1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp nhằm tăng cường công tác khai thác bảo hiểm thân tàu biển tại công ty cổ phần bảo hiểm PJICO

66 545 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 414 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá chung về công tác khai thác bảo hiểm thân tàu biển tại PJICO thời gian 2008 – 2011...49 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC KHAI THÁC BẢO HIỂM THÂN TÀU BIỂN TẠI CÔNG TY

Trang 1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 2

CHƯƠNG 1:NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM THÂN TÀU VÀ

KHAI THÁC BẢO HIỂM THÂN TÀU BIỂN 8

1.1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM THÂN TÀU BIỂN 8

1.1.1 Các loại tàu biển 8

1.1.2 Sự cần thiết của bảo hiểm thân tàu 9

1.1.3 Rủi ro và tổn thất trong hoạt động hàng hải 11

1.1.4 Nội dung cơ bản của bảo hiểm thân tàu biển 14

1.2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHAI THÁC BẢO HIỂM THÂN TÀU BIỂN 18 1.2.1 Vai trò của công tác khai thác đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm thân tàu biển 18

1.2.2 Các kênh khai thác bảo hiểm thân tàu 20

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến khai thác bảo hiểm thân tàu biển 21

1.2.4 Quy trình khai thác bảo hiểm thân tàu biển 23

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC BẢO HIỂM THÂN TÀU BIỂN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX 28

2.1 Giới thiệu về công ty cổ phần bảo hiểm PJICO 28

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty 28

2.1.2 Cơ cấu bộ máy quản lý 29

2.1.3 Ngành nghề kinh doanh 32

2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh trong thời gian qua 33

Trang 3

2.2 Những thuận lợi và khó khăn của PJICO khi tiến hành khai thác bảo

hiểm thân tàu biển 34

2.2.1 Thuận lợi 34

2.2.2 Khó khăn 37

2.3 Thực trạng khai thác bảo hiểm thân tàu biển tại công ty cổ phần bảo hiểm PJICO qua 4 năm 2008 – 2011 38

2.3.1 Kết quả khai thác bảo hiểm thân tàu biển PJICO 2008 – 2011 38

2.3.2 Tình hình chi khai thác bảo hiểm thân tàu thủy thời gian 2008- 2011. 43 2.3.3 Đánh giá chung về công tác khai thác bảo hiểm thân tàu biển tại PJICO thời gian 2008 – 2011 49

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC KHAI THÁC BẢO HIỂM THÂN TÀU BIỂN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PJICO 54

3.1 Mục tiêu của PJICO trong triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu biển .54

3.2 Giải pháp nhằm tăng cường công tác khai thác bảo hiểm thân tàu biển tại công ty cổ phần BH PJICO 55

3.2.1 Nhóm giải pháp về sản phẩm và phí bảo hiểm 55

3.2.2 Nhóm giải pháp về kênh phân phối bán hàng 56

3.2.3 Nhóm giải pháp hỗ trợ khai thác 58

3.2.4 Nhóm giải pháp tăng cường hiệu quả khai thác 60

Trang 4

3.3 Một số kiến nghị 62

3.3.1 Về phía nhà nước 62

3.3.2 Về phía hiệp hội bảo hiểm Việt Nam 64

3.3.3 Kiến nghị đối với bảo hiểm PJICO 65

KẾT LUẬN 67

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa ngành ngoại thương của nước takhông ngừng mở rộng và phát triển với sự giao lưu, hợp tác buôn bán với cácnước trong và ngoài khu vực Hoạt động xuất nhập khẩu đóng góp một phầnkhông nhỏ trong sự phát triển của nền kinh tế Có vị trí như một chiếc cầu nốiđất liền với các quần đảo lớn nhỏ ở Đông Nam Á, Việt Nam giữ vai trò là “cửangõ” trong giao lưu buôn bán quốc tế bằng đường biển Hơn nữa ngành Hànghải Việt Nam ngày càng đạt được những bước tiến khả quan, tạo ra cho nghiệp

vụ bảo hiểm thân tàu biển một thị trường tiềm năng dồi dào Hiện nay, trên thịtrường bảo hiểm Việt Nam có khá nhiều doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm bảohiểm thân tàu biển Tuy nhiên, tại Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex, bảohiểm thân tàu biển đã, đang và sẽ trở thành một nghiệp vụ chủ yếu Nhận thứcđược tầm quan trọng của nghiệp vụ bảo hiểm tàu biển, trong thời gian ngắn thựctập tại tổng Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex, em đã tìm hiểu, nghiên cứu và

lựa chọn đề tài:" Giải pháp nhằm tăng cường công tác khai thác bảo hiểm thân tàu Biển tại công ty cổ phần bảo hiểm PJICO” cho luận văn tốt nghiệp của

mình

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh sách các từ viết tắt

và phụ lục, nội dung của luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Những lý luận cơ bản về Bảo hiểm thân tầu và khai thác bảo

hiểm thân tàu biển;

Chương 2: Thực trạng khai thác BH thân tàu biển tại công ty cổ phần BH

PJICO giai đoạn 2008 – 2011;

Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường công tác khai thác bảo hiểm thân tàu

biển tại công ty cổ phần BH PJICO

Trang 6

Trong thời gian thực tập tại phòng bảo hiểm tàu thủy – Công ty cổ phần bảohiểm Petrolimex, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ nhânviên trong công ty và sự hướng dẫn chỉ bảo nhiệt tình của cô giáo Ths Đoàn ThuHương Qua đây, em xin chân thành cảm ơn cô giáo cùng các cán bộ nhân viêntrong công ty, đặc biệt là các cán bộ nhân viên phòng bảo hiểm tàu thủy đã tạođiều kiện để giúp em hoàn thành bài luận văn này.

Do thời gian thực tập tại công ty không nhiều, đồng thời bản thân còn hạnchế trong lý luận cũng như kinh nghiệm thực tế nên luận văn không tránh khỏinhững thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô

và các cán bộ nhân viên Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex để luận văn đượchoàn thiện hơn

Trang 7

Chương 1:NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM THÂN TÀU VÀ

KHAI THÁC BẢO HIỂM THÂN TÀU BIỂN.

1.1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM THÂN TÀU BIỂN.

