Nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ hiện nay (LÀ tiến sĩ)Nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ hiện nay (LÀ tiến sĩ)Nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ hiện nay (LÀ tiến sĩ)Nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ hiện nay (LÀ tiến sĩ)Nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ hiện nay (LÀ tiến sĩ)Nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ hiện nay (LÀ tiến sĩ)Nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ hiện nay (LÀ tiến sĩ)Nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ hiện nay (LÀ tiến sĩ)Nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ hiện nay (LÀ tiến sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LÊ THỊ HỒNG KHUYÊN
NGUY£N T¾C TÝNH THùC TIÔN TRONG D¹Y HäC M¤N NH÷NG NGUY£N Lý C¥ B¶N CñA CHñ NGHÜA M¸C - L£NIN PHÇN KINH TÕ CHÝNH TRÞ ë TR¦êNG §¹I HäC, CAO §¼NG HIÖN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn GDCT
Mã số: 62.14.01.11
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Mai Phương
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả được nêu trong luận án là trung thực và chưa
từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả
Lê Thị Hồng Khuyên
Trang 3MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined.
1 Tính cấp thiết của đề tài Error! Bookmark not defined.
2 Mục đích nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
3 Nhiệm vụ nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
5 Giả thuyết khoa học Error! Bookmark not defined.
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined.
7 Những luận điểm cần bảo vệ Error! Bookmark not defined.
8 Những điểm đóng góp mới của luận án Error! Bookmark not defined.
9 Kết cấu của luận án Error! Bookmark not defined Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ
NGUYÊN TẮC TÍNH THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN NHỮNG
NGUYÊN LÍ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN PHẦN KINH
TẾ CHÍNH TRỊ Error! Bookmark not defined 1.1 Nghiên cứu về nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy họcError! Bookmark not defined.
1.2 Nghiên cứu về nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn Những nguyên lí cơ
bản của chủ nghĩa Mác - Lênin phần KTCT Error! Bookmark not defined.
1.3 Đánh giá kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những nội dung
luận án tiếp tục làm rõ Error! Bookmark not defined 1.3.1 Những kết quả đạt được trong các nghiên cứu Error! Bookmark not defined 1.3.2 Những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục nghiên cứuError! Bookmark not defined Kết luận chương 1 Error! Bookmark not defined.Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN
DỤNG NGUYÊN TẮC TÍNH THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC
MÔN NHỮNG NGUYÊN LÍ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC -
LÊNIN PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO
ĐẲNG HIỆN NAY Error! Bookmark not defined.
Trang 4nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin phần Kinh tế chính trị ở trường đại học,
cao đẳng hiện nay Error! Bookmark not defined 2.1.1 Nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học Error! Bookmark not defined.
2.1.2 Đặc điểm dạy học môn Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và vai trò của vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học bộ môn ở
trường đại học, cao đẳng hiện nay Error! Bookmark not defined.
2.1.3 Nội dung vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin phần Kinh tế chính trị ở trường ĐH,
CĐ hiện nay Error! Bookmark not defined.
2.1.4 Những nhân tố tác động đến việc vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin phần Kinh tế
chính trị ở trường đại học, cao đẳng hiện nay Error! Bookmark not defined.
2.2 Cơ sở thực tiễn vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin phần Kinh tế chính trị ở trường đại học,
cao đẳng hiện nay Error! Bookmark not defined.
2.2.1 Thực trạng vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin phần Kinh tế chính trị ở trường đại
học, cao đẳng hiện nay Error! Bookmark not defined.
2.2.2 Đánh giá chung thực trạng vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin phần Kinh tế chính trị ở
trường đại học, cao đẳng hiện nay Error! Bookmark not defined Kết luận chương 2 Error! Bookmark not defined Chương 3: YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP VẬN DỤNG HIỆU QUẢ NGUYÊN TẮC TÍNH THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN NHỮNG NGUYÊN LÍ
CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG HIỆN NAY Error! Bookmark not defined.
3.1 Yêu cầu vận dụng hiệu quả nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin phần Kinh tế chính trị ở trường đại học,
cao đẳng hiện nay Error! Bookmark not defined.
Trang 53.1.2 Lựa chọn PPDH, hình thức tổ chức dạy học phải phát huy tính tích cực,
chủ động học tập của người học Error! Bookmark not defined.
3.1.3 Đảm bảo tăng cường hoạt động trải nghiệm cho người họcError! Bookmark not defined.
3.1.4 Đảm bảo định hướng phát triển năng lực người họcError! Bookmark not defined.
3.2 Biện pháp vận dụng hiệu quả nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn
Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin phần Kinh tế chính trị ở trường
đại học, cao đẳng hiện nay Error! Bookmark not defined.
3.2.1 Chuẩn bị chất liệu thực tiễn cho bài giảng Error! Bookmark not defined.
3.2.2 Sử dụng linh hoạt phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực
thực tiễn cho người học Error! Bookmark not defined.
3.2.3 Tổ chức hoạt động trải nghiệm thực tiễn theo chủ đềError! Bookmark not defined.
3.2.4 Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viênError! Bookmark not defined.
Kết luận chương 3 Error! Bookmark not defined.
Chương 4: THỰC NGHIỆM CÁC BIỆN PHÁP SƯ PHẠM VẬN DỤNG
NGUYÊN TẮC TÍNH THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN NHỮNG
NGUYÊN LÍ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN PHẦN KINH TẾ
CHÍNH TRỊ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG HIỆN NAYError! Bookmark not defined.
4.1 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm Error! Bookmark not defined.
4.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm Error! Bookmark not defined.
4.1.2 Đối tượng thực nghiệm Error! Bookmark not defined.
4.1.3 Giảng viên thực nghiệm sư phạm Error! Bookmark not defined.
4.1.4 Nội dung thực nghiệm sư phạm Error! Bookmark not defined.
4.2 Tổ chức thực nghiệm sư phạm Error! Bookmark not defined.
4.2.1 Phương pháp thực nghiệm sư phạm Error! Bookmark not defined.
4.2.2 Quá trình chuẩn bị thực nghiệm sư phạm Error! Bookmark not defined.
4.2.2 Chọn đối tượng thực nghiệm và đối chứng Error! Bookmark not defined.
4.2.3 Chuẩn bị các điều kiện để thực nghiệm Error! Bookmark not defined.
4.2.4 Phương pháp xử lí kết quả thực nghiệm Error! Bookmark not defined.
Trang 64.3.1 Giai đoạn 1: Thực nghiệm thăm dò Error! Bookmark not defined.
4.3.2 Giai đoạn 2: Thực nghiệm đối chứng Error! Bookmark not defined.
4.3.3 Đánh giá chung kết quả thực nghiệm sư phạm Error! Bookmark not defined.
Kết luận chương 4 Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐError! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined
PHỤ LỤC
Trang 7Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ
CĐSPTƯ Cao đẳng Sư phạm Trung ương
ĐHSP TP.HCM Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
GD và ĐT Giáo dục và Đào tạo
Trang 8Bảng 2.1: Mức độ chuẩn bị chất liệu thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của
CNMLN phần KTCT để vận dụng nguyên tắc tính thực tiễnError! Bookmark not defined.
Bảng 2.2: Mức độ GV thực hiện các bước chuẩn bị thiết kế bài giảng môn
NNLCB của CNMLN phần KTCT để vận dụng nguyên tắc tính
thực tiễn Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.3: Mức độ GV thực hiện nội dung nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy
học môn NNLCB của CNMLN phần KTCTError! Bookmark not defined.
Bảng 2.4: Mức độ GV sử dụng PPDH để vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn
trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCTError! Bookmark not defined.
Bảng 2.5: Ý kiến của SV về mức độ GV sử dụng PPDH để vận dụng nguyên
tắc tính thực tiễn trong dạy học bộ môn Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.6: Mức độ sử dụng bài tập để vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn trong
dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCTError! Bookmark not defined.
Bảng 2.7: Mức độ sử dụng phương pháp học tập khi vận dụng nguyên tắc tính
thực tiễn trong môn NNLCB của CNMLN phần KTCTError! Bookmark not defined.
Bảng 3.1: Các kĩ năng học tập phát triển khi sử dụng PPDH tích cựcError! Bookmark not defined.
Bảng 3.2: Một số chủ đề dạy học đề cao tính thực tiễnError! Bookmark not defined.
Bảng 4.1: Tên trường, lớp, GV dạy thực nghiệm sư phạmError! Bookmark not defined.
Bảng 4.2: Nội dung kiến thức dạy thực nghiệm Error! Bookmark not defined.
Bảng 4.3: Bảng tiêu chí Cohen Error! Bookmark not defined.
Bảng 4.4: Kết quả kiểm tra đầu vào của nhóm lớp TN và ĐCError! Bookmark not defined.
Bảng 4.5: Phân loại điểm số sau thực nghiệm của lớp TN và ĐCError! Bookmark not defined.
Bảng 4.6: Kết quả thực nghiệm giáo án 1 của lớp TN và ĐCError! Bookmark not defined.
Bảng 4.7: Phân loại điểm số sau thực nghiệm giáo án 1 của lớp TN và ĐCError! Bookmark not defined.
Bảng 4.8: Các tham số đặc trưng của bài kiểm tra sau khi TN giáo án 1Error! Bookmark not defined.
Bảng 4.9: Kết quả thực nghiệm giáo án 2 của lớp TN và ĐC Kết quả phân
loại điểm học tập của lớp nhóm lớp TN cao hơn rõ rệt nhóm lớp
ĐC và được thể hiện ở bảng tính mức độ % sau:Error! Bookmark not defined.
Trang 9Bảng 4.11: Các tham số đặc trưng của bài kiểm tra sau khi TN giáo án 2Error! Bookmark not defined.
Bảng 4.12: Kết quả thực nghiệm giáo án 3 của lớp TN và ĐCError! Bookmark not defined.
Bảng 4.13: Phân loại điểm số sau khi dạy thực nghiệm giáo án 3 của lớp TN
và ĐC Error! Bookmark not defined.
Bảng 4.14: Các tham số đặc trưng của bài kiểm tra sau khi TN giáo án 3Error! Bookmark not defined.
Trang 10Hình 2.1: Cấu trúc các thành tố của quá trình dạy họcError! Bookmark not defined.
Biểu đồ 2.1: Nhận thức tầm quan trọng của việc vận dụng nguyên tắc tính thực
tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCTError! Bookmark not defined.
Biểu đồ 2.2: Mức độ hứng thú học tập khi được GV vận dụng nguyên tắc tính
thực tiễn trong dạy học môn NNLCBcủa CNMLN phần KTCTError! Bookmark not defined Biểu đồ 4.1: Biểu đồ tần suất (%) điểm số đầu vào của lớp TN và ĐCError! Bookmark not defined.
