự chỉ bảo của thầy cô, các cô chú ở Công ty và các bạn sinhviên để đề tài được hoàn thiện hơn Em chân thành cảm ơn cô giáo Trần ThịThanh Tú đã hướng dẫn Em hoàn thành chuyên đề này
Kết cấu đề tài gồm ba phần chính sau:
- Chương I: Những vấn đề cơ bản về lợi nhuận trong doanh nghiệp.
- Chương II: Thực trạng về lợi nhuận và biện pháp tăng lợi nhuận tại
Công ty TNHH Xây Dựng Tổng Hợp Tiến Thành.
- Chương III: Một số biện pháp nhằm tăng lợi nhuận tại Công ty
TNHH Xây Dựng Tổng Hợp Tiến Thành.
Trang 3CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LỢI NHUẬN TRONG
DOANH NGHIỆP
1.1 LỢI NHUẬN VÀ VAI TRÒ CỦA LỢI NHUẬN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm về lợi nhuận doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tiền riêng, có tài sản, có trụ sở giaodịch ổn định, được thành lập nhằm mục đích thực hiện hoạt động sản xuất kinhdoanh
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất kinhdoanh Từ góc độ doanh nghiệp thì lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản chênhlệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện các hoạtđộng sản xuất kinh doanh
Thật vậy, quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp sau mỗi
kỳ hạch toán có những khoản thu bằng tiền gọi chung là thu nhập của doanhnghiệp trông hoạt động sản xuất kinh doanh Với khoản thu nhập đó để thựchiện quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo thì doanh nghiệp phải bỏ ra nhữngphần nhất định để bù đắp cho toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh đã thụchiện Những chi phí đó là những chi phí về vật chất đã tiêu hao trong quá trìnhsản xuất và tiêu thụ sản phẩm, chi phí để trả lương cho người lao động, chi phí
để làm nghĩa vụ đối với Nhà nước Phần thu nhập còn lại sau khi bù đắp cáckhoản chi phí chính là lợi nhuận của doanh nghiệp
Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh toàn bộ hiệu quả của qúatrình kinh doanh kể từ khi bắt đầu tìm kiếm nhu cầu thị trường, chuẩn bị và tổchức qúa trình kinh doanh, đến khâu tổ chức bán hàng và giao dịch cho thịtrường Nó phản ánh cả về mặt số lượng và mặt chất của quá trình kinh doanh
1.1.2 Phương pháp xác định lợi nhuận của doanh nghiệp.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đa dạng, mỗi hoạt độngđều tạo ra lợi nhuận cho nó Do đó lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm cácphần khác nhau ứng với từng hoạt động sản xuất kinh doanh, gồm có:
Trang 4- Lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính và phụ.
Đây là khoản chênh lệch giữa doanh thu tiêu thụ và chi phí của khối lượnghàng hoá - dịch vụ và lao vụ thuộc các bộ phận Lợi nhuận này là phần cơ bảnnhất, chủ yếu nhất trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất, vì nó thườngchiếm tỷ trọng lớn nhất và có ý nghĩa quyết định đến kết quả hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp
- Lợi nhuận thu được từ các hoạt động liên doanh liên kết
Đây là phần thu được do phân chia từ kết quả của hoạt động liên doanh vớichi phí của đơn vị đã bỏ ra để tham gia liên doanh Trước đây hoạt động nàychưa phổ biến nên lợi nhuận này chưa đáng kể Nhưng trong giai đoạn hiện nay,với cơ chế kinh tế mới sản xuất gắn với thị trường, các doanh nghiệp có quyền
tự chủ trong kinh doanh, hoạt động này có xu hướng ngày càng phát triển Do đónguồn này càng góp phần đáng kể trong tổng lợi nhuận của donah nghiệp
- Lợi nhuận thu được do các nghiệp vụ tài chính.
Đây là chênh lệch giữa các khoản thu và chi có tính chất nghiệp vụ tàichính trong qúa trình hoạt động sản xuất kinh doanh như: Lãi tiền gửi ngânhàng, lãi tiền cho vay khoản thu này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng lợinhuận
- Lợi nhuận do các hoạt động khác mang lại như: Thanh lý, nhượng bán tàisản cố định
Theo chế độ hạch toán doanh nghiệp ban hành tại nghị quyết1141/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ Tài chính trong cả nước kể từ ngày01/01/1996 thì lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm 3 bộ phận chính sau:
- Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh:
Là khoản chênh lệch giữa doanh thu thuần với giá vốn hàng bán, chi phíbán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp Trong đó:
Trang 5+ Doanh thu thuần hoạt động sản xuất kinh doanh là chênh lệch giữadoanh thu bán hàng với các khoản giảm trừ (chiết khấuc, giảm giá, giá trị hànghoá bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu phải nộp).
+ Chi phí bán hàng là những chi phí thực tế phát sinh trong quá trình tiêuthụ sản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ như: Chi phí vận chuyển, bốc dỡ, baogói, quảng cáo
+ Chi phí quản lý là các chi phí liên quan đến quản lý chung của doanhnghiệp bao gồm các khoản như: Chi phí kinh doanh, chi phí hành chính
- Lợi nhuận hoạt động tài chính:
Là khoản chênh lệch giữa thu nhập của hoạt động tài chính với chi phí hoạtđộng tài chính
+ Thu nhập hoạt động tài chính là khoản thu hoạt động đầu tư tài chínhhoặc kinh doanh về vốn mang lại, bao gồm:
- Lợi nhuận về hoạt động góp vốn tham gia liên doanh
- Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư, mua, bán chứng khoán ngắn hạn,dài hạn
- Lợi nhuận từ việc cho thuê tài sản
- Lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư khác
- Lợi nhuận về chênh lệch tiền gữi ngân hàng và lãi vay ngân hàng
- Lợi nhuận cho vay vốn, lợi nhuận do bán ngoại tệ
+ Chi phí hoạt động tài chính là những chi phí có liên quan đến các hoạtđộng tài chính như: chi phí liên doanh, lỗ liên doanh, giảm giá đầu tư chứngkhoán và các khoản khác
- Lợi nhuận bất thường:
Là khoản chênh lệch giữa các khoản thu nhập bất thường và chi phí bấtthường
Trang 6+ Thu nhập bất thường là khoản thu mà doanh nghiệp không dự tính đượckhông mang tính thường xuyên như: Thu và thanh lý tài sản cố định, thu về viphạm hợp đồng kinh tế, các khoản nợ khó đòi đã được sử lý
+ Chi phí bất thường là những chi phí liên quan đến hoạt động bất thườngbao gồm chi phí thanh lá nhượng bán tài sản cố định, tiến bán do vi phạm hợpđồng kinh tế, bị phạt thuế, các khoản chi do kế toán bị nhầm hay bỏ sót khi vào
sổ, truy nộp thuế
Tổng cộng ba khoản lợi nhuận trên cho ta tổng lợi nhuận trước thuế củadoanh nghiệp
