Cấu trúc của Cục Dự trữ Liên bang Cục Dự trữ Liên bang Fed bao gồm các bộ phận: các ngân hàng dự trữ liên bang, Hội đồng Thống đốc của Cục Dự trữ Liên bang, Ủy ban Thị trường mở Liên ba
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG HOA KỲ 2
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Cục Dự trữ Liên bang 2
1.1.1 Giai đoạn 1781 – 1836 2
1.1.2 Giai đoạn 1837–1862: Thời kỳ “ngân hàng tự do” 3
1.1.3 Giai đoạn 1863-1913: Các ngân hàng quốc gia 3
1.1.4 Năm 1913: Cục Dự trữ Liên bang ra đời 4
1.2 Cấu trúc của Cục Dự trữ Liên bang 4
1.2.1 Các ngân hàng dự trữ liên bang 5
1.2.2 Các ngân hàng thành viên 8
1.2.3 Hội đồng Thống đốc 8
1.2.4 Ủy ban thị trường mở liên bang (FOMC) 9
1.3 Tính pháp lý và vị trí trong chính quyền 10
CHƯƠNG 2: NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 12
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 12
2.2 Vị trí pháp lý và chức năng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 14
2.3 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 14
2.4 Trách nhiệm, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 16
2.5 Sự độc lập của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 22
CHƯƠNG 3: VIỄN CẢNH TOÀN CẦU CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 26
3.1 Viễn cảnh toàn cầu của mô hình NHTW 26
3.1.1 Các bằng chứng thực nghiệm về MQH giữa sự độc lập của NHTW và các biến số kinh tế vĩ mô trên toàn thế giới 26
3.1.2 Xu thế phổ biến toàn cầu hiện nay: NHTW ngày càng trở nên độc lập 28
3.2 NHNN Việt Nam trước bối cảnh toàn cầu hóa 30
3.2.1 Các cấp độ độc lập của NHTW theo IMF 30
3.2.2 Mức độ độc lập của NHNN VN 32
3.2.3 Một số kiến nghị 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 2CHƯƠNG 1: CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG HOA KỲ
Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Reserve System – Fed) là ngân hàng trung ương của Hoa Kỳ, bắt đầu hoạt động năm 1915 theo "Đạo luật Dự trữ Liên bang" của Quốc hội Hoa Kỳ thông qua cuối năm 1913
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Cục Dự trữ Liên bang
1.1.1 Giai đoạn 1781 – 1836
1.1.1.1 Ngân hàng Bắc Mỹ
Giai đoạn này, bên cạnh một số nhà lập quốc phản đối việc hình thành của một
hệ thống ngân hàng trung ương, vẫn có nhiều người ủng hộ mạnh mẽ quyết định này Robert Morris, là Giám Đốc Tài chính, đã mở Ngân hàng của Bắc Mỹ vào năm 1782 Tuy nhiên, ngân hàng này lại không thể thực hiện vai trò là một ngân hàng trung ương như dự tính ban đầu do thiên vị cho nước ngoài và có chính sách bất công chống lại các ngân hàng nhà nước khác Vì vậy mà cơ quan lập pháp bang Pennsylvania đã loại
bỏ nó ra khỏi hoạt động của Khối thịnh vượng chung vào năm 1785
1.1.1.2 Ngân hàng đầu tiên của Hoa Kỳ
Năm 1791, cựu trợ lý của Morris và là người bênh vực cho quyền lợi của miền Bắc, Alexander Hamilton, Bộ trưởng Bộ Tài chính, đã chấp nhận một thỏa hiệp với các nhà lập pháp phía Nam để đảm bảo sự tiếp nối của dự án Bank Morris Để đổi lấy sự ủng hộ của miền Nam cho một ngân hàng quốc gia, Hamilton đã đồng ý hỗ trợ đầy đủ
để đảm bảo thủ đô liên bang chuyển từ vị trí tạm thời của nó ở phía Bắc là New York đến một địa điểm ở phía Nam là Potomac Kết quả là, Ngân hàng Đầu tiên của Hoa Kỳ (1791-1811) đã được Quốc hội thông qua và được George Washington ký xác nhận
Một số người sáng lập khác lại kịch liệt phản đối ngân hàng trung ương Thomas Jefferson cho rằng đó là một công cụ để đầu cơ, thao túng tài chính và tham nhũng
Năm 1811, thời gian hiệu lực 20 năm của ngân hàng kết thúc và không được gia hạn bởi Quốc hội, nên 5 năm sau đó là giai đoạn không có ngân hàng liên bang
Trang 31.1.1.3 Ngân hàng thứ hai của Hoa Kỳ
Năm năm sau, chính phủ liên bang ký quyết định thành lập Ngân hàng thứ hai của Hoa Kỳ (1816-1836), về cơ bản là sao chép lại cấu trúc như Ngân hàng thứ nhất, với chi nhánh trên cả nước