1.1.1 Các loại tàu biển.

Theo điều 11, Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2005, tàu biển được định nghĩa

là tàu hoặc cấu trúc nổi di động khác, chuyên dùng hoạt động trên biển

Tàu biển theo quy định của bộ luật này không bao gồm tàu quân sự, tàu công

vụ và tàu cá

Tàu biển được phân loại theo khá nhiều tiêu thức như: phạm vi hoạt động vậtliệu đóng tàu, trọng tải tàu, thiết bị đẩy tàu hay tính chuyên biệt của tàu Sauđây sẽ đề cập đến việc phân loại tàu theo phạm vi hoạt động

Theo phạm vi hoạt động, tàu biển bao gồm 4 loại (Quy phạm phân cấp vàđóng tàu biển vỏ thép TCVN 6259-1: 1997)

- Tàu hoạt động ở vùng biển không hạn chế là tàu có khả năng hoạtđộng ở tất cả các vùng biển thông thường trên thế giới

- Tàu hoạt động ở vùng biển hạn chế I là tàu có khả năng hoạt động ởvùng biển hở hạn chế cách xa bờ hoặc nơi trú ẩn không quá 200 hải

lý với chiều cao sóng không lớn hơn 8,5m

- Tàu hoạt động ở vùng biển hạn chế II là tàu có khả năng hoạt động

ở vùng ven biển hạn chế cách xa bờ hoặc nơi trú ẩn không quá 500hải lý với chiều cao sóng không lớn hơn 6m

- Tàu hoạt động ở vùng biển hạn chế III là tàu có khă năng hoạt động

ở vùng ven biển hạn chế cách xa bờ hoặc nơi trú ẩn không quá 20hải lý với chiều cao sóng không lớn hơn 3,0m

Trang 8

1.1.2 Sự cần thiết của bảo hiểm thân tàu.

Bất cứ quốc gia nào muốn thúc đẩy và phát triển kinh tế đều phải có hệthống giao thông thông suốt Hệ thống giao thông của mỗi nước được đánhgiá trên cả ba lĩnh vực: đường thủy, đường bộ và đường không Có thể khẳngđịnh rằng hầu hết các nước trên thế giới đều có hệ thống giao thông đườngthủy và sự phát triển hay không lại phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh củamỗi nước Một trong những điều kiện không thể thiếu khi muốn phát triểngiao thông đường thủy là phải có một đội tàu chuyên dùng Lợi ích của giaothông đường thủy mà trực tiếp là từ các đội tàu mang lại cho các quốc gianguồn lợi lớn trong kinh tế quốc phòng v.v… Có thể thấy rằng tàu biển làmột phương tiện vận tải quan trọng trong hệ thống giao thông vận tải và là 1nhân tố khó có thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân Bởi vì vậy, vận chuyểnbằng đường biển có rất nhiều ưu điểm:

- Có thể vận chuyển được nhiều chủng loại hàng hóa với khối lượng lớn màcác phương tiện vận tải khác không thể đảm nhận được, chẳng hạn nhưcác loại hàng hóa siêu trường, siêu trọng

- Việc xây dựng và bảo quản các tuyến đường biển dựa vào cơ sở lợi dụngđiều kiện tự nhiên của biển, do đó không phải đầu tư nhiều về vốn và sứclao động Đây là một trong những nguyên nhân làm cho giá thành vậnchuyển bằng đường biển thấp hơn so với các phương tiện khác

- Vận chuyển bằng đường biển góp phần phát triển tốt mối quan hệ kinh tếcác nước, thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại của Nhà nước, góp phầntăng thu ngoại tệ

Trang 9

Vì vậy, hoạt động vận chuyển bằng đường biển ngày càng phát triển mạnh mẽ.Tuy nhiên cũng có một số nhược điểm sau:

- Vận chuyển đường biển gặp rất nhiều rủi ro do yếu tố tự nhiên, yếu tố kĩthuật, yếu tố con người;

Do yếu tố tự nhiên: Vận chuyển đường biển phụ thuộc rất nhiều vào

điều kiện tự nhiên Thời tiết, khí hậu trên biển ảnh hưởng trực tiếpđến quá trình vận chuyển bằng đường biển Những rủi ro do thiêntai bất ngờ như bão, sóng thần, lốc xoáy có thể xảy ra bất cứ lúcnào Yếu tố tự nhiên xảy ra không tuân theo bất cứ quy luật nhấtđịnh nào Vì vậy, mặc dù khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và

có thể dự báo trước được nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra

Do yếu tố kĩ thuật: Trong hoạt động của mình con người ngày càng

sử dụng nhiều hơn các phương tiện khoa học kĩ thuật hiện đại.Nhưng dù máy móc hiện đại, chính xác đến đâu cũng không tránhkhỏi trục trặc về kĩ thuật về tàu, kĩ thuật dự báo thời tiết, các tínhiệu điều khiển từ đất liền Từ đó gây ra những tổn thất cho tàutrong quá trình vận chuyển

Do yếu tố con người: Tàu có thể bị mất trộm, hoặc bị cướp trong

Trang 10

Đội tàu biển của Việt Nam tuy không lớn nhưng lại nhỏ bé, cũ, độ tuổi củacác tàu lớn nên khả năng gặp tai nạn, rủi ro là rất lớn, và những vụ tổn thất đócũng gây ra không ít khó khăn cho các chủ tàu.

Để giúp các tàu ổn định kinh tế khi không may gặp rủi ro Để tạo cho cácchủ tàu khôi phục và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh góp phần thúc đẩynền kinh tế phát triển và mở rộng quan hệ kinh tế với các nước, góp phần tăngthu nhập cho ngân sách, tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế, hoạt động bảo hiểmthân tàu đã ra đời như một tất yếu khách quan Bảo hiểm thân tàu ra đời và pháttriển sớm cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hải Tuy nhiên, mãi đến năm

1888 luật bảo hiểm thân tàu biển mới chính thức đi vào cuộc sống Đây là bộ luậtbảo hiểm đầu tiên tại London, viết tắt là ITC (Institute Time Clause)

1.1.3 Rủi ro và tổn thất trong hoạt động hàng hải.

1.1.3.1 Rủi ro hàng hải

- Rủi ro là “khả năng có thể xảy ra một điều gì đó” Trong ngành bảo hiểm,rủi ro được hiểu là “khả năng xảy ra một hậu quả xấu từ một sự việc nhấtđịnh”

- Rủi ro hàng hải là những rủi ro xảy ra trên biển, của biển, liên quan đếnmột hành trình hàng hải

Theo lịch sử phát triển của bảo hiểm hàng hải, ban đầu NBH chỉ nhận bảo hiểmcho các rủi ro hiểm họa chính là: chìm đắm, mắc cạn, đâm va, cháy Cùng với sựphát triển của thương mại quốc tế và các đội tàu có nhiều rủi ro phát sinh.Để thuhút khách hàng, NBH ngày càng nhận bảo hiểm thêm cho nhiều rủi ro

Theo nguyên nhân, ngày nay rủi ro hàng hải được phân thành: rủi ro do thiên tai,rủi ro do tai nạn bất ngờ trên biển và rủi ro do hành động của con người

Trang 11

- Rủi ro do thiên tai: Đây là những rủi ro do thiên nhiên gây ra như: biểnđộng, bão lốc, sét đánh, núi lửa phun… Mà con người không thể chốnglại được.