Biểu đồ 4.2: Biểu đồ tần suất (%) điểm số thực nghiệm giáo án 1 của lớp
TN và ĐC Error! Bookmark not defined.
Biểu đồ 4.3: Biểu đồ tần suất (%) điểm số TN giáo án 2 của lớp TN và ĐCError! Bookmark not defined.
Biểu đồ 4.4: Biểu đồ tần suất (%) điểm số thực nghiệm giáo án 3 của lớp
TN và ĐC Error! Bookmark not defined.
Biểu đồ 4.5: Tổng hợp kết quả thực nghiệm của lớp TN và lớp ĐCError! Bookmark not defined.
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân của con người Học thuyết về nhận thức luận của CNMLN đã chỉ rõ đảm bảo tính thực tiễn là nguyên tắc cơ bản trong mọi hoạt động của con người Thực tiễn luôn là điểm xuất phát, là cơ sở, mục đích, động lực của nhận thức và cũng là tiêu chuẩn của chân lí
Dạy học là dạng hoạt động thực tiễn đặc biệt, ở đó hoạt động của thầy và trò giúp cho người học nắm được các tri thức khoa học cơ bản để vận dụng vào giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tế cuộc sống Hoạt động này chỉ đạt hiệu quả khi các chủ thể của quá trình dạy học quán triệt và thực hiện đúng nguyên tắc tính thực tiễn thông qua việc đảm bảo sự thống nhất lí luận với thực tiễn, học đi đôi với hành
NNLCB của CNMLN là môn học nghiên cứu hệ thống các quan điểm và học thuyết khoa học của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin có vai trò quan trọng đối với việc hình thành và phát triển thế giới quan, phương pháp luận trong nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn của người học Học thuyết kinh tế Mác - Lênin về phương thức sản xuất TBCN là những nguyên lí KTCT được nghiên cứu, đúc kết từ thực tiễn phát triển nền sản xuất TBCN thực chất là thực tiễn hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường Tuy ra đời cách đây hơn trăm năm nhưng các học thuyết này vẫn chứa đựng nhiều giá trị khoa học, có ý nghĩa thực tiễn cao nên rất cần trang bị cho SV các trường ĐH, CĐ - lực lượng lao động chuẩn bị tham gia vào nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều biến động ở nước ta hiện nay
Thực tế dạy học môn NNLCB của CNMLN ở các trường ĐH, CĐ nước ta hiện nay cho thấy còn nhiều bất cập, hiệu quả dạy học chưa cao thể hiện ở việc nhiều SV chưa thực sự hứng thú, chưa thấy được ý nghĩa thiết thực của nội dung môn học từ đó tham gia học tập một cách chiếu lệ, đối phó Nguyên nhân căn bản dẫn đến thực trạng này xuất phát từ việc vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn học chưa được thực hiện đúng đắn, hiệu quả thể hiện trên nhiều phương diện như nội dung môn học còn mang tính “kinh viện” chưa cập nhật giải
Trang 12quyết những vấn đề thực tiễn của kinh tế đương đại, PPDH của GV bộ môn vẫn nặng về truyền thụ nội dung tri thức dập khuôn, máy móc những điều đã có trong sách vở với việc sử dụng các PPDH truyền thống, chưa chủ động tiếp cận đến các PPDH hiện đại phù hợp với thực tiễn dạy học hiện nay, thiếu những dẫn chứng thực tiễn sinh động, thiếu những hoạt động trải nghiệm thực tế cho SV
Từ đó đặt ra vấn đề cần nghiên cứu tìm ra các biện pháp nâng cao tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT góp phần khẳng định chất lượng, hiệu quả dạy học môn học này ở các trường ĐH, CĐ nước ta hiện nay
Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ hiện nay” để nghiên cứu và
viết luận án
2 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài, đề xuất các biện pháp sư phạm
vận dụng hiệu quả nguyên tắc tính thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ hiện nay
- Đánh giá thực trạng vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ hiện nay
- Đề xuất các biện pháp vận dụng hiệu quả nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN về KTCT ở trường ĐH, CĐ hiện nay
- Tổ chức TNSP để kiểm chứng tính khoa học, tính khả thi, tính hiệu quả các biện pháp đã đề xuất trong luận án
4 Khách thể, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp vận dụng hiệu quả nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học
môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ hiện nay
Trang 134.3 Phạm vi nghiên cứu
- Về lí luận: Vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học phần II môn NNLCB của CNMLN thực chất là Học thuyết kinh tế của CNMLN về phương thức sản xuất TBCN gồm Học thuyết giá trị, Học thuyết giá trị thặng dư, Học thuyết kinh
tế về CNTB độc quyền và CNTB độc quyền Nhà nước đang được giảng dạy ở các
trường ĐH, CĐ hiện nay
- Khảo sát thực tiễn: Thực trạng dạy học và tổ chức TNSP tại 5 trường ĐH,
CĐ ở nước ta hiện nay (Trường Đại học Tây Bắc, Trường ĐHSP TP.Hồ Chí Minh, Học viện YDCT Việt Nam, Trường CĐSPTƯ, Trường CĐ GTVT II TP.Đà Nẵng)
- Thời gian: Tiến hành khảo sát điều tra và TNSP từ năm 2014 đến năm 2016
5 Giả thuyết khoa học
Nếu quán triệt việc thực hiện các biện pháp sư phạm luận án đề xuất trong
dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT sẽ góp phần nâng cao chất lượng
và hiệu quả dạy học bộ môn ở trường ĐH, CĐ nước ta hiện nay
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới GD và ĐT Đề tài luận án còn căn cứ vào lí luận giáo dục, quan điểm dạy học hiện đại và PPDH bộ môn Giáo dục chính trị
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Sử dụng kết hợp các phương pháp: Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa, so sánh, diễn dịch, quy nạp, lôgic, lịch sử nhằm thực hiện nhiệm vụ của luận án
6.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Dự giờ các tiết dạy của GV (lớp TN và lớp ĐC); quan sát thái độ, sự hứng thú và tính tích cực học tập của SV trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT thông qua các buổi dự giờ, giảng dạy trên lớp
- Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu khảo sát, bảng hỏi tìm hiểu việc vận
Trang 14dụng nguyên tắc tính thực tiễn dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ nước ta hiện nay
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Sử dụng câu hỏi mở phỏng vấn sâu các nhà giáo dục; các GV có kinh nghiệm, uy tín trong giảng dạy về thực trạng dạy học bộ môn
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Sử dụng để nghiên cứu các báo cáo, bài báo, công trình khoa học , khái quát hóa kinh nghiệm của các nhà giáo dục Lấy đó làm căn cứ khoa học cho việc xây dựng các biện pháp vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Nghiên cứu, đánh giá sản phẩm học tập của SV ở trường ĐH, CĐ qua dạy học theo dự án, hoạt động trải nghiệm thực tiễn
- Phương pháp thực nghiệm: TNSP để phân tích, đánh giá, so sánh nhóm TN và nhóm ĐC thông qua tác động của TN và chứng minh giả thuyết khoa học của đề tài
6.2.3 Các phương pháp hỗ trợ
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến của một số nhà khoa
học trong xây dựng đề cương, lựa chọn phương pháp nghiên cứu, xây dựng bộ phiếu khảo sát thực trạng; đề xuất yêu cầu và xây dựng các biện pháp sư phạm
- Phương pháp nghiên cứu tác động: Sử dụng để xử lí thông tin, từ đó khẳng định biện pháp luận án đưa ra có tính khả thi và có thể áp dụng phổ biến
- Phương pháp thống kê toán học: Phương pháp này được sử dụng trong chương 3 và chương 4 để xử lí các số liệu thu được trong điều tra thực trạng và TN bằng toán thống kê và phần mềm SPSS nhằm rút ra những kết luận cần thiết
7 Những luận điểm cần bảo vệ
- Nâng cao tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT
là vấn đề mấu chốt giúp người học thấy việc học tập môn học thiết thực đối với bản thân, thêm hứng thú, tích cực tham gia học tập
- Để vận dụng có hiệu quả nguyên tắc tính thực tiễn dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT cần phải thực hiện đồng bộ các yêu cầu đã đề xuất trong luận án
- Cần chú trọng thực hiện các biện pháp sư phạm đã đề xuất trong luận án nhằm nâng cao tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT cần góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn ở trường ĐH, CĐ nước ta hiện nay
Trang 158 Những điểm đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc lí luận nguyên tắc tính thực tiễn; nội dung vận dung nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ hiện nay
- Đánh giá thực trạng nhận thức về sự cần thiết, tầm quan trọng cũng như quá trình vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học bộ môn ở trường ĐH, CĐ hiện nay
- Xây dựng qui trình và biện pháp sư phạm vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ nước
ta hiện nay
9 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục; kết cấu của luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu về nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT
Chương 2: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ hiện nay
Chương 3: Yêu cầu và biện pháp vận dụng hiệu quả nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ hiện nay
Chương 4: Tổ chức TNSP biện pháp sư phạm vận dụng hiệu quả nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH,
CĐ hiện nay
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NGUYÊN TẮC TÍNH THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN NHỮNG NGUYÊN LÍ
CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ 1.1 Nghiên cứu về nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học
Đảm bảo tính thực tiễn là vấn đề mang tính nguyên tắc trong mọi hoạt động của con người nói chung cũng như trong hoạt động dạy học nói riêng Vì vậy, đây là một vấn đề nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học thể hiện qua các công trình nghiên cứu dưới nhiều cách tiếp cận và các góc độ khác nhau
