Đề tài “Điều tiết và giám sát hệ thống tài chính” do nhóm nghiên cứu gồm có 3 chương: - Chương 1: Thất bại thị trường tài chính và sự quy định điều tiết khu vực tài chính - Chương 2: Nh
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VÀ QUY ĐỊNH ĐIỀU TIẾT KHU VỰC TÀI CHÍNH 2
1.1 Thị trường tài chính 2
1.1.1 Khái niệm 2
1.1.2 Phân loại 2
1.1.3 Chức năng của thị trường tài chính 3
1.2 Thất bại của thị trường tài chính 3
1.2.1 Định nghĩa 3
1.2.2 Nguyên nhân thất bại thị trường tài chính 3
1.3 Những bất ổn trong hoạt động của thị trường tài chính 4
1.3.1 Thị trường tài chính phát triển tự do cũng đồng thời là quá trình hình thành bong bóng thị trường: 4
1.3.2 Tự do hóa thị trường tài chính ảnh hưởng đến các ngân hàng thương mại: 5
1.3.3 Nhận diện sự bất ổn của thị trường tài chính 5
1.4 Quy định điều tiết và giám sát khu vực tài chính 5
1.4.1 Khái niệm khu vực tài chính 5
1.4.2 Quy định điều tiết khu vực tài chính 5
1.4.2.1 Sự cần thiết của việc điều tiết khu vực tài chính 5
1.4.2.2 Nội dung của điều tiết khu vực tài chính 5
1.4.2.3 Quy định lĩnh vực tài chính theo 3 lĩnh vực 7
1.4.3 Giám sát khu vực tài chính 7
1.4.3.1 Khái niệm 7
1.4.3.2 Sự cần thiết của việc giám sát khu vực tài chính 8
1.4.3.3 Đối tượng của giám sát tài chính 8
Trang 21.4.3.4 Nội dung của giám sát khu vực tài chính 8
1.4.3.5 Một số nguyên tắc tiêu biểu về giám sát tài chính 8
1.4.4 Các mô hình giám sát tài chính 8
1.4.4.1 Mô hình giám sát theo đặc điểm thể chế 8
1.4.4.2 Mô hình giám sát theo chức năng 10
1.4.4.3 Mô hình giám sát lưỡng đỉnh 10
1.4.4.4 Mô hình giám sát hợp nhất 11
1.5 Tình hình giám sát điều tiết hệ thống tài chính của Việt Nam 12
1.5.1 Khái quát thị trường tài chính Việt Nam 12
1.5.2 Nguyên nhân những của những hạn chế trên thị trường tài chính Việt Nam 13
1.5.3 Mô hình giám sát hệ thống tài chính tại Việt Nam: 15
CHƯƠNG 2: NHỮNG HẠN CHẾ CỦA SỰ ĐIỀU TIẾT VÀ QUY ĐỊNH KHU VỰC TÀI CHÍNH 18
2.1 Các quy định tài chính cơ bản: 18
2.2 Những hạn chế của sự điều tiết và quy định khu vực tài chính 21
2.2.1 Sự điều tiết bác bỏ hệ thống tự do cạnh tranh: 21
2.2.2 Sự điều tiết tạo ra tâm lý ỷ lại: 21
2.2.3 Sự điều tiết của chính phủ tạo ra hiện tượng cố ý làm liều (Một dạng Khủng hoảng về đạo đức): 22
2.3 Những bất cập, yếu kém của hệ thống giám sát tài chính Việt Nam 22
2.4 Bất cập, yếu kém của giám sát từng bộ phận của thị trường tài chính Việt Nam 24 2.4.1 Thị trường tín dụng ngân hàng: 24
2.4.2 Thị trường chứng khoán: 26
2.5 Một số định hướng tái cấu trúc hệ thống giám sát tài chính Việt Nam: 26
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 29
3.1 Khái niệm về Khủng hoảng tài chính 29
3.2 Mô hình Khủng hoảng tài chính ở các Nền kinh tế tiên tiến: 29
Trang 33.2.1 Giới thiệu mô hình 30
3.2.2 Phân tích mô hình 30
3.2.2.1 Giai đoạn 1: Khởi đầu của khủng hoảng 30
3.2.2.2 Giai đoạn hai: Khủng hoảng ngành ngân hàng 33
3.2.2.3 Giai đoạn ba: Giảm phát nợ 34
3.2.3 Vận dụng mô hình khủng hoảng tại nền kinh tế tiên tiến Hoa Kỳ (theo quan điểm cá nhân) 35
3.3 Mô hình Khủng hoảng tài chính ở các Nền kinh tế thị trường mới nổi 36
3.3.1 Giới thiệu mô hình 37
3.3.2 Phân tích mô hình 37
3.3.2.1 Giai đoạn một: Khởi đầu của khủng hoảng tài chính 37
3.3.2.2 Giai đoạn hai: Khủng hoảng tiền tệ 42
3.3.2.3 Giai đoạn ba: Khủng hoảng tài chính toàn diện 43
3.3.3 Vận dụng mô hình khủng hoảng của nền kinh tế thị trường mới nổi tại Việt Nam (theo quan điểm cá nhân) 45
KẾT LUẬN 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong tình hình biến động của kinh tế thị trường, nền kinh tế dù đang ở thời kỳ khủng hoảng cũng như hưng thịnh đều chịu sự tác động bởi rất nhiều nhân tố Sự đóng góp một phần không hề nhỏ, mang tính chi phối nền kinh tế chính là hệ thống tài chính của một quốc gia nói riêng và cả toàn cầu nói chung
Vì vậy , muốn nền kinh tế phát triển ổn định thì trước hết cần phải ổn định được hệ thống tài chính Mỗi quốc gia đều có một cách thức khác nhau để điều tiết và giám sát hệ thống tài chính của họ sao cho mang lại hiệu quả tối ưu cho nền kinh tế Việc lựa chọn chính sách phù hợp để điều tiết và giám sát khu vực tài chính không phải là chuyện đơn giản mà là cả một quá trình thực hiện bao gồm những thành công và cả những hạn chế của nó
Nghiên cứu về khu vực tài chính và hệ thống điều tiết giám sát tài chính luôn là một đề tài mà các nhà cầm quyền cũng như các chuyên gia kinh tế luôn đặt mối quan tâm hàng đầu, nhằm có thể góp phần ổn định hệ thống tài chính cũng như nền kinh tế, ngăn ngừa tối đa các thảm họa do khủng hoảng kinh tế gây ra
Đề tài “Điều tiết và giám sát hệ thống tài chính” do nhóm nghiên cứu gồm có 3 chương:
- Chương 1: Thất bại thị trường tài chính và sự quy định điều tiết khu vực tài chính
- Chương 2: Những hạn chế của sự điều tiết và quy định khu vực tài chính
- Chương 3: Mô hình khủng hoảng tài chính
Trang 5CHƯƠNG 1: THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VÀ QUY ĐỊNH ĐIỀU TIẾT KHU
VỰC TÀI CHÍNH 1.1 Thị trường tài chính
1.1.1 Khái niệm
Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các loại giấy tờ có giá, nơi gặp gỡ của các nguồn cung về vốn qua đó hình thành nên giá mua và bán các loại cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, … hình thành nên giá cả các loại vốn đầu tư bao gồm: lãi suất
đi vay, lãi suất cho vay, lãi suất ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
- Có 3 yếu tố cơ bản của thị trường tài chính:
Đối tượng của thị trường tài chính: bao gồm những nguồn cung và cầu về vốn trong
xã hội của các chủ thể kinh tế như Nhà Nước, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội
và các tầng lớp dân cư
Công cụ tham gia trên thị trường tài chính: đây là nguồn sống cho hoạt động của thị trường bao gồm các loại chứng từ có giá, như: công trái do Nhà Nước phát hành, chứng khoán do các doanh nghiệp phát hành, các loại trái phiếu do các tổ chức tài chính phát hành, các dạng kỳ phiếu, séc,…