Andrew Jackson, người nhậm chức tổng thống vào năm 1828, lên án các ngân hàng là công cụ để tham nhũng Cố gắng của ông trong việc xóa bỏ hệ thống các ngân hàng là một vấn đề chính trị lớn những năm 1830 và định hình hệ thống Đảng Thứ hai,
vì đảng Dân chủ ở các bang phản đối ngân hàng còn đảng Tự do thì lại ủng hộ Jackson không thể giải thể ngân hàng, nhưng cũng không gia hạn thời gian hiệu lực cho nó
Sự kết thúc của các ngân hàng đã dẫn đến một thời kỳ lạm phát phi mã bởi những động cơ có chủ đích của các chủ ngân hàng Jackson đã cố gắng chống lại lạm phát bằng cách yêu cầu tất cả các khoản thanh toán đất liên bang phải được thực hiện bằng vàng hoặc bạc Điều này đã tạo ra cuộc khủng hoảng năm 1837, kéo dài bốn năm, nhưng sau đó hồi phục và tăng trưởng ổn định hơn
1.1.2 Giai đoạn 1837–1862: Thời kỳ “ngân hàng tự do”
Trong giai đoạn này, chỉ có ngân hàng có vốn sở hữu tiểu bang tồn tại Ngân hàng có thể phát hành tiền giấy và các tiểu bang tự đưa ra nhiều quy định cho ngân hàng của mình về yêu cầu dự trữ, lãi suất cho vay và tiền gửi, tỷ lệ vốn cần thiết
Trong thời kỳ ngân hàng tự do, các ngân hàng tồn tại ngắn hơn so với các ngân hàng thương mại hiện nay, với tuổi thọ trung bình khoảng năm năm Khoảng một nửa
số ngân hàng phá sản, và khoảng một phần ba trong số đó buộc phải thoái lui khỏi kinh doanh
1.1.3 Giai đoạn 1863-1913: Các ngân hàng quốc gia
Hệ thống ngân hàng quốc gia ra đời để tồn tại lâu hơn và xây dựng hệ thống tiền tệ thống nhất trên toàn nước Mỹ
Trang 41.1.4 Năm 1913: Cục Dự trữ Liên bang ra đời
Việc không có ngân hàng trung ương đã làm phát sinh một vấn đề nghiêm trọng đối với thị trường tài chính Mỹ, đó là không có người vay cuối cùng, gây ra những biến động thanh khoản lớn theo mùa và cuối cùng dẫn đến các cuộc khủng hoảng trong ngành ngân hàng, mà đỉnh điểm là cuộc khủng hoảng năm 1907 Những đợt khủng hoảng liên tục như vậy đã thuyết phục dân chúng Mỹ rằng việc tồn tại một ngân hàng trung ương là cần thiết, mặc dù vẫn còn nhiều lo ngại về việc ngân hàng trung ương là
cơ hội để các chính trị gia có thể can thiệp quá sâu vào hoạt động các ngân hàng để thao túng thị trường tài chính
Những tranh luận xung quanh vấn đề nên hay không nên xây dựng ngân hàng trung ương đã đưa đến một thỏa hiệp Năm 1913, Quốc hội thông qua Đạo luật Dữ trự Liên bang 1913, quyết định thành lập Cục dự trữ Liên bang, bao gồm hệ thống ngân hàng dưới hình thức bán công Cục Dự trữ Liên bang là hệ thống ngân hàng tồn tại đến ngày nay của Hoa Kỳ
1.2 Cấu trúc của Cục Dự trữ Liên bang
Cục Dự trữ Liên bang (Fed) bao gồm các bộ phận: các ngân hàng dự trữ liên bang, Hội đồng Thống đốc của Cục Dự trữ Liên bang, Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC), Hội đồng cố vấn liên bang, và khoảng 2.500 các ngân hàng thương mại thành viên
Trang 51.2.1 Các ngân hàng dự trữ liên bang
Mỗi quận dự trữ liên bang có 1 ngân hàng dự trữ liên bang chính và chi nhánh của nó ở các thành phố khác trong quận Có tổng cộng 12 ngân hàng dự trữ liên bang
và 25 chi nhánh của chúng trên khắp nước Mỹ Ba ngân hàng dự trữ liên bang lớn nhất
về tài sản là ngân hàng New York, Chicago và San Francisco, với tổng số tài sản nắm giữ lên đến hơn 50% (bao gồm các khoản vay chiết khấu, chứng khoán và các tài sản khác) tài sản cả hệ thống Fed, trong đó quan trọng nhất là ngân hàng New York với phần tài sản nắm giữ chiếm 1/4 cả hệ thống
Trang 6Mỗi ngân hàng dự trữ liên bang là một tổ chức bán công sở hữu bởi ngân hàng thương mại tư nhân trong quận, và những ngân hàng thương mại này cũng là thành viên của Fed Các ngân hàng thành viên mua cổ phiếu của ngân hàng dự trữ của quận mình (điều kiện bắt buộc để là thành viên của Fed), và cổ tức được chi trả cho những