1.1.3 Vai trò của lợi nhuận trong doanh nghiệp.
- Lợi nhuận là nhân tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Trong điều kiện hoạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, doanhnghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì phải đạt được lợi nhuận Nó quyếtđịnh tính độc lập, sự thành bại của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh Lợinhuận được coi là đòn bẩy kinh tế quan trọng đối với các doanh nghiệp Có thểnói rằng : sự ra đời, vânj hành và phát triển của doanh nghiệp nhằm tạo ra lợinhuận Lợi nhuận chính là điều kiện tồn tại của doanh nghiệp, là nguồn tài chínhquan trọng để các doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, đổi mớimáy móc thiết bị, công nghệ sản xuất nhằm tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu,tăng năng suất lao động, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ Từ đónâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Lợi nhuận là thước đo, là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh Qua chỉ tiêu lợi nhuận cho phép đánh giá chấtlượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ khâu cung cấp, sảnxuất, tiêu thụ sản phẩm tới thanh toán, biểu hiện cụ thể đó là: trình độ tổ chức vàquản lý lao động, trình độ huy động và sử dụng vốn cố định, vốn lưu động
Trang 7Lợi nhuận là nguồn tích luỹ quan trọng để doanh nghiệp bổ sung vốn cốđịnh, vốn lưu động tạo điều kiện mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, bởi vì
có lợi nhuận có thể trích lập các quỹ doanh nghiệp Và cũng chính từ quỹ doanhnghiệp này mà không ngừng nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên vềmọi mặt, góp phần kích thích người lao động gắn bó với doanh nghiệp, tận tâm,tận lực để thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển
- Lợi nhuận là nhân tố tạo đoàn bẩy giúp doanh nghiệp – xã hội phát triển
Vai trò đòn bẩy kinh tế còn được thể hiện thông qua quá trình hình thành,phân phối, sử dụng lợi nhuận Qua quá trình đó nó góp phần giải quyết mối quan
hệ giữa 3 lợi ích: lợi ích của người lao động, lợi ích của tập thể, lợi ích của Nhànước do đó thúc đẩy mọi người quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Lợinhuận của doanh nghiệp là một phần quan trọng của ngân sách Nhà nước dướihình thức thuế lợi tức Nếu sản xuất hàng hóa càng phát triển thì lợi nhuận củadoanh nghiệp ngày càng nhiều kéo theo nguồn thu này của ngân sách Nhà nướcngày càng tăng đáp ứng ngày càng lớn nhu cầu chi tiêu của bộ máy quản lý Nhànước, đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục và củng
cố an ninh, quốc phòng
- Lợi nhuận đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Lợi nhuận là nguồn tích luỹ quan trọng để doanh nghiệp bổ sung vốn kinhdoanh, mở rộng tái sản xuất Lợi nhuận làm tăng vốn chủ sở hữu của doanhnghiệp, tạo vững chắc cho tình hình tài chính của doanh nghiệp Đây cũng lànguồn tài chính để doanh nghiệp trích lập các quỹ như: Quỹ đầu tư phát triển,quỹ dự phòng tài chính, quỹ phúc lợi khen thưởng Lợi nhuận để lại còn lànguồn vốn trung và dài hạn góp phần giúp các doanh nghiệp nắm bắt cơ hộikinh doanh
Lợi nhuận càng cao thì việc trích lập các quỹ khen thưởng, phúc lợi cànglớn, đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ công nhân viên được quan tâmhơn, kích thích lòng nhiệt tình, hăng say làm việc của người lao động
Trang 8Lợi nhuận cao hay thấp cũng tác động tới khả năng thanh toán của doanhnghiệp Nếu doanh nghiệp có lãi thì sẽ có điều kiện hoàn trả mọi khoản nợ tớihạn, bù đắp những khoản thua lỗ của các kỳ kinh doanh trước, đồng thời việcduy trì lợi nhuận cao đều đặn, tăng dần còn giúp doanh nghiệp nâng cao độ tínnhiệm của mình khi muốn vay vốn các tổ chức tín dụng để đầu tư cho những dự
có thể đánh giá rằng công tác quản lý chi phí, giá thành của doanh nghiệp chưatốt hoặc việc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường chưa hiệu quả
Lợi nhuận đạt được cao hoặc thấp sẽ tác động trực tiếp đến khả năngthanh toán của doanh nghiệp Một doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, thuđược lợi nhuận cao thì không những có khả năng thanh toán mà còn nâng được
uy tín của mình trên thương trường góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho doanhnghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc liên doanh, liên kết hoặc cổphần hoá và ngược lại
- Lợi nhuận góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước.
Các doanh nghiệp kh tiến hành sản xuất kinh doanh đều phải thực hiệnnghĩa vụ đối với nhà nước thông qua viêc nộp thuế Các doanh nghiệp có lợinhuận càng cao thì nguồn ngân sách cũng tăng theo và ngược lại các doanh
Trang 9nghiệp trong nước làm ăn thua lỗ nhiều thì nhà nước không những không cókhoản thu vào ngân sách mà đôi khi con phải bù lỗ cho các doanh nghiệp đó.