Bàn về vai trò của thực tiễn trong nhận thức, tác giả A.A.Xu - Đa trong sách
“Hướng dẫn dạy và học triết học” chỉ rõ: trong hình thức muôn vẻ hoạt động vật
chất của con người, diễn ra sự thay đổi của các đối tượng và hiện tượng của hiện thực Trong quá trình thực tiễn, con người cũng tự biến đổi mình, rút được kinh nghiệm, tri thức mới về sự vật Tác giả chỉ rõ thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lí, có vai trò to lớn trong sự nhận thức các hiện tượng xã hội Vì thế, thực tiễn trở thành nhiệm vụ quan trọng, là cơ sở, mục đích của nhận thức [129; tr.148-149]
M.A.Tác - Khốp - Va trong nghiên cứu “Lênin và vai trò của thực tiễn trong nhận thức” đã khẳng định quan điểm của Phơ Bách cho rằng tiêu chuẩn khách quan
duy nhất trong lí luận nhận thức chỉ có thể là thực tiễn Chủ nghĩa Mác thông qua thực tiễn xác nhận được tính thực tế khách quan của thế giới vật chất, tiêu chuẩn khách quan của chân lí Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lí, của những hiểu biết của chúng ta vì trước hết nó là nguồn gốc của nhận thức và là cơ sở của nhận thức Quan điểm về cuộc sống, về thực tiễn phải là quan điểm đầu tiên và chủ yếu của nhận thức luận Nguồn gốc của hoạt động nhận thức và lí luận là thực tiễn [108; tr.9-12-30]
Trong sách “Bàn về thực tiễn” tác giả Mao Trạch Đông khẳng định quan
điểm đúng đắn về thực tiễn của chủ nghĩa duy vật biện chứng: Nhận thức luận duy vật biện chứng nâng thực tiễn lên hàng đầu và cho rằng nhận thức của con người cũng không thể tách rời thực tiễn Một trong những đặc điểm của lí luận là quan hệ phụ thuộc của lí luận đối với thực tiễn, lí luận lấy thực tiễn làm nền tảng lại quay về phục vụ thực tiễn Tác giả chỉ rõ muốn xem nhận thức và lí luận có đúng chân lí
Trang 17không, căn cứ vào kết quả chủ quan của mỗi chủ thể và thực tiễn xã hội khách quan Tiêu chuẩn của chân lí chỉ có thể là thực tiễn xã hội, việc phát triển nhận thức lí tính dựa vào nhận thức cảm tính, nhận thức cảm tính phải phát triển đến nhận thức lí tính Cuốn sách chỉ ra hạn chế của bệnh lí luận suông, tác giả nêu rõ cần thống nhất giữa lí luận và thực tiễn làm một, chứng minh cơ sở thống nhất ấy phải là thực tiễn
Từ đó “thực hành sinh ra hiểu biết, hiểu biết tiến lên lí luận, lí luận lãnh đạo thực hành” [33; tr.8-39]
Trong tác phẩm của V.I.Lênin: Toàn tập, tập 29 đã chỉ rõ qui luật của quá
trình nhận thức: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường của sự nhận thức chân lí, của sự nhận thức hiện thực khách quan” và chính trong thực tiễn nhận thức lí luận của con người được hình thành và phát triển Trong đó, lí thuyết và thực tiễn là hai mặt tinh thần và vật chất của quá trình nhận thức, cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người Sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của nhận thức luận CNMLN Quán triệt tính biện chứng của tiêu chuẩn thực tiễn sẽ giúp ta tránh được những tiêu cực, sai lầm như bệnh giáo điều, bảo thủ hoặc chủ nghĩa tương đối, thái độ chủ quan, tùy tiện Vì vậy, thực tiễn là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động nhận thức của con người [70; tr.179]
Sép - Tu - Lin trong cuốn sách “Phương pháp nhận thức biện chứng” nêu rõ
hệ thống các nguyên tắc của phương pháp nhận thức biện chứng, cụ thể khi xem xét quá trình nhận thức, phải coi đối tượng là thực tại tồn tại độc lập bên ngoài và không phụ thuộc vào ý thức của chủ thể, là vật tự nó trong những điều kiện tồn tại tất yếu của nó Yêu cầu khi xem xét một đối tượng toàn diện phải bao quát về mặt lí luận tất cả các thuộc tính và liên hệ tất yếu với đối tượng đòi hỏi chủ thể nhận thức phải xem lại lí thuyết đã có về đối tượng, bổ sung những luận điểm mới làm cho nó chính xác, đầy đủ, hoàn thiện hơn [105; tr.37-57]
Tác giả Rô - Den - Tan với nghiên cứu “Bàn về phạm trù của phép biện chứng duy vật” đưa ra quan điểm: Nhận thức là một quá trình phức tạp, nó bắt đầu
bằng việc xem xét, nhận xét hiện thực một cách sinh động, trực tiếp được thực hiện trên cơ sở hoạt động thực tiễn Tư duy giúp cho hoạt động thực tiễn đạt được những
Trang 18thành công tốt đẹp nhất và đồng thời nhận được những tài liệu thực tiễn Trong sự tác động qua lại giữa tư duy và thực tiễn thì thực tiễn là cơ sở [103; tr.6]
Trong sách“Chủ nghĩa duy vật biện chứng là phương pháp khoa học để nhận thức và hoạt động thực tiễn” của tập thể tác giả trường ĐHSP Hà Nội nêu rõ
phương pháp là một hệ thống những nguyên tắc nhằm điều chỉnh hoạt động thực tiễn của con người; trong đó hoạt động nhận thức được bắt nguồn từ trong hiện thực khách quan Chính trong hoạt động thực tiễn, phương pháp con người dùng để tác động vào thực tiễn được lặp đi lặp lại nhiều lần “có tính qui luật” chuyển sang đầu
óc con người biến thành phương pháp nhận thức và hành động Do đó, phương pháp đóng vai trò đảm bảo liên kết giữa nhận thức lí luận và thực tiễn; phương pháp thực chất chính là lí luận đã được thực tiễn xác nhận và trở lại làm phương hướng nghiên cứu và hoạt động thực tiễn [111; tr.7]
Tác giả Lương Vị Hùng, Khổng Khang Hoa trong sách “Triết học giáo dục hiện đại” khẳng định: Thực tiễn chính là quá trình tác động giữa hai lực lượng vật
chất là chủ thể và khách thể Trong đó các yếu tố tiền đề cấu thành thực tiễn là chủ thể thực tiễn, đối tượng thực tiễn và biện pháp thực tiễn đều tồn tại khách quan có thể nhận biết được Tác giả chỉ rõ, thực tiễn là hoạt động năng lực vì con người là chủ thể có tư duy, tiến hành theo mục đích nhất định vào khách thể Chính vì vậy, trong hoạt động giáo dục, nguyên tắc căn bản của quan điểm thực tiễn xã hội của chủ nghĩa Mác là phải căn cứ vào đặc điểm riêng của từng hoạt động giáo dục để có phương pháp cùng với phát triển một bước với nhận thức [62; tr.19-20]
Lịch sử phát triển LLDH cho thấy nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học đã được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục bàn luận chỉ ra thực chất là thực hiện nguyên lí giáo dục là “học đi đôi với hành”, "lí luận gắn liền với thực tiễn"
Cùng hướng nghiên cứu trên, dưới góc độ lí luận giáo dục tác giả M.T.O
Grơrôtnbicôp viết trong sách “Giáo dục học” đã trình bày những vấn đề cơ bản của
LLDH và các nguyên tắc dạy học trong đó có nguyên tắc "gắn liền giảng dạy với đời sống thực tế”, tác giả nêu rõ: Nguyên tắc này có liên quan trực tiếp đến dạy học, được thực hiện gắn liền với tài liệu học tập, kết hợp tri thức, kĩ năng, kĩ xảo trong dạy học, gắn với lao động sản xuất, cần vũ trang cho người học những tri thức về
Trang 19khoa học và đời sống đúng đắn và chuẩn bị cho họ tham gia vào thực tiễn xã hội muôn hình, muôn vẻ [47; tr.26-29]
Bàn về phương thức thực hiện nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học được nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học quan tâm Trong sách “Nguyên lí về phương pháp giảng dạy” tác giả Đu - Kốp - Nư trình bày lí luận giảng dạy trong nhà trường
Xô Viết, vận dụng nguyên tắc dạy học vào giảng dạy chú ý tới kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo gây hứng thú cho người học, khắc phục lí luận tách rời với thực tiễn Dưới góc
độ LLDH, thực hiện tổ chức dạy học với kiến thức mới, sử dụng PPDH tình huống, làm việc nhóm để đạt hiệu quả dạy học cao Mặt khác, GV đảm bảo yếu tố thực tiễn cung cấp thêm bài tập gắn với hoạt động thực tiễn để người học thấy được ý nghĩa, của nội dung kiến thức được lĩnh hội trong thực tiễn cuộc sống, tạo hứng thú trong học tập [31]
Tiếp đến, cuốn sách “Phương pháp giảng dạy triết học” của tập thể tác giả
trường Đại học Mátxcơva cũng nhấn mạnh quan điểm của Lênin về con đường nhận thức biện chứng đồng thời khẳng định tính cụ thể của chân lí phải thông qua hoạt động thực tiễn của con người Từ đó đặt ra yêu cầu trong thực tiễn dạy học, người dạy phải xác định toàn diện về mục đích, nội dung, phương pháp sử dụng trong bài giảng phù hợp với người học [110; tr.107]
Cùng hướng nghiên cứu trên trong nghiên cứu về “Đối tượng, nhiệm vụ phương pháp của KTCT XHCN” của Hô -Xtơ- Phri- Đrich, Van - Phrit, Sơ - Li -
Xơ, Kê - Hác Sun đã nêu rõ quan hệ biện chứng nội dung dạy học, vai trò của thực tiễn với lí luận kinh tế là cơ sở của đường lối kinh tế [50]
Tiếp đến là nghiên cứu của các nhà giáo dục học, tác giả Đăng Vũ Hoạt
trong sách “LLDH đại học” chỉ rõ: “Người GV trong quá trình giảng dạy phải luôn
bám sát yêu cầu thực tiễn, kinh tế - xã hội và sự phát triển của khoa học công
nghệ ”[56] Hay tác giả Trần Thị Tuyết Oanh trong cuốn “Giáo dục học” đã bàn
về khái niệm nguyên tắc dạy học, hệ thống các nguyên tắc dạy học, PPDH trong đó
có nêu nguyên tắc cần đảm bảo thống nhất giữa “lí luận và thực tiễn”, “học đi đôi với hành”, “nhà trường gắn liền với đời sống” Tác giả nhận định tính thực tiễn dạy học thể hiện ở việc phải đổi mới PPDH, nghiên cứu tư liệu thực tiễn giúp người học
Trang 20nắm chắc những kiến thức lí luận đồng thời biết vận dụng vào giải quyết những tình huống khác nhau trong cuộc sống; dạy học phải kết hợp với lao động sản xuất và hoạt động công ích là điều kiện quan trọng để thực hiện nguyên tắc này [92]
Trong cuốn sách của tác giả Vương Tất Đạt về“Phương pháp giảng dạy giáo dục công dân” và “PPDH môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông” của tác giả Đinh Văn Đức, Dương Thị Thúy Nga đều khẳng định những