- Tai nạn bất ngờ trên biển: đây là các rủi ro xảy ra bất ngờ không lườngtrước được như: mắc cạn, chìm đắm, cháy nổ, bất cẩn hoặc manh động củathuyền trưởng, sỹ quan, thủy thủ …

- Rủi ro do hành động của con người: đây là rủi ro do hành động cố ý củacon người gây ra như: chiến tranh, nội chiến, khủng bố …

Đó là các rủi ro chính, ngoài ra còn có rủi ro phụ: rủi ro ô nhiễm: Đây là rủi

ro phát sinh từ một quyết định của một chức trách nhà nước hành động theothẩm quyền được giao phó để phòng ngừa hoặc hạn chế rủi ro ô nhiễm haytổn hại đến môi trường, hay nguy cơ ô nhiễm và tổn hại môi trường trực tiếpgây ra bởi tổn hại của tàu mà NBH phải chịu trách nhiệm theo bảo hiểm này

1.1.3.2 Tổn thất

Tổn thất trong bảo hiểm thân tàu biển là những thiệt hại, hư hỏng của contàu được bảo hiểm do rủi ro gây ra

Theo các điều kiện bảo hiểm, tổn thất tàu biển bao gồm các loại sau đây:

Một là, tổn thất toàn bộ Gồm có 2 loại: tổn thất toàn bộ thực tế và tổn thất toàn

bộ ước tính

- Tổn thất toàn bộ thực tế xảy ra khi tàu bị phá hủy, NĐBH bị tước quyền

sở hữu tàu không thể lấy lại được hoặc tàu bị tuyên bố mất tích

Trang 12

- Tàu được coi là tổn thất toàn bộ ước tính và NĐBH có thể từ bỏ tàu choNBH khi:

+ Tổn thất toàn bộ thực tế là không thể tránh khỏi, hoặc

+ NĐBH bị tước quyền sở hữu con tàu và giá trị ước tính để lấy lại

sẽ vượt quá giá trị của nó khi thu hồi, hoặc

+ Tàu bị tổn thất và giá trị ước tính sửa chữa sẽ vượt quá giá trị của

nó khi sửa chữa

Nếu NBH chấp nhận thông báo từ bỏ tàu của NĐBH có nghĩa là họ chấpnhận TNBH và chính thức chấp nhận xác tàu và trách nhiệm liên quan Số tiềnbồi thường tổn thất toàn bộ ước tính cũng như trường hợp tổn thất toàn bộ thực

tế Trường hợp NBH chưa chính thức chấp nhận thông báo từ bỏ, mọi biện pháp

mà họ thực hiện nhằm phòng ngừa, hạn chế tổn thất đều không được coi là dấuhiện chấp nhận từ bỏ

Hai là, tổn thất bộ phận Tổn thất bộ phận về tàu được xét bồi thường trong

+ Phải có nguy cơ đe dọa thực sự cho toàn bộ cuộc hành trình;

Trang 13

+ Phải do hành động hy sinh tự nguyện, cố ý, có dụng ý của người trêntàu.

+ Sự hy sinh tài sản và các chi phí bỏ ra phải hợp lý

+ Hành động tổn thất chung phải đem lại an toàn cho tàu và hàng

Ví dụ như: sự hy sinh tổn thất chung của tàu, tiền đóng góp tổn thất chung, chiphí cứu hộ, tiền đóng góp chi phí cứu hộ

Bốn là, các chi phí như chi phí đề phòng, hạn chế tổn thất; chi phí tố tụng,

khiếu nại, chi phí cứu hộ tàu và tài sản khác…

1.1.4 Nội dung cơ bản của bảo hiểm thân tàu biển.

1.1.4.1 Đối tượng bảo hiểm

Bảo hiểm thân tàu biển có đối tượng bảo hiểm là toàn bộ con tàu bao gồm vỏtàu, máy móc, trang thiết bị trên tàu có liên quan đến hoạt động của con tàu Nhưvậy, thực chất bảo hiểm thân tàu biển là bảo hiểm giá trị con tàu đó, bao gồm giátrị vỏ tàu, máy móc và trang thiết bị

Do đặc điểm hoạt động của tàu biển nên trong bản kê khai hợp đồng bảohiểm thân tàu biển, chủ tàu cần kê khai chi tiết cho các mục:

Đồng thời chủ tàu phải đảm bảo ba điều kiện quy định:

- Tàu đủ khả năng đi biển,

- Quốc tịch tàu không thay đổi suốt thời gian bảo hiểm,

Trang 14

- Hành trình con tàu phải hợp pháp.

Những quy định này phải được giải thích rõ ràng và chủ tàu phải tuân thủđúng quy định Những quy định này có liên quan tới phạm vi bảo hiểm

Ngoài ra có thể mở rộng để bảo hiểm cho cả phần cước phí, tiền cước thuêtàu, phí tổn điều hành, lời lãi hoặc gia tăng giá trị thân tàu…

1.1.4.2 Các điều khoản và quy tắc bảo hiểm thân tàu biển

Theo Bộ điều khoản bảo hiểm thân tàu do Học hội bảo hiểm London soạnthảo, HĐBH thân tàu biển có thể ký theo một trong những điều khoản dướiđây:

Một là, điều khoản bảo hiểm thời hạn thân tàu (Institute Time Clause Hulls

- ITC) ITC đầu tiên ra đời vào năm 1888 và đã trải qua 3 lấn sửa đổi, bổ sung:ITC 1970, ITC 1983, ITC 1995

Hai là, điều khoản bảo hiểm bảo hiểm tiêu chuẩn về tổn thất toàn bộ ITC –

ILO (ITC - Total Loss Only) 01/11/1995;

Ba là, điều khoản bảo hiểm loại trừ tuyệt đối tổn thất bộ phận FOD (Free of

Damage Absolutely);

Bốn là, điều khoản bảo hiểm miễn tổn thất riêng FPA (Free from Particular

Average);

Năm là, điều khoản bảo hiểm loại trừ tuyệt đối tổn thất riêng về chuyến

IVC - FPA (Institute Voyage Clause - FPA Absolutely);

Sáu là, điều khoản bảo hiểm rủi ro đóng tàu (Institute Clause for builder’s

risks) 01/ 06/1988;

Trang 15

Bảy là, điều khoản bảo hiểm chiến tranh và đình công (Institute war and

strikes clauses) 01/11/1995;

Tám là, điều khoản bảo hiểm giá trị gia tăng thân tàu;

Chín là, điều khoản bảo hiểm rủi ro ở cảng (Port Risks)

Đối với các tàu hoạt động trong phạm vi vùng biển Việt Nam, quy tắc bảohiểm đang được áp dụng là “Quy tắc bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm rủi ro chiếntranh đối với tàu thuyền hoạt động trong vùng thủy nội địa và vùng biển ViệtNam”