Các chủ thể tham gia vào thị trường tài chính: là những pháp nhân hay thể nhân đại diện cho những nguồn cung và cầu về vốn nhàn rỗi, chủ yếu là các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư và đặc biệt là các công ty môi giới
- Nếu căn cứ vào cách thức huy động vốn, thị trường tài chính được chia thành 2 loại:
Trang 6 Thị trường các công cụ nợ
Thị trường vốn
- Nếu căn cứ vào cơ cấu tổ chức, thị trường tài chính được chia thành 2 loại cơ bản:
Thị trường sơ cấp - Thị trường sơ cấp là nơi mà các chứng từ có giá được phát hành
và bán cho người mua đầu tiên, nói cách khác, đây là thị trường cung ứng các công cụ tham gia trên thị trường tài chính
Thị trường thứ cấp − Thị trường thứ cấp là nơi mua – bán những chứng từ có giá đang lưu hành, đáp ứng nhu cầu chuyển nhượng vốn đầu tư, từ đó, tạo nên tính thanh khoản cho các công cụ trên thị trường góp phần tăng sức thu hút đối với công chúng tham gia thị trường này
1.1.3 Chức năng của thị trường tài chính
- Chức năng đưa vốn từ khu vực tiết kiệm đến khu vực đầu tư,dòng vốn này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các trung gian tài chính;
- Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán;
- Chức năng cung cấp thông tin kinh tế và đánh giá giá trị của doanh nghiệp
1.2 Thất bại của thị trường tài chính
1.2.1 Định nghĩa
Thất bại của thị trường là một thuật ngữ kinh tế học miêu tả tình trạng thị trường không phân bổ thật hiệu quả các nguồn lực Thất bại thị trường tài chính là tình trạng khi đó thị trường tài chính không thực hiện được chức năng phân bổ nguồn lực của mình một cách hiệu quả Biểu hiện của thất bại thị trường tài chính là bất ổn tài chính và khủng hoảng tài chính
1.2.2 Nguyên nhân thất bại thị trường tài chính
Nguyên nhân thất bại thị trường là do thông tin bất đối xứng dẫn đến lựa chọn nghịch
và rủi ro đạo đức Một trong những giả thiết để có một thị trường hoàn hảo là kết cấu thông tin cũng phải hoàn hảo Giữa các chủ thể kinh tế tham gia giao dịch có thông tin đầy đủ như nhau về nhau và về đối tượng giao dịch
Keynes cho rằng thị trường hiếm khi hoàn hảo và kinh tế học Keynes mới chỉ ra rằng bất cân xứng về thông tin chính là một nhân tố gây ra sự không hoàn hảo của thị trường Theo họ, giữa các bên tham gia giao dịch có thể chênh lệch về mức độ nắm giữ thông tin
Trang 7Tình trạng chênh lệch về thông tin có thể xảy ra từ trước khi giao dịch được bắt đầu, hoặc cũng có thể khi giao dịch bắt đầu diễn ra thì mới xảy ra
Trường hợp thứ nhất, thông tin bị che đậy Dẫn tới cái gọi là lựa chọn trái ý của phía giao dịch có ít thông tin hơn
Trường hợp thứ hai, hành động của một phía giao dịch bị che đậy Dẫn tới cái gọi là rủi ro đạo đức ở phía giao dịch nhiều thông tin hơn và chê đậy hành vi của mình
Những hậu quả này chính là các thất bại thị trường
- Lựa chọn nghịch: Xảy ra trước khi giao dịch diễn ra, khi những người có rủi ro cao lại là
những người tích cực nhất trong việc tìm kiếm những khoản vay, trong khi đó những người cho vay lại lo lắng rằng người đi vay sẽ tạo ra một kết cục không mong muốn với vốn của mình vì không có đủ thông tin về người đi vay Kết quả là họ sẽ hạn chế cho vay đối với những người có rủi ro cao và lẫn rủi ro thấp Thị trường tài chính sẽ hoạt động không hiệu quả nếu có hiện tượng trên xảy ra
- Rủi ro đạo đức: Rủi ro xảy ra khi giao dịch đã diễn ra, nó phát sinh bởi vì người đi vay
có động cơ để đầu tư vào những dự án có rủi ro cao và điều này tốt cho người đi vay nếu
dự án thanh công, nhưng người cho vay lại gánh chịu sự mất mát nếu dự án thất bại Mâu thuẩn tiềm tang về lợi ích của người cho vay và người đi vay phát sinh những rủi ro về mặt đạo đức một lần nữa ngụ ý rằng nhiều người cho vay sẽ cho vay ít hơn những gì họ
có thể, dẫn đến việc cho vay và đầu tư của họ không đạt được hiệu quả tối ưu
1.3 Những bất ổn trong hoạt động của thị trường tài chính:
1.3.1 Thị trường tài chính phát triển tự do cũng đồng thời là quá trình hình thành bong
bóng thị trường:
Giá cả chứng khoán trên thị trường thứ cấp có thể vượt xa giá cả chứng khoán trên thị trường sơ cấp Tuy nhiên, TTTC chỉ thực sự hiệu quả khi nó còn kiếm soát được tất cả các yếu tố cấu thành thị trường Giá cả có thể bị đẩy lên rất cao để rồi sẽ bốc hơi rất nhanh Ðó là hiện tượng bong bóng thị trường Bong bóng nổ kéo theo những tổn hại cho thị trường và cho toàn bộ nến kinh tế Trong lĩnh vực tài chính, bong bóng hay xảy ra hơn, sức lây lan và mức độ tàn phá nghiêm trọng hơn, như một vũ khí hủy diệt hàng loạt tài chính mà Warren Buffe đã đặt tên
Trang 81.3.2 Tự do hóa thị trường tài chính ảnh hưởng đến các ngân hàng thương mại:
Trong cuộc chạy đua tìm kiếm lợi nhuận không mệt mỏi, gắn liến với việc lao sâu vào kinh doanh chứng khoán, các NHTM và các định chế tài chính tham gia kinh doanh chứng khoán đã mắc một cái bẫy nguy hiểm đó là đòn bẩy tài chính tăng cao Hệ số "đòn bẩy tài chính" được đo bằng tỉ lệ Tài sản có trênVốn Nó phản ảnh tình hình sử dụng vốn vay để tài trợ cho tăng trưởng tài sản của ngân hàng Nó cũng là chỉ số đo lường mức độ rủi ro của NH trước sự giảm giá tài sản và các khoản nợ Tất cả những buông lỏng trên đã làm cho tín dụng tăng trường nóng Điều này cũng nguy hiểm như tăng cung tiền Sự sụp đố hệ thống tài chính
và nguy cơ lạm phát là không tránh khỏi
1.3.3 Nhận diện sự bất ổn của thị trường tài chính
- Sự mất cân đối trong hệ thống kế toán
- Sự gia tăng lãi suất
- Sự suy giảm trong khu vực tài chính dẫn đến sự thay đổi giá tài sản
- Sự gia tăng tình trạng không chắc chắn
1.4 Quy định điều tiết và giám sát khu vực tài chính
1.4.1 Khái niệm khu vực tài chính
Khu vực tài chính là một khu vực của nền kinh tế quốc dân chuyên cung cấp các dịch