cổ phiếu đó tối đa theo luật là 6% hàng năm
Mỗi ngân hàng quận có 9 giám đốc, trong đó 6 người do các ngân hàng thành viên trong quận bầu, và 3 người còn lại do Hội đồng Thống đốc bổ nhiệm Giám đốc ngân hàng quận được chia làm 3 loại: A, B và C
Loại A (3 người do các NH bầu): chủ ngân hàng chuyên nghiệp
Loại B (3 người do các NH bầu): các nhà lãnh đạo nổi bật từ ngành công nghiệp, lao động, nông nghiệp, hoặc các lĩnh vực tiêu dùng
Loại C (3 người do Hội đồng Thống đốc bổ nhiệm): đại diện cho lợi ích cộng đồng, không được là nhân viên hay cổ đông của ngân hàng
Các giám đốc điều hành hoạt động chung của các ngân hàng quận, nhưng công việc quan trọng nhất của họ là bổ nhiệm chủ tịch ngân hàng (thông qua sự chấp thuận của Hội đồng Thống đốc) Từ năm 2010 trở về trước, cả 9 giám đốc đều tham gia vào
Trang 7quyết định này, nhưng đạo luật Dodd-Frank ban hành tháng 7 năm 2010 đã loại trừ ba giám đốc loại A khỏi thành phần tham gia trong việc lựa chọn chủ tịch ngân hàng Mười hai Ngân hàng Dự trữ Liên bang tham gia vào chính sách tiền tệ thông qua những hoạt động cách sau:
- Giám đốc ngân hàng "thiết lập" các tỷ lệ chiết khấu (mặc dù tỷ lệ chiết khấu trong từng quận được xem xét và quyết định bởi Hội đồng Thống đốc)
- Ngân hàng quận quyết định ngân hàng nào, thành viên cũng như không phải thành viên, có thể có được các khoản vay chiết khấu từ các ngân hàng dự trữ liên bang
- Giám đốc ngân hàng quận chọn một chủ ngân hàng thương mại trong quận của mình để đưa vào Hội đồng cố vấn liên bang, để tham vấn với Hội đồng thống đốc và cung cấp thông tin trong việc điều hành chính sách tiền tệ
5 trong số 12 Chủ tịch ngân hàng có một phiếu bầu tại Ủy ban thị trường mở liên bang Do vai trò đặc biệt của ngân hàng New York, chủ tịch của New York Fed là một thành viên thường trực của FOMC và luôn có một phiếu trong FOMC Bốn phiếu còn lại do 1 trong 11 chủ tịch ngân hàng còn lại nắm giữ và được luân chuyển hằng năm Mười hai ngân hàng dự trữ liên bang cũng thực hiện các chức năng sau:
- Thanh toán séc
- Phát hành đồng tiền mới, thu hồi tiền bị hư hỏng khỏi lưu thông
- Quản lý các khoản vay chiết khấu cho các ngân hàng trong quận
- Hoạt động như trung gian liên lạc giữa các doanh nghiệp và các hệ thống dự trữ liên bang
- Kiểm tra các công ty mẹ của các ngân hàng và các ngân hàng thành viên thuộc
sở hữu tiểu bang
- Thu thập số liệu về điều kiện kinh doanh địa phương
- Sử dụng đội ngũ nhân viên là các nhà kinh tế chuyên nghiệp để nghiên cứu các chủ đề liên quan đến việc điều hành chính sách tiền tệ
Trang 81.2.2 Các ngân hàng thành viên
Tất cả các ngân hàng quốc gia (ngân hàng thương mại sở hữu bởi Văn phòng Kiểm soát tiền tệ) bắt buộc phải là thành viên của Cục Dự trữ Liên bang Các ngân hàng thương mại có vốn điều lệ của tiểu bang không bắt buộc phải là thành viên, nhưng họ
có thể lựa chọn để tham gia Hiện nay, khoảng một phần ba các ngân hàng thương mại tại Hoa Kỳ là thành viên của Cục Dự trữ Liên bang, đã giảm từ con số cao nhất là 49% vào năm 1947
Trước năm 1980, chỉ có các ngân hàng thành viên mới phải giữ dự trữ tiền gửi tại Ngân hàng dự trữ liên bang Các ngân hàng không phải thành viên khác phải tuân the yêu cầu dự trữ của bang sở tại, thường là cho phép họ giữ nhiều dự trữ bằng chứng khoán sinh lãi Vì lúc đó các khoản tiền gửi dự trữ tại Fed không có lãi suất, nên là một thành viên của Fed khá tốn kém, và khi lãi suất tăng, chi phí tương đối của các thành viên tăng, và ngày càng nhiều ngân hàng rút ra khỏi Fed
Sự suy giảm số lượng thành viên Fed là mối quan tâm lớn của Hội đồng Thống đốc; một lý do là nó làm giảm sự kiểm soát của Fed trong việc cung tiền, từ đó gây khó khăn hơn cho Fed trong việc thực hiện chính sách tiền tệ Chủ tịch Hội đồng Thống đốc liên tục kêu gọi luật mới yêu cầu tất cả các ngân hàng thương mại phải là thành viên của Cục Dự trữ Liên bang Kết quả của việc Fed gây sức ép lên Quốc hội là một điều khoản trong Đạo luật bãi bỏ tổ chức điều tiết lưu ký quỹ và kiểm soát tiền tệ năm 1980:
Tất cả các tổ chức lưu ký đều phải gửi tiền tại Fed với yêu cầu như nhau, do đó các ngân hàng thành viên và không phải thành viên đều bình đẳng về các yêu cầu dự trữ Ngoài ra, tất cả các tổ chức lưu ký được phép truy cập vào các cơ sở dự trữ liên bang trên cơ sở bình đẳng Những quy định này kết thúc sự suy giảm số lượng thành viên Fed và giảm sự phân biệt giữa các ngân hàng thành viên và không phải thành viên
1.2.3 Hội đồng Thống đốc
Đứng đầu Cục Dự trữ Liên bang là Hội đồng Thống đốc gồm 7 thành viên, có trụ
sở tại Washington, DC Các thống đốc được bổ nhiệm bởi Tổng thống Hoa Kỳ và xác nhận bởi Thượng viện Để hạn chế sự kiểm soát của tổng thống đối với Fed và những
Trang 9áp lực chính trị khác, các thống đốc làm việc với nhiệm kỳ 14 năm không tái nhiệm cộng với một phần của một nhiệm kỳ sau kết thúc vào tháng 1 hàng năm Các thống đốc (nhiều người là các nhà kinh tế học chuyên nghiệp) bắt buộc phải đến từ các quận
dự trữ liên bang khác nhau để ngăn chặn việc lạm quyền của 1 vùng nào đó trong nước Chủ tịch Hội đồng Thống đốc được chọn từ một trong bảy thống đốc, có nhiệm kỳ 4 năm và có thể tái nhiệm Khi chủ tịch mới được chọn, chủ tịch cũ phải từ chức khỏi Hội đồng Thống đốc, ngay cả khi chưa hết thời gian phục vụ 14 năm
Hội đồng thống đốc tham gia vào việc điều hành chính sách tiền tệ thông qua những hoạt động sau:
- Cả 7 thống đốc đều là thành viên của FOMC và biểu quyết về việc quản lý các hoạt động của thị trường mở Vì chỉ có mười hai thành viên được quyền biểu quyết trong uỷ ban này (bảy thống đốc và năm Chủ tịch của ngân hàng quận), Hội đồng thống đốc chiếm đa số phiếu
- Đặt ra các yêu cầu dự trữ (trong giới hạn cho phép của pháp luật)
- Kiểm soát tỷ lệ chiết khấu bằng quy trình "xem xét và quyết tâm", từ đó chấp thuận hay không chấp thuận mức lãi suất chiết khấu của các ngân hàng dự trữ liên bang
- Chủ tịch Hội đồng cố vấn cho Tổng thống Hoa Kỳ về chính sách kinh tế, làm chứng trong Quốc hội, và đại diện Cục Dự trữ Liên bang phát ngôn trước các phương tiện truyền thông
1.2.4 Ủy ban thị trường mở liên bang (FOMC)
FOMC thường họp tám lần một năm (khoảng sáu tuần một lần) và ra các quyết định liên quan đến việc thực hiện các nghiệp vụ thị trường mở và thiết lập các chính sách lãi suất, tỷ lệ quỹ liên bang, tức lãi suất cho vay qua đêm từ một ngân hàng cho ngân hàng khác Trên thực tế, FOMC thường được gọi tắt là "Fed" trên báo chí
Ủy ban gồm bảy thành viên Hội đồng Thống đốc, chủ tịch Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York, và chủ tịch của bốn ngân hàng dự trữ liên bang khác Chủ tịch Hội đồng Thống đốc cũng là chủ tịch của FOMC Mặc dù chỉ có chủ tịch của năm ngân hàng
Trang 10dự trữ liên bang là thành viên được bỏ phiếu của FOMC, bảy chủ tịch của các ngân hàng quận còn lại vẫn tham dự cuộc họp FOMC và tham gia thảo luận Do đó họ cũng
có ảnh hưởng đến các quyết định của ủy ban Mặc dù dự trữ bắt buộc và lãi suất chiết khấu không thực sự được thiết lập bởi FOMC, các quyết định liên quan đến các công
cụ chính sách này được thực hiện có hiệu quả đó FOMC không thực sự thực hiện hoạt động mua bán chứng khoán Thay vào đó, nó ban hành chỉ thị tại quầy giao dịch của Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York, nơi mà các nhà quản lý hoạt động thị trường
mở trong nước giám sát những người thực hiện giao dịch mua bán của chính phủ hoặc
cơ quan chứng khoán Người quản lý trao đổi hàng ngày với các thành viên FOMC và nhân viên của họ những việc liên quan đến các hoạt động tại quầy giao dịch
