Giám định và bồi thường tổn thất...20 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY BẢO VIỆT HÀ NỘI...27 2.1... Điều n
Trang 1KHOA NGÂN HÀNG - BẢO HIỂM
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài : Thực trạng kinh doanh bảo hiểm hàng hóa xuất nhập
khẩu vận chuyển bằng đường biển tại phòng số 7 Lý Thường
Kiệt- Hoàn Kiếm-Hà Nội
.
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 7
1.1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 7
1.1.1 Vai trò và đặc điểm của quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa vận chuyển bằng đường biển 7
1.1.2 Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển 9
1.1.3 Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển 10
1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BẢO HIỂM HÀNG HÓA XNK VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 12
1.2.1.Đối tượng và phạm vi bảo hiểm 12
1.2.2 Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm 13
1.2.3 Phí bảo hiểm 14
1.2.4 Các điều kiện bảo hiểm 16
1.2.5 Hợp đồng bảo hiểm 18
1.2.6 Thời hạn bảo hiểm 20
1.2.7 Giám định và bồi thường tổn thất 20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY BẢO VIỆT HÀ NỘI 27
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BẢO VIỆT HÀ NỘI VÀ PHÒNG PHỤC VỤ KHÁCH HÀNG SỐ 7 – LÝ THƯỜNG KIỆT – HÀ NỘI 27
Trang 32.1.1.Quá trình hình thành và phát triển 27
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 29
2.2 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA PHÒNG TRONG THỜI GIAN VỪA QUA 30
2.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA BẢO HIỂM HHXNK BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI PHÒNG SỐ 7 31
2.3.1 Công tác khai thác bảo hiểm 31
2.3.2 Công tác giám định và bồi thường tổn thất 35
2.3.3 Công tác chống trục lợi bảo hiểm 44
2.3.4 Công tác đề phòng hạn chế tổn thất 45
2.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM HHXNK VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI PHÒNG SỐ 7 46
2.4.1 Những kết quả đạt được 46
2.4.2 Các tồn tại và nguyên nhân 48
2.5 THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HÓA XNK BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI PHÒNG SỐ 7 – LÝ THƯỜNG KIỆT – HOÀN KIẾM – HÀ NỘI 48
2.5.1 Thuận lợi 48
2.5.2 Khó khăn 50
CHƯƠNG 3 :GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI PHÒNG SỐ 7 51
3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HÓA XNK VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI PHÒNG SỐ 7 51
Trang 43.2 GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM HÀNG HÓA XNK VẬN CHUYỂN BẰNG
ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY BẢO VIỆT HÀ NỘI 53
3.2.1 Về công tác khai thác 53
3.2.2 Về công tác giám định, bồi thường 54
3.2.3 Về công tác đề phòng và hạn chế tổn thất 55
3.2.4 Về công tác chống trục lợi bảo hiểm 57
3.2.5 Về công tác đào tạo và quản lý cán bộ 58
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 59
3.3.1 Về phía nhà nước 59
3.3.2 Về phía Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam 61
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 63
DANH MỤC BẢNG BIỂU 64
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa những năm qua, ngoại thương đã
có những đóng góp to lớn vào công cuộc đổi mới của đất nước Xuất khẩu trởthành một trong những động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, góp phần ổnđịnh kinh tế, xã hội như giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói, giảmnghèo
Nhịp độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân những năm gầnđây đạt 19%/năm.,Cụ thể, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá của cảnước trong tháng 2/2012 đạt 16,88 tỷ USD, tăng 20,4% so với tháng trước.Trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 8,3 tỷ USD, tăng 17%, kim ngạch nhậpkhẩu đạt 8,58 tỷ USD, tăng 23,9% so với tháng 1/2012 (theo số liệu thống kêcủa Tổng cục hải quan) Điều này đã chứng tỏ một tiềm năng rất lớn về hoạtđộng xuất nhập khẩu cũng như tạo một môi trường thuận lợi cho các doanhnghiệp bảo hiểm trong nước khi triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuấtnhập khẩu yên tâm mở rộng quy mô hoạt động, đảm bảo được tình hình khảnăng tài chính của doanh nghiệp mình đồng thời cũng đẩy nhanh quá trình thuhút vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam
đã bỏ phí một lượng hàng hóa xuất nhập khẩu khổng lồ, nhường “ miếngbánh” thị phần cho danh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước chỉdành được thị phần rất nhỏ.Do vậy, làm thế nào để giành lại thị phần khaithác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu cũng như hạn chế lượngchảy máu ngoại tệ hiện nay là thách thức rất lớn đối với các công ty bảo hiểmViệt Nam
Nhận thức được tầm quan trọng của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuấtnhập khẩu bằng đường biển Trong thời gian thực tập tại phòng số 7 LýThường Kiệt- Hoàn Kiếm- Hà Nội em đã tìm hiểu, nghiên cứu và chọn đề tài:
Trang 6“Thực trạng kinh doanh bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại phòng số 7 Lý Thường Kiệt- Hoàn Kiếm-Hà Nội” cho
chuyên đề tốt nghiệp của mình
Ngoài phần Lời mở đầu và Kết luận, chuyên đề có kết cấu gồm ba chương
chuyển bằng đường biển.
xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại phòng số 7- Hoàn Kiếm- Hà Nội
hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại phòng số 7-Lý Thường Kiệt-Hoàn Kiếm- Hà Nội
Trang 7CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
1.1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨUVẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
1.1.1 Vai trò và đặc điểm của quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa vận chuyển bằng đường biển
1.1.1.1 Vai trò của quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa vân chuyển bằng đường biển
Trong mội trường kinh tế toàn cầu thì vận chuyển hàng hóa bằngđường biển đóng vai trò vô cùng quan trọng, đảm bảo hàng hóa lưu thôngthuận lợi giữa các quốc gia trên toàn thế giới, chiếm 90% tổng khối lượnghàng hóa xuất nhập khẩu toàn thế giới, với những ưu điểm như:
Có thể vận chuyển được nhiều chủng loại hàng hóa với khối lượnglớn mà các phương tiện vận tải khác không thể đảm nhận được,chẳng hạn như các loại hàng hóa siêu trường, siêu trọng
Vận chuyển bằng đường biển góp phần phát triển tốt mối quan hệkinh tế các nước, thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại của nhàNước
Tăng thu ngoại tệ cho đất nước, đồng thời khuyến khích các ngànhdịch vụ trong nước phát triển theo như: ngân hàng, môi giới bảohiểm
Trang 81.1.1.2 Đặc điểm của quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa bằng đường biển
Chủ thể của hợp đồng hàng hóa xuất nhập khẩu thuộc các quốc giakhác nhau, trong hợp đồng ghi rõ những nội dung về: trọng lượng, phẩm chất,
ký mã hiệu, quy cách đóng gói, giá cả hàng hóa, trách nhiệm thuê tàu, cướcphí, phí bảo hiểm, thủ tục và đồng tiền thanh toán Do các bên trong hợp đồng
có sự xa cách về địa lý và họ thường không áp tải được hàng hóa trong quátrình vận chuyển nên việc làm này thông thường giao cho các chủ tàu
Hàng hóa sau khi được trao đổi sẽ có sự chuyển quyền sở hữu từ ngườibán sang người mua
Hàng hóa XNK được vận chuyển qua biên giới quốc gia nên phải chịu
sự kiểm soát của hải quan theo quy định của mỗi nước Đồng thời để đượcvận chuyển ra hoặc vào biên giới thì phải mua bảo hiểm theo tập quán thươngmại quốc tế
Hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển phải thông qua người vậnchuyển, tức là cả người mua và người bán đều không trực tiếp kiểm soát đượcnhững tổn thất có thể gây ra cho hàng hóa của mình Và theo hợp đồng vậnchuyển thì người vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm về tổn thất hàng hóa trongmột phạm vi, giới hạn nhất định vì vậy để giảm rủi ro trong kinh doanh họthường phải mua bảo hiểm cho hàng hóa
Quá trình XNK hàng hóa có liên quan đến nhiều bên, trong đó có bốnbên chủ yếu là: người mua, người bán, người vận chuyển và người bảo hiểm
Vì thế, phải phân định rõ trách nhiệm của các bên liên quan
Trang 91.1.2 Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển
Ngành bảo hiểm đã ra đời do có sự tồn tại khách quan của các rủi ro
mà con người không thể khống chế được Nếu có những rủi ro xảy ra màkhông có các khoản bù đắp thiệt hại kịp thời của các nhà bảo hiểm, đặc biệt lànhững rủi ro mang tính thảm hoạ gây ra tổn thất rất lớn thì chủ tàu và chủhàng gặp rất nhiều khó khăn về tài chính trong việc khắc phục hậu quả do cácrủi ro đó gây ra Vì vậy, sự ra đời và việc tham gia bảo hiểm cho hàng hoáxuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển trở thành một nhu cầu rất cầnthiết và nó có những tác dụng sau:
Thứ nhất, giảm bớt rủi ro cho hàng hoá do hạn chế tổn thất nhờ tăngcường bảo quản kiểm tra đồng thời kết hợp các biện pháp đề phòng và hạn chếtổn thất
Thứ hai, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu cũng đem lại lợi ích chonền kinh tế quốc dân, góp phần tiết kiệm và tăng thu ngoại tệ cho nhà nước.Khi các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu nhập hàng theo giá FOB, CF, xuấttheo giá CIF, CIP sẽ tạo ra khả năng cạnh tranh của bảo hiểm trong nước vớinước ngoài Nhờ có hoạt động bảo hiểm trong nước các chủ hàng không phảimua bảo hiểm ở nước ngoài
Thứ ba, khi các công ty có tổn thất hàng hoá xảy ra sẽ được bồi thườngmột số tiền nhất định giúp họ bảo toàn được tài chính trong kinh doanh
Thứ tư, thúc đẩy nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằngđường biển cũng như ngành bảo hiểm trong nước phát triển, góp phần tạoviệc làm tăng thu nhập cho người dân, tăng thu cho ngân sách nhà nước
Trang 101.1.3 Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm HH XNK vận chuyển bằng đường biển.
Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển đã có từ lâu, nó rađời và phát triển cùng với hàng hóa và hoạt động trao đổi buôn bán quốc tế.Khoảng thế kỷ V trước công nguyên, giao lưu buôn bán giữa các quốc gia dầndần hình thành, phát triển và cũng từ đó vận chuyển bằng đường biển đã rađời Kéo theo đó là những hình thức bảo hiểm sơ khai nhất như: “cho vaymạo hiểm” đã xuất hiện theo đó trong trường hợp xảy ra tổn thất đối với hànghóa trong quá trình vận chuyển,người vay sẽ được miễn không phải trả khoảntiền vay cả vốn lẫn lãi Ngược lại, nếu họ cập bến an toàn thì sẽ phải trả mộtlãi suất rất cao
Vào thế kỷ XIV, ở Floren, Genoa nước Ý đã xuất hiện các hợp đồngbảo hiểm hàng hải đầu tiên mà theo đó một người bảo hiểm cam kết vớingười được bảo hiểm sẽ bồi thường những thiệt hại về tài sản mà người đượcbảo hiểm phải gánh chịu khi có rủi ro xảy ra trên biển và gây tổn thất chohàng hóa được bảo hiểm, đồng thời với việc nhận một khoản phí Hợp đồngbảo hiểm cổ nhất mà người ta còn lưu giữ là từ năm 1347, hiện còn được lưugiữ tại Floren Sau đó cùng với việc phát hiện ra Ấn Độ Dương và tìm raChâu Mỹ, ngành hàng hải nói chung và bảo hiểm hàng hải nói riêng đã pháttriển rất nhanh
Về cơ sở pháp lý thì có thể coi chiếu dụ Barcelona năm 1435 là văn bảnpháp luật đầu tiên trong ngành bảo hiểm.Sau đó là sắc lệnh của Philippe deBourgogne năm 1458, những sắc lệnh của Brugos năm 1537, Fiville năm
1552 và ở Amsterdam năm 1558 Ngoài ra còn có sắc lệnh của Phần Lan năm
1563 liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hàng hóa
Trang 11Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XVI-XVII cùng với sự ra đời của phươngthức sản xuất tư bản chủ nghĩa thì hoạt động bảo hiểm mới phát triển rộng rãi
và ngày càng đi sâu vào nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội.Mở đườngcho sự phát triển này là luật 1601 của Anh thời Nữ hoàng Elisabeth sau đó làchỉ dụ 1681 của Pháp do Colbert biên soạn và Vua Louis XIV ban hành, đó lànhững đạo luật mở đường cho lĩnh vực bảo hiểm hàng hải
Đến thế kỷ XVII, nước Anh đã chiếm vị trí hàng đầu trong buôn bán vàhàng hải quốc tế và Luân Đôn trở thành trung tâm phồn thịnh nhất.Tàu củacác nước đi từ Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi đều về cập bến hai bờsông Thame của thành phố Luân Đôn.Các tiệm cà phê là nơi gặp gỡ của cácnhà buôn, chủ ngân hàng, người chuyên chở, người bảo hiểm để giao dịch,trao đổi thông tin với nhau
Bảo hiểm Việt Nam ra đời muộn hơn nhiều so với các nước trên thếgiới nhưng so với các nước Đông Nam Á thì bảo hiểm Việt Nam vẫn ra đờisớm hơn cả
Vào thời kỳ Pháp thuộc (những năm 1920) cùng với sự ra đời của cácchi nhánh công ty bảo hiểm Quốc gia Pháp, sau đó là của ngân hàng thế giới,bảo hiểm hàng hải cũng ra đời từ đó Ở miền bắc năm 1965 Bảo Hiểm ViệtNam bắt đầu đi vào hoạt động, Bộ tài chính đã ban hành quy tắc chung về bảohiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển (QTC-1965) và đến năm 1990
Bộ tài chính ban hành quy tắc chung mới (QTC-1990)
Công ty Bảo Hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt) chính thức đi vàohoạt động tại Miền Bắc vào ngày 15/01/1965.Trong những năm đầu, Bảo Việtchỉ tiến hành các nghiệp vụ về hàng hải như bảo hiểm hàng hóa XNK, bảohiểm tàu viễn dương
Trang 12Đến nay, bảo hiểm hàng hải đã phát triển rộng khắp thế giới và đượchầu hết các quốc gia triển khai.Một số thị trường bảo hiểm hàng hải lớn củathế giới là:Anh, Mỹ, Đức, Nhật Bản, Pháp, Trung Quốc…Trong đó, thịtrường bảo hiểm London là thị trường lớn nhất thế giới và là mẫu mực chongành bảo hiểm của nhiều nước Các điều khoản, luật lệ, tập quán củaLondon được các thị trường bảo hiểm khác áp dụng, nhất là Luật bảo hiểmhàng hải năm 1906 và các điều khoản thông dụng như:các điều khoản bảohiểm hàng hóa, các điều khoản bảo hiểm thân tàu và các hợp đồng bảo hiểmhàng hóa theo mẫu Lloyd’s của viện những người bảo hiểm London ILU.Chođến 1982 ILU mới cho ra mẫu hợp đồng mới, kèm theo các điều kiện của hợpđồng mới (ICC 1982) để thay thế mẫu hợp đồng cũ và các điều khoản cũ(ICC 1963).
1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BẢO HIỂM HHXNK VẬN CHUYỂNBẰNG ĐƯỜNG BIỂN
1.2.1.Đối tượng và phạm vi bảo hiểm.