1.1.4.3 Phạm vi bảo hiểm và loại trừ bảo hiểm

Trong các điều khoản bảo hiểm kể trên, điều khoản bảo hiểm thời hạn thântàu ITC 01/11/1995 là điều khoản được sử dụng phổ biến nhất trong bảo hiểmthân tàu biển Mặt khác, ITC 01/11/1995 còn là điều khoản quan trọng chi phốinội dung của nhiều điều khoản thân tàu khác Nội dung phạm vi bảo hiểm và loạitrừ bảo hiểm của điều khoản bảo hiểm thời hạn thân tàu ITC 01/11/1995 sẽ đượctrình bày trong phần phụ lục số 02

1.1.4.4 Số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm

Bảo hiểm thân tàu biển là một dạng bảo hiểm tài sản nên STBH thân tàuđược xác định dựa trên giá trị của đối tượng bảo hiểm vào thời điểm giao kếtHĐBH, là giá trị thỏa thuận giữa NĐBH và NBH nhưng không vượt quá giá trịbảo hiểm thân tàu

Ngoài ra, STBH đối với các bảo hiểm bổ sung được xác định dựa trênnguyên tắc dưới đây:

Trang 16

- Phần bổ sung về phí tổn điều hành, thù lao quản lý, lời lãi thặng dư haygia tăng giá trị của thân tàu và máy móc: STBH không vượt quá 25% STBH thântàu.

- Phần bổ sung về cước phí, tiền cước cho thuê tàu: STBH không vượt quá25% STBH thân tàu trừ đi STBH về phí tổn điều hành, thù lao quản lý, lời lãithặng dư hay gia tăng giá trị của thân tàu và máy móc

- Phần bổ sung về phí bảo hiểm (với điều kiện STBH không vượt quá số phíbảo hiểm 12 tháng của mọi quyền lợi bảo hiểm): STBH giảm dần theo tỷ lệ 1/2mỗi tháng

Phí bảo hiểm là số tiền mà bên mua bảo hiểm phải trả dựa theo thỏa thuậntrong HĐBH để nhận được cam kết bồi thường, trả tiền bảo hiểm của DNBH,được xác định trên cơ sở STBH và tỷ lệ phí bảo hiểm Trong đó, tỷ lệ phí có thểđược tính bằng một trong những cách sau:

- Tỷ lệ phí = tỷ lệ phí cơ bản + tỷ lệ phụ phí, hoặc

- Tỷ lệ phí = tỷ lệ phí bồi thường cho tổn thất toàn bộ + tỷ lệ phí phí bồithường cho tổn thất bộ phận + tỷ lệ phụ phí, hoặc

- Tỷ lệ phí = tỷ lệ phí chính thống + tỷ lệ phí tàu già (tàu từ 15 tuổi trở lên)

1.1.4.5 Quyền lợi và trách nhiệm của các bên trong bảo hiểm thân tàu

biển.

a Người bảo hiểm.

Thực chất NBH chính là các doanh nghiệp bảo hiểm Doanh nghiệp bảohiểm là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động kinh doanh bảo hiểm và táibảo hiểm Trong bảo hiểm thân tàu biển, các công ty bảo hiểm có trách nhiệm

Trang 17

bồi thường tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm trong trường hợp xảy ra tổn thất chochủ tàu ( NĐBH ) Quyền lợi mà NBH được hưởng chính là mức phí họ thuđược.

b Người được bảo hiểm- người tham gia bảo hiểm

Bảo hiểm thân tàu biển là nghiệp vụ bảo hiểm về tài sản Vì vậy mà chủ sởhữu con tàu là người tham gia bảo hiểm đồng thời là người được bảo hiểm

Người tham gia bảo hiểm- người được bảo hiểm có thể là chủ tàu, có thể làchủ hàng, có thể là thuyền trường ( nếu thuyền trưởng cũng có quyền sở hữu contàu ), có thể là người thuê tàu, có thể là một cá nhân, một tập thể các chủ sở hữuhoặc một doanh nghiệp

1.2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHAI THÁC BẢO HIỂM THÂN TÀU BIỂN 1.2.1 Vai trò của công tác khai thác đối với hoạt động kinh doanh bảo

hiểm thân tàu biển.

Khai thác là khâu đầu tiên trong quá trình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm, làmột trong những khâu có vai trò quyết định đến sự thành bại của mọi nghiệp vụbảo hiểm và bảo hiểm thân tàu biển cũng không nằm ngoài quy luật đó Quanđiểm trên xuất phát từ những lý do sau đây:

Trước hết, giai đoạn khai thác bảo hiểm là bước đầu tiên để gắn kết doanhnghiệp và khách hàng Mọi công việc trong quá trình khai thác như: khai thácviên tiếp xúc, nắm bắt nhu cầu của khách hàng; đàm phán, chào phí; chăm sóckhách hàng… đều có tác dụng thể hiện hình ảnh một DNBH chuyên nghiệp,quyết định có hay không sự hợp tác giữa họ với khách hàng

Hơn nữa, bảo hiểm hoạt động trên luật số lớn Càng nhiều HĐBH được kýkết đồng nghĩa với việc NBH tập hợp được càng nhiều những người có rủi ro

Trang 18

tương đồng, giúp phân tán hậu quả tài chính đối với mỗi tổn thất xảy ra trong sốnhững người mua bảo hiểm trở nên dễ dàng.

Ở khía cạnh khác, nếu công tác khai thác bảo hiểm đạt hiệu quả, tình hìnhtổn thất, thiệt hại xảy ra trong thực tế càng xích lại gần tần suất tổn thất hay chiphí trung bình / tổn thất đã được sử dụng khi tính phí bảo hiểm Ngược lại, khitriển khai nghiệp vụ bảo hiểm, không có được số lượng người đủ lớn mua bảohiểm thì tình hình thực tế rất dễ sai lệch với dự tính của NBH Ngoài ra, việc thuhút được số lượng lớn người mua bảo hiểm còn giúp DNBH tăng hiệu quả kinh

tế với một số chi phí, tạo điều kiện giảm phí

Sau cùng, chất lượng khai thác tác động sâu rộng đến hiệu quả công tác đềphòng, hạn chế tổn thất và giám định, bồi thường tổn thất Ví dụ như việc đánhgía đúng rủi ro mà đối tượng bảo hiểm có thể gặp phải giúp doanh nghiệp vừatránh nhận bảo hiểm cho những rủi ro xấu; vừa có những biện pháp đề phòng,hạn chế tổn thất thích hợp cho từng đối tượng cụ thể; qua đó duy trì tỷ lệ bồithường và trích lập các quỹ dự phòng ở mức hợp lý Ngược lại, nếu hoạt độngnhận xét bảo hiểm bị buông lỏng sẽ dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng Đó cóthể là tỷ lệ bồi thường cao hơn mức cho phép dẫn tới hiệu quả kinh doanh nghiệp

vụ thấp, trích lập dự phòng nghiệp vụ thấp hơn mức cần thiết khiến thiếu hụtnguồn chi trả bồi thường và theo đó khả năng thanh toán với các chủ HĐBHtrong các năm tài chính tương lai bị hạn chế Đặc biệt, trong bảo hiểm thân tàubiển, các tàu tham gia bảo hiểm trên cơ sở giá trị ghi sổ Khi mà điều kiện kinh

tế ngày càng khó khăn, kinh doanh tàu không hiệu quả, giá trị thực của tàu ngàymột thấp đi thì vấn đề trục lợi bảo hiểm là không thể tránh khỏi