vụ tài chính gồm: dịch vụ ngân hàng, dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ môi giới chứng khoán
Phát triển khu vực tài chính bao gồm các chính sách về tự do hóa và thúc đẩy cạnh tranh trong khu vực này cũng như các chính sách giám sát thận trọng đối với các tổ chức tài chính
1.4.2 Quy định điều tiết khu vực tài chính
1.4.2.1 Sự cần thiết của việc điều tiết khu vực tài chính
- Một khu vực tài chính vững vàng và hoạt động tốt sẽ là động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng kinh tế bởi nó chuyển các khoản tiết kiệm của cá nhân thành các khoản đầu tư
- Hướng đến hệ thống điều tiết tài chính toàn diện, không tiếp cận đơn lẻ
- Điều tiết để nhận biết xu hướng trên thị trường, là yêu cầu cần thiết để xác định rủi ro
1.4.2.2 Nội dung của điều tiết khu vực tài chính
- Vai trò của chính phủ
Một cách hiểu thịnh hành cho đến nay là chính phủ chỉ can thiệp khi thị trường bất lực Sự can thiệp của chính phù là nhằm khắc phục những khuyết tật của thị trường Chính
Trang 9phủ phải song hành với thị trường trong quá trình vận động chứ không phải chỉ xuất hiện khi thị trường đã thất bại TTTC trong quá trình vận hành luôn có xu hướng bất ổn, luôn sẵn sàng chệch khỏi đường ray thăng bằng Để có thể trở về được trạng thái cân bằng, thị trường rất cần đến bàn tay cứng rắn của chính phủ.Tuy vậy, vai trò điều tiết của chính phủ vì sự ổn định của TTTC cũng khác nhau trong những trạng thái phát triển khác nhau của thị trường
Ở quy mô nhỏ, các bước điều chính của thì trường lệch khỏi trạng thái cân bằng thường không đáng kế, thị trường cần được phát triển tự do hơn, can thiệp của thị trường lúc này là tạo các điều kiện để thị trường phát triển hết tiềm năng
Nhưng khi quy mô lớn, thì sự xiết chặt điều tiết của chính phủ là hết sức cần thiết Chính phủ cần bám sát mục tiêu phát triển TTTC Kiếm soát được thị trường cần được coi là tiêu chỉ đánh giá sự phát triển TTTC Trong giai đoạn này, vai trò chính phủ đối với TTTC không nặng về tạo điểu kiện thúc đẩy, mà cần chủ động kìm hãm
độ nóng của thì trường Chính phủ phải giúp các nhà đấu tư tiết chế lòng tham của họ
Ðó là điều mà thì trường tài chính cần ở chính phủ
- Ủng hộ sự điều tiết hệ thống tài chính của Nhà Nước
Lý thuyết ủng hộ sự điều tiết hệ thống tài chính xoay quanh lý thuyết Coase (1988) Quan niệm cho rằng những hoạt động tư nhân không có sự giám sát đã làm cho chi phí biên
xã hội cao hơn chi phí biên cá nhân hay nói cách khác là những hoạt động kinh doanh, đầu tư không được điều tiết cùa các cá nhân đã làm cho gánh nặng xã hội vô cùng lớn trong khi cái lợi ích mà cá nhân thu được thì rất nhỏ
Chi phí biên xã hội xuất hiện khi sự thất bại ngân hàng tạo ra một hiệu ứng mạnh mẽ trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế:
Khoản nợ phải trả
Tăng tiết kiệm
- Có 3 lí do chính cần phải có sự điều tiết của chính phủ:
Tránh hành vi độc quyền của các ngân hàng
Người cho vay thiếu thông tin và không thể giám sát chặt chẽ ngân hàng nên họ cần được bảo vệ khỏi những rủi ro
Sự điều tiết giúp ngân hàng hoạt động một cách ổn định và an toàn
Trang 101.4.2.3 Quy định lĩnh vực tài chính theo 3 lĩnh vực
- Bảo hiểm
Bảo hiểm tiền gửi được xem như một phương án dự phòng khi bất ổn xảy ra cho ngân hàng cũng như trấn an người dân để họ không rút toàn bộ tiền gửi do lo ngại ngân hàng mất khả năng thanh khoản Tổ chức BHTG thường hoạt động theo mô hình cơ quan của nhà nước độc lập với Chính phủ Đa phần các tổ chức tín dụng và ngân hàng phải tham gia bắt buộc BHTG trong đó có Việt Nam
- Ngân hàng : Các hiệp ước vốn Basel
Hiệp ước vốn Basel I: Củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng quốc tế Thiết lập một hệ thống hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế
Hiệp ước vốn Basel II: Nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế; Tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc tế; Đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro
Hiệp ước vốn Basel III: Hạn chế rủi ro, phòng ngừa, ngăn chặn khủng hoảng tái phát và ràng buộc các ngân hàng vào trách nhiệm
Tại Việt Nam, việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế về đảm bảo an toàn đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) từng bước triển khai thông qua việc sửa đổi và ban hành mới các quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng Hiện nay, NHNN
đã chọn 1 ngân hàng thương mại đầu tiên triển khai thí điểm hiệp ước Basel II trong giai đoạn từ cuối năm 2015 đến 2018
- Thị trường chứng khoán
Chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc tế (IFRS)
Ủy ban chứng khoán quốc tế IOSCO
1.4.3 Giám sát khu vực tài chính
Trang 11cần có các biện pháp cần phải có cơ chế và biện pháp giám sát hiệu quả nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất
1.4.3.2 Sự cần thiết của việc giám sát khu vực tài chính
- Nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển của khu vực tài chính
- Nhằm đảm bảo sự hiệu quả vận hành của thị trường tài chính
- Nhằm bảo vệ người tiêu dùng
1.4.3.3 Đối tượng của giám sát tài chính
- Các định chế tài chính
- Thị trường tài chính
- Hạ tầng cơ sở tài chính:
1.4.3.4 Nội dung của giám sát khu vực tài chính
- Giám sát sự an toàn, lành mạnh tài chính của các định chế tài chính
- Giám sát các hành vi giao dịch và các định chế tài chính trên thị trường
- Giám sát diễn biến của thị trường tài chính
- Giám sát cơ sở hạ tầng tài chính
1.4.3.5 Một số nguyên tắc tiêu biểu về giám sát tài chính
- Nguyên tắc giám sát ngân hàng của BIS
- Nguyên tắc về giám tát tài chính của IOSCO
- Nguyên tắc của IAIS về giám sát bảo hiểm
- Nguyên tắc của IMF
1.4.4 Các mô hình giám sát tài chính
1.4.4.1 Mô hình giám sát theo đặc điểm thể chế