Đối tượng bảo hiểm:
Đối tượng bảo hiểm chính là hàng hóa XNK đang trong quá trìnhvận chuyển từ nơi này đến nơi khác bằng đường biển (Bao gồm cả thờigian lưu kho, chờ xếp lên phương tiện hoặc chờ chủ hàng nhận lạihàng)
Hàng hóa có thể là:
- Nguyên vật liệu ban đầu: than, gỗ, dầu thô, các sản phẩmhàng hóa dạng bột hoặc nước
- Các sản phẩm thủy sản đông lạnh như: tôm, cá…
- Các sản phẩm nông sản thực phẩm: ngũ cốc, rau củ quả
- Hàng công nghiệp : máy móc,may mặc, giầy da…
Trang 13 Phạm vi bảo hiểm:
Phạm vi bảo hiểm là giới hạn rủi ro được bảo hiểm và cũng làgiới hạn trách nhiệm của công ty bảo hiểm Hàng hóa được bảo hiểmtheo điều kiện nào thì chỉ những rủi ro tổn thất quy định trong điều kiện
đó mới được bồi thường Phạm vi trách nhiệm càng rộng thì những rủi
ro được bảo hiểm càng nhiều và kéo theo mức phí lớn
Căn cứ vào các điều khoản bảo hiểm ICC (Institule CasgoClaude) 01/01/1982, để phù hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam đốivới quá trình bốc dỡ, vận chuyển hàng hóa ở các cảng Việt Nam, BộTài Chính đã ban hành quy tắc chung về bảo hiểm hàng hóa vậnchuyển bằng đường biển gọi tắt là QTC 1990 Quy tắc này được xâydựng trên cơ sở điều khoản ICC 01/01/1982 Đối với hàng hóa nhậpkhẩu từ các cảng nước ngoài về Việt Nam thường được bảo hiểm theoQTC 1990
Để phù hợp với tập quán quốc tế, khi bán bảo hiểm hàng hóaxuất nhập khẩu các công ty bảo hiểm thường áp dụng ICC 01/01/1982.Khi hàng hóa có tổn thất, người nhận hàng dễ dàng nhận biết ngayhàng hóa bị tổn thất có nằm trong phạm vi bảo hiểm hay không
1.2.2 Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm của hàng hóa được xác định dựa trên cơ sở giá trị hànghóa do người bảo hiểm khai báo Người được bảo hiểm có thể kê khai theogiá trị hàng hóa tại nơi đến để tham gia bảo hiểm Về cơ bản, số tiền bảo hiểmcủa hàng hóa bằng giá hàng hóa ghi trên hóa đơn bán hàng cộng chi phí vậnchuyển và phí bảo hiểm tức là bằng giá trị CIF của hàng hóa Để tính giá trịCIF, người bảo hiểm dùng công thức sau:
CIF= (C + F)/(1 - R)
Trang 14Trong đó : C= Tiền hàng
F=cước phí vận chuyểnR=Tỷ lệ phí bảo hiểmNgười được bảo hiểm có thể tính gộp lãi ước tính vào số tiền bảo hiểm,tuy nhiên tiền lãi này không được vượt quá 10% trị giá CIF Mọi trường hợp
số tiền bảo hiểm vượt quá giới hạn này đều được coi là bảo hiểm trên giá trị
và phần vượt quá đó sẽ không được thừa nhận
1.2.3 Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là một khoản tiền mà người được bảo hiểm phải trả chongười bảo hiểm để được bồi thường khi có tổn thất do các rủi ro đã thoả thuậngây lên Phí bảo hiểm thường được tính toán trên cơ sở xác suất của nhữngrủi ro gây ra tổn thất hoặc trên cơ sở thống kê tổn thất của nhiều năm trên mộtloại hàng hoá được bảo hiểm nhằm đảm bảo trang trải tiền bồi thường và cólãi Như vậy phí bảo hiểm được tính toán trên cơ sở tỷ lệ phí bảo hiểm và phụthuộc vào số tiền bảo hiểm hoặc giá trị bảo hiểm Để lập công thức tính phíbảo hiểm cần có các chỉ tiêu sau:
R : là tỷ lệ phí bảo hiểm
I : là phí bảo hiểm
A : là số tiền bảo hiểm
V : là giá trị bảo hiểm Thì : I = R * A (nếu A < V) Hoặc I = R * V (nếu A = V) Hoặc phí bảo hiểm được tính như sau:
I = (C+F) *(1+a)*R/(1-R) Nếu trả bảo hiểm trên lãi ước tính
Trang 15Trong đó: a là phần trăm lãi ước tính và thường bằng 10% của số tiềnbảo hiểm hoặc giá trị bảo hiểm.
Tỷ lệ phí bảo hiểm phụ thuộc các yếu tố sau:
- Loại hàng hóa: Hàng dễ bị tổn thất như đễ vỡ.dễ bị mất cắp thì
tỷ lệ phí bảo hiểm sẽ cao hơn
- Loại bao bì: Bao bì càng chắc chắn thì tỷ lệ phí càng hạ.