1.2.2 Các kênh khai thác bảo hiểm thân tàu.

Trang 19

1.2.2.1 Hệ thống đại lý chuyên nghiệp

Đây là hệ thống phân phối truyền thống, trong đó đại lý là các tổ chức, cánhân được doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền nhằm thực hiện việc giới thiệu chàobán sản phẩm Trong các loại hệ thống phân phối, hệ thống này được coi là khátốn kém chi phí cho doanh nghiệp bảo hiểm, do doanh nghiệp phải chi phí đàotạo đại lý, trả hoa hồng cao …

1.2.2.2 Các mạng lưới phân phối kết hợp ( hệ thống phân phối bán hàng

1.2.2.3 Các văn phòng bán bảo hiểm

Đây là hệ thống phân phối trong đó nhân viên của doanh nghiệp bảo hiểmđược trả lương sẽ trực tiếp thực hiện việc bán sản phẩm tại trụ sở chính củadoanh nghiệp hay tại các văn phòng bảo hiểm khu vực, các chi nhánh…

1.2.2.4 Môi giới

Môi giới bảo hiểm là tổ chức trung gian đại diện cho khách hàng tìm kiếmcác doanh nghiệp bảo hiểm phù hợp Môi giới được hưởng hoa hồng do doanhnghiệp bảo hiểm chi trả Phân phối qua môi giới làm tăng uy tín cho doanhnghiệp nhưng có nhược điểm là doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không được tiếp xúctrực tiếp với khách hàng nếu không có sự đồng ý môi giới

1.2.2.5 Các hệ thống phân phối khác

Trang 20

Ngoài việc sử dụng các hệ thống phân phối như vừa đề cập ở trên, các doanhnghiệp bảo hiểm còn cung cấp dịch vụ cho khách hành thông qua gửi thư trựctiếp, qua điện thoại qua mạng máy tính (thương mại điện tử), qua việc quảng cáotrên các phương tiện thông tin đại chúng: vô tuyến truyền hình, đài phát thanh,báo, tạp chí…

Việc sử dụng hệ thống kênh phân phối này giúp doanh nghiệp giảm được một sốchi phí trung gian, do đó tạo điều kiên giảm giá và tăng một số lợi thế cạnhtranh Nhưng hệ thống phân phối này chỉ thành công khi áp dụng với một số sảnphẩm đơn giản, công nghệ phát triển và khách hàng có được thói quen mua sảnphẩm

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến khai thác bảo hiểm thân tàu biển

Sự phát triển của đội tàu biển và khả năng tài chính của các chủ tàu:

Có thể khẳng định rằng đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến công tác khaithác bảo hiểm Doanh nghiệp chỉ có thể bán được sản phẩm của mình cho nhữngkhách hàng có nhu cầu tiêu dùng sản phẩm đó Đối với bảo hiểm thân tàu, khiđội tàu biển được gia tăng, càng nhiều tàu được đưa vào khai thác đồng nghĩavới cầu trên thị trường bảo hiểm lớn, là điều kiện thuận lợi để DNBH đẩy mạnhhoạt động khai thác, tăng doanh thu

Nhưng thực tế là nhu cầu tiêu dùng sản phẩm chỉ là điều kiện cần mà chưaphải là điều kiện đủ để tạo nên khách hàng tiềm năng cho doanh nghiệp Mộtkhách hàng được gọi là có đủ tiềm năng khi họ thực sự cần sản phẩm, dịch vụ,

có khả năng thanh toán và sẵn sàng chi trả Trường hợp khả năng tài chính củachủ tàu bị giới hạn có nghĩa là DNBH sẽ không thể cung cấp được sản phẩm của

Trang 21

mình hoặc với những chủ tàu đang tham gia bảo hiểm thì tình trạng nợ đọng phí

là không thể tránh khỏi

Các nhân tố về chất lượng dịch vụ và thương hiệu của doanh nghiệp:

Thời gian giải quyết hồ sơ, xử lý phát sinh; công tác giám định, bồi thườngkhi xảy ra tổn thất, hoạt động chăm sóc khách hàng… là những yếu tố quyết địnhchất lượng sản phẩm bảo hiểm, thể hiện hình ảnh DNBH chuyên nghiệp vớikhách hàng Đồng thời, không thể phủ nhận rằng uy tín của DNBH là nhân tố tácđộng không nhỏ tới quyết định mua bảo hiểm của khách hàng Lẽ tự nhiên làkhách hàng cảm thấy yên tâm hơn khi tài sản của họ được bảo hiểm bởi doanhnghiệp có uy tín lâu năm trên thị trường Cùng với nhân tố về nhu cầu bảo hiểm,đây là nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến kết quả khai thác

Tổ chức mạng lưới khai thác:

KTV là những người thực hiện nhiệm vụ chuyển giao sản phẩm từ DNBH(người bán) đến khách hàng (người mua) Do vậy, nhân tố về số lượng cũng nhưtrình độ chuyên môn của KTV có ảnh hưởng rất lớn tới kết quả và hiệu quả khaithác, giúp DNBH chủ động khai thác triệt để thị trường

Các nhân tố kinh tế:

Các nhân tố như sự tăng trưởng hay suy thoái kinh tế, tỷ lệ lạm phát, lãi suấttín dụng… đều có tác động đến công tác khai thác bảo hiểm thân tàu, ảnh hưởngtrực tiếp đến sức mua sản phẩm bảo hiểm Một ví dụ tiêu biểu là dưới sự ảnhhưởng tiêu cực của cuộc suy thoái kinh tế cuối năm 2008, kinh doanh vận tảibiển gặp phải rất nhiều khó khăn: không có hoặc không có đủ hàng để chạy,cước vận tải thấp không đủ trang trải chi phí Giá thuê một chiếc tàu biển chứađược 2.500 container tiêu chuẩn là 30.000 USD/ngày, thì nay chỉ còn chưa đến

Trang 22

12.000 USD/ngày; những tàu chở hàng lớn loại Panamax cho thuê với mức giá64.000 USD/ngày, nay còn chưa đầy 11.000 USD/ngày… kéo theo giá tàu liêntục giảm mạnh Do vậy, các công ty bảo hiểm phải đối mặt với rất nhiều yêu cầugiảm STBH thân tàu Tình trạng này còn kéo dài sang năm 2009, trung bìnhSTBH thân tàu đã giảm khoảng 40%, cá biệt có chủ tàu yêu cầu giảm STBH tới75% so với năm 2008.