Trong mô hình giám sát theo đặc điểm thể chế, cấu trúc giám sát được phân chia theo mảng thị trường, các cơ quan giám sát thực hiện chức năng giám sát 3 lĩnh vực kinh tế lớn: ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm Mô hình này còn gọi là “ba đỉnh”, mỗi đỉnh tượng trưng cho một cơ quan giám sát một lĩnh vực kinh tế Việc giám sát được tiến hành trên tất cả các mặt: ổn định hệ thống, giám sát thận trọng, đạo đức thị trường và bảo vệ khách hàng
Trang 12- Giới thiệu mô hình
(Nguồn: Trần Kim Chung, Hệ thống giám át tài chính: Từ lý luận đến thực tiễn, Tạp chí tài chính số 10 – 2013)
- Ưu điểm:
Nhờ sự chuyên môn hóa nên các cơ quan giám sát nắm bắt sâu sắc các đặc điểm về hoạt động của đối tượng giám sát
Việc giám sát sẽ diễn ra thường xuyên hơn
Cơ sở hạ tầng, cơ sở dữ liệu, khung pháp lý cho hoạt động giám sát được tổ chức, quản lý nhất quán
Trang 13 Hệ thống giám sát tài chính theo mô hình thể chế không tận dụng được hiệu quả theo quy mô trong việc giám sát thị trường
Mô hình giám sát với đa cơ quan sẽ tốn kém hơn so với hệ thống giám sát tài chính hợp nhất hoặc bán hợp nhất
1.4.4.2 Mô hình giám sát theo chức năng
Đây là mô hình giám sát các tổ chức tài chính được xác định dựa trên hoạt động kinh doanh mà không quan tâm tới hình thức pháp lý của tổ chức tài chính đó Như vậy, nếu một tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ trên nhiều lĩnh vực thì nó sẽ chịu sự giám sát từ nhiều cơ quan khác nhau
- Giới thiệu mô hình
1.4.4.3 Mô hình giám sát lưỡng đỉnh
Đây là mô hình dựa trên nguyên tắc giám sát theo mục tiêu với sự phân chia chức năng của hai cơ quan: cơ quan giám sát an toàn và cơ quan giám sát hoạt động kinh Hai cơ quan này tham gia giám sát trên cả 4 hoạt động: ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, hưu trí và chịu sự chỉ đạo chung của cơ quan tư vấn cấp 1 Mỗi cơ quan này có thể thành lập các cơ quan tư vấn cấp 2 cho riêng mình
Trang 14- Giới thiệu mô hình
Sẽ tạo ra một “sân chơi” thống nhất cho các ngành thuộc lĩnh vực tài chính
Góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám
Việc tách bạch chức năng giám sát ra khỏi đơn vị tổ chức quản lý kinh doanh cũng như việc tách rời mục tiêu giám sát an toàn hệ thống ra khỏi mục tiêu giám sát an toàn từng tổ chức và giám sát hoạt động kinh doanh sẽ nâng cao tính khả thi và hiệu quả của cả 3 mục tiêu này
Trang 15- Nhược điểm:
Tính khả thi không cao khi thực hiện giám sát tất cả các cơ quan với cùng một phương pháp mà không quan tâm tới các tổ chức này thuộc ngành nghề nào
Những mâu thuẫn về quan niệm, về văn hóa trong mô hình giám sát hợp nhất
Ngày càng trở nên độc quyền và thiếu linh hoạt khi nó là cơ quan giám sát duy nhất trong lĩnh vực tài chính
1.5 Tình hình giám sát điều tiết hệ thống tài chính của việt nam
1.5.1 Khái quát thị trường tài chính Việt Nam
Trong gần 20 năm đổi mới thị trường tài chính và các thị trường cấu thành đã
- Thể chế giám sát đối với các thị trường bộ phận được xác lập; sự quản lý của Nhà nước đối với thị trường tài chính đã được thể chế hóa và có sự phối hợp chặt chẽ hơn Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xẩy ra đúng lúc Việt Nam vừa mới bắt đầu hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế, vì vậy mà thị trường tài chính Việt Nam tuy không chịu tác động mạnh như các nước quanh “Trung tâm bão”, nhưng cũng bị chao đảo, làm bộc lộ rõ những yếu kém và những thách thức phải đối mặt, cụ thể: Khả năng ứng phó với các cú sốc của thị trường và điều tiết nguồn vốn từ bên ngoài vào là rất hạn chế
- Trong năm 2007-2008, khi dòng vốn nước ngoài gia tăng, nhất là dòng vốn đầu tư gián tiếp đã thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển, thị trường tín dụng tăng quá mức cùng với các yếu tố tác động bất lợi khác của thị trường tài chính quốc tế đã gây áp lực tăng lạm phát, tăng thâm hụt thương mại, qua đó gây hoang mang với nhà đầu tư nước ngoài,
từ đó tác động làm suy giảm thị trường chứng khoán Điều này cho thấy khả năng điều tiết nguồn vốn bên ngoài vào là rất yếu
Trang 161.5.2 Nguyên nhân những của những hạn chế trên thị trường tài chính Việt Nam
- Khả năng quản trị nguồn vốn của các định chế tài chính là rất thấp, tính bảo hộ của Chính phủ đối với các thành viên thị trường còn phổ biến nên tạo tính ỷ lại của các thành viên thị trường, làm cho họ thiếu năng động không thiết lập những công cụ dự phòng để ứng phó truớc những cú sốc;
- Hiệu quả luân chuyển vốn chưa cao, thị trường còn biểu hiện cạnh tranh thiếu lành mạnh; tính liên kết giữa các cấu thành thị trường còn nỏng manh; tình thanh khoản của thị trường còn bị hạn chế
- Thị trường tài chính chưa thiết lập được một cơ chế vận hành có hiệu quả và các lực lượng của thị trường chưa thể phát huy tác dụng đầy đủ do:
- Cấu trúc của thị trường tài chính còn chưa thật phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Theo thể chế kinh tế này, thì nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình doanh nghiệp Mỗi thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp đều có nhu cầu về dịch vụ tài chính cũng như nguồn vốn phù hợp với mức độ phát triển của thành phần kinh tế đó Do vậy cấu trúc của thị trường tài chính đòi hỏi phải có những định chế tài chính tương thích đáp ứng nhu cầu đa dạng của các thành phần kinh tế Tuy nhiên, trên thực tế dịch vụ tài chính ngân hàng và sự phân bổ nguồn vốn ngân hàng hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu cho các thành phần kinh tế đa dạng này Do vậy, làm hạn chế khả năng vận hành có hiệu quả của thị trường tài chính
- Hệ thống chính sách, cơ sở phát lý cho hoạt động của thị trường còn chưa đầy đủ, các qui định điều tiết thị trường chưa hoàn chỉnh, đồng bộ Khả năng của NHNN còn hạn chế trong điều tiết, can thiệp thị trường một cách chủ động, linh hoạt và kịp thời;