- Phương tiện vận chuyển: Hàng được chở trên tàu trẻ có tỷ lệ
phí bảo hiểm thấp hơn hàng được chở bằng tàu già
- Hành trình: Tỷ lệ phí tăng lên đối với những hành trình có
nhiều rủi ro hoặc hành trình qua các vùng có xung đột vũ trang
- Điều kiện bảo hiểm: Điều kiện bảo hiểm có phạm vi càng hẹp
1.2.4 Các điều kiện bảo hiểm
Trách nhiệm của người bảo hiểm đối với hàng hoá theo các điều kiệnbảo hiểm gốc của Việt Nam được quy định theo bản Quy tắc chung về bảo
Trang 16hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển năm 1990 do BộTài chính ban hành Quy tắc này được xây dựng trên cơ sở điều khoản ICCngày 1/1/1982 của hiệp hội bảo hiểm London (Institute of LondonUnderwriters - ILU) Vì các điều kiện này được áp dụng ở hầu hết các nướctrên thế giới thay thế các điều kiện cũ ICC-1963 và trở thành tập quán thôngdụng quốc tế Nó bao gồm các điều kiện sau:
Điều kiện bảo hiểm A
Người bảo hiểm chịu trách nhiệm về mọi rủi ro gây ra mất mát, hưhỏng cho hàng hóa được bảo hiểm với điều kiện
+ Khuyết tật hoặc tính chất riêng của hàng
+ Sự bất lực tài chính của chủ tàu
+ Vũ khí, vụ nổ hạt nhân + Tàu không đủ khả năng đi biển
+ Chiến tranh
+ Đình công
Điều kiện bảo hiểm B
Với điều kiện loại trừ bảo hiểm như điều kiện bảo hiểm A, ngườibảo hiểm chịu trách nhiệm đối với
- Những mất mát hay hư hỏng xảy ra cho đối tượng bảo hiểm cóthể quy hợp lý cho các nguyên nhân
+ Cháy hoặc nổ
Trang 17+ Tàu hay sà lan bị mắc cạn, chìm đắm hoặc lật úp+ Tàu đâm va vào bất kỳ vật thể gì trừ nước
+ Phương tiện vận chuyển trên bộ bị đổ hoặc trật bánh+ Dỡ hàng tại cảng có nguy hiểm
+ Động đất, núi lửa phun, sét đánh
- Những mất mát hư hại xảy ra cho đối tượng bảo hiểm do cácnguyên nhân
+ Hy sinh tổn thất chung+ Ném hàng xuống biển hoặc nước cuốn trôi khỏi tàu+ Nước biển, nước sông, hồ xâm nhập vào tàu, xà lan,hầm hàng, phương tiện vận chuyển, contener hoặc nơi chứa hàng
- Tổn thất toàn bộ của bất kỳ kiện hàng nào rơi ra khỏi tàu hoặcrơi trong khi đang xếp hàng lên hoặc dỡ hàng ra khỏi tàu hay xà lan
Điều kiện bảo hiểm C
Đây là điều kiện bảo hiểm có trách nhiệm hẹp nhất Theo điềukiện bảo hiểm này, người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm đối với:
- Những mất mát, hư hỏng xảy ra cho đối tượng bảo hiểm
có thể quy hợp lý cho các nguyên nhân
+ Cháy hoặc nổ+ Tàu hay xà lan bị mắc cạn, chìm đắm hay lật úp+ Đâm va vào bất kỳ vật thể gì trừ nước
+ Phương tiện vận chuyển trên bộ bị đổ hoặc trật bánh+ Dỡ hàng tại cảng có nguy hiểm
- Những mất mát, hư hại xảy ra cho đối tượng bảo hiểm docác nguyên nhân
+ Hy sinh tổn thất chung+ Ném hàng xuống biển
Trang 181.2.5 Hợp đồng bảo hiểm
1.2.5.1 Khái niệm
Hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) hàng hóa XNK vận chuyển bằng đườngbiển là một văn bản, trong đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ bồi thường chongười tham gia bảo hiểm các tổn thất của hàng hóa theo các điều kiện bảohiểm đã ký kết, còn người tham gia bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm
1.2.5.2 Các loại hợp đồng bảo hiểm.
Có hai loại hợp đồng bảo hiểm: Hợp đồng bảo hiểm chuyến, Hợp đồngbảo hiểm bao
Hợp đồng bảo hiểm chuyến
Hợp đồng bảo hiểm chuyến là loại hợp đồng bảo hiểm cho mộtchuyến vận chuyển từ địa điểm này đến địa điểm khác
Đây là hợp đồng “ tường minh” nhất bởi lẽ những thông tin về đốitượng bảo hiểm như: tên hàng, số lượng xếp xuống tàu, đặc điểmnhận biết, giá trị bảo hiểm, phí bảo hiểm… cũng như những thôngtin về phương tiện vận chuyển, hành trình như: tên tàu, chủ tàu,cảng xếp hàng, ngày xếp hàng…
Hợp đồng bảo hiểm bao
Hợp đồng bảo hiểm bao là hợp đồng bảo hiểm cho nhiều chuyếnhàng của cùng một chủ hàng trong thời hạn nhất định (thường là 1năm) Hợp đồng bảo hiểm bao thường áp dụng cho những chủ hàng
có trọng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu lớn, chở bằng nhiều chuyếntrong năm
Trang 19 So với hợp đồng bảo hiểm chuyến, hợp đồng bao có nhiều thông tinngười được bảo hiểm chưa được biết trước trong hợp đồng Do đóhợp đồng bảo hiểm bao được coi là một dạng hợp đồng nguyên tắctrong đó các bên thỏa thuận các điều khoản làm cơ sở cho việc tínhgiá trị bảo hiểm, phí bảo hiểm tương ứng với những điều kiện bảohiểm, phương thức thanh toán phí, cam kết về phương tiện vậnchuyển….
Do mang lại nhiều ưu điểm trong kinh doanh hơn so với hợp đồngchuyến: Hợp đồng bảo hiểm bao phù hợp đối với những kháchhàng có khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu lớn nên hợp đồng bảohiểm bao luôn được các doanh nghiệp bảo hiểm khuyến khích sửdụng
1.2.6 Thời hạn bảo hiểm
Thời hạn bảo hiểm là khoảng thời gian hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực,
kể từ khi kí kết hợp đồng bảo hiểm và có bằng chứng công ty bảo hiểm đãchấp nhận bảo hiểm bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm đã đóng phí bảohiểm (trừ trường hợp đã có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm) cho tớikhi kết thúc trách nhiệm bảo hiểm Trong bảo hiểm hàng hóa, nếu hàng hóađược ký kết theo hợp đồng bảo hiểm bao thì thời hạn bảo hiểm khác hiệu lựcbảo hiểm
Thời hạn bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm bao là một khoảngthời gian nhất định được chỉ ra trong hợp đồng bảo hiểm đượcchỉ ra trong HĐBH (thường là một năm) và hiệu lực bảo hiểmđược tính riêng cho từng chuyến hàng
Trang 20 Thời hạn bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm chuyến là kể từ lúcbắt đầu một chuyến hành trình cho đến khi kết thúc chuyến hànhtrình đó