Các nhân tố chính trị, pháp lý:

Nhân tố này có tác động mạnh mẽ đến thị trường bảo hiểm nói chung và bảohiểm thân tàu nói riêng, có tác dụng hạn chế hoặc khuyến khích thị trường pháttriển Cụ thể là khi Việt Nam ra nhập WTO, những cam kết mở cửa thị trườngbảo hiểm như cho phép thành lập công ty bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài

và không hạn chế số lượng chi nhánh trong nước, cho phép công ty bảo hiểm cóvốn đầu tư nước ngoài được cung cấp dịch vụ bảo hiểm bắt buộc từ 1/1/2008 đặt ra cho các công ty bảo hiểm Việt Nam không ít thử thách trong khâu khaithác khi phải cạnh tranh với các công ty bảo hiểm, môi giới bảo hiểm nướcngoài, nhất là khi các công ty này lại không quá khắt khe trong vấn đề chào phí

do thị trường cạnh tranh

Các nhân tố tự nhiên:

Các nhân tố tự nhiên như thời tiết, khí hậu, môi trường sinh thái… ảnh hưởngđến khả năng xảy ra rủi ro, làm tăng hoặc giảm nhu cầu bảo hiểm Đặc biệt làvới tàu biển, do dặc đặc trưng về môi trường hoạt động, tác động này càng rõnét

1.2.4 Quy trình khai thác bảo hiểm thân tàu biển

Bước 1) Tiếp nhận thông tin

Trang 23

KTV có nhiệm vụ thường xuyên tiếp xúc với khách hàng hoặc cơ quanquản lý, đại lý, môi giới, cộng tác viên… nhằm kịp thời nắm bắt nhu cầu củakhách hàng và giới thiệu sản phẩm bảo hiểm phù hợp Bên cạnh đó, KTV cầntìm hiểm thêm thông tin về nguồn vốn, năng lực quản lý, khả năng tham gia bảohiểm… của khách hàng.

Bước 2) Phân tích, đánh giá rủi ro

- Thông qua số liệu thống kê và thực tiễn hoạt động của khách hàng, KTV

tư vấn với bộ phận lãnh đạo về chính sách khách hàng Đồng thời, kết hợp với bộphận bồi thường tính hiệu quả bảo hiểm các năm để đề xuất điều chỉnh tỷ lệ phí

- KTV hoặc giám định viên trực tiếp kiểm tra tàu, kiểm tra giấy tờ của tàunhư: Giấy đăng ký tàu, Giấy chứng nhận khả năng đi biển/khả năng hoạt động,Giấy chứng nhận cấp tàu để đánh giá tình trạng tàu

- Trường hợp yêu cầu kỹ thuật chuyên môn cao, khả năng rủi ro lớn… cóthể yêu cầu trợ giúp của cơ quan chuyên môn, tổ chức nước ngoài Việc tìmkiếm, đánh giá và lựa chọn nhà giám định bên ngoài tuân thủ theo quy trình giámđịnh bồi thường

Bước 3) Xem xét đề nghị bảo hiểm

- Trên cơ sở thông tin khách hàng, báo cáo đánh giá rủi ro, chính sáchkhách hàng để đưa ra tỷ lệ phí bảo hiểm phù hợp

- Kiểm tra tên, dấu, chữ ký… của khách hàng của khách hàng trên Giấy yêucầu bảo hiểm, đảm bảo tính hợp lệ của Giấy yêu cầu bảo hiểm

Trang 24

- Đối với khách hàng trước đó đã tham gia bảo hiểm tại một chi nhánh kháchoặc công ty bảo hiểm khác thì cần có sự phối hợp để có quyết định chấp nhậnbảo hiểm đúng đắn, tránh tình trạng trục lợi bảo hiểm.

- Trường hợp những dịch vụ đặc biệt có giá trị lớn, tính kỹ thuật phức tạphoặc trên phân cấp KTV cần đề xuất với lãnh đạo phòng, lãnh đạo công typhương án đàm phán tối ưu

- KTV có thể từ chối nhận bảo hiểm

Bước 4) Đàm phán và chào phí

- Trường hợp phải tham khảo phí bảo hiểm của thị trường tái bảo hiểm thìchỉ chào phí cho khách hàng sau khi đã nhận được thông báo phí của thị trườngtái bảo hiểm Các nội dung cần có trong bản chào phí là: điều kiện bảo hiểm, quytắc bảo hiểm áp dụng, giá trị bảo hiểm, mức khấu trừ, thời hạn bảo hiểm, phạm

vi hoạt động, tỷ lệ phí/phí bảo hiểm

- Phí bảo hiểm đã chào cho khách hàng nhưng chưa được chấp thuận, lãnhđạo phòng và lãnh đạo công ty có thể gặp măt, trao đổi và tính toán lại phí

- Trong quá trình đàm phán, các yếu tố liên quan như: quy tắc bảo hiểm,biểu phí, hồ sơ, số liệu về khách hàng, chính sách khách hàng… cần được xemxét để đưa ra mức phí phù hợp

Bước 5) Chấp nhận bảo hiểm

- Khi khách hàng chấp nhận bản chào phí, đề nghị khách hàng gửi Giấy yêucầu bảo hiểm hoàn chỉnh, chính thức cho doanh nghiệp bảo hiểm

- Trường hợp không thể liên lạc được qua fax, yêu cầu khần thiết… KTV

có thể nhận thông tin qua điện thoại để cấp đơn Tuy nhiên, khi giao cho khách

Trang 25

hàng phải yêu cầu khách hàng ký Giấy yêu cầu bảo hiểm theo các thông tin đãkhai báo qua điện thoại.

- Đề nghị khách hàng kê khai rõ tất cả các mục trong GYCBH

Bước 6) Cấp đơn bảo hiểm

a) Kiểm tra chứng từ

- Khi nhận được giấy yêu cầu bảo hiểm của chủ tàu, KTV phải kiểm traGiấy yêu cầu bảo hiểm có hợp lệ hay không Giấy yêu cầu bảo hiểm được coi làhợp lệ khi ghi đầy đủ các mục sau:

 Tên NĐBH;

 Tên tàu và các đặc điểm riêng của tàu như: quốc tịch, cảng đăng ký, năm

và nơi đóng tàu, loại tàu, trọng tải…;

 Giá trị tàu, giá trị tham gia bảo hiểm;

 Phạm vi hoạt động;

 Thời hạn tham gia bảo hiểm;

 Điều kiện tham gia bảo hiểm

- Ngoài ra, cần kiểm tra những thông tin trong Hồ sơ đăng kiểm của tàu,Bản đánh giá rủi ro (nếu có) và những khuyến nghị trong đó

b) Vào sổ cấp đơn, lấy số đơn bảo hiểm

- Sau khi kiểm tra các chứng từ cần thiết, nếu tàu đủ khả năng hoạt động antoàn theo quy định thì căn cứ vào Giấy yêu cầu bảo hiểm tiến hành cấp ĐBH, lấy

số đơn theo thứ tự trong sổ cấp đơn, kiểm tra đơn và sổ cấp đơn theo từng danhmục Sau đó, trình lãnh đạo phòng ký đơn và sổ cấp đơn

Trang 26

- Với những tàu đã qua kiểm tra có khiếm khuyết mà chủ tàu không khắcphục theo đúng yêu cầu kỹ thuật thì khi nhận bảo hiểm phải loại trừ nhữngkhiếm khuyết đó và ghi rõ loại trừ trên ĐBH

c) Tính phí bảo hiểm

- Xác định STBH

- Xác định tỷ lệ phí áp dụng Tỷ lệ phí (%) phụ thuộc vào trọng tải, tìnhtrạng kỹ thuật của tàu, tuổi tàu, vật liệu đóng, thời hạn bảo hiểm, vùng hoạtđộng, trình độ quản lý tàu thuyền của chủ tàu

d) Sửa đổi hoặc hủy đơn bảo hiểm

Sau khi cấp ĐBH, nếu có những thay đổi liên quan tới giá trị bảo hiểm,

phạm vi hoạt động, điều kiện tham gia bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm… thì cấpGiấy sửa đổi bổ sung các điều kiện bảo hiểm cho khách hàng cho phù hợp vớitình hình mới Nếu xét thấy sự thay đổi đó làm tăng trách nhiệm bảo hiểm thìphải thu thêm phí Hoặc tùy từng trường hợp, có thể hủy ĐBH

Trang 27

Chương 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC BẢO HIỂM THÂN TÀU BIỂN

TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX

2.1 Giới thiệu về công ty cổ phần bảo hiểm PJICO

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty

Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) là doanh nghiệp cổ phầnđược thành lập theo Giấy phép số 1873/GP-UB ngày 8 tháng 6 năm 1995 doChủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp với thời gian hoạt động là 25năm Vốn điều lệ ban đầu của công ty là 55 tỷ đồng Công ty được cấp Giấychứng nhận đủ tiêu chuẩn và điều kiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm số06/TC/GCN ngày 27 tháng 5 năm 1995 của Bộ Tài chính Ngày 15 tháng 4năm 2004, PJICO nhận Giấy phép điều chỉnh số 06/GPĐC12/KDBH của BộTài Chính cho phép Công ty bổ sung vốn điều lệ lên 70 tỷ đồng Ngày 26tháng 04 năm 2007, PJICO nhận Giấy phép điều chỉnh số 06/ GPDDC19/KDBH của Bộ Tài Chính cho phép công ty bổ sung vốn điều lệ lên 140 tỷđồng Hiện tại PJICO có vốn điều lệ 710 tỷ đồng PJICO hoạt động theo LuậtKinh doanh Bảo hiểm và Điều lệ hoạt động đã được Đại Hội đồng Cổ đôngthông qua Doanh nghiệp được Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấpGiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 15/06/1995 và Đăng ký kinh doanhthay đổi lần 4 số 060256 ngày 21/12/2006, lĩnh vực hoạt động kinh doanhchính của PJICO gồm Kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, tái bảo hiểm và đầu

tư tài chính

Trang 28

PJICO là công ty cổ phần bảo hiểm đầu tiên tại Việt Nam (1995), do cáctổng công ty lớn như Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) với tỷ lệvốn góp 51,18%, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) có tỷ lệvốn góp trong PJICO là 10,03%, Tổng Công ty Thép Việt Nam (VSC) góp6,02%, Công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (Vinare) góp 8,78%, Công tyVật tư và Thiết bị toàn bộ (Matexim), Công ty Điện tử Hà Nội (Hanel), Công tyThiết bị an toàn (AT).

Kể từ khi chính thức hoạt động vào tháng, Công ty cổ phần bảo hiểm PJICO

đã gặt hái được nhiều thành công thông qua những nỗ lực phát triển khôngngừng Chỉ với 55 tỷ đồng vào những ngày đầu thành lập, đến nay vốn điều lệcủa PJICO đã lên đến 710 tỷ đồng với hệ thống hơn 51 chi nhánh, trung tâm, vănphòng giao dịch có mặt khắp 64 tỉnh thành trong cả nước Với việc tăng vốn điều

lệ từ 55 tỷ đồng lên 710 tỷ đồng đã khẳng định cam kết phát triển của Công ty,đảm bảo khả năng hoạt động và cho thấy tiềm năng phát triển mạnh mẽ Hiệnnay Công ty cổ phần bảo hiểm PJICO đã trở thành một trong những Công ty bảohiểm Phi nhân thọ lớn trên thị trường bảo hiểm Việt Nam

Khởi đầu với 8 cán bộ công nhân viên, đến nay, PJICO đã có 1.300 cán bộ côngnhân viên , trên 3.000 đại lý bảo hiểm chuyên nghiệp, với 51 chi nhánh, hàngtrăm phòng bảo hiểm trải rộng khắp các khu vực Miền Bắc, Miền Trung, MiềnĐông Nam Bộ, Miền Tây Nam Bộ phục vụ khách hàng trên toàn quốc Đội ngũnhân viên lớn cùng với trình độ chuyên môn cao, có tinh thần trách nhiệm đạođức, thấm nhuần văn hóa kinh doanh của Công ty cũng là một trong những yếu

tố thúc đẩy thành công của PJICO, góp phần thực thi sứ mạng cao cả mà Công tycam kết với khách hàng

2.1.2 Cơ cấu bộ máy quản lý.

Trang 29

Sơ đồ cơ cấu tổ chức của PJICO.

Phó Tổng giám đốc

Phó Tổng giám đốc

Phó Tổng giám đốc

Phòng BH

xe cơ giới

Phòng BH con người

Phòng BH tài sản –

kỹ thuật

Phòng BH tàu thủy

Phòng BH hàng hóa

Phòng tái BH

Phòng đầu tư

Phòng dự án

Phòng

BH phi hàng hải

Phòng Tổ chức

Phòng Tổng hợp

Phòng CNTT

Phòng QL

& PT đại lý

Phòng Kiểm toán nội bộ

Phòng

TC - KT

Phòng Đào tạo

& QLCL

Các tổng đại

lý & các đại lý

Các chi nhánh

Các văn phòng đại diện

Phòng

TT - PC

Trang 30

Có thể nói rằng để đứng vững trên thị trường nhiều biến động và cạnh tranh nhưhiện nay mỗi doanh nghiệp đều phải tự hoàn thiện mình, phải có mỗi quan hệchặt chẽ giữa các thành viên để cùng thực hiện mục đích chung dưới sự lãnh đạocủa các nhà quản lý.

Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan quyết định cao nhất của PJICO Đại hội

đồng cổ đông có nhiệm vụ thông qua các báo cáo của Hội đồng quản trị;thông qua, sửa đổi bổ sung điều lệ; quyết định tăng, giảm vốn điều lệ; thôngqua định hướng phát triển trung và dài hạn; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thànhviên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và bộ máy tổ chức công ty

Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý cao nhất, có toàn quyền nhân danh

PJICO quyết định những vấn đề quan trọng liên quan đến mục đích, quyền lợicủa PJICO, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông.Hội đồng quản trị bao gồm 9 thành viên: 3 cổ đông đại diện cổ đôngPetrolimex, 5 thành viên đại diện 5 cổ đông lớn (Vietcombank, Vinare, VSC,Maxtexim, Hanel), 1 thành viên đại diện cho các thành viên thể nhân

Ban kiểm soát: do Đại hội cổ đông bầu ra có chức năng kiểm tra tính hợp lý,

hợp pháp trong hoạt động quản lý của Hội đồng quản trị; hoạt động điều hànhcủa Tổng giám đốc; kiểm tra việc chấp hành điều lệ và nghị quyết của Đại hội

cổ đông Ban kiểm soát của PJICO có 5 thành viên

Ban tổng giám đốc: Tổng giám đốc PJICO do Hội đồng quản trị bổ nhiệm,

chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và Đại hội cổ đông về quản lý điều

Trang 31

hành hoạt động kinh doanh của công ty Ban Tổng giám đốc điều hành PJICOgồm 4 thành viên: 1 Tổng giám đốc, 3 Phó Tổng giám đốc.

2.1.3 Ngành nghề kinh doanh

Lĩnh vực kinh doanh:

- Kinh doanh trực tiếp bảo hiểm phi nhân thọ

- Kinh doanh tái bảo hiểm

- Đầu tư tài chính

Hiện nay, PJICO đã triển khai hơn 80 sản phẩm bảo hiểm và chiếm lĩnh thịtrường trong nhiều lĩnh vực Các nghiệp vụ chính là: bảo hiểm xe cơ giới, bảohiểm hàng hóa vận chuyển, bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu,bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản - kỹ thuật, bảo hiểm trách nhiệm chung, …Ngoài ra, PJICO cũng phát triển hoạt động kinh doanh trong nhiều lĩnh vựckhác Ví dụ như:

- Nhận và nhượng tái liên quan đến các nghiệp vụ bảo hiểm kể trên;

- Hoạt động đầu tư vốn (theo Luật kinh doanh bảo hiểm ngày 09/12/2000);

- Cung cấp các dịch vụ: giám định, điều tra, tính toán phân bố tổn thất; đại lýgiám định, xét giải quyết bồi thường và đòi người thứ ba;

- Cho thuê văn phòng;

- Dịch vụ mua bán, sửa chữa, cứu hộ và kinh doanh phụ tùng ô tô;

- Mua bán, bảo dưỡng xe có động cơ và mô tô, xe máy, phụ tùng cho xe cóđộng cơ, xăng, dầu, mỡ;

- Kinh doanh dịch vụ khách sạn, nhà hàng, du lịch;

Trang 32

- Đầu tư kinh doanh phát triển nhà và các hoạt động liên quan đến bất độngsản;

- Mua bán hàng hóa, thương mại và đại lý môi giới, đấu giá

2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh trong thời gian qua.

Trải qua hơn 15 năm xây dựng và phát triển, vượt qua nhiều khó khăn, tháchthức, PJICO đã gặt hái được những thành công to lớn về nhiều mặt Thể hiệntrên những khía cạnh sau:

Một là, PJICO có số vốn điều lệ ban đầu là 55 tỷ đồng với 7 cổ đông sáng

lập đăng ký góp 80,5% số vốn (trong đó, Tổng công ty Xăng dầu Việt NamPetrolimex góp 51%) Đến nay, để phù hợp với quy định của Pháp luật và việc

mở rộng quy mô kinh doanh, vốn điều lệ của PJICO được nâng lên mức 710 tỷđồng, các Qũy dự phòng nghiệp vụ đạt 684 tỷ đồng

Hai là, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trong 15 năm qua của công

ty đạt khoảng 38%, cao hơn tốc độ tăng trưởng trung bình của toàn thị trườngbảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam cùng thời kỳ PJICO hiện là công ty có doanhthu đứng thứ 4 trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, cung cấp hầu hết các sảnphẩm bảo hiểm phi nhân thọ cho thị trường Việt Nam (trừ bảo hiểm hàng không,bảo hiểm vệ tinh và bảo hiểm dầu khí) Năm 2011, doanh thu của PJICO đạt trên2.128 tỷ đồng - gấp hơn 100 lần so với doanh thu 14 tỷ đồng của năm đầu tiênthành lập 1995

Ba là, công tác đầu tư tài chính, tái bảo hiểm đạt được kết quả khá tốt.

PJICO đã đầu tư vào hầu hết các loại hình: góp vốn liên doanh, mua cổ phần,tiền gửi, bất động sản… Trong đó, danh mục đầu tư có nguồn thu nhập cố địnhnhư tiền gửi ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất

Trang 33

Công ty đã thực hiện tái tục thành công chương trình tái bảo hiểm năm 2011 cho

4 nhóm nghiệp vụ chính: hàng hải, hỏa hoạn, kỹ thuật và hỗn hợp Bên cạnh đó,công ty cũng thu xếp mới thành công chương trình tái bảo hiểm vượt mức bồithường năm 2011 cho nghiệp vụ xe cơ giới Đồng thời, củng cố, phát triển quan

hệ chặt chẽ và lâu dài với các công ty bảo hiểm lớn trên thế giới như CCR,Munich Re, Korean Re, ACR, Best Re, Malaysian Re …

Bốn là, khởi đầu với 8 cán bộ công nhân viên, đến nay, PJICO đã có 1.400

cán bộ công nhân viên, trên 3.000 đại lý bảo hiểm chuyên nghiệp, với 51 chinhánh, hàng trăm phòng bảo hiểm phục vụ khách hàng trên toàn quốc

Năm là, Với kết quả hoạt động kinh doanh xuất sắc, công ty đã được Nhà

nước trao tặng Huân chương lao động hạng III năm 2000, Huy chương lao độnghạng II năm 2011, Giải thưởng Sao đỏ năm 2003, Giải thưởng Sao vàng Đất Việtnăm 2003, 2004 và 2010, Danh hiệu thương hiệu mạnh Việt Nam năm 2006 –

2011, Nằm trong top “ 20 nhãn hiệu nổi tiếng Việt Nam’ và đặc biệt là được xếptrong danh sách TOP 200 Thương hiệu Việt Nam

2.2 Những thuận lợi và khó khăn của PJICO khi tiến hành khai thác bảo hiểm thân tàu biển.

Ngày đăng: 13/12/2017, 23:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w