- Thị trường thiếu hệ thống giám sát rủi ro và cảnh báo sớm; chưa hình thành được hệ thống chỉ tiêu chuẩn để phản ánh tình trạng thị trường và định hướng kỳ vọng cho các thành viên, đặc biệt chưa có được đường cong lãi suất chuẩn;
- Hệ thống công nghệ thông tin và hệ thống thanh toán còn nhiều bất cập kể cả hệ thống báo cáo, thống kê Điều này đã cản trở khả năng điều tiết thị trường của ngân hàng Nhà nước;
Trang 17- Các TCTD tham gia thị trường liên ngân hàng nhằm mục tiêu chủ yếu để bảo đảm khả năng thanh khoản, chưa quan tâm nhiều đến phát triển các nghiệp vụ đầu tư trên thị trường liên ngân hàng để kết hợp 2 mục tiêu bảo đảm khả năng thanh khoản và sinh lời
- Hoạt động thị trường liên ngân hàng còn đơn điệu, chủ yếu là các giao dịch tiền gửi và tín dụng truyền thống, các nghiệp vụ phái sinh tiền gửi và đầu tư liên ngân hàng chưa được triển khai (đầu thầu tiền gửi, giao dịch kỳ hạn vốn, …)
- Tiềm ẩn nhiều rủi ro: thị trường còn tiểm ẩn những rủi ro về mất cân đối kỳ hạn
- Năng lực kiểm soát rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và rủi ro thị trường của các TCTD còn yếu Nhiều TCTD chưa có khả năng kiểm soát và quản lý vốn tập trung toàn hệ thống, chưa thiết lập lên bộ phận kinh doanh vốn, hệ thống quản lý rủi ro độc lập và năng lực tài chính của các TCTD còn nhiều yếu kém Những hạn chế như vậy, đã làm nảy sinh những thách thức khi khủng hoảng tài chính mang tính toàn cầu xẩy ra cùng với hội nhập kinh tế quốc tế đối với thị trường tài chính Việt Nam, đó là những thách thức:
Xét trên phương diện vĩ mô, đó là sức ép về tỷ giá và dịch chuyển dòng vốn giữa Việt Nam đồng sang ngoại tệ và ngược lại
Xét về mặt vi mô, là những thách thức sẽ nẩy sinh từ những tác động của khu vực sản xuất
Cuộc khủng khoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu ngày càng sâu rộng, cho đến nay chưa rõ điểm dừng Cuộc khủng hoảng này đã có tác động tương đối rõ nét vào nền kinh tế Việt Nam những tháng đầu năm 2009, đặc biệt là đến khu vực sản suất Các doanh nghiệp trong nước, nhất là các doanh nghiệp xuất khẩu, các doanh nghiệp có sử dụng FDI sẽ rất khó khăn để duy trì và mở rộng sản xuất Thậm chí, đã có một số doanh nghiệp đã phải thu hẹp xản suất do khó mở rộng thị trường xuất khẩu, hạn chế về vốn đối với các dự án FDI Sự khó khăn đối với khu vực sản suất sẽ gây khó khăn trực tiếp cho khu vực tài chính Ngoài ra, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến kinh tế Việt Nam cùng với những yếu kém nội tại của nền kinh tế vẫn là thách thức lớn nhất đối với thị trường tài chính mà trực tiếp là thị trường chứng khoán Khủng hoảng và suy thoái kinh tế khiến các doanh nghiệp hoạt động khó khăn hơn làm ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp, thêm vào đó thị
sự sụt giảm giá chứng khoán trong năm 2008 còn ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý các nhà đầu tư, khiến nhiều nhà đầu tư không còn mặn nồng đầu tư vào thị trường chứng
Trang 18khoàn Điều này dẫn đến những khó khăn trong hoạt động của các công ty chứng khoán, các quĩ đầu tư làm cho dòng vốn lưu chuyển trên thị trường chứng khoán chậm lại, kém hiệu quả
1.5.3 Mô hình giám sát hệ thống tài chính tại Việt Nam:
Bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính gần đây cũng đã cho thấy những hệ lụy
to lớn khi hệ thống thanh tra giám sát thất bại trong việc điều tiết, giám sát hệ thống tài chính, chia sẻ thông tin và phối hợp công tác giữa các cơ quan giám sát quốc gia Cái giá phải trả cho sự thất bại này không đơn thuần chỉ là các gói giải cứu các định chế tài chính lớn, các gói kích cầu nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế và nạn thất nghiệp, mà nghiêm trọng hơn là khủng hoảng lòng tin và bất ổn xã hội Vẫn biết để tiến hành cải tổ hệ thống thanh tra giám sát nhằm đảm bảo hoạt động có hiệu quả đòi hỏi rất nhiều nguồn lực và chi phí, tuy nhiên, những chi phí này sẽ vẫn thấp hơn rất nhiều so với cái giá phải trả cho sự kém hiệu quả của hệ thống thanh tra giám sát Do
đó, nhu cầu nâng cấp thậm chí thay đổi hệ thống thanh tra giám sát tài chính phù hợp hơn là đòi hỏi hết sức cấp bách đối với các quốc gia, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng thay đổi này
- Mô hình giám sát tài chính hiện hành của Việt Nam:
Hiện nay mô hình giám sát tài chính Việt Nam theo mô hình phân tán dựa trên
cơ sở thể chế Theo đó NHNN thực hiện hoạt động thanh tra giám sát hoạt động các TCTD, Bộ Tài chính thực hiện giám sát hoạt động chứng khoán và Bảo hiểm (chịu sự giám sát trực tiếp của Ủy Ban chứng khoán Nhà nước và Cục Bảo hiểm)
Ủy Ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) UBCKNN chính thức được thành lập vào ngày 28/11/1996 theo Nghị định số 75/CP của Chính phủ, là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về chứng khoán và Thị trường chứng khoán (TTCK) Một trong những nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng của UBCKNN là quản lý, thanh tra, kiểm tra và giám sát các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động trên TTCK và xử lý các vi phạm về hoạt động chứng khoán theo quy định của Pháp luật Sau một thời gian hoạt động, Ủy ban này được Chính phủ chuyển vào
Bộ Tài chính nhằm tăng cường hiệu quả điều phồi hoạt động của các bộ, ngành chức năng trong việc thúc đẩy TTCK phát triển Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh của TTCK từ cuối năm 2006 đến nay dường như vượt quá năng lực quản lý của
Trang 19UBCKNN Trên thực tế, cơ quan này còn non trẻ, chưa có đủ điều kiện cần thiết để quản lý và giám sát có hiệu quả hoạt động trên TTCK Ngoài ra, thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC) cũng đang hoạt động một cách tự phát, chưa được quản lý
và bảo vệ, và không có được sự minh bạch như ở Trung tâm giao dịch chứng khoán Trước tình hình như vậy, Chính phủ cũng đã yêu cầu Bộ Tài chính phải tăng cường quản lý, theo dõi, thanh tra, kiểm tra để đảm bảo cho thị trường phát triển theo đúng định hướng đề ra, phát huy mặt tích cực, hạn chế tối đa những mặt tiêu cực đối với thị trường, không để xảy ra những biến động lớn vượt ra ngoài tầm kiểm soát Cục Bảo hiểm Thành lập từ tháng 3 năm 2003, trực thuộc Bộ Tài chính và chịu trách nhiệm giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong phạm vi
cả nước Cụ thể là kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm Việt Nam, văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài và doanh nghiệp môi giới nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời phối hợp với Thanh tra Bộ trong việc xây dựng kế hoạch và thực hiện thanh tra hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm Ủy ban giám sát tài chính quốc gia (UBGSTCQG) Được thành lập theo quyết định số 34/2008/QD – TTg ngày 3/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ Cơ quan này có chức năng tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ trong điều phối giám sát thị trường tài chính quốc gia (trên cả 3 lĩnh vực Ngân hàng, Bảo hiểm, Chứng khoán), giúp Thủ tướng Chính phủ giám sát chung thị trường tài chính quốc gia Theo Quyết định này, Ủy Ban GSTCQG sẽ là đầu mối điều phối hoạt động giám sát chuyên ngành, giám sát chung thị trường tài chính và việc chấp hành các thông lệ, chuẩn mực quốc tế về hoạt động giám sát của các cơ quan thanh tra giám sát chuyên ngành trên cả ba lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, ngân hàng Ủy ban cũng tiến hành phân tích dự báo, cảnh báo mức độ an toàn hệ thống tài chính ngân hàng và nguy cơ rủi ro với thị trường tài chính quốc gia, thiết lập cơ sở dữ liệu, tổng hợp, xử lý và cung cấp thông tin về thị trường tài chính quốc gia báo cáo Chính phủ Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTG VN) Được thành lập theo quyết định số 218/1999/QD – TTg, ngày 9 tháng 1 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ Nhiệm vụ của BHTG VN là bảo vệ quyền lợi và lợi ích của hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tham gia BHTG và sự phát triển lành mạnh,
an toàn của hệ thống ngân hàng Kể từ khi ra đời và đi vào hoạt động cho đến nay,
Trang 20BHTG Việt Nam đã có những đóng góp rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, góp phần nâng cao niềm tin công chúng và duy trì một phần sự ổn định của hệ thống tài chính ngân hàng Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng, với mức tăng trưởng huy động vốn bình quân hàng năm là 30% , số lượng các tổ chức tham gia vào BHTG cũng gia tăng mạnh mẽ, khẳng định niềm tin của công chúng vào hệ thống tài chính ngân hàng
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của BHTG Việt nam còn nhiều bất cập và hạn chế như: chức năng và nhiệm vụ chưa được quy định đầy đủ và rõ ràng theo thông lệ quốc tế, năng lực tài chính của các cán bộ còn hạn chế, chưa có sự trao đổi kết hợp với các cơ quan trong mạng lưới an toàn quốc gia khác Điều này ảnh hưởng tới việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của BHTG
- Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng:
Từ ngày 30 tháng 7 năm 2009 Ngân Hàng Nhà nước đã chính thức công bố quyết định thành lập Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng Cơ quan được thành lập trên cơ sở tổ chức lại 4 đơn vị trực thuộc NHNN bao gồm: Thanh tra, Vụ các ngân hàng, Vụ các TCTD hợp tác và trung tâm phòng chống rửa tiền Thành lập Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng được coi là một công cuộc cải tổ đáng kể của NHNN nhằm tăng cường khả năng thanh tra, giám sát hệ thống các TCTD Theo quyết định
số 83/2009/QD – TTg ngày 27 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ: “ Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng là cơ quan thường trực của NHNN thực hiện chức năng thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành và giám sát chuyên ngành về ngân hàng trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của NHNN; tham mưu giúp Thống dốc NHNN quản lý nhà nước đối với các TCTD, tổ chức tài chính quy mô nhỏ, hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; thực hiện phòng chống rửa tiền theo quy định của Pháp luật
Trang 21CHƯƠNG 2: NHỮNG HẠN CHẾ CỦA SỰ ĐIỀU TIẾT VÀ QUY ĐỊNH
KHU VỰC TÀI CHÍNH
2.1 Các quy định tài chính cơ bản:
Có 9 loại qui định tài chính cơ bản:
- (1) Mạng lưới an toàn chính phủ: Là một dạng bảo hiểm tiền gửi, được cung cấp bởi
công ty bảo hiểm tiền gửi Bằng cách cung cấp một mạng lưới an toàn, người gửi tiền sẽ không ồ ạt rút tiền khỏi hệ thống ngân hàng tại dấu hiệu đầu tiên của sự cố Do đó, các tổ chức tài chính với một mạng lưới an toàn của chính phủ có một khuyến khích để có rủi ro lớn hơn
- (2) Hạn chế giữ tài sản: Hạn chế ngân hàng nắm giữ những tài sản rủi ro như cổ phiếu
công cộng, là phương tiện trực tiếp giúp ngân hàng tránh nhiều rủi ro Khuyến khích đa dạng hóa để có thể giảm rủi ro bằng cách giới hạn số lượng nợ vay trong những danh
mục cụ thể hoặc những người vay cá nhân
- (3) Yêu cầu về vốn: Ngân hàng có lượng vốn đủ theo yêu cầu của chính phủ là một cách
hạn chế việc ngân hàng tham gia vào những hoạt động rủi ro Vì vốn là vốn thực sự của ngân hàng, nếu họ lao vào rủi ro thì nguy cơ mất hết tài sản là điều tất nhiên nên họ rất cẩn trọng Vì những ngân hàng vốn ít thì khi phá sản họ mất tài sản ít thì coi như không mất gì nhưng nếu phi vụ hoạt động rủi ro cao thành công thì lợi nhuận vô cùng lớn nên
họ sẽ làm liều Yêu về vốn có hai hình thức:
Dựa trên tỷ lệ đòn bẩy: đòn bẩy là lượng vốn của ngân hàng được chia trên tổng tài sản ngân hàng Để biết được một ngân hàng có vốn hóa tốt hay không chúng ta có thể dựa đòn bẩy của ngân hàng Đòn bẩy ngân hàng phải lớn hơn 5%