nguyên tắc dạy học môn học chỉ đạo toàn bộ hoạt động của thầy và trò; trên cơ sở
đó xác định nội dung, lựa chọn phương pháp đến hình thức tổ chức dạy và học môn học Các tác giả chỉ rõ nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn giáo dục công dân được phân tích cụ thể trên cơ sở lí luận và ý nghĩa của nó, yêu cầu trong bài giảng thể hiện thực tiễn gắn với tri thức lí luận môn học; trong đó có sử dụng PPDH truyền thống và các hình thức KT, ĐG tiếp cận khả năng vận dụng kiến thức, hiểu biết của người học với thực tiễn đời sống xã hội [35],[41; tr.49-59]
Tác giả Phùng Văn Bộ đã viết trong sách“Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy và nghiên cứu triết học” chỉ rõ vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn vào
giảng dạy phải thực hiện được các yêu cầu cơ bản: Xác định nội dung bài giảng, những kiến thức lí luận nào cần phải sử dụng thực tiễn để chứng minh, sử dụng loại thực tiễn nào là phù hợp; quán triệt và nắm vững đường lối, chính sách của Đảng ta qua các thời kì Tác giả nhận định, khi sử dụng PPDH hay hình thức giảng dạy nào
GV cần đáp ứng được yêu cầu nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học [7; tr.31-33]
Cuốn sách “Phương pháp dạy - học CNXH khoa học” tác giả Nguyễn Văn
Cư trình bày các nguyên tắc dạy học bộ môn CNXH phải liên hệ chặt chẽ với
nguyên tắc chung nhất của triết học và KTCT đây là các bộ phận cấu thành của CNMLN Tác giả cho rằng, nguyên tắc dạy học môn CNXH khoa học là những luận điểm cơ bản có tính qui luật của LLDH, chỉ đạo toàn bộ tiến trình dạy và học nhằm thực hiện tốt mục đích, nhiệm vụ dạy học của CNMLN nói chung và CNXH khoa học nói riêng Căn cứ vào đặc điểm môn học, tác giả nêu rõ vận dụng PPDH như phương pháp thuyết trình, thảo luận nhóm nâng cao hiệu quả trong dạy học Tác giả
đề cập đến nguyên tắc lí luận gắn liền với thực tiễn, học đi đôi với hành trong dạy học CNXH khoa học cần gắn lí luận với thực tiễn chính trị - xã hội của mỗi quốc
Trang 21gia, của thời đại sẽ khắc phục việc dạy học mang tính “lí luận suông” tăng ý nghĩa thực tiễn môn học [23; tr.44-52]
Cuốn sách “Phương pháp giảng dạy LLCT” của Ngô Văn Thạo đề cập cụ
thể nguyên lí thống nhất giữa lí luận và thực tiễn Theo tác giả, trong quá trình dạy học cần sáng tỏ nội dung: Người học phải hiểu được nội dung các lí luận và mối quan hệ giữa những lí luận này với đời sống thực tiễn xã hội; nhu cầu nhận thức của người học và mỗi mảng kiến thức cần định hướng người học liên hệ, vận dụng lí luận vào thực tiễn Tác giả khẳng định để giảng dạy môn LLCT có hiệu quả, phải kết hợp vận dụng các PPDH như PPDH truyền thống, nêu vấn đề [118]
Những nghiên cứu về nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học cho thấy đảm bảo lí luận gắn với thực tiễn tất yếu trở thành qui luật trong mọi hoạt động thực tiễn cũng như hoạt động nhận thức của con người Trên cơ sở những hình thức thực tiễn cơ bản, một số lĩnh vực của thực tiễn như hoạt động giáo dục cũng được hình thành đó là hình thức thực tiễn mang tính đặc thù Nguyên tắc tính thực tiễn được vận dụng trong dạy học các môn khoa học trong đó có kiến thức triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học là những bộ phận cấu thành của CNMLN chỉ rõ tính thực tiễn trong dạy học về yêu cầu cần phải lựa chọn nội dung, PPDH phù hợp với đối tượng dạy học, gắn lí luận bài học vận dụng vào thực tiễn Trên phương diện lí luận làm cơ sở nghiên cứu đánh giá về nguyên tắc tính thực tiễn dạy học môn KTCT Mác - Lênin mang tính hệ thống cần đảm bảo chú trọng các thành tố này; tuy nhiên các yêu cầu này còn chưa thật cụ thể, bám sát thực tiễn dạy học hiện nay
và chưa làm rõ yêu cầu gắn với đổi mới PPDH trong điều kiện dạy học hiện nay
1.2 Nghiên cứu về nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin phần KTCT
Nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT cũng nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học thể hiện trong yêu cầu phải gắn lí luận với thực tiễn đời sống, xã hội trong dạy học KTCT Mác - Lênin
Tác giả M.Rô-Den-Tan trong tác phẩm“Những vấn đề về phép biện chứng trong Bộ
Tư bản của Mác” nêu rõ để viết Bộ Tư bản, Mác căn cứ vào thực tiễn của xã hội tư
bản với biện chứng xã hội XHCN Tác giả đã dành trọn “chương V: Sư phân tích
Trang 22những khái niệm kinh tế và phạm trù kinh tế theo quan điểm duy vật biện chứng” phân tích khái niệm, phạm trù kinh tế cần gắn với hoạt động sản xuất, liên hệ với thực tiễn sản xuất tại các xí nghiệp để hiểu sâu sắc hơn phạm trù, qui luật kinh tế Theo Mác, mỗi phạm trù kinh tế nói lên quan hệ và những quá trình kinh tế khách quan mang tính biện chứng, khoa học của lí luận kinh tế Mỗi phạm trù phản ánh đời sống thực tế với tính qui luật khách quan Tính chính xác, khoa học của những phạm trù KTCT học mác xít là do ở chỗ chúng là những biểu hiện lí luận của bản thân thực tại [101; tr.302]
X.G.Lu-Cô - Nhin và V.V.Xê - Rê - Bri - An - Ni - Cốp trình bày trong sách
“Phương pháp giảng dạy các môn khoa học xã hội” việc giảng dạy cần tuân thủ sự
thống nhất giữa lí luận và thực tiễn; thể hiện khi GV biết sử dụng những ví dụ trong đời sống và hoạt động của các nhà kinh điển của CNMLN để minh họa, giúp người học dễ hiểu hơn tri thức lí luận Mặt khác, cần tăng cường áp dụng bài tập toán kinh
tế về năng suất lao động, giá trị thặng dư, tiền công, lợi nhuận của tư bản, chi phí sản xuất…cần sử dụng số liệu thực tế của các xí nghiệp trong các dạng bài tập đó để tính toán làm cho người học hứng thú, về thực chất chính là tăng cường gắn kết lí luận chứng minh qua thực tiễn sản xuất Cuốn sách đi sâu trình bày việc tổ chức dạy học dưới hình thức thâm nhập thực tế rất phong phú như tìm hiểu về quá trình sản xuất, nói chuyện với công nhân, kĩ sư, kĩ thuật viên hay nghiên cứu tài liệu kinh tế, tăng cường mối liên hệ giữa nhà trường với các xí nghiệp để buổi học đạt hiệu quả gắn kết môn học với thực tiễn Từ góc độ nghiên cứu trên, tác giả chỉ rõ để nâng cao hiệu quả giảng dạy KTCT cần phải đảm bảo thống nhất giữa lí luận và thực tiễn, mối liên hệ của khoa học với đời sống [72]
Cùng hướng nghiên cứu trên, cuốn sách“Phương pháp giảng dạy KTCT”
V.K.Đôrachiep trình bày các nguyên tắc dạy học trong nhà trường, tác giả nêu cụ thể “mối liên hệ giữa lí luận và thực hành, giữa kinh nghiệm thực tế với khoa học” chỉ ra tồn tại trong giảng dạy KTCT là vẫn còn sự tách rời việc học tập lí luận với đòi hỏi cấp bách của đời sống hay sự thiếu vốn sống, sự sáng tạo của người học Hay việc dạy “nhồi nhét” máy móc chương trình KTCT về CNTB bằng những sự
Trang 23kiện rút ra từ thực tiễn hoạt động của các xí nghiệp ngành, mối liên hệ giữa giảng dạy KTCT với đào tạo của nhà trường Tác giả nhấn mạnh, bài giảng KTCT là vũ trang lí luận KTCT Mác - Lênin cho người nghe và dạy cho người học biết áp dụng
nó vào thực tiễn; đặc biệt trong giờ xêmina về KTCT không được tách rời với thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội [32; tr.70-86]
Tập thể tác giả Trường Đại học Tổng hợp Lêningrat trong sách“Phương pháp giảng dạy KTCT ở các trường đại học” (Những cơ sở chung) trình bày hệ
thống nguyên tắc cơ bản của LLDH áp dụng vào phương pháp giảng dạy PPGD KTCT học Cuốn sách viết phương pháp giảng dạy bắt nguồn từ những nguyên tắc
“giáo học pháp” ứng dụng vào thực tiễn giảng dạy KTCT Nội dung kiến thức KTCT được tác giả đề cập là “Sự tuần hoàn và chu chuyển của tư bản”, “lợi nhuận
và giá cả sản xuất” Trên cơ sở nghiên cứu bản chất nguyên tắc dạy học KTCT, tác giả nhấn mạnh nếu bài giảng thiếu liên hệ với tính hiện đại thì không tránh khỏi dẫn tới việc giảng “kinh truyện”, xa rời thực tế đời sống; nếu thiếu sự giải thích khoa học sâu sắc không thể làm cho SV lĩnh hội, ứng dụng tài liệu ấy vào thực tiễn đúng đắn Vì vậy, người thầy phải có PPDH để khái quát hóa tài liệu thực tiễn, vạch ra được các qui luật bên trong của các quá trình kinh tế [109; tr.54-56]
M.C.Chéc - Nen - Cô, IU.I Pan - Kin nêu trong sách “Tổ chức quá trình học tập KTCT” cũng bàn đến các nội dung, yêu cầu nguyên tắc dạy học môn KTCT
hình thành cho SV hiểu biết sâu sắc lí luận của CNMLN và kĩ năng vận dụng kiến thức trong hoạt động thực tiễn sau này Theo tác giả, trong từng phần kiến thức người dạy cần tiến hành cho học viên thảo luận, liên hệ với những vấn đề phức tạp của thời đại hiện nay Tác giả cũng dành một chương bàn luận về phương pháp thông tin bổ sung cho bài giảng môn KTCT như sử dụng phương tiện dạy học hay
vô tuyến truyền hình trong giảng dạy mở ra những khả năng mới cho việc thực hiện nguyên tắc học tập liên hệ với cuộc sống; cung cấp tài liệu thực tế phong phú, thay đổi hình thức tác động vào người học hiệu quả [20; tr.110-118]
Tiếp đến A.V.Đruxkova, X.V.Sêprov trong nghiên cứu về“Phương pháp giảng dạy môn chính trị” chỉ rõ cần khai thác “tài liệu thực tế” để phục vụ cho việc
Trang 24dạy học GV bộ môn cần cập nhật, vận dụng các loại thông tin thời sự qua các kênh truyền thông hay các tác phẩm văn học và nghệ thuật chọn lựa đưa vào bài học để việc hiểu và nắm được tri thức lí luận dễ dàng hơn Mặt khác, có thể vận dụng phương pháp trực quan và nêu vấn đề trong dạy học mảng kiến thức KTCT chẳng hạn về “bản chất sự bóc lột của CNTB” hay “vấn đề độc quyền” Như vậy, nghiên cứu nhận định tăng cường sử dụng “tài liệu thực tế” trong bài giảng gắn với tri thức
lí luận nhằm nâng cao ý nghĩa của môn học trong thực tiễn [34]
Theo các tác giả trường Đại học Lêningrat trong nghiên cứu về “Phương pháp giảng dạy KTCT và triết học”(tập II) chỉ rõ dạy học lí luận Mác - Lênin cần
bảo đảm mối liên hệ với thực tế phải phù hợp với thực tiễn dạy học Trong giảng dạy KTCT việc chia bài tập về KTCT học thành những loại: Bài tập hướng SV nhận thức những công thức quan trọng của KTCT; bài tập nắm vững công thức và sự chuẩn bị lí luận sâu sắc; bài tập dạy cho SV rút ra những kết luận kinh tế đúng đắn trên cơ sở tài liệu thực tế; bài tập xác định các chỉ số Tác giả nhấn mạnh bài tập dựa trên những số liệu thực tế làm biến đổi những luận điểm lí thuyết được nghiên cứu thành những khái niệm có tính chất biểu tượng về hiện thực SV thấm nhuần ý nghĩa thực tiễn của vấn đề nghiên cứu [109; tr.12-15]
Cùng với hướng nghiên cứu trên, Ban nghiên cứu Viện Hàn lâm Liên Xô,
với tài liệu“Bài giảng về sách giáo khoa KTCT” khẳng định vận dụng nguyên tắc
dạy học phải quán triệt phương châm “lí luận kết hợp với thực tiễn” uốn nắn thái độ người học đúng đắn chống lại quan điểm sai Cuốn sách nêu rõ trong KTCT về phương thức sản xuất chủ nghĩa tư bản đều liên hệ chặt chẽ với đời sống thực tế, với tư tưởng và công tác của chúng ta Mặt khác, trong nghiên cứu nên cụ thể ý nghĩa nội dung các qui luật kinh tế (qui luật giá trị, qui luật cung cầu, qui luật lưu thông tiền tệ, qui luật cạnh tranh…) bởi các qui luật này đều xuất phát từ thực tiễn kinh tế xã hội đồng thời phải vận dụng nguyên lí KTCT vào thực tiễn đúng đắn; kết hợp nguyên lí lí luận kinh tế với chính sách của Đảng và Nhà nước [6]
Ở nước ta từ năm 2008 theo quyết định số 52/2008 của Bộ GD và ĐT môn NNLCB của CNMLN được giảng dạy ở trường ĐH, CĐ với việc tích hợp 3 mảng kiến thức trong đó có phần “Các học thuyết kinh tế của CNMLN về phương thức
Trang 25sản xuất TBCN” hay thực chất là nội dung KTCT Mác - Lênin về phương thức sản xuất TBCN Thời gian thực hiện môn học chưa dài nên những nghiên cứu cụ thể về vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn học này chưa nhiều Song những nghiên cứu về nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học KTCT ở trường ĐH,
CĐ trước đây được đề cập ở các góc độ khác nhau từ nội dung dạy học, yêu cầu và PPDH đảm bảo tính thực tiễn trong dạy học Cụ thể:
Bàn về nội dung, chương trình dạy học KTCT Mác - Lênin việc đổi mới gắn với thực tiễn nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay Tác giả
Trịnh Ân Phú trong sách “KTCT học hiện đại" nêu bật đổi mới sáng tạo trong nội
dung, kết cấu, phương pháp nghiên cứu, quan điểm mới về KTCT của CNTB và CNXH trong nước và ngoài nước Cuốn sách trình bày hệ thống kinh tế thị trường TBCN và kinh tế thị trường XHCN gồm: Phần lí luận mở đầu và phần kết, quá trình sản xuất trực tiếp, lưu thông, quá trình chung của sản xuất, quá trình kinh tế Nhà nước, quá trình kinh tế quốc tế Điểm mới tác giả loại bỏ phương pháp chia KTCT học làm 2 phần là TBCN và XHCN như trước đây; tiếp thu có chọn lọc một số lí luận kinh tế phương Tây đương đại nhấn mạnh tính khoa học, tính ổn định, tính dự báo nguyên lí, khắc phục sự kinh viện, sùng bái, bảo thủ giải phóng tư tưởng, phong cách học tập…lí luận KTCT [94; tr.7-8]
Cuốn sách“Phương pháp giảng dạy KTCT ở các trường ĐH và CĐ” của
Nguyễn Việt Dũng, Vũ Hồng Tiến, Nguyễn Văn Phúc trình bày vấn đề chung về phương pháp giảng dạy KTCT và những nguyên tắc cơ bản cần vận dụng vào quá trình giảng dạy KTCT Nghiên cứu chỉ rõ GV khi truyền đạt kiến thức môn học phải đảm bảo tính khoa học, tính chính xác cao; nội dung bài giảng phải phản ánh được những thành tựu lí luận mới nhất về KTCT gắn với thực tiễn kinh tế xã hội, đường lối, chính sách, biện pháp kinh tế của Đảng, Nhà nước Các PPDH được tác giả nêu
cụ thể trong dạy học KTCT là phương pháp thuyết trình, nêu vấn đề Tuy nhiên, ở phạm vi hẹp tài liệu chỉ đưa ra một số dẫn chứng vận dụng vào nội dung kiến thức lí luận KTCT như hàng hóa, hàng hóa sức lao động, tái sản xuất TBCN cho SV trường ĐH, CĐ Nhóm tác giả đề cập cách thức thực hiện trong từng PPDH nắm
Trang 26vững đối tượng, nhiệm vụ và mục đích học tập môn học, sử dụng nhiều PPDH, thủ thuật khác nhau như phương pháp trực quan kết hợp kể chuyện, nêu vấn đề; để tăng cường tính tích cực, năng lực người học GV chú ý công tác tổ chức và hướng dẫn tự học của SV [25; tr.43-99-213]
Cùng hướng nghiên cứu trên trong cuốn sách “Dạy học KTCT theo phương pháp tích cực” của Trần Thị Mai Phương trình bày khái quát về PPDH KTCT theo
hướng tích cực và các nguyên tắc cơ bản trong dạy học KTCT Tác giả chỉ rõ đặc điểm nội dung dạy học và ý nghĩa thực tiễn của các kiến thức KTCT mang lại cho người dạy và người học sự chủ động, tích cực gắn với thực tiễn qua mỗi đơn vị kiến thức cụ thể như sản xuất hàng hóa, sản xuất giá trị thặng dư Để thực hiện nguyên tắc dạy học, người thầy cần chủ động vận dụng các PPDH tích cực như PPDH dự
án, thảo luận nhóm, tích cực hóa phương pháp thuyết trình từ đó xác định rõ mục tiêu học tập, thiết kế các hoạt động của học trong mỗi tiết dạy, hướng dẫn tự học và kiểm tra đảm bảo tính hiệu quả Trên cơ sở đó, người thầy không chỉ truyền đạt chính xác nội dung kiến thức mà còn phải tính đến thông qua việc dạy học kiến thức đó thì giáo dục cho người học những gì mà họ cần [96; tr.20-44-129]
Tác giả Ngô Văn Lương đã viết trong sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế” chỉ rõ chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa tư tưởng khoa học của CNMLN về kinh
tế như lí luận về điạ tô của C.Mác, tiếp đến là VI.Lênin về ruộng đất phát triển nông nghiệp ở Nga, vấn đề hợp tác hóa để nâng cao năng suất lao động…Dưới góc độ lí luận kinh tế Hồ Chí Minh khái quát vấn đề cơ bản nền kinh tế Việt Nam và vận dụng
lí luận khoa học của CNLMN một cách phù hợp với điều kiện thực tế sản xuất nông nghiệp ở nước ta Về thực chất, Hồ Chí Minh đã triệt để thực hiện lí luận luôn gắn với thực tiễn của nền kinh tế đất nước ta, đảm bảo tính hiệu quả thiết thực [75; tr.6-12]
Cũng luận giải vấn đề trên, tác giả Nguyễn Duy Bắc cuốn sách“Một số vấn đề
lí luận và thực tiễn về dạy và học môn học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong trường đại học” nêu rõ: Đổi mới PPGD phải phù hợp với đối tượng, cập nhật
kiến thức mới, kiến thức hiện đại, tăng cường tổ chức các hình thức ngoại khóa đây là phương pháp bổ sung kiến thứ, chứng minh và làm phong phú, sâu sắc hơn cho bài giảng trên lớp, là những phương pháp hữu hiệu để thực hiện những nguyên tắc giáo
Trang 27dục: Kết hợp học đi đôi với hành, lí luận gắn với thực tiễn, nhà trường gắn với xã hội ngay trong quá trình học, còn là cơ hội ứng dụng thành tựu, thiết bị, phương tiện cần thiết cho quá trình dạy và học bộ môn Mặt khác, thực tiễn thế giới và trong nước thay đổi, nhưng nội dung môn học lạc hậu so với thực tiễn nên tính thuyết phục người
học chưa cao [17] Cùng quan điểm trên, cuốn sách Đổi mới PPDH các môn khoa học Mác - Lênin Những vấn đề chung” theo tác giả Nguyễn Hữu Vui: Việc sử dụng
các yêu cầu và PPDH truyền thống kết hợp PPDH phát huy tính tích cực người học trong đó có nội dung KTCT nhằm nâng cao nhận thức người học Tác giả chưa bàn luận cách thức thực hiện từng PPDH gắn với từng nội dung cụ thể của KTCT, chưa chú trọng nâng cao năng lực học tập SV [125]
Gần đây có các luận án tiến sĩ khoa học giáo dục nghiên cứu vấn đề trong đó
có các luận án:“Phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn NNLCB của CNMLN các trường đại học tại Hà Nội” của Bùi Thị Thanh Huyền đã nêu rõ giảng
dạy môn học phải dựa trên thực tiễn dạy học ở bậc đại học và căn cứ vào đặc điểm, nội dung, điều kiện dạy học, yêu cầu giáo dục đại học và có tác dụng nâng cao hiệu quả dạy học Theo tác giả, trong dạy học môn học phải đảm bảo nguyên tắc tính thực tiễn vì nó gắn liền với nguyên lí cơ bản của CNMLN về sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn GV dựa vào thực tiễn của đặc thù kiến thức môn học của từng chương, từng chủ đề dạy học cụ thể tiến sử dụng phương pháp thảo luận nhóm để truyền tải kiến thức lí luận đến với SV, những kiến thức lí luận nào cần chứng minh hay sử dụng loại thực tiễn nào là phù hợp hay nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước làm cho bài giảng thêm sinh động, có tính thực tiễn, tính thời sự cao phù hợp với đặc điểm, trình độ, năng lực của SV trong dạy học [58; tr.80-81]
Tiếp đến luận án tiến sĩ với đề tài “Dạy học giải quyết vấn đề Những vấn đề
cơ bản của CNMLN, tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường chính trị vùng đồng bằng sông Cửu Long” của tác giả Nguyễn Phước Dũng nêu rõ cần đổi mới dạy học giải
quyết nêu vấn đề, trong đó tác giả đề cập nội dung cơ bản của kiến thức thức KTCT Mác - Lênin về đối tượng nghiên cứu, phạm trù, qui luật kinh tế cũng như các thành
tố cơ bản của quá trình dạy học về mục tiêu, nội dung, PPDH phù hợp với đối tượng dạy học Trong kiến thức KTCT Mác - Lênin bước đầu giúp người học hình thành
Trang 28và bồi dưỡng khả năng học tập, vận dụng đánh giá các vấn đề kinh tế - xã hội trong thực tiễn Để làm được điều này, luận án nêu vấn đề cần có các hoạt động học tập đặt ra các dạng câu hỏi, bài tập, tình huống chứa đựng vấn đề mâu thuẫn gắn với thực tiễn đời sống, địa phương, đất nước để người học biết giải quyết và xử lí tình huống [30; tr.48-51]