Ở tầm vĩ mô trong nền kinh tế quốc dân, tăng lợi nhuận tạo điều kiện chonền sản xuất xã hội phát triển ngày càng mạnh mẽ, đồng thời tạo thêm nguồn thucho ngân sách nhà nước, thể hiện ở các khoản nộp thuế cho nhà nước, cũng nhưcác nghĩa vụ khác của doanh nghiệp Trên cơ sở các khoản thu này, ngân sách
có điều kiện tập trung vốn mở rộng đầu tư, thành lập đơn vị sản xuất kinhdoanh mới cũng như đầu tư phát triển các công trình phúc lợi xã hội
Tóm lại, lợi nhuận đối với sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế nói chung
và của mỗi doanh nghiệp nói riêng là hết sức quan trọng, nhất là trong nền kinh
tế thị trường có sự cạnh tranh quyết liệt như ngày nay Lợi nhuận được coi làđòn bẩy hữu hiệu không những đối với mỗi doanh nghiệp mà còn góp phần thúcđẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc dân
1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN DOANH NGHIỆP.
Trong tổng số lợi nhuận của doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm là bộ phận chủyếu chiếm tỉ trọng lớn nhất do đó việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lợinhuận về cơ bản là nghiên cứu các nhân tố đến lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm
Xuất phát từ công thức xác định lợi nhuận:
Lợi nhuận tiêu Doanh thu tiêu Giá thành của SP Thuế giánthụ trong kỳ thụ trong kỳ tiêu thụ trong kỳ thu trong kỳ
Từ công thức ta thấy lợi nhuận của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởidoanh thu tiêu thụ, giá thành sản phẩm hàng hoá, dịch vụ và các khoản thuếgián thu phải nộp trong kỳ
Doanh thu tiêu thụ là nhân tố ảnh hưởng tỉ lệ thuận với lợi nhuận Doanhthu càng lớn thì lợi nhuận càng lớn và ngược lại doanh thu càng nhỏ thì lợinhuận càng ít Giá thành và thuế là nhân tố ảnh hưởng tỷ lệ nghịch với lợinhuận Giá thành và thuế càng cao thì lợi nhuận càng thấp và ngược lại Doanh
Trang 10thu tiêu thụ và giá thành sản phẩm là các nhân tố có cấu thành phức tạp do đóbiến động cuả các nhân tố này phụ thuộc vào các bộ phận cấu thành nên chúng.
1.2.1 Nhóm nhân tố ảnh hưởng tới doanh thu của doanh nghiệp.
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá trong kỳ được xác định theo công thức:
D = ∑ (Stigi)
D: Là doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá trong kỳ
Sti: Khối lượng hàng hoá tiêu thụ trong kỳ
gi: Giá bán đơn vị sản phẩm hàng hoá
i: Loại sản phẩm hàng hoá tiêu thụ thứ i
Công thức trên cho thấy nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu tiêuthụ sản phẩm hàng hoá do đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp baogồm:
- Khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ
Trong điều kiện nhân tố khác không thay đổi, nếu khối lượng sản phẩmsản xuất và tiêu thụ tăng lên và sẽ làm tăng doanh thu tiêu thụ dẫn tới trực tiếplàm tăng lợi nhuận tiêu thụ và ngược lại nếu khối lượng sản phẩm sản xuất vàtiêu thụ giảm xuống sẽ làm giảm doanh thu tiêu thụ dẫn đến giảm lợi nhuận tiêuthụ Khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ phụ thuộc vào các yếu tố: quy môsản xuất, dây truyền công nghệ, thị trường tiêu thụ đây được coi là nhân tố ảnhhưởng chủ quan phản ánh sự cố gắng của doanh nghiệp trong công tác quản lýkinh doanh nói chung và quản lý lợi nhuận nói riêng
- Chất lượng sản phẩm tiêu thụ
Đây là yếu tốt rất quan trọng ảnh hưởng tới doanh thu nên tiêu thụ thể hiện
ở chỗ có thể thúc đẩy hay kìm hãm công tác tiêu thụ, chất lượng sản phẩm tốtkhông chỉ làm tăng khả năng tiêu thụ mà còn có thể nâng cao giá bán, ngược lạichất lượng sản phẩm xấu thì chất lượng tiêu thụ thấp dẫn đến giá bán không cao,
r
i = 1
Trang 11làm giảm doanh thu tiêu thụ của doanh nghiệp Ngoài việc là phương tiện hỗ trợbán hàng thì chất lượng sản phẩm còn là một vũ khí cạnh tranh sắc bén giữa cácđối thủ trong nền kinh tế thị trường Việc đảm bảo chất lượng sản phẩm ở mứccao sẽ tạo uy tín cho doanh nghiệp đối với khách hàng, đây là điều kiện cơ bảnbảm đảm cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
- Giá tiêu thụ sản phẩm:
Trong điều kiện các nhân tố khác thay đổi, giá bán đơn vị sản phẩm tănglên làm doanh thu và do đó tăng lợi nhuận, ngược lại giá bán đơn vị sản phẩmlàm giảm doanh thu và dẫn đến lợi nhuận giảm Tuy nhiên trong cơ chế thịtrường giá bán của sản phẩm thường được hình thành khách quan do quan hệcung cầu trên thị trường quy định Điều này có nghĩa là doanh nghiệp không thể
tự tăng giá cao hơn các mặt hàng cùng loại trên trị trường, cũng như giảm giáhơn các đối thủ Đối với các doanh nghiệp Nhà nước được Nhà nước ra chỉ tiêusản xuất tiêu thụ một số mặt hàng nào đó thì giá bán này do Nhà nước quy định.Trong trường hợp này thì giá bán biến đổi dẫn đến lợi nhuận tiêu thụ biến đổi,
nó được đánh giá là tác động khách quan đối với doanh nghiệp
- Kết cấu sản phẩm tiêu thụ:
Đối với các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm, chi phí để sản xuất
ra mỗi loại sản phẩm là khác nhau, mỗi loại sản phẩm tiêu thụ trong kỳ có mứclãi, lỗ khác nhau Do đó trong điều kiện nhân tố khác không đổi việc biến đổi cơcấu mặt hàng có thể làm tăng tỷ trọng của hàng hoá có mức lãi cao và làm giảm
tỷ trọng hàng hoá có mức lãi thấp làm tổng lợi nhuận tiêu thụ tăng hoặc có thểlàm giảm tỉ trọng hàng hoá có mức lợi nhuận cao và làm tăng tỷ trọng có mứclợi nhuận thấp kết quả là làm giảm tổng lợi nhuận tiêu thụ
Sự biến đổi kết cấu mặt hàng có thể do yếu tố chủ quan của doanh nghiệptạo ra, song cũng có dựa vào sự biến động nhu cầu của thị trường Trong trườnghợp này doanh nghiệp phải điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu đó
Trang 121.2.2 Nhóm nhân tố ảnh hưởng tới giá thành toàn bộ sản phẩm.
- Giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá được cấu thành theo công thức:
Zt = Zcx + QL + B
Zt: giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trong kỳ
QL: Chi phí quản lý doanh nghiệp
B: Chi phí tiêu thụ sản phẩm
Zcx: Giá thành công xưởng sản phẩm tiêu thụ
Công thức này cho thấy ảnh hưởng để giá thành toàn bộ sản phẩm hànghoá tiêu thụ gồm có ba nhân tố:
- Giá thành công xưởng sản phẩm tiêu thụ: Là biểu hiện bằng tiền của nhữngkhoản chi phí sản xuất được tính vào giá thành của từng mặt hàng bao gồm:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là các chi phí về nguyên vật liệu,nhiên liệu và động lực dùng trực tiếp cho sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp.+ Chi phí nhân công trực tiếp: Là tiền lương thù lao phải trả cho số laođộng trực tiếp chế tạo sản phẩm cùng các khoản trích cho các quỹ BHXH,BHYT, chi phí công đoàn theo tỷ lệ quy định phân tích vào chi phí kinh doanh.+ Chi phí sản xuất chung: Là các chi phí phát sinh trong phạm vi phânxưởng, bộ phận sản xuất trừ chi phí vật liệu và chi phí nhân công trực tiếp Baogồm: điện cho phân xưởng, khấu hao máy móc
Chi phí công xưởng của sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận thuđược của doanh nghiệp vì giá thành công xưởng quyết định giá bán của sảnphẩm Một sản phẩm sản xuất ra nếu phải tiêu hao nhiều chi phí công xưởng thìgiá thành sản phẩm đó sẽ cao dẫn đến việc tiêu thụ sản phẩm trở nên hó khăn, từ
đó làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Để thu được lợi nhuận cao đòi hỏidanh nghiệp phải sử dụng một cách hiệu quả nhất chi phí công xưởng, doanhnghiệp cần có những hoạch định, định mức tiêu hao chi phí công xưởng chotừng loại sản phẩm cụ thể, tránh sử dụng lãng phí chi phí đó như: lãng phí
Trang 13nguyên vật liệu, công nhân làm không hiệu quả và giảm thiểu các chi phí chungcho phân xưởng Có như vậy doanh nghiệp mới tiết kiệm được chi phí, hạ giáthành sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh, bán được nhiều hàng hơn và thu đượcnhiều lợi nhuận về cho doanh nghiệp.
- Chi phí tiêu thụ sản phẩm: Chi phí bán hàng là khoản chi phí mà doanhnghiệp phải bỏ ra để phục vụ cho việc tiêu thụ sản phẩm Nó tác động ngượcchiều đến lợi nhuận của doanh nghiệp Chi phí bán hàng liên quan đến cáckhoản chi phí về nghiên cứu thị trường, dự trữ, quảng cáo, bán hàng, chi phídịch vụ và bảo quản hàng hoá Chi phí quảng cáo thường chiếm phần lớn trongtổng chi phí bán hàng của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp tiêu thụ sảnphẩm thuận lợi hơn
Bán hàng là một khâu quan trọng trong việc tiêu thụ sản phẩm đem về lợinhuận cho doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp có mạng lưới tiêu thụ sản phẩm tốt,đội ngũ bán hàng nhiệt tình, năng nỗ thì lượng sản phẩm bán được sẽ nhiều hơn,đem lại lợi nhuận lớn cho doanh nghiệp Ngày nay nhiều dịch vụ chăm sóckhách hàng tận tình đòi hỏi doanh nghiệp phải bỏ ra nhiều chi phí để làm tốtkhâu bán hàng, chi cho các dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng để có thểlàm hài lòng khách hàng doanh nghiệp cũng cần chú ý đến những khâu, những
bộ phận không làm tốt khâu bán hàng từ đó điều chỉnh hay loại bỏ khâu, bộphận đó làm giảm đi chi phí của việc tiêu thụ sản phẩm Vì vậy quản lý tốt khâubán hàng sẽ giúp doanh nghiệp có lợi nhuận cao và đạt hiệu quả trong kinhdoanh
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là các chi phí quản lý kinh doanh, quản lýhành chính và các chi phí chung khác có liên quan đến hoạt động của toàn doanhnghiệp như: tiền lương và phụ cấp cho nhân viên quản lý các phòng ban, lãi vayvốn kinh doanh, chi phí tiếp tân
Một bộ máy quản lý cồng kềnh sẽ dẫn đến việc các phòng ban hoạt độngchồng chéo lên nhau và đôi khi các phòng ban con ỷ lại công việc cho nhau làm
Trang 14cho việc quản lý kém hiệu quả và còn làm tăg chi phí trong công tác quản lý,điều đó ảnh hưởng không tốt đến lợi nhuận của doanh nghiêp Muốn vậy cácdoanh nghiệp cần phải làm gọn nhẹ bộ máy quản lý mà vẫn đảm bảo hoàn thànhtốt nhiệm vụ thì doanh nghiệp đó mới có thể hoạt động hiệu quả cao
1.2.3 Chính sách huy động vốn của doanh nghiệp
Đối với tất cả các công ty là làm thế nào để có thể huy động nguồn vốnđược một cách có hiệu quả tối ưu nhất, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh
Bên cạnh đó để đầu tư các cơ sở vật chất trang thiết bị đảm bảo cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh, cần có một khối lượng về vốn rất lớn Chính vì vậycông ty đã có những chiến lược về vốn để đảm bảo có nguồn vốn đủ mạnh đápứng các yêu cầu trên đó là :
- Nguồn vốn bên trong: Công ty có thể sử dụng lợi nhuận được trích lậpvào các quỹ (quỹ đầu tư phát triển) hoặc công ty có thể dùng số tiền trích khấuhao tài sản cố định được nhà nước cho phép để lại cho đầu tư đổi mới tài sản cốđịnh
- Nguồn vốn bên ngoài: Khi nguồn vốn bên trong chưa đáp ứng đủ nhu cầuvốn, Công ty có thể huy động thêm vốn bên ngoài như:
+ Huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ cán bộ công nhân viên chức và trongnhân dân Để huy động được nguồn vốn này công ty cần có tỉ lệ lãi suất cao hơnlãi suất tiền gửi ngân hàng để hấp dẫn họ nhưng phải thấp hơn lãi suất tiền vayngân hàng để đảm bảo có lợi cho công ty Đây là một nguồn rất có triển vọngkhai thác với khối lượng lớn có hiệu quả cao
+ Liên doanh liên kết với các đơn vị khác Công ty có thể thực hiện liêndoanh liên kết với các doanh nghiệp trong và ngoài nước nhằm khắc phục cácnhược điểm tạm thời về máy móc thiết bị nhằm đổi mới hiện đại hoá thiết bị vàcông nghệ sản xuất, đồng thời học tập tiếp thu kinh nghiệm tổ chức quản lý hiệnđại Việc liên doanh liên kết có thể được tiến hành toàn bộ hay từng phần
Trang 15- Công ty có thể cổ phần hoá doanh nghiệp như áp dụng hình thức khuyếnkhích và bắt buộc công nhân viên của công ty mua cổ phần (chẳng hạn công ty
có thể quy định về số cổ phiếu tối thiểu mà mỗi công nhân viên phải mua) Việcbán cổ phiếu cho cán bộ công nhân viên trong công ty có nhiều ưu điểm: giảiquyết được nhu cầu về vốn của công ty; tạo ra sự ràng buộc giữa người lao độngvới công ty khi đã trở thành người chủ sở hữu thì họ sẽ có trách nhiệm hơn trongcông việc làm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng công trình vì sựthành bại của công gắn liền với quyền lợi cá nhân và lợi ích kinh tế của họ
=> Căn cứ của bộ tài chính hiện nay đó là doanh nghiệp không phải trảthuế thu nhập cho phần vốn vay và vẫn phải chịu thuế thu nhập trên phần vốncủa chủ sở hữu Nếu doanh nghiệp sử dụng nhiều vốn vay để kinh doanh thì cóthể làm giảm bớt phần thuế thu nhập phải nộp cho nhà nước nhưng thay vào đó
là việc phải trả lãi vay cho các chủ đầu tư, ngược lại doanh nghiệp sử dụnglượng lớn nguồn vốn của mình để kinh doanh thì có thể giảm khoản lãi phải trảchủ đầu tư nhưng lại phải chịu một khoản thuế thu nhập tương đối lớn trên phầnlợi nhuận thu được Điều đó đã làm cho nhiều doanh nghiệp lựa chọn cho mìnhhình thức huy động cũng như sử dụng vốn sao cho hợp lý nhất
1.3 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ LỢI NHUẬN DOANH NGHIỆP.
- Tổng mức lợi nhuận ( lợi nhuận tuyệt đối )
= - -
Trong đó tổng chi phí cố định là không có lãi vay
= - = -
= Lợi nhuận trước thuế *( 1- Thuế suất thuế thu nhập DN)
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay cho thấy mức độ thu lãi trên lượng vốn bỏ
ra kinh doanh nó chỉ cho thấy quy mô của lượng lợi nhuận thu được chứ chưaphản ánh được hiệu quả kinh doanh vì còn có các khoản chi phí chưa tách ra là
Trang 16lãi vay và thuế phải nộp Nếu doanh nghiệp phải trả một khoản lãi vay tương đốilớn hay phải nộp nhiều thuế do mặt hàng thuộc diện tiêu thụ đặc biệt sẽ làmgiảm đi một lượng lớn lợi nhuận của doanh nghiệp từ đó cho thấy doanh nghiệp
có thể làm ăn không hiệu quả
Lợi nhuận sau thuế và lãi vay là khoản phản ánh chính xác nhất kết quảkinh doanh của doanh nghiệp, độ lớn của nó cho thấy doanh nghiệp làm ăn rấthiệu quả
- Tỷ suất lợi nhuận
Có nhiều cách xác định tỷ suất lợi nhuận, mỗi cách có nội dung kinh tếkhác nhau Dưới đây là một số cách tính tỷ suất lợi nhuận
+ Tỷ suất lợi nhuận vốn (doanh lợi vốn): là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận
đạt được với số vốn sử dụng bình quân trong kỳ (gồm có vốn cố định và vốn lưuđộng hoặc vốn chủ sở hữu)
P
- Công thức tính: Tsv = ––– * 100
Vbq
- Trong đó: Tsv : Tỷ suất lợi nhuận vốn
P : Lợi nhuận trong kỳ
Vbq : Tổng số vốn sản xuất được sử dụng bình quân trong kỳ(vốn cố định và vốn lưu động hoặc vốn chủ sở hữu )
-Vốn cố định là nguyên giá tài sản cố định trừ đi số khấu hao
-Vốn lưu động gồm có: vốn dự trữ sản xuất, vốn sản phẩm dở danh, bánthành phẩm tự chế, vốn thành phẩm
Chỉ tiêu này cho thấy cứ 100 đồng tiền vốn bỏ vào đầu tư sau một năm thuđược bao nhiêu đồng lợi nhuận, nếu giá trị của tỷ suất doanh lợi càng cao và
Trang 17tăng đều qua các năm cho thấy doanh nghiệp đó hoạt động hiệu quả Chỉ tiêu tỷsuất doanh lợi cho phép đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp cóquy mô khác nhau, được dùng để so sánh doanh nghiệp mình với các doanhnghiệp khác trong ngành
Việc sử dụng tỷ suất lợi nhuận nói lên trình độ sử dụng tài sản, vật tư, tiềnvốn của doanh nghiệp, thông qua đó kích thích sử dụng vốn đạt hiệu quả caoDoanh nghiệp có thể tính được doanh lợi vốn chủ sở hữu, doanh lợi vốn đivay trên cơ sở xác định được lợi nhuận hay lợi nhuận ròng do các khoản vốn đómang lại để thấy hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp và phục vụ cho việcphân tích tài chính doanh nghiệp
+ Tỷ suất lợi nhuận giá thành: là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận tiêu thụ so
với giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hoá tiêu thụ
P
Công thức: Tsg = ––– * 100
Zt
Tsg : tỷ suất lợi nhuận giá thành
P : lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ
Zt : giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trong kỳ
Thông qua tỷ suất lợi nhuận giá thành có thể thấy rõ hiệu quả chi phí bỏvào sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong kỳ Mặc dù chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận giáthành phản ánh hiệu quả tổng hợp của hoạt động sản xuất, nhưng trong chừngmực nhất định chỉ tiêu này chưa phản ánh được đầy đủ kết quả của hoạt độngtrong các đơn vị hoạch toán kinh tế Bởi vì trong giá thành mới chỉ tính chi phínguyên vật liệu sử dụng cho sản phẩm hoàn thành chứ chưa bao gồm chi phínguyên vật liệu dự trữ, chi phí về sản xuất dở dang và bán thành phẩm
+ Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng: là một chỉ số tổng hợp phản ánh
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 18PCông thức: Tst = –––– * 100
T
Tst : tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng
P : lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ
T : doanh thu bán hàng trong kỳ
Chỉ tiêu này cho thấy cứ 100 đồng doanh thu thì có bao nhiêu đồng lợinhuận Nếu tỷ suất này thấp hơn tỷ suất chung của toàn ngành chứng tỏ doanhnghiệp bán hàng với giá thấp hoặc giá thành sản phẩm của doanh nghiệp caohơn các ngành khác Tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp phụ thuộc vào đặc thù củatừng ngành sản xuất và phương hướng sản xuất kinh doanh của từng ngành
- Tỷ suất thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (Doanh lợi vốn chủ sở hữu): ROE.
TNST
VCSHChỉ tiêu doanh lợi vốn chủ sở hữu được xác định bằng cách chia thu nhậpsau thuế cho vốn chủ sở hữu Nó phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu
và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vàodoanh nghiệp Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là một mục tiêu quan trọngnhất trong hoạt động quản lý tài chính của doanh nghiệp Một doanh nghiệpđược gọi là ổn định nếu tỷ suất doanh lợi vốn chủ sở hữu luôn tăng qua các năm
và mức đạt được của nó phải ngang bằng với mức doanh lợi của ngành trên thịtrường Chúng ta cũng cần tìm hiểu ra những nguyên nhân làm giảm mức doanhlợi vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp và từ đó tìm cách khắc phục để nâng caomức doanh lợi đó của doanh nghiệp lên
- Doanh lợi tài sản: ROA
Trang 19TS TS
Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lời củamột đồng vốn đầu tư tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp đượcphân tích và phạm vi so sánh mà người ta lựa chọn thu nhập trước thuế và lãivay hoặc thu nhập sau thuế để so sánh với tổng tài sản Tương tự như tỷ suấtdoanh lợi của vốn chủ sở hữu mức doanh lợi của tài sản cho thấy mức độ hiệuquả của việc sử dụng tài sản trong doanh nghiệp, các nhà đầu tư sẽ căn cứ vào
đó để xem họ có nên đầu tư vào công ty này hay không, đầu tư với lượng vốnbao nhiêu thì hiệu quả Để chỉ tiêu ROA luôn ở mức cao đòi hỏi doanh nghiệpphải sử dụng thật tốt tổng tài sản của mình và tổ chức tốt công tác tiêu thụ sảnphẩm
Trang 20CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ LỢI NHUẬN VÀ BIỆN PHÁP TĂNG LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG TỔNG HỢP
TIẾN THÀNH.
2.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY.
2.1.1 Thông tin chung về Công ty TNHH Xây Dựng Tổng Hợp Tiến Thành.
Công ty TNHH Xây dựng Tổng hợp Tiến Thành được thành lập ngày 01
tháng 01 năm 1995 theo Quyết định số 0102021165 của Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố Hà Nội
- Trụ sở chính của Công ty:
Tổ 4 – Kim Quan – Phường Việt Hưng – Quận Long Biên - Hà Nội
Điện thoại: 04-8773047
Tài khoản: 224562832 tại NH Công thương Quận Chương Dương
Công ty TNHH Xây dựng Tổng hợp Tiến Thành được thành lập khi nềnkinh tế nước ta đang có những chuyển biến tích cực trong công cuộc phát triểnkinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Công ty được thành lập bởi các chuyêngia giàu kinh nghiệm, có chứng chỉ hành nghề lâu năm xây dựng các công trình
- Ngành nghề kinh doanh chính:
- Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, cơ
sở hạ tầng, đường dây và trạm điện đến 35KV
- San lấp mặt bằng
- Xây dựng và lắp đặt công trình điện, điện tử, điện lạnh, công trình cấpthoát nước, lắp đặt nước
- Gia công nhà kết cấu thép, mái tôn, cửa sắt, cửa nhôm kính, cửa gỗ
- Mua bán vật liệu xây dựng, sơn các loại, thiết bị vệ sinh, thiết bị vật tưngành điện, nước, điện tử, điện lạnh, điện gai dụng, máy móc, thiết bị ngànhxây dựng
- Sản xuất, gia công, mua bán các sản phẩm ngành cơ khí, nhôm, kính, sắt,tôn tấm, tôn lợp, đồ gỗ
- Trang trí nội nghoại thất
Trang 21- Dịch vụ vận tải hàng hoá.
- Đại lý mua bán, ký gửi hàng hoá
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Xây Dựng Tổng Hợp Tiến Thành.
Công ty được thành lập theo quyết định số 266/QĐ-QP
Công ty TNHH Xây Dựng Tổng Hợp Tiến Thành là một doanh nghiệp tựchủ trong nền kinh tế, hoạt động theo theo cơ chế thị trường, thực hiện hạchtoán độc lập Là một pháp nhân kinh tế, công ty được sử dụng con dấu riêng vàđược mở tài khoản tại ngân hàng theo quy định hiện hành cuả nhà nước Công tyTNHH Xây Dựng Tổng Hợp Tiến Thành đã tham gia đấu thầu và xây dựngnhiều công trình trong cả nước như xây dựng các công trình xây dựng dân dụng,giao thông, thuỷ lợi đảm bảo chất lượng kỹ, mỹ thuật tốt được các chủ đầu tưđánh giá cao là lực lượng xây dựng chuyên ngành
Công ty có nhiệm vụ phải bảo toàn và phát triển vốn được giao, khai thác
và sử dụng các nguồn vốn có hiệu quả theo đúng chế độ tài chính của doanhnghiệp Thực hiện hân phối theo lao động, bảo vệ sản xuất kinh doanh, bảo vệmôi trường không ngừng nâng cao chất lượng láo động, tăng chất lượng, hạ giáthành sản phẩm, hoàn thành các nhiệm vụ và nghĩa vụ của nhà nước giao
Hiện nay, công ty chủ yếu là đấu thầu các công trình xây dựng cơ bản vàtham gia buôn bán các vật liêu trong nghành Công ty đang từng bước huy độngvốn để đầu tư tài sản, máy móc thiết bị, tham gia đấu thầu dự tính đến ngoàinăm 2010 đưa tổng tài sản cố định lên trên 10 tỷ đồng
Mặc dù là một doanh nghiệp còn non trẻ hoạt động trong nền kinh tế cònnhiều khó khăn và không ổn định, với sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanhnghiệp trong nghành xây dựng, song với nỗ lực của mình, công ty đã từngbước tìm kiếm và mở rông thị trường ngày càng khẳng định được vị trí củamình, ta có thể xét một số chỉ tiêu chung qua ba năm
Trang 22Biểu1: Tình hình sản xuất kinh doanh từ năm 2003 - 2005
Đơn vị : VNĐ
1 Vốn sản xuất kinh doanh
- Vốn cố định
- Vốn lưu động
5.169.757.395 979.136.981 4.190.620.414
4.441.611.016 875.817.295 3.565.793.721
2 Doanh thu 10.552.190.476 14.442.750.514 20.296.585.958
3 Lợi nhuận 257.390.332 247.288.793 287.755.914
4 Nộp ngân sách nhà nước 121.124.862 96.167.864 111.905.078
Nguồn : Tổng hợp báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty
Nhìn vào bản báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty TNHH xây dựngtổng hợp Tiến Thành trong 3 năm gần đây ta thấy Doanh thu năm sau đều tănghơn so với năm trước, năm 2003 là 10, 5 tỷ , năm 2004 là 14, 4 tỷ , năm 2005 là
20, 2 tỷ Tuy nhiên nhìn vào lợi nhuận ta lại thấy sự tăng là không đáng kể,thậm chí năm 2004 còn giảm so với năm 2005, vậy nguyên nhân này từ đâu, cáccon số của tình hình tài chính tại Công ty TNHH xây dựng tổng hợp Tiến Thành
có nói lên điều gì
2.1.3 Đặc điểm và chức năng các phòng ban trong tổ chức bộ máy của Công ty.
- Cơ cấu tổ chức của Công ty.
Do đặc thù của ngành xây dựng là sản xuất theo đơn hàng, chỉ khi doanhnghiệp nhận được đơn hàng hoặc tham gia đấu thầu được đơn hàng mới tổ chứcsản xuất và nơi sản xuất cũng như sản phẩm sản xuất phải làm theo đơn hàng, dovậy việc bố trí lao động trong Công ty cũng có những thay đổi linh hoạt nhấtđịnh
Công ty đã có nhiều thay đổi về bộ máy quản lý doanh nghiệp qua các thời
kỳ song cho tới nay để bắt kịp với quy mô sản xuất và quản lý mới đem lại hiệu
Trang 23quả cao trong sản xuất và kinh doanh trong cơ chế thị trường, Công ty đã đưa ra
mô hình tổ chức theo cơ cấu trực tuyến chức năng như sau:
Sơ đồ: Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty
Qua sơ đồ ta thấy các phòng ban có sự liên quan chặt chẽ và luôn có sựgiám sát từ trên xuống dưới Nó giúp Công ty luôn đảm bảo thông tin chính xác
và cập nhật từ dưới lên trên
- Chức năng các phòng ban trong Công ty
- Giám đốc là người chịu trách nhiệm chỉ huy các phòng trong công ty,điều hành mọi hoạt động của Công ty và chịu trách nhiệm trước pháp luật vềmọi hoạt động của Công ty
- Phó giám đốc: Trực tiếp giúp giám đốc trong công tác đầu tư phát triển,công tác quản lý kỹ thuật, công tác quản lý trang thiết bị và đầu tư kỹ thuật
- Phòng kế hoạch: Lập báo cáo kế hoạch sản xuất linh doanh theo quyđịnh.Chủ trì dự thảo kiểm tra các hợp đồng kinh tế, nghiệm thu thanh toán cáchợp đồng để trình giám đốc ký Tổ chức theo dõi đôn đốc thực hiện các hợpđồng kinh tế theo tiến độ ký kết
Phòng
kỹ thuật
Phòng tài chính kế toán
Các đội thi công xây dựng Cửa hàng vật liệu xây dựng
Trang 24- Phòng kỹ thuật: Trực tiếp thống kê toàn bộ tài liệu khảo sát, thiết kế, thicông do công ty thực hiện Biên soạn quy chế quản lý kỹ thuật cho toàn Công ty.Phụ trách và chịu trách nhiệm lập dự toán, quyết toán các công trình, được trựctiếp nhận các hợp đồng làm thầu.
- Phòng tổ chức hành chính: Theo dõi về nhân sự toàn Công ty về số lượng
về tiền lương và chế độ cho nguời lao động Thực hiện chức năng về quản trịhành chính văn phòng Công ty, theo dõi quản lý các văn bản giấy tờ, công văn
đi đến và các công việc quan hệ đối nội đối ngoại
- Phòng kế toán tài chính: Lập kế hoạch tài chính phục vụ cho kế hoạchsản xuất kinh doanh và báo cáo quyết toán theo quy định Thực hiện quản lýgiám sát các hạch toán của các đội thi công và của hàng vật liệu Xây dựng vàquản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn sản xuất kinh doanh
- Các đội thi công: Trực tiếp thi công các công trình theo đúng thiết kế, dựtoán, đảm bảo chất lượng và mỹ thuật của công trình Tổ chức đội về nhân sựgồm có: Đội trưởng, kế toán, kỹ thuật, công nhân
- Cửa hàng vật liệu: Kinh doanh vật liệu xây dựng, vật liệu nghành điệnnước Gồm có của hàng trưởng và các nhân viên
2.2 MỘT SỐ ĐẶC THÙ CỦA NGÀNH XÂY DỰNG LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY.
Do chức năng chính là tổ chứ nhận thầu và thi công xây lắp nên sản phẩmcủa công ty là các công trình và hạng mục công trình Các sản phẩm này mangđiểm riêng, thể hiện:
- Tính cố định: Nơi sản xuất sản phẩm đông thời là nơi đưa sản phẩm vào
Trang 25- Mang tính chất tổng hợp, gồm nhiều mặt: kinh tế, chính trị, kĩ thuật, mỹthuật, quy hoạch Đặc điểm này gây khó khăn cho công ty
- Quá trình sản xuất sản phẩm bị lưu động, phụ thuộc vào địa điểm xâydựng
- Tổ chức quản lí và sản xuất luân biến động, thay đổi thêo các giai đoạnxây dựng, theo trình tự của quy tình xây dựng
- Do loại hình sản xuất đơn chiếc theo đơn đặt hàng nên chi phí thườnglớn, tiến trình yêu cầu nghiêm ngặt
- Thời gian thi công dài, chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường xung quanhnên độ rủi ro cao, mặt khác ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn, ngân sách, yêu cầucao về điều động phối hợp các hoạt động nhằm thực hiện đúng thời gian
- Quá trình sản xuất trong xây dựng được tổ chức ngoài trời nên chịu ảnhhưởng của các yếu tố tự nhiên
- Do đặc điểm riêng biệt của nghành và của sản phẩm xây lắp nên quytrình sản xuất sản phẩm là liên tục phức tạp và trải qiua nhiều giai đoạn khácnhau Tuy mỗi công trình đề có thiết kế, dự toán riêng, thi công ở địa điểmkhác, và quy trình sản xuất chung là:
- Giai đoạn khảo sát thiết kế
- Giai đoạn san nền giải phóng mặt bằng
- Giai đoạn thi công theo sơ đồ đã được duyệt
2.3 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH, LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY.
2.3.1 Những thuận lợi và khó khăn.
Kể từ khi htành lập và phát triển đến nay, công ty đã gặp không ít khókhăn nhưng bằng sự năng động, sáng tạo, công ty đã từng bước khắc phục khókhăn, khẳng định vị thế cùa mình trên cơ sở khai thác những tiềm năng hiện có.Năm 2005, bên cạnh những thận lợi, công ty đã gặp không ít những khó khăn
Trang 26nảy sinh Các nhân tố này đã tác động đáng kể đến kết quả sản xuất kinh doanhcũng như lợi nhuận của công ty
* Những thuận lợi:
- Thứ nhất, uy tín về mặt chất lượng, giá cả, tiến độ thi công:
Qua các công trình xây dựng hoàn thành trước đó trong quá trình hoạtđộng sản xuất kinh doanh của mình, công ty đã tạo được uy tín đối với các chủđầu tư với khách hàng về chất lượng cao của công trình, với giá thành hạ và bàngiao đúng tiiến độ Đây là một dạng tài sản vô hình mà doanh nghiệp có thể khaithác cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện, tạo thuận lợi chodoanh nghiệp cũng như trong quá trình đấu thầu, tìm kiếm khách hàng
- Năng lực vốn, thiết bị, kinh nghiệm và nhân lực với quy mô tương đốilớn về vốn cho phép doanh nghiệp có khả năng tham gia đấu thâù và xây dựngcác công trình lớn, trung bình cũng như liên kết với các đơn vị bạn để xây dựngcác công trình lớn, công trình mang tính quốc tế Cùng với khối lượng trangthiết bị máy móc hùng hậu và đọi ngũ cán bọ coa trình đọ chuyên môn cao, cónăng lực quản lí, có trách nhiệm và tâm huyết cho phép công ty xây dựng cáccông trình với hiệu quả cao
- Mặt khác do những địa điểm hoạt động phân tán nên lực lượng lao độngtrực tiếp được tuyển chọn từ những công nhân có tay nghề cao phù hợp với đặcđiểm sản xuất của từng công trình
- Thứ hai, Nguồn cung cấp nguyên vật liệu:
Cùng với sự mở cửa của nên kinh tế, các hoạt động kiên doanh, liên kếtngày càng mở rộng, nhiều nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng được thành lập và
đi vào cung ứng lượng nguyên vật kiệu xây dựng dồi dào trên thị trường với cáctiêu chuẩn cao và giá thành hạ Điều này là thuận lợi cho doanh nghiệp trongquá trình cung ứng vật tư cho quá trình sản xuất kinh doanh Mật khác công tycòn có các tổ đội sản xuất nguyên vật liệu tạo ra nguồn cung ứng nguyên vật liệu