1.3 Tính pháp lý và vị trí trong chính quyền
Các bộ phận của Cục dự trữ liên bang (Fed) có tư cách pháp lý khác nhau Hội đồng Thống đốc của Fed là cơ quan độc lập với chính phủ liên bang Hội đồng không nhận tài trợ của Quốc hội và bảy thành viên của Hội đồng theo cơ chế dân chủ Thành viên của Hội đồng là độc lập và không phải chấp hành yêu cầu của hệ thống lập pháp cũng như hành pháp Tuy nhiên, Hội đồng phải gửi báo cáo tới Quốc hội theo định kỳ Theo luật, thành viên của Hội đồng này chỉ rời chức vụ khi mãn hạn Hội đồng Thống đốc chịu trách nhiệm việc hình thành và cụ thể hóa chính sách tiền tệ Nó cũng giám sát và quy định hoạt động của 12 Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực và hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ nói chung
Các Ngân hàng dự trữ liên bang (Federal Reserve Banks) về danh nghĩa sở hữu bởi các ngân hàng thành viên (mỗi ngân hàng thành viên giữ cổ phần không có khả năng chuyển nhượng) Theo Tòa án tối cao Mỹ, các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực không phải là công cụ của Chính phủ liên bang, chúng là các ngân hàng độc lập, sở hữu tư nhân và hoạt động theo luật pháp ở địa phương Phán quyết trên cũng cho rằng, các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực có thể được coi là công cụ của Chính phủ liên bang theo một số mục đích nhất định Trong một phán quyết khác ở tòa án cấp bang, sự khác biệt giữa Hội đồng thống đốc và các Ngân hàng được quy định rõ ràng
Trang 11Các ngân hàng sở hữu Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực là của tư nhân và rất nhiều trong số đó có cổ phiếu phát hành trên thị trường
Giấy bạc do Fed phát hành là nguồn cung tiền tệ và chúng được đưa vào lưu thông qua các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực
Trang 12CHƯƠNG 2: NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trước Cách Mạng Tháng Tám, ở Việt Nam có Ngân hàng Đông Dương, vừa đóng vai trò là ngân hàng phát hành (phát hành tiền trên toàn cõi Đông Dương), vừa thực hiện các nghiệp vụ vốn có của ngân hàng thương mại
Cho đến khi cách mạng Tháng Tám thành công, Chính phủ Việt nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngân hàng Đông Dương không còn tồn tại nữa Chính phủ đương thời bắt đầu xây dựng hệ thống tiền tệ - ngân hàng của một nước Việt Nam độc lập có chủ quyền
Năm 1948, Quốc hội ra đạo luật đình chỉ lưu hành tiền Đông Dương, và cho phép Bộ tài chính phát hành giấy bạc Việt Nam
Năm 1951, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra sắc lệnh số 15/SL/CT - Sát nhập Cục ngân khố quốc gia và Nha tín dụng sản xuất, tách ra khỏi Bộ tài chính để thành lập Ngân hàng quốc gia Việt Nam vào năm 1951
Năm 1961, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Đến năm 1975, sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam xây dựng hệ thống ngân hàng mới của chính quyền cách mạng, thiết lập hệ thống ngân hàng thống nhất trong cả nước và thanh lý hệ thống ngân hàng của chế độ cũ ở miền Nam
Năm 1976, hệ thống ngân hàng ở miền nam được hợp nhất với NHNN Việt Nam,
từ đó NHNN Việt Nam trở thành Ngân hàng trung ương của nước Việt Nam thống nhất
Năm 1978, phát hành tiền mới , thu hồi tiền cũ ở cả 2 miền
Như vậy, đến cuối những năm 80, hệ thống Ngân hàng Nhà nước về cơ bản vẫn hoạt động như là một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường
Trang 13Ngày 26/03/1988, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Nghị định số 53/HĐBT chuyển hệ thống ngân hàng Việt Nam ta từ một cấp trở thành hai cấp:
- Ngân hàng cấp I: là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện chức năng quản
lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng ngân hàng, phát hành tiền và các chức năng ngân hàng của các ngân hàng