Dựa trên rủi ro: Hiệp ước Basel yêu cầu vốn tối thiểu >= 8% để ngăn chặn rủi ro (rủi
Trang 22Chia ngân hàng thành nhiều nhóm dựa trên nguồn vốn của ngân hàng, từ đó có những hành động kịp thời tùy từng nhóm đối tượng
- (5) Giám sát tài chính: Cấp phép và kiểm tra
Giám sát là một phương pháp quan trọng để giảm sự lựa chọn nghịch và cố ý làm liều trong việc kinh doanh ngân hàng Do đó cần phải giám sát và hệ thống báo cáo ngân hàng
Hệ thống báo cáo ngân hàng là cách thức làm hạn chế vấn đề lựa chọn nghịch, thông qua hệ thống báo cáo thì các ngân hàng mới sẽ được giám sát
Giám sát người vay tiềm năng, hạn chế việc nắm giữ những tài sản rủi ro
Hệ thống báo cáo yêu cầu các ngân hàng phải báo cáo (thông thường là theo quý) về các vấn đề: tài sản ngân hàng và khả năng chi trả nợ, thu nhập, cổ tức, sở hữu, hoạt động tỷ giá ngoại tệ…
Việc kiểm tra sẽ giúp những nhà quản lí kiểm soát được việc ngân hàng có đủ số vốn như yêu cầu vốn có tuân thủ không, hạn chế nắm giữ những tài sản rủi ro, và hoạt động của ngân hàng nhằm hạn chế tình trạng cố ý làm liều
Kiểm tra chỉ định một đánh giá CAMEL cho một ngân hàng, nó có thể được sử dụng
để biện minh cho việc dừng và chấm dứt đơn đặt hàng cho các hoạt động nguy hiểm
(Hệ thống đánh giá CAMEL là hệ thống đánh giá tình trạng vững mạnh của các tổ chức tài chính Việc đánh giá dựa trên 5 tiêu chí: vốn, chất lượng tài sản, quản lý, thu nhập và mức thanh khoản của tổ chức tài chính CAMEL chính là viết tắt từ chữ cái đầu của các chữ tiếng Anh Capital, Asset Quality, Management, Earnings, và Liquidity của 5 tiêu chí trên)
Nếu giám sát không hài lòng, ngân hàng có thể bị tuyên bố là một "ngân hang có vấn đề" và có thể kiểm tra thường xuyên hơn
- (6) Đánh giá quản lý rủi ro: Các kỳ kiểm tra trong quá khứ tập trung chủ yếu vào chất
lượng của tài sản Một xu hướng mới là tập trung vào các ngân hàng có thể có quá nhiều
rủi ro trong tương lai gần
Bốn yếu tố của quản lý rủi ro và kiểm soát:
Chất lượng của Hội đồng quản trị cấp cao và giám sát quản lý
Đầy đủ các chính sách hạn chế hoạt động rủi ro
Chất lượng của các đo đạc và giám sát rủi ro
Đầy đủ các kiểm soát nội bộ để ngăn chặn gian lận
Trang 23- (7) Yêu cầu công khai thông tin: Nhằm đảm bảo cho việc những người cho vay có đầy
đủ thông tin hơn, những nhà quản lí phải yêu cầu ngân hàng tôn trọng triệt để nguyên tắc
kế toán chuẩn và công khai thông tin nhằm cung cấp cho thị trường đánh giá chất lượng các danh mục đầu tư của ngân hàng chính xác hơn
Thông tin càng được công khai minh bạch thì các nhà đầu tư, cổ đông, nhà cho vay có thể xác định được danh mục tốt nhất cho họ đề đầu tư mà không mắc phải những rủi
ro không đáng có do thông tin thiếu minh bạch
Hạn chế việc cạnh tranh giữa các định chế phi ngân hàng với ngân hàng bằng cách bắt các định chế phi ngân hàng cam kết chỉ hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực cho phép của mình đông, nhà cho vay có thể xác định được danh mục tốt nhất cho họ đề đầu tư mà không mắc phải những rủi ro không đáng có do thông tin thiếu minh bạch
- (8) Bảo vệ người tiêu dùng: Tình trạng thông tin bất cân xứng cũng gây rủi ro cho người
tiêu dùng Một số hình thức có thể giúp giảm rủi ro cho người tiêu dùng như sau: Ngân hàng trung ương yêu cầu tất cả những người cho vay phải cung cấp thông tin đầy đủ cho người tiêu dùng về chi phí vay bao gồm lãi suất được chuẩn hóa và tất cả những phí cho khoản vay; đối với những người phát hành tín dụng phải cung cấp thông tin về phương pháp đánh giá chi phí tài chính và yêu những phàn nàn từ khách hàng phài được giài đáp cầu nhanh chóng Hạn chế việc phân biệt trên thị trường tín dụng
- (9) Hạn chế cạnh tranh: Cạnh tranh tăng lên có thể làm cho tăng tâm lí ỷ lại, các ngân hàng
càng thích đầu tư vào những hoạt động rủi ro hơn Ở một số quốc gia chính phủ thành lập những định chế điều tiết đề bảo vệ ngân hàng khỏi sự cạnh tranh Có các hinh thức điều tiết
để bảo vệ ngân hàng như sau:
Hạn chế việc thành lập chi nhánh ngân hàng
Hạn chế việc cạnh tranh giữa các định chế phi ngân hàng với ngân hàng bằng cách bắt các định chế phi ngân hàng cam kết chỉ hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực cho phép của mình
Giới hạn cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng gây ra những tác động tiêu cực nghiêm trọng: người tiêu dùng sẽ gánh chi phí cao hơn, mặt khác thì chất lượng sản phẩm dịch vụ của các định chế tài chính cũng kém hẳn do nó không phải chịu áp lực cạnh tranh với ai cả
Trang 24Do đó, mặc dù có những quy định chống canh tranh giữa các ngân hàng nhưng điều này không có nghĩa là nó có những tác động tích cực Thực tế, chính phủ cũng thu hẹp dần việchỗ trợ trong việc hạn chế cạnh tranh ở các nước công nghiệp
hóa trong những năm gần đây
2.2 Những hạn chế của sự điều tiết và quy định khu vực tài chính
2.2.1 Sự điều tiết bác bỏ hệ thống tự do cạnh tranh:
Trong nền kinh tế ngày càng mở rộng thì tự do thuơng mại là giải pháp tối ưu cho thị trường Do đó tất cả những sự điều tiết ràng buộc của chính phủ là không hiệu quả và cần phải xóa bỏ những rào cản này
Có vô vàn minh chứng cho rằng khu vực ngân hàng hoạt động tự do dần có thể ổn định Kinh tế ngân hàng tự do tự thân nó sẽ tiến hóa theo sự điều tiết của thị trường nền kinh tế tự thân nó không có những khuyết điểm như: thông tin bất cân xứng, tâm lí ỷ lại, vấn đề lý thuyết người chủ,….Các trung gian tài chính tự lọc thải những vấn đề trên và trở nên hiệu quả hơn, bao gồm cả việc giảm chi phí
2.2.2 Sự điều tiết tạo ra tâm lý ỷ lại:
Là kết quả của việc can thiệp vào hệ thống tài chính của nhà nước thông qua Ngân Hàng Trung ương Ngân hàng TW đóng vai trò như người cho vay cuối cùng,
là cứu cánh cho những ngân hàng sắp phá sản Các ngân hàng ỷ lại dù có thế nào đi nữa thì cũng có sự cứu giúp của ngân hàng nhà trung ương nên các ngân hàng cứ lao vào những hoạt động rủi ro