1.2.7 Giám định và bồi thường tổn thất.
1.2.7.1 giám định
1.2.7.1.1.Chấp nhận giám định
a Điều kiện chấp nhận yêu cầu giám định
- Về giấy tờ, tài liệu
Vận đơn đường biển
Giấp chứng nhận bảo hiểm
L/C packing list
Các giấy tờ liên quan khác ( giấy chứng nhận hàng hư hỏng, thư dựkháng, báo cáo hải sự …)
- Về đảm bảo sẵn sàng giám định
Thời gian và điạ điểm yêu cầu giám định
Hàng xấu, hỏng để riêng hay còn lẫn với hàng tốt
Sự có mặt của các bên liên quan
Trang 21có nghi vấn về số lượng mà không phải do rủi ro bên ngoài tác độngvào
- Hàng bị tổn thất cần được giám định ngay tại cảng dỡ hàng Trongtrường hợp giám định tại kho cuối cùng cần yêu cầu chủ hàng ký biênbản xác nhận số lượng, trạng thái tổn thất hoặn nghi vấn với tàu cảng
- Về khía cạnh pháp lý: Là giám định đối tịch, tùy trường hợp cần sự cómặt của người có trách nhiệm đối với tổn thất, có đủ chữ ký xác nhậncủa các bên
1.2.7.1.2 Tiến hành giám định
a Nhận giấy yêu cầu giám định
Khi nhận giấy yêu cầu giám định cần kiểm tra
Tên tổ chức hoặc cá nhân yêu cầu
Tên hàng, tình trạng hư hỏng của bao bì
Số lượng, trọng lượng yêu cầu giám định
Nội dung, thời gian và địa điểm yêu cầu giám định
Cam kết trả phí
Chữ ký và con dấu
b Công tác chuẩn bị
- Xem xét giấy tờ kèm theo có đúng, đủ và đồng bộ hay không
- Biên bản giám định(mẫu),tên, địa chủ, điện thoại cần liên hệ
- Phương tiện đi lại
- Dụng cụ cần thiết
c.Kiểm tra bao bì
Trang 22- Xem bao, bì, mã hiệu bên ngoài để xác định đúng đối tượng giámđịnh
- Ký hiệu đề phòng tổn thất( xác định khả năng tổn thất do thiếu kýhiệu này)
- Vật liệu làm bao bì
- Bao bì cũ, mới( có phù hợp hay không)
- Dấu vết của bao bì: rách vỡ thủng, ngấm nước, cậy đinh, mở niêmphong
d Kiểm tra kiên hàng
- Số lượng, trọng lượng hàng có trong kiện
- Cách xắp xếp , chèn lót
- Tình trạng tổn thất của hàng hóa
- Các dấu vết( nhiễm bẩn, ướt, mốc ), chỗ trống, vật lạ
- Các hiện tượng khả nghi khác
e Lấy mẫu vật và chụp ảnh
Các trường hợp lấy mẫu
Hàng bị ướt chưa rõ chất gì gây nên
Hàng cần phân tích mới xác định được mức độ tổn thất
Hàng nghi ngờ phẩm chất không phù hợp với quy định của hợpđồng
Giám định viên phải chụp ảnh khi
Chủ tàu không chịu ký vào biên bản giám định
Lô hàng bị tổn thất lớn
Trang 23 Dùng lời không diễn tả được hết mức độ và tình trạng tổn thất
f Lập và ký biên bản giám định với chủ tàu
Biên bản giám định lậy theo mẫu của người yêu cầu hoặc theo mẫu của
cơ quan giám định Nội dung bao gồm
Tình trạng thiết bị của tàu, container
- Trường hợp thiếu số lượng
- Trường hợp thiếu trọng lượng
- Trường hợp hàng hư hỏng
- Xác định nguyên nhân
Do tính chất hàng hóa và bao bì hàng hóa
Do phương tiện vận chuyển và đặc điểm hành trình của hàng hóa
Do bốc dỡ, chất xếp, lưu kho, chuyển tải
Sai sót trong giao nhận
Tai nạn, sự cố trong quá trình vận chuyển
h lập chứng thư giám định
Nội dung chứng thư giám định theo mẫu của người yêu cầu hoặc theomẫu cơ quan giám định Phần kết quả giám định cần
Trang 24- Mô tả chi tiết các yếu tố đẫn đến nguyên nhân tổn thất
- Nêu đầy đủ tình trạng và ước tính chính xác mức độ tổn thất
- Đưa ra mức độ giảm giá thương mại của hàng hóa
- Chi phí cứu chữa, hạn chế tổn thất
- Không bày tỏ ý kiến về trách nhiệm đối với tổn thất
1.2.7.2 Bồi thường bảo hiểm hàng hóa
a Tiếp nhận hồ sơ của khách hàng
- Nhận và kiểm tra sơ bộ các chứng từ cơ bản của hồ sơ
- Vào sổ theo dõi hồ sơ khiếu lại
- Sắp xếp hồ sơ theo thứ tự giải quyết
b.Kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ
Một bộ hồ sơ bao gồm
Thư khiếu lại đòi bồi thường( mẫu)
Bản chính giấy CNBH/đơn bảo hiểm
Bản chính hoặc bản sao hóa đơn giử hàng, kèm tờ kê chi tiếthàng hóa và/ hoặc phiếu ghi trọng lượng
Bản chính B/L và/ hoặc hợp đồng vận chuyển
Biên bản giảm định và các chứng từ tài liệu khác chỉ rõ mức độtổn thất
Thư dự kháng thông báo tổn thất
Giấy chứng nhận hoặc giấy biên nhận của người vận chuyển khigiao hàng và phiếu ghi trọng lượng tại nơi nhận hàng cuối cùng