- Ngân hàng cấp II: bao gồm các ngân hàng chuyên doanh (NHTM) và các tổ chức tín dụng – NH cấp II thực hiện việc kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng
Năm 1990, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh NHNN, tuy nhiên vì ở giai đoạn mới chuyển sang mô hình 2 cấp, chưa có được nhiều sự học hỏi từ các nước khác, kinh nghiệm của bộ máy quản lý nhà nước chưa nhiều nên Pháp lệnh này quy định cơ cấu và các chức năng của NHNN còn rất sơ khai, chưa đi vào cụ thể ở nhiều điều điểm Theo đó NHNN được điều hành bởi Hội đồng quản trị gồm 10 thành viên, trong đó chủ tịch HĐQT là Thống đốc NHNN còn phó chủ tịch là Phó thống đốc thứ nhất, ngoài ra còn có 1 giám sát viên từ Chính phủ do Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng bổ nhiệm Năm
1990, pháp lệnh quy định NHNN chỉ có vai trò tư vấn các chính sách về tiền tệ, kinh tế
dự kiến hàng năm rồi mới trình Chính phủ xem xét để nộp lên Quốc hội Thống đốc ngân hàng nhà nước lúc này là Uỷ viên thường trực cho hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia Bộ luật này được sửa đổi và bổ sung vào tháng 10/2003
Trang 14Năm 2008, chính phủ ra NĐ96 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN Việt Nam Và đến tháng 06/2010, Quốc Hội khoá 12 đã ban hành Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các Tổ Chức Tín Dụng để phù hợp hơn với thời cuộc
Ngày 11/11/2013, Thủ tướng chính phủ ký nghị định số 156/2013/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN Việt Nam, được thi hành từ ngày 26/12/2013, thay thế Nghị định 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008 NĐ156
đã có những điểm mới như: NHNN có thêm nhiệm vụ xây dựng chỉ tiêu lạm phát hàng năm để trình Chính phủ, được quyết định sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ quốc gia như tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc,… NĐ96 thì việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ quốc gia NHNN cũng chỉ được đề xuất trong đề án trình Chính phủ Sự tiến bộ này đã cho thấy NHTW đã và đang từng bước độc lập hơn
2.2 Vị trí pháp lý và chức năng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Ngân hàng Nhà nước là pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước,
có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội
Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối (sau đây gọi là tiền tệ và ngân hàng); thực hiện chức năng của Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ
2.3 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có bộ máy lãnh đạo tập trung – gồm Thống đốc NHNN Việt Nam và các Phó Thống đốc
Dưới các Phó Thống đốc là hệ thống gồm 18 vụ cục, 7 tổ chức sự nghiệp, văn phòng đại diện ở TP Hồ Chí Minh và 63 chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố trực thuộc
TW
Trang 16Các đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước được thành lập phòng theo yêu cầu thực tế công việc
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của các đơn vị trực thuộc Ngân hàng Nhà nước, trừ Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng
2.4 Trách nhiệm, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Ngân hàng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau:
1 Trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Ngân hàng Nhà nước đã được phê duyệt và các dự án, đề án theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển hàng năm và dài hạn; chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hành động và các dự án, công trình quan trọng quốc gia thuộc lĩnh vực Ngân hàng Nhà nước quản lý
2 Trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc lĩnh vực Ngân hàng Nhà nước quản lý hoặc theo phân công