Các công trình nghiên cứu là đề tài khoa học cấp Bộ, tác giả Trần Thị Mai
Phương trong “Thiết kế bài giảng KTCT trong các trường ĐH, CĐ theo PPDH tích cực” khẳng định: Đổi mới PPDH KTCT phải làm cho SV nhận thức được những yêu
cầu mới của thời đại và hướng vào đó để rèn luyện, học tập nâng cao chất lượng nguồn lực lao động mới trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tác giả chỉ rõ việc dạy học phải luôn gắn với thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội, đường lối kinh tế của Đảng, Nhà nước; từ đó vừa có tác dụng giáo dục lí tưởng đạo đức cách mạng, vừa rèn luyện tư duy kinh tế cho người học Để những vấn đề nêu trên mang lại hiệu quả trong bài giảng, GV thường xuyên đổi mới PPDH KTCT và được thực hiện trên
cơ sở đổi mới phương pháp thiết kế bài giảng KTCT Tác giả đã có thiết kế bài giảng phạm vi kiến thức: “Sản xuất hàng hóa và các qui luật kinh tế của sản xuất hàng hóa” trong đó có sử dụng phương pháp thuyết trình kết hợp đàm thoại và thảo luận nhóm, hướng dẫn tự học, hướng dẫn sử dụng tài liệu tự nghiên cứu [95; tr.23-39]
Về thực tiễn sử dụng bài tập KTCT trong sách “Tóm tắt lí thuyết và bài tập thực hành KTCT Mác - Lênin: Phần TBCN” của Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh
nêu rõ đặc trưng của lí luận KTCT khai thác các dạng bài tập thực hành vào dạy học nhằm phát huy tính tích cực học tập của SV Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập cụ thể qui trình thiết kế, cách thức sử dụng cụ thể trong mỗi bài giảng và các PPDH được sử dụng khai thác mảng bài tập KTCT còn thiếu vắng [44]
Với tư cách là các bài báo khoa học đang tải trên các Tạp chí trong nước
cũng nhận được sự quan tâm của nhiều tác giả, cụ thể:“Đổi mới phương pháp giảng dạy môn NNLCB của CNMLN theo định hướng phát triển năng lực”của Nguyễn
Thị Thanh Hà đã nêu khái quát sự cần thiết đổi mới phương pháp giảng dạy môn học, trong đó để phát triển năng lực của SV cần tập trung vào các phương pháp thuyết trình, nêu vấn đề và tăng cường áp dụng thảo luận nhóm và tổ chức thuyết trình để khơi gợi động lực học tập tích cực, chủ động và sáng tạo nhằm phát triển
Trang 29tối đa năng lực học tập SV [61] Tác giả Nguyễn Thị Lan Minh với bài “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn của CNMLN trong giảng dạy học phần LLCT” làm sáng tỏ vai trò của thực tiễn trong dạy học phải bám sát thực tiễn
đất nước, thường xuyên liên hệ lí luận với thực tiễn làm cho SV hiểu rõ đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta Vì vậy, để thực hiện có hiệu quả dạy học bộ môn GV tích cực đổi mới PPDH [84]
Tạp chí Khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tác giả Trần Thị Mai
Phương có bài viết:“Nâng cao tính thực tiễn trong dạy học các Học thuyết kinh tế
cơ bản của CNMLN ở trường ĐH, CĐ” đề xuất việc nâng cao tính thực tiễn trong
dạy học, GV cần giúp người học hiểu được ý nghĩa thực tiễn tổng quát nội dung các Học thuyết kinh tế của CNMLN ý nghĩa trong từng đơn vị kiến thức cụ thể và phải phát huy tính tích cực của SV trong học tập và ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống ở trường ĐH, CĐ hiện nay [97] Trong Kỉ yếu Hội thảo khoa học quốc gia về Nghiên cứu và giảng dạy Lí luận chính trị trong xu thế toàn cầu hóa, tác giả có bài viết:
“Nâng cao tính thực tiễn trong dạy học KTCT Mác - Lênin” đã chỉ rõ đảm bảo tính
thực tiễn là một nguyên tắc dạy học; đổi mới nội dung chương trình môn KTCT theo hướng gắn với thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, việc đổi mới PPDH để khai thác những giá trị thực tiễn trong nội dung bài giảng; cần sử dụng phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nâng cao năng lực cho người học, gắn lí luận với thực tiễn [98; tr.203-208]
Khái quát các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã nêu khái quát một số nội dung của nguyên tắc tính thực tiễn trong đó giảng dạy gắn với thực tiễn sản xuất, đời sống; tăng cường đưa tài liệu thực tiễn vào bài giảng; kết hợp sử dụng chủ yếu các PPDH truyền thống làm tăng ý nghĩa, giá trị thực tiễn của môn học Đồng thời, các nghiên cứu chỉ rõ khắc phục việc học tập lí luận xa rời với thực tiễn hướng tới nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Tuy nhiên, các nhà khoa học chưa có nghiên cứu về nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT mang tính toàn diện, tính hệ thống từ đổi mới nội dung môn học, hay đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học đề cao tính thực tiễn “lấy người học làm trung tâm” hướng tới phát triển năng lực cho người học
Trang 301.3 Đánh giá kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những nội dung luận án tiếp tục làm rõ
1.3.1 Những kết quả đạt được trong các nghiên cứu
Thực hiện tổng quan các nghiên cứu về nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học nói chung và dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ nói riêng cho thấy đây là vấn đề mang tính cấp thiết đã và đang được nhiều nhà khoa học giáo dục trong nước và trên thế giới quan tâm nghiên cứu
Sau khi tổng quan nghiên cứu sinh nhận thấy các nghiên cứu trên về nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường
ĐH, CĐ đã đề cập đến các vấn đề sau: Về thực tiễn, vai trò của thực tiễn trong nhận thức, phương pháp nhận thức biện chứng; nguyên tắc tính thực tiễn trong hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn và cụ thể chính là hoạt động dạy học Các tác giả khẳng định đảm bảo tính thực tiễn là một vấn đề mang tính qui luật, trở thành nguyên tắc cơ bản trong hoạt động dạy học thể hiện ở việc thực hiện nguyên lí giáo dục “học đi đôi với hành”, “lí luận gắn với thực tiễn”
Các nghiên cứu chỉ ra một số yêu cầu của nguyên tắc tính thực tiễn trong quá trình dạy học như phải có dẫn chứng thực tiễn minh họa bài giảng; căn cứ vào thực tiễn dạy học bám sát đối tượng dạy học, điều kiện dạy học để xác định nội dung dạy học, PPDH, tổ chức dạy học phù hợp Phải quan tâm đến việc rèn luyện khả năng thực hành hay vận dụng những kiến thức lí luận môn học vào thực tiễn cuộc sống Nhiều tác giả đã đề cập việc giảng dạy môn học gắn với đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề kinh tế - xã hội của đất nước; từ đó thay đổi tư duy và nhận thức của SV trong học tập bộ môn Bước đầu đã đề xuất một số biện pháp dạy học nhưng trong các nghiên cứu chủ yếu sử dụng đơn thuần PPDH truyền thống phát huy tính tích cực học tập của SV trong dạy học môn học
Phần lớn các nghiên cứu dừng lại ở bài báo, sách, đề tài khoa học liên quan trực tiếp đến môn học Trong các nghiên cứu này mới dừng lại ở phạm vi hẹp về đối tượng cũng như nội dung dạy học cụ thể sản xuất hàng hóa hay học thuyết giá trị, học thuyết giá trị thặng dư chưa có nghiên cứu mang tính bao quát toàn bộ nội dung KTCT Mác - Lênin về phương thức sản xuất TBCN
Trang 31Do vậy, khi thực hiện đề tài “Nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ hiện nay” những cống hiến, đóng góp khoa học của các tác giả được nghiên cứu sinh kế thừa, chọn lọc những nội dung phù hợp với hướng nghiên cứu của đề tài để viết luận án ở mức độ chuyên sâu, mang tính toàn diện, tính hệ thống góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học môn học
1.3.2 Những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Tổng quan các nghiên cứu cho thấy những kết quả khoa học đã đạt được và những vấn đề “thiếu vắng” trong các nghiên cứu đặt ra cho đề tài luận án cần tiếp tục nghiên cứu làm sâu sắc, bổ sung thêm những nội dung còn “bỏ ngỏ”, cụ thể: Hệ thống hóa về cơ sở lí luận việc vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học bộ môn Đến nay chưa có nghiên cứu khảo sát, đánh giá khách quan, toàn diện về thực trạng vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học bộ môn ở trường ĐH, CĐ nước ta Các nghiên cứu chưa đưa ra được những nội dung và yêu cầu mang tính bắt buộc cũng như xây dựng các biện pháp, qui trình vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH, CĐ nước ta hiện nay theo hướng đề cao tính thực tiễn, phát huy tính tích cực của người học
Có thể khẳng định hướng nghiên cứu đề tài của luận án có những đóng góp mới, không trùng lặp với bất cứ nghiên cứu nào đã công bố Trong khuôn khổ luận
án, nghiên cứu sinh kế thừa có chọn lọc những thành tựu của các nhà khoa học đi trước, từ đó tập trung đi sâu nghiên cứu và giải quyết các vấn đề mang tính “bức thiết” đặt ra trong dạy học bộ môn ở trường ĐH, CĐ hiện nay ở một số khía cạnh như sau:
Thứ nhất, tiếp tục làm rõ thêm bản chất nguyên tắc tính thực tiễn, hình thức
vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn và việc tiếp cận vấn đề nghiên cứu của đề tài theo góc độ lí luận của giáo dục học làm sâu sắc nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học bộ môn ở trường ĐH, CĐ nước ta hiện nay
Thứ hai, điều tra, phân tích và đánh giá thực trạng vận dụng nguyên tắc tính
thực tiễn trong dạy học bộ môn ở trường ĐH, CĐ nước ta hiện nay; tìm ra những vấn
đề tồn tại và nguyên nhân của nó làm cơ sở để nghiên cứu, xây dựng các biện pháp thực hiện
Trang 32Thứ ba, đề xuất các yêu cầu và xây dựng các biện pháp vận dụng nguyên tắc
tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường ĐH,
CĐ hiện nay phát triển năng lực và phát huy tính chủ động, sáng tạo của SV
Thứ tư, thiết kế một số bài giảng môn NNLCB của CNMLN phần KTCT
trong đó có sử dụng các biện pháp sư phạm mà luận án đề xuất
Kết luận chương 1
Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, từ những công trình nghiên cứu ngoài nước và trong nước ở các góc độ tiếp cận về đối tượng nghiên cứu, địa bàn, nội dung, cách thức thực hiện khác nhau Nhìn tổng thể các nghiên cứu đã luận giải một số nội dung cơ bản như: Thực tiễn, các hoạt động thực tiễn và vai trò của nó trong các hoạt động của con người trong đó dạy học chính là hoạt động thực tiễn đặc biệt Các tác giả chỉ rõ vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học phù hợp với đối tượng nghiên cứu; những yêu cầu, quan điểm và biện pháp vận dụng nguyên tắc này trong dạy học được thực hiện cho một số đối tượng cụ thể Đến nay chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống với đề tài: Nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT, chuyên ngành lí luận và PPDH tư cách là luận án
Kết quả nghiên cứu trên có những đóng góp lớn cả về lí luận và thực tiễn,
là cơ sở khoa học được tác giả kế tục phương pháp tiếp cận của luận án trong quá trình nghiên cứu, tập trung vào giải quyết những vấn đề còn “bỏ ngỏ” cũng như
“khoảng trống” mang tính bức thiết đặt ra để hoàn thành đề tài luận án:“Nguyên
tắc tính thực tiễn trong dạy học môn NNLCB của CNMLN phần KTCT ở trường
ĐH, CĐ hiện nay”
Trang 33Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC TÍNH THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN NHỮNG NGUYÊN LÍ
CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG HIỆN NAY 2.1 Cơ sở lí luận vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin phần Kinh tế chính trị ở trường đại học, cao đẳng hiện nay
2.1.1 Nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học
2.1.1.1 Thực tiễn và mối quan hệ giữa lí luận và thực tiễn
- Về thực tiễn, tính thực tiễn
Từ xưa đến nay, vấn đề thực tiễn đã được các nhà nghiên cứu tìm hiểu trong đời sống hiện thực của con người Thực tế chứng minh quan hệ đầu tiên của con người với thế giới bên ngoài chính là quan hệ thực tiễn; từ đó thực tiễn luôn trở thành vấn đề trung tâm trong mọi hoạt động của con người
Về khái niệm thực tiễn, từ điển Bách khoa Việt Nam nêu rõ: “Thực tiễn là
toàn bộ hoạt động vật chất có tính lịch sử xã hội của loài người nhằm cải tạo thế giới xung quanh, bao gồm hoạt động sản xuất, hoạt động cải tạo xã hội, thực
nghiệm khoa học ”[116; tr.346] Nhà triết học M.Rô - Den - Ta và P.I - U - Đin
nhận định: “Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động của con người để tạo ra những điều kiện cần thiết cho đời sống xã hội” [102; tr.278]
Theo quan điểm triết học Mác - Lênin: “Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội”[11; tr.358] đây là khái niệm mang tính khoa học nhất
Trong đó, thực tiễn là hoạt động vật chất mà chủ thể sử dụng phương tiện vật chất tác động vào đối tượng vật chất nhằm cải tạo chúng theo nhu cầu của con người Vì thế, thực tiễn luôn đặt ra cho con người nhu cầu nhận thức sự vật và hiện tượng, từ đó sản sinh ra những giả thuyết hay phát hiện ra những qui luật về sự vận động phát triển của các sự vật, hiện tượng Những giả thuyết, qui luật này lại giúp con người có thêm những hiểu biết, vận dụng chúng để cải tạo thế giới một cách hiệu
Trang 34quả hơn Từ đây hình thành nên một khuynh hướng mang tính phổ biến đối với mọi hoạt động của con người đó là phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở của thực tiễn, giải quyết vấn đề của thực tiễn, kiểm chứng tính đúng đắn từ thực tiễn Đây
cũng được coi cách hiểu về tính thực tiễn và có thể nhận thấy tính thực tiễn định hướng trong các hoạt động nhận thức con người nói chung trong đó có hoạt động dạy học nói riêng và trở thành một vấn đề mang tính nguyên tắc
- Về mối quan hệ giữa lí luận và thực tiễn
Thực tiễn có quá trình vận động phát triển, trình độ phát triển của thực tiễn nói lên quá trình chinh phục tự nhiên, làm chủ xã hội của con người Lí luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những qui luật của các sự vật, hiện tượng Lí luận là sản phẩm của nhận thức đồng thời thể hiện trình độ cao của nhận thức về bản chất, qui luật của hiện thực
Giữa lí luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau Trong đó thực tiễn có vai trò quyết định vì thực tiễn là hoạt động vật chất còn
lí luận là sản phẩm của hoạt động tinh thần Hoạt động thực tiễn được xem như
phương thức đặc biệt của mối quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh Con người trong mối quan hệ với tự nhiên vừa thích nghi với môi trường vừa thông qua hoạt động thực tiễn của mình tác động một cách tích cực để biến đổi, cải tạo thế giới Đồng thời với quá trình đó, con người cũng phát triển và hoàn thiện chính bản thân mình Hoạt động thực tiễn chịu sự chi phối của mỗi giai đoạn lịch sử, gắn với từng cá nhân, từng nhóm người có mối quan hệ xã hội với nhau, được qui định bởi mục đích, đối tượng, phương tiện và cách thức hoạt động Vì vậy, hoạt động thực tiễn của con người mang tính xã hội sâu sắc, có nhận thức và có ý thức
Hoạt động thực tiễn rất phong phú, đa dạng được chia ra ba hình thức cơ bản là: hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội, trong đó hoạt động thực nghiệm khoa học cũng là một hình thức của thực tiễn Thực tiễn đề ra những vấn đề
mà lí luận phải giải đáp, lí luận gắn với thực tiễn, phục vụ thực tiễn và được thực tiễn khảo nghiệm mới bắt rễ trong đời sống Trong các hình thức của hoạt động thực tiễn, hoạt động sản xuất là hoạt động cơ bản nhất, tác động sâu sắc, toàn diện đến các hoạt động khác, nó là hoạt động trung tâm, chủ yếu của con người
Trang 35Trong các hoạt động nhận thức của con người dù là hoạt động vật chất hay hoạt động tinh thần đều gắn với thực tiễn và tác động vào sự vật theo mục đích đề
ra Trên thực tế, những tri thức khoa học được khái quát, đúc rút từ thực tiễn mà ra
và cũng từ thực tiễn đặt ra yêu cầu mang định hướng mà tất yếu trong nhận thức và hành động con người phải tuân theo từ đó qui định nên vấn đề mang tính quy luật lí luận phải gắn với thực tiễn Như vậy, thực tiễn trở thành hiện thực trực tiếp của lí
luận, của tư tưởng
Cũng bàn về thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi khai mạc lớp LLCT khóa I ngày 09/09/1957 đã nhận định: Thực tiễn là vấn đề mình phải giải quyết, là mâu thuẫn của sự vật; đối với bất kỳ vấn đề gì đều phải đặt câu hỏi “vì sao”, đều phải suy nghĩ kĩ càng xem nó có phù hợp với thực tế không? Nếu chỉ tuân theo sách
vở một chiều là thiếu tính thực tiễn vì tri thức sách vở mà tách rời hoạt động thực tiễn thì chỉ là tri thức phiến diện, không hoàn chỉnh Đồng thời thực tiễn sẽ xác minh hay phủ nhận sự đúng đắn của những quan điểm lí thuyết Người khẳng định:
“Thống nhất giữa lí luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của CNMLN Thực tiễn không có lí luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lí luận mà không liên hệ với thực tiễn là lí luận suông”[79; tr.496] Chính vì vậy, trong hoạt động thực tiễn, nhận thức lí luận của con người được hình thành và phát triển; từ thực tiễn cung cấp những chất liệu, nguồn tri thức cho lí luận
V.I.Lênin cho rằng: “Thực tiễn cao hơn nhận thức vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến mà cả của tính hiện thực trực tiếp”[67; tr.230] Mọi tri thức trong quá trình thực tiễn, hoạt động trí tuệ con người được phát triển cho đến lúc có
lí luận và bản thân lí luận ra đời chính vì nó cần thiết cho hoạt động thực tiễn của con người C.Mác viết: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lí khách quan hay không hoàn toàn không phải là một vấn đề lí luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lí”[73;
tr.9-10] Thông qua thực tiễn, những lí luận của chân lí sẽ được bổ sung, nhận thức
lại, vì vậy giá trị của lí luận phải được chứng minh trong hoạt động thực tiễn
Với tính trừu tượng và khái quát cao, lí luận đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, qui luật của các sự vật hiện tượng góp phần làm biến đổi thực tiễn thông
Trang 36qua hoạt động của con người Lí luận là “kim chỉ nam” cho hành động, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Trong mọi hoạt động của con người, một mặt cần lấy thực tiễn để bổ sung cho lí luận, làm cho nội dung lí luận ngày càng phong phú, sinh động; mặt khác cần chủ động vận dụng tri thức lí luận vào thực tiễn cuộc sống
và các hoạt động kinh tế xã hội khác Do tính trừu tượng cao trong sự phản ánh hiện thực nên lí luận có khả năng xa rời thực tiễn và trở thành giáo điều Do vậy, trong hoạt động nhận thức, thực tiễn luôn phải đặt lên hàng đầu đúng như quan điểm của V.I.Lênin: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lí luận nhận thức”[68; tr.167] Từ đây có thể khẳng định một trong những nguyên tắc cơ bản định hướng cho mọi hoạt động của con người chính là nguyên tắc tính thực tiễn
2.1.1.2 Nguyên tắc dạy học
Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là con đường quan trọng để thực hiện mục đích giáo dục toàn diện cho người học Dạy học là một dạng hoạt động đặc thù của xã hội, nhằm truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội, trên
cơ sở đó hình thành và phát triển nhân cách của người học
Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh: “Dạy học là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm giúp cho người học lĩnh hội những tri thức khoa học,
kĩ năng hoạt động nhận thức và thực tiễn, phát triển các năng lực hoạt động sáng tạo, trên cơ sở đó hình thành thế giới quan và các phẩm chất nhân cách của người học theo mục đích giáo dục”[92; tr.22]
Cũng bàn về vấn đề trên, tác giả Nguyễn Văn Cư: “Dạy học về thực chất là quá trình nhận thức có tính chất tự học, tự nghiên cứu của người học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của người thầy nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học, gắn lí luận với hoạt động thực tiễn”[23; tr.43] Theo Bernd Meier - Nguyễn Văn Cường:
“Dạy học được hiểu là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học làm nền tảng, những cơ sở lý thuyết của LLDH, những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như những định hướng
về vai trò của người dạy và người học trong quá trình dạy học” [18; tr.104]
Trang 37Tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt chỉ rõ: “Dạy học là một quá trình trong
đó dưới tác dụng tổ chức, điều khiển, lãnh đạo của thầy, SV tự giác, tích cực, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học Trong đó, có sự thống nhất giữa hoạt động của người dạy và người học"[87; tr.125] Thực tiễn dạy học thể hiện trong cả quá trình theo thời lượng qui định biểu hiện mối quan hệ giữa người dạy và người học, bởi vậy “quá trình dạy học là một quá trình trong đó dưới tác dụng chủ đạo (tổ chức, điều khiển, lãnh đạo) của thầy,
SV tự giác, tích cực, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học”[89; tr.125] Tác giả Hà Thế Ngữ, Nguyễn Văn Đình, Phạm Thị Diệu Vân cũng hiểu gần với quan điểm nêu trên: “Quá trình dạy học là một quá trình hoạt động thống nhất giữa GV và SV trong đó dưới tác động chủ đạo của GV, SV tự giác, tích cực tổ chức, tự điều khiển hoạt động học nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đã định”[85; tr.56]
Về thực chất, dạy học là một hoạt động xã hội có tính khoa học, tính kĩ thuật
và nghệ thuật, để đảm bảo cho quá trình dạy học đạt kết quả tối ưu cần phải có nguyên tắc dẫn đường Nguyên tắc chính là luận điểm cơ bản, là điểm xuất phát, là tiền đề của một lí luận nào đó; nguyên tắc chỉ đạo toàn bộ quá trình xây dựng lí luận, vận dụng lí luận vào hoạt động thực tiễn của con người trong đó có hoạt động dạy học Nguyên tắc bao gồm những yêu cầu buộc con người phải tuân theo được thực hiện trong mọi hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức sẽ đạt hiệu quả cao
và ngược lại Từ sự phân tích nêu trên, xét về bản chất của quá trình dạy học cho thấy “muốn tổ chức, điều khiển quá trình dạy học nhằm đạt kết quả tối ưu, người dạy phải luôn luôn tuân theo những luận điểm cơ bản của những quá trình mang tính quy luật của hoạt động dạy học mà thực chất đó là những nguyên tắc dạy học”[23; tr.43] Chính vì vậy, nguyên tắc dạy học chỉ đạo việc lựa chọn và vận dụng phối hợp nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nhằm thực hiện mục tiêu dạy học
Quá trình dạy học bao gồm những nhân tố có mối quan hệ tác động lẫn nhau: Mục đích, nhiệm vụ dạy học, hoạt động của thầy và trò, nội dung dạy học, PPDH,
Trang 38phương tiện dạy học, kết quả dạy học, việc KT, ĐG được diễn ra trong môi trường
xã hội, chính trị, khoa học, kĩ thuật nhất định Trong đó, sự thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò là qui luật cơ bản, mang tính đặc thù của quá trình dạy học Nghiên cứu cấu trúc các thành tố của quá trình dạy học cho thấy việc xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học đều phải gắn với thực tiễn hoạt động dạy học và chịu sự tác động của điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học gọi là “trường xã hội” diễn ra hoạt động dạy học
Hình 2.1: Cấu trúc các thành tố của quá trình dạy học [88; tr.91]
Như vậy, có thể khẳng định dạy học là một hoạt động thực tiễn đặc biệt, gắn liền với hoạt động nhận thức của con người, trang bị cho người học những tri thức
cơ bản được đúc kết từ trong thực tiễn Do đó, hoạt động dạy học tất yếu phải mang tính thực tiễn thể hiện trong quá trình dạy học phải đảm bảo mục tiêu, gắn liền với đối tượng dạy học cụ thể, điều kiện thực tế thực hiện dạy học cũng như việc truyền
bá những tri thức môn học phải mang giá trị thực tiễn, giải quyết các vấn đề của thực tiễn, phục vụ cho những hoạt động thực tiễn, kiểm chứng tính đúng đắn từ thực tiễn và không ngừng được bổ sung từ thực tiễn Do vây, việc đảm bảo tính thực tiễn trở thành vấn đề quan trọng có tính nguyên tắc trong hoạt động dạy học
VI.Lênin chỉ rõ thế giới là sự vận động có qui luật của vật chất, con người có khả năng nhận thức được những qui luật khách quan đó, trong đó có qui luật khách quan của quá trình dạy học và những qui luật này trở thành các nguyên tắc dạy học Căn cứ vào tính thực tiễn trong hoạt động nhận thức, xuất phát từ việc nghiên cứu
Trang 39thực tiễn dạy học, đặc điểm tâm lí người học, mục tiêu, nhiệm vụ của hoạt động dạy học, các nhà khoa học giáo dục đã chỉ ra hệ thống các nguyên tắc dạy học, coi đó là
“cẩm nang” chi phối toàn bộ quá trình dạy học:“Nguyên tắc dạy học là những luận điểm xuất phát làm cơ sở cho tổ chức, nội dung và PPDH” [87; tr.26] Có thể kể
đến một số nguyên tắc cơ bản trong hệ thống các nguyên tắc dạy học như: Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học, nguyên tắc về sự thống nhất lôgic và lịch sử, nguyên tắc
dễ tiếp thu và trực quan, nguyên tắc tính vừa sức, nguyên tắc đảm bảo phát huy tính tích cực, tự giác của người học trong đó có nguyên tắc tính thực tiễn
2.1.1.3 Nội dung nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học
Dưới góc độ các triết lí và lí thuyết giáo dục nền tảng việc đảm bảo tính thực tiễn trở thành vấn đề có tính nguyên tắc trong hoạt động dạy học Với tư cách là một
nguyên tắc dạy học, có thể hiểu: Nguyên tắc tính thực tiễn là nguyên tắc định hướng, chi phối mọi chủ thể của quá trình dạy học trong hoạt động của mình phải đảm bảo tuân thủ và nâng cao tính thực tiễn
Thực chất của nguyên tắc tính thực tiễn là phải làm cho việc giảng dạy, học tập trong nhà trường luôn gắn liền với thực tiễn đời sống, thực tiễn nghề nghiệp của đất nước, địa phương và của người học nhằm giúp họ nắm được những kiến thức cơ bản và biết vận dụng các kiến thức này vào thực tiễn nghề nghiệp của mình Nguyên tắc này đòi hỏi:
- Phải làm cho người học thấy rõ được tác dụng của những kiến thức được học trong đời sống thực tiễn của mình từ đó có động cơ học tập nhằm trang bị nhiều kiến thức cho bản thân để có thể vận dụng vào trong cuộc sống nghề nghiệp sau này
- Phải chọn những dẫn chứng thực tế cụ thể, sinh động, điển hình của đời sống nghề nghiệp để đưa vào nhà trường, vào từng bài học ;
- Học tập những kiến thức cơ bản, tinh túy trong bài học nhưng biết vận dụng sáng tạo vào thực tế cuộc sống
- Khi tham gia vào hoạt động thực tiễn cuộc sống phải lấy kiến thức được học soi đường cho công tác của mình qua đó mà củng cố, bổ sung và làm phong phú thêm những kiến thức nghề nghiệp, cuộc sống cho bản thân
Trang 40Những đòi hỏi nêu trên được thể hiện qua nội dung cụ thể sau:
1/Mục tiêu dạy học phải gắn liền và đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đời sống xã hội, của bản thân người học
Khi thực hiện nhiệm vụ dạy học, người thầy cần biết mình sẽ dạy cho ai (đối tượng dạy học) và sau khi học xong thì người học sẽ biết được gì, làm được gì với tinh thần thái độ tình cảm như thế nào? Đó là những điều hết sức quan trọng và cần thiết phải được xác định trước mỗi quá trình dạy học hay còn gọi là xác định mục tiêu dạy học Mục tiêu này là cái đích để thầy và trò cùng hướng tới Khi mục tiêu được xác định thầy sẽ từ đó suy nghĩ để vạch ra nội dung dạy học cũng như lựa chọn phương pháp, phương tiện, cách thức tổ chức dạy học để thực hiện mục tiêu dạy học ở mức cao nhất có thể Đồng thời mục tiêu cũng giúp người học biết được đích mình phải đạt tới để tìm cách tự tổ chức, sắp xếp thời gian và có nhiều biện pháp để đi tới mục tiêu đó Quá trình đào tạo được thể hiện rõ ràng ở mục tiêu dạy học sẽ giúp người học thấy rõ được ý nghĩa, giá trị thực tiễn của nội dung bài học đối với bản thân từ đó thêm hứng thú học tập và học tập có hiệu quả
Để đảm bảo tính thực tiễn trong dạy học, mỗi GV khi xác định mục tiêu dạy học cần chú ý đến mục tiêu tổng quát, mục tiêu trung gian, mục tiêu chuyên biệt
Mục tiêu tổng quát là mục tiêu của nhà trường, của đối tượng đào tạo Mục tiêu này gắn liền với đầu ra của đối tượng đào tạo thuộc ngành nghề nào bao gồm:
tư tưởng đạo đức, kĩ năng nghề nghiệp, thái độ hành nghề và tinh thần tự học vươn lên trong nghề nghiệp
Mục tiêu trung gian là mục tiêu của môn học Môn học có thể được dạy cho nhiều đối tượng khác nhau, ở các trường khác nhau Vì thế, ứng với mỗi đối tượng đào tạo, bộ môn phải xác định mục tiêu của môn học đồng thời phải thể hiện, cụ thể hóa được mục tiêu tổng quát Chẳng hạn, mục tiêu dạy học của bộ môn được quán triệt ở các trường khác nhau, với đặc điểm của đối tượng, ngành đào tạo khi xác định mục tiêu môn học bộ môn cần cụ thể hóa, xát thực hơn đáp ứng yêu cầu môn học
Mục tiêu chuyên biệt: là những điểm cụ thể mà người học phải làm được sau mỗi bài học nên còn gọi là mục tiêu bài học bao gồm mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