Các chứng từ giao nhận hàng của cảng hoặc của cơ quan chứcnăng
Công văn thư từ trao đổi của người được bảo hiểm với người vậnchuyển và các bên trách nhiệm của họ đối với tổn thất
Trang 25 Hóa đơn / biên lai chi phí khác
Yêu cầu khách hàng cung cấp thêm một số chửng từ khách nếucần thiết
c Tính toán bồi thường
- Xem xét tổn thất xảy ra có thuộc trách nhiệm bảo hiểm không
- Dựa trên các chứng từ chứng minh tổn thất để tính toán STBH
- Nếu STBH < GTBH => tính toán bồi thường theo tỷ lệ
- Nếu STBH> GTBH thì phần cao hơn không có giá trị bồi thường
- Trường hợp đóng góp tổn thất chung: Sau khi nhận được bản phân
bổ tổn thất chung từ người tính toán phân bổ tổn thất chung do chủtàu chỉ định, chuyên viên kiểm tra xem việc phân bổ đó có hợp lý vàphù hợp không, nếu chưa hợp lý thì đề nghị phân bổ lại
d Trình duyệt
- Chuyên viên bồi thường làm tờ trình duyệt bồi thường trong đóphân tích nguyên nhân tổn thất, phạm vi trách nhiệm, cách tínhSTBH …
- Trường hợp các phòng có ý kiến trái ngược cần xem xét lại để có ýkiến thống nhất trước khi trình lãnh đạo
- Sau khi có quyết định của lãnh đạo, chuyên viên lập bản thanh toánbồi thường hoặc làm công văn thông báo cho khách hàng
- Vào sổ thanh toán bòi thường
- Gửi bản thanh toán bồi thường hoặc thông báo bồi thường chokhách hàng
- Gửi phòng kế toán một bản để làm thủ tục chuyển tiền
- Thông báo tái bảo hiểm( nếu có tổn thất liên quan đến trách nhiệmcủa người nhận tái)
Trang 26- Gửi thông báo bồi thường đến các công ty đồng bảo hiểm( nếu công
ty là người bảo hiểm chính)
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY BẢO VIỆT HÀ NỘI
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BẢO VIỆT HÀ NỘI VÀ PHÒNGPHỤC VỤ KHÁCH HÀNG SỐ 7 – LÝ THƯỜNG KIỆT – HÀ NỘI
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đất nước có những chuyểnmình căn bản, thị trường hàng hoá và thị trường vốn trong nước nói chung và
Hà nội nói riêng cũng trở nên sôi động, đặt bảo hiểm thương mại trước yêucầu mới trong sự nghiệp thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước Đáp ứng yêucầu đó, ngày 17/02/1989, Bộ Tài Chính đã ra quyết định 27/TCQĐ -TCCBchuyển Chi nhánh bảo hiểm Hà Nội thành Công ty bảo hiểm Hà Nội (gọi tắt
Trang 27là Bảo Việt Hà Nội), có trụ sở đặt tại 15C Trần Khánh Dư - Hoàn Kiến - HàNội.
Vốn điều lệ : 1500 tỷ đồng
Cổ đông chiến lược
STT Cổ Đông Số ĐKKD Địa chỉ Số lượng cổphần sở hữuTỷ lệ
1 Bộ tài chính A0000001
Số 28 TrầnHưng Đạo-Phan ChuTrinh- Hà Nội
02963470-18F Tower 1,HSBC center, 1Sham MongRoad, Kowloon,Hong Kong,S.R.A
59.125.161 10.31%
Các sản phẩm chính
Dịch vụ dành cho khách hàng doanh nghiệp:
Bảo hiểm hàng hóaBảo hiểm hàng không và bảo hiểm vệ tinhBảo hiểm dầu khí
Bảo hiểm tàu thủyBảo hiểm xe cơ giớiBảo hiểm kỹ thuật & Bảo hiểm tài sảnBảo hiểm trách nhiệm & các rủi ro hỗn hợp
Trang 28Bảo hiểm du lịch, y tế và tai nạn con người (cho nhân viên)…
Dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân:
Bảo hiểm tai nạnBảo hiểm y tếBảo hiểm du lịchBảo hiểm xe cơ giớiBảo hiểm tàu thủy
Trụ sởchínhtổng côngty
Bảo hiểmnhân thọViệt Nam
Các công
ty liêndoanh,liên kếtVăn phòng trụ sở chính
Công ty chứng khoán Bảo Việt
Trung tâm đầu tư Bảo ViệtTrung tâm đào tạo Bảo ViệtBan công nghệ tin học
Ban tổ chức cán bộ
Công ty Bavina tại London
Ban quản lý nghiệp vụ bảo hiểm
Trang 292.2 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA PHÒNG TRONGTHỜI GIAN VỪA QUA
Trong thời gian vừa qua, với phương châm tự hoàn thiện mình để phục
vụ khách hàng tốt nhất, phòng đã chủ động đi trước thị trường nắm bắt thời
cơ, phòng đã đạt được những kết quả như sau
Bảng 01: Kết quả hoạt động kinh doanh của phòng trong những năm gần đây
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu 2007 2008 2009 2010 2011
Doanh thu 3 142.6 3013.4 3368.5 3761 4120.5Tốc độ tăng doanh thu(%) _ (4) 11.7 11.6 10.9Chi phí 2081.2 2036.08 2201.63 2395.54 2575.3Doanh thu/Chi phí 1.51 1.48 1.53 1.57 1.6
Nguồn: phòng số 7Qua bảng cho thấy, tốc độ doanh thu phí có sự biến đổi không đều,riêng năm 2008 doanh thu giảm 4% so với năm trước do khủng hoảng kinh tếthế giới, điều này tác động tiêu cực tới doanh thu của phòng nhưng tỷ suấtdoanh thu trên chi phí vẫn giứu ở mức ổn định Sang các năm tiếp theo,phòng đã điều chỉnh lại chính sách bán hàng của mình, trong đó chú trọng đếntiếp thị khách hàng và khai thác qua các kênh mới như Bancassurance để tiết
Ban nghiên cứu và phát triển thị
trường
Trang 30kiệm chi phí, do đó năm 2009 chứng kiến sự phục hồi kết quả kinh doanhnhư: doanh thu tăng 11.7%, tỷ suất doanh thu trên chi phí vượt so với năm2007- năm trước khi xảy ra khủng hoảng, đạt 1.53 Những kết quả trên tuychưa lớn nhưng rất đáng khích lệ đối với cán bộ nhân viên của phòng
2.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA BẢO HIỂMHHXNK BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI PHÒNG SỐ 7
2.3.1 Công tác khai thác bảo hiểm.
Công tác khai thác là một khâu rất quan trọng trong các doanh nghiệp,các công ty, khai thác được coi như là đầu vào cho hoạt động sản xuất tạo ralợi thế thương mại cuối cùng cho doanh nghiệp, nó quyết định đến sự sốngcòn của công ty Doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh dịch vụ tài chính không
có hoạt động sản xuất cho nên họ chủ yếu tập trung vào khai thác thị trường.Nếu công ty khai thác tốt tức là bán được nhiều hợp đồng bảo hiểm, mang lạidoanh thu lớn sẽ là cơ sở để tăng lợi nhuận, chiếm lĩnh thị phần, nâng cao vịthế của mình trên thị trường bảo hiểm Chính vì tính chất quan trọng của khâukhai thác mà hầu hết các công ty bảo hiểm phải lập ra các chiến lược khaithác Công việc khai thác càng trở nên khó khăn hơn trong điều kiện thịtrường cạnh tranh ngày càng gay gắt, trước tình hình đó đòi hỏi các công typhải tổ chức tốt khâu khai thác Đối với Bảo Việt Hà Nội , cụ thể là phòng số
7 với mục tiêu và cũng là thước đo hiệu quả của khâu khai thác là xây dựng
và phát triển một thị trường bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu ổn định lâudài và tăng trưởng cao
Tuy nhiên với tình hinh kinh tế khó khăn công với sự non kém về kinhnghiệm các công ty bảo hiểm trong nước đang hoàn toàn lép về so với cácdoanh nghiệp nước ngoài
Trang 31* 85% thị phần bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu đang rơi vào tay các công ty nước ngoài.
* 12 doanh nghiệp trong nước chia nhau phần còn lại nhưng thựcchất chỉ có 7 công ty duy trì được hoạt động
(Nguồn:Bộ Tài chính)
trong đó với hơn 40 năm kinh nghiệm, Bảo Việt đang là doanh nghiệp đi đầu,tiếp theo là các công ty Bảo Minh, PVI, PIJICO, bốn doanh nghiệp này chiếm61% thị phần
Riêng đối với phòng số 7,vào đầu năm các nhân viên của phòng bảohiểm hàng hải phải thu thập được thông tin về kim ngạch xuất nhập khẩu nhưchủng loại hàng hoá, số lượng hàng hoá của từng công ty xuất nhập khẩu, qua
đó sẽ tập hợp số liệu để lập kế hoạch khai thác và định mức thu phí trong nămcho các đối tượng Đối với khách hàng mới thì các cán bộ phải tìm cách tiếpcận để tìm hiểu về ngành hàng, nhóm hàng, cách thức đóng gói chất xếp,luồng vận chuyển Các nhân viên phải tìm cách tiếp cận được với nhữngkhách hàng này cho họ thấy sự hiện diện của công ty và giúp họ hiểu hơn vềsản phẩm mà công ty có thể cung cấp Thông qua tư vấn giúp đỡ các công tyxuất nhập khẩu lựa chọn các điều kiện bảo hiểm phù hợp
Đối với khách hàng cũ, khách hàng truyền thống, các nhân viên phảithuyết phục được họ tiếp tục hợp đồng một cách tự nguyện Lượng kháchhàng truyền thống này sẽ đảm bảo cho phòng có một doanh thu ổn định Mộtcông ty bảo hiểm có lượng khách hàng truyền thống chiếm tỉ lệ cao chứng tỏchất lượng dịch vụ của công ty là rất tốt và biểu phí phù hợp
Phòng thường xuyên cử nhân viên nhắc nhở, hướng dẫn khách hàng muabảo hiểm theo đúng thời gian quy định, đồng thời hướng dẫn họ mua bảohiểm hết phần kim ngạch nhập về theo giá FOB, và phần kim ngạch xuất theo