3 Ban hành thông tư, chỉ thị và các văn bản khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật; các chương trình, dự án, kế hoạch phát triển đã được ban hành hoặc phê duyệt thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước
Trang 174 Xây dựng chỉ tiêu lạm phát hàng năm để trình Chính phủ; sử dụng các công
cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bao gồm: Tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái,
dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
5 Tổ chức thống kê, thu thập thông tin về kinh tế, tiền tệ và ngân hàng trong nước và nước ngoài phục vụ việc nghiên cứu phân tích và dự báo diễn biến tiền tệ để xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia; công khai thông tin về tiền tệ và ngân hàng theo quy định của pháp luật
6 Cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng, giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài, giấy phép thành lập văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán cho tổ chức không phải là ngân hàng; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ thông tin tín dụng cho các tổ chức; chấp thuận việc mua, bán, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập và giải thể tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật
7 Quyết định áp dụng biện pháp xử lý đặc biệt đối với tổ chức tín dụng vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng gặp khó khăn về tài chính, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng, gồm mua cổ phần của tổ chức tín dụng; đình chỉ, tạm đình chỉ, miễn nhiệm chức vụ người quản lý, người điều hành của tổ chức tín dụng; quyết định sáp nhập, hợp nhất, giải thể tổ chức tín dụng; đặt tổ chức tín dụng vào tình trạng kiểm soát đặc biệt; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật về phá sản đối với tổ chức tín dụng
8 Chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng chính sách, kế hoạch và
tổ chức thực hiện phòng, chống rửa tiền
9 Kiểm tra, thanh tra, giám sát ngân hàng; kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động ngoại hối, hoạt động kinh doanh vàng; kiểm soát tín dụng; xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối theo quy định của pháp luật
Trang 1810 Thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
11 Chủ trì lập, theo dõi, dự báo và phân tích kết quả thực hiện cán cân thanh toán quốc tế; báo cáo tình hình thực hiện cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam theo quy định của pháp luật; làm đầu mối cung cấp số liệu cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam cho các tổ chức trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật
12 Tổ chức, quản lý, vận hành và giám sát bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của
hệ thống thanh toán quốc gia, cung ứng dịch vụ thanh toán cho các ngân hàng; giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán; quản lý các phương tiện thanh toán trong nền kinh tế
13 Quản lý nhà nước về ngoại hối, hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng:
a) Quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối trong các giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam; hoạt động kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác liên quan đến ngoại hối; hoạt động ngoại hối khu vực biên giới theo quy định của pháp luật;
b) Quản lý Dự trữ ngoại hối Nhà nước theo quy định của pháp luật; mua, bán ngoại hối trên thị trường trong nước vì mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia; mua, bán ngoại hối với ngân sách nhà nước, các tổ chức quốc tế và các nguồn khác; mua, bán ngoại hối trên thị trường quốc tế và thực hiện giao dịch ngoại hối khác theo quy định của pháp luật;
c) Công bố tỷ giá hối đoái; quyết định chế độ tỷ giá hối đoái, cơ chế điều hành
tỷ giá hối đoái;
d) Cấp, thu hồi văn bản chấp thuận kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật;