ĐỀ TÀI: PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CÂU TIẾNG VIỆT THEO KẾT CẤU VỊ TỪ THAM THỂ QUA ĐOẠN TRÍCH “SÂN CHIM” CỦA ĐOÀN GIỎIMỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tàiTiếng Việt rất khác với các ngôn ngữ khác trên thế giới, vậy nên khi người nước ngoài học tiếng Việt thì mới có câu: “Tiếng Việt không khó cũng không dễ ”. Vì không giống các ngôn ngữ mà hiện nay được sử dụng nhiều như Anh, Pháp, Trung Quốc,… nên các phương pháp được vận dụng để phân tích câu trong tiếng Việt cũng rất khác biệt. Theo khảo sát của chúng tôi thì một câu tiếng Việt hiện nay có thể được phân tích theo bốn phương pháp: (1) theo cấu trúc chủ – vị (Ngữ pháp truyền thống), (2) theo cấu trúc vị từ – tham thể (Ngữ pháp ngữ nghĩa), (3) theo cấu trúc đề – thuyết (Ngữ pháp chức năng), và (4) theo cấu trúc nêu – báo (Lý thuyết thông tin). Trong các phương pháp này thì phương pháp phân tích câu tiếng Việt theo kết cấu vị từ – tham thể là phương pháp ra đời tương đối muộn với bề dày lý thuyết chưa nhiều. Ngoài việc có thể tạo được sự tò mò và thích thú khi nghiên cứu vì là lý thuyết mới nên sự phiêu lưu là luôn có thì chúng tôi muốn giúp những người quan tâm hiểu sâu sắc hơn về phương pháp phân tích câu theo kết cấu vị từ – tham thể. Đặc biệt, chúng tôi giới thiệu một cách chi tiết các bước tiến hành phân tích câu theo phương pháp này, chỉ ra mối quan hệ giữa phương pháp phân tích câu truyền thống – phân tích câu theo cấu trúc chủ – vị với vị từ – tham thể. Với những mong muốn được trình bày rõ ràng như trên thì đó chính là một trong những lý do để chúng tôi lựa chọn đề tài này.Với đề tài “Phương pháp phân tích câu Tiếng Việt theo kết cấu vị từ –tham thể” chúng tôi muốn đi sâu nghiên cứu rõ hơn là phương pháp phân tích câu theo cấu trúc vị từ – tham thể, so sánh nó với các phương pháp phân tích câu khác, trong đó đặc biệt là với phương pháp phân tích câu theo cấu trúc chủ – vị vốn đã quen thuộc đối với người Việt. Từ đây làm rõ sự phức tạp cũng như đa dạng của Tiếng Việt, chúng ta sẽ có cái nhìn toàn diện về câu Tiếng Việt. Trong học tập thì đòi hỏi người học phải luôn có sự tiếp nhận với kiến thức mới, không ngừng nâng cao tri thức mới, đó là một lẽ tất yếu. Và trong học tập thì lí thuyết luôn đi liền với áp dụng thực tiễn, mà thực tiễn thì luôn không ngừng vận động, bởi vậy mà việc không ngừng trao dồi kiến thức mới là cần thiết đối với người học. Vì thế, nếu thành công, đây sẽ là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên khi phân tích câu TV theo ngữ nghĩa. Trong ngữ pháp chức năng, các hiện tượng ngôn ngữ đã được các nhà ngôn ngữ học xem xét trên cả ba bình diện: ngữ pháp – ngữ nghĩa – ngữ dụng, đặc biệt là mặt ngữ nghĩa. Ngữ pháp chức năng đã cho thấy rõ mối quan hệ giữa cấu trúc cú pháp với cấu trúc nghĩa (nghĩa miêu tả) của câu. Đó là một bên là nội dung (cấu trúc nghĩa) và một bên là hình thức (cấu trúc cú pháp của câu). Các chức năng cú pháp của câu thực chất là do các vai nghĩa chi phối khi chúng được thực hiện hóa trong câu. Do đó, trong nghiên cứu ngữ pháp cần phải nói đến nghĩa, phải bàn đến ngữ pháp mang tính ngữ nghĩa.Từ những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Phân tích câu tiếng Việt theo cấu trúc vị từ – tham thể” làm đề tài nghiên cứu.2.Lịch sử vấn đềVới hướng tiếp cận câu bằng phương pháp phân tích dựa trên kết cấu vị từ – tham thể là một hướng đi không còn là xa lạ đối với học giả, đó như là tri thức luận cần thiết cho hoạt động khám phá kết cấu nội hàm của câu. Tuy nhiên, hướng triển khai nghiên cứu đề tài này trong phân tích tác phẩm cụ thể lại ít được quan tâm trong giới học thuật ở Việt Nam. Người khơi nguồn cho phương pháp phân tích câu theo cấu trúc vị từ – tham thể là L.Tesnière với lý thuyết diễn trị (vào khoảng những năm 30 của thế kỷ trước). “Cú pháp dựa trên nghĩa học” (semantically based syntax) của L.Tesnière đã khiến ông trở thành một trong những người sáng lập ra lý thuyết diễn trị (valency theory) – cách phân tích câu dựa trên cấu trúc nghĩa của các vai (role). Theo ông: “Cấu trúc cú pháp của câu xoay quanh vị từ và các diễn tố (actants) làm bổ ngữ cho nó. Chủ ngữ chẳng qua là một trong các bổ ngữ đó. Mỗi vị từ biểu hiện “một màn kịch nhỏ”, nó có một diễn trị (valence) riêng được thể hiện trong số lượng các diễn tố của nó”. Tesnière nhấn mạnh vai trò của vị từ vị ngữ là trung tâm tổ chức ngữ nghĩa và cú pháp của câu. Sau ông, nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm đến vấn đề này như C.J. Fillmore, M.A.K. Halliday