Các ngân hàng thích lao vào những hoạt động rủi ro để kiếm lãi cao Họ luôn
an tâm vì có sự bảo lãnh cùa chính phủ
Chính việc bảo hộ cùa nhà nước khiến các ngân hàng tốt cũng cuốn vào các phi vụ kinh doanh lãi suất cao đầy rủi ro Họ không quan tâm đến lợi ích lâu dài mà chỉ quan tâm cái lợi trước mắt Một vấn đề phát sinh nghiêm trọng ở đây là ngay khi các ngân hàng thất bại thì ngân hàng trung ương vẫn hỗ trợ để họ tiếp tục hoạt động
Bảo hiểm tiền gửi đảm bảo cho người cho vay khi ngân hàng bị phá sản vì có bảo hiểm chi trả cho họ Bảo hiểm tiền gửi tạo động lực cho người cho vay thích hợp tác với những ngân hàng mạo hiểm hơn Vì những hoạt động rủi ro cao thì lợi nhuận cao và trường hợp xấu nhất ngân hàng không còn khả năng chi trả cho họ thì cũng có bảo hiểm trả
Trang 252.2.3 Sự điều tiết của chính phủ tạo ra hiện tượng cố ý làm liều (Một dạng Khủng hoảng về đạo đức):
Một trong những mặt trái của mạng lưới an toàn chính phủ là “sự cố ý làm liều” Cố ý làm liều là hành động của một bên gây ra những hậu quả xấu cho bên còn lại “Khủng hoảng đạo đức” nhìn chung là một một mối quan ngại lớn của sự thỏa thuận bảo hiểm bời vì chính sự ra đời của bảo hiểm làm tăng những động lực cho việc
cố ý lao vào những khoản đầu tư đầy rủi ro để nhận được khoản chi trả của bảo hiểm
Ngân hàng với mạng lưới an toàn của chính phủ vô tư lao vào những rủi ro mà không cần phải suy nghỉ toan tính vì họ cho rằng dù có thế nào đi chăng nữa thì cũng
đã có bảo hiểm;
2.3 Những bất cập, yếu kém của hệ thống giám sát tài chính việt nam
Trong hơn 20 năm đổi mới thị trường tài chính và các thị trường cấu thành đã
có sự phát triển nhất định Tuy nhiên, thị trường tài chính Việt Nam đạt trình độ phát triển còn thấp, năm 2011 đứng ở thứ hạng 50 trên 60 thị trường tài chính phát triển nhất được xếp hạng (đánh giá của Báo cáo Chỉ số Phát triển tài chính 2011 của Diễn đàn Kinh tế thế giới - WEF) So sánh chung toàn cầu cho thấy, môi trường thể chế, kinh doanh của Việt Nam và trình độ phát triển các thị trường cấu thành TTTC Việt Nam còn kém phát triển, đặc biệt là các chuẩn mực về quản trị công ty, bao gồm Chuẩn mực kiểm toán và báo cáo tài chính (mức độ và hiệu lực áp dụng), Hiệu quả hoạt động của Hội đồng quản trị, Bảo vệ lợi ích cổ đông thiểu số/nhà đầu tư Những yếu kém này, cùng sự yếu kém trong phát triển của bản thân TTTC có phần quan trọng xuất phát từ những bất cập, yếu kém trong công tác giám sát HTTC dưới đây:
- Một là, các cơ quan giám sát (NHNN, UBCKNN, Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam và Bộ
Tài chính) vừa thực hiện chức năng cấp phép, ban hành cơ chế - chính sách, vừa thực hiện chức năng hướng dẫn, triển khai thực hiện cơ chế chính sách và kiêm luôn vai trò kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của các định chế tài chính Điều này dẫn tới xung đột về lợi ích, khiến hiệu quả và hiệu lực giám sát không cao
- Hai là, việc thực hiện giám sát trên cơ sở rủi ro, giám sát an toàn vĩ mô vẫn còn yếu kém;
chủ yếu thiên về giám sát tuân thủ Đến nay vẫn chưa có một quy định chung về cách thức giám sát cho cả hệ thống tài chính; việc giám sát vẫn chưa bao quát được tất cả các lĩnh vực hoạt động của các tập đoàn kinh tế, nhất là tập đoàn tài chính (cả chính thức lẫn
Trang 26phi chính thức) trong nước, các tập đoàn xuyên quốc gia (ví dụ Merril Lynch, AIG,…) Các công cụ phái sinh tài chính (nhằm giảm rủi ro) vẫn chậm được áp dụng và ban hành (trong khi trên thực tế có những công cụ về thực chất là biến tấu của các công cụ phái sinh)
- Ba là, khó giám sát một cách hữu hiệu các rủi ro sở hữu chéo (giữa các ngân hàng, các
định chế tài chính, tập đoàn, tổng công ty) do thiếu minh bạch, công khai, đặc biệt thiếu
sự phối kết hợp, liên thông trong giám sát toàn bộ thị trường tài chính do các cơ quan giám sát hoạt động một cách độc lập theo lĩnh vực của mình Hoạt động phối kết hợp giám sát giữa Việt Nam và các nước khác vẫn còn hạn chế Đặc biệt, hiện vẫn chưa có một cơ quan giám sát tài chính vĩ mô có đủ thẩm quyền và năng lực bộ máy để có thể cảnh báo, ngăn ngừa và xử lý hữu hiệu các loại rủi ro của hệ thống tài chính Điều này có liên quan đến bản chất của mô hình giám sát tài chính của Việt Nam Bản thân vị thế pháp lý yếu so với những “trọng trách” được giao của Ủy ban Giám sát Tài chính (UBGSTC) cũng là nhân tố khiến sự phối kết hợp thiếu chặt chẽ giữa các cơ quan quản
lý, giám sát các TTTC Sự phối hợp giữa các cơ quan giám sát tài chính đối với tổng thể
hệ thống chưa có hiệu quả cao, do một số hoạt động nghiệp vụ có liên quan tới nhiều cơ quan quản lý nhà nước Thách thức, rủi ro ở đây là hoạt động giám sát các định chế tài chính, nhất là các tập đoàn tài chính (TĐTC) ngày càng trở nên khó khăn do ngày càng gia tăng các hoạt động đổi mới tài chính và công nghệ thông tin - truyền thông, tự do hóa kinh tế - tài chính, các bộ phận của thị trường tài chính ngày càng đan xen nhau chặt chẽ; ranh giới giữa thị trường tiền tệ và TTCK truyền thống trong một nước hay giữa thị trường vốn nội địa với thị trường vốn quốc tế đang bị mờ dần; hoạt động của các tổ chức tài chính, đặc biệt là các TĐTC ngày càng trở nên đa năng, đa quốc gia và các công cụ tài chính ngày càng phong phú và phức tạp Điều này đòi hỏi các cơ quan giám sát phải có tầm nhìn toàn cầu và sự phối hợp chặt chẽ trong việc vừa quản lý một cách hiệu quả, vừa tạo điều kiện cho các bộ phận thị trường tài chính phát triển Sự phối hợp này là rất cần thiết từ việc lập chiến lược phát triển tổng thể thị trường tài chính, sự hợp tác thường xuyên trong việc quản lý, xử lý những vấn đề của thị trường (nhất là lĩnh vực chứng khoán - ngân hàng), cho đến việc giám sát một cách có hiệu quả các định chế tài chính tham gia và hoạt động đan xen trên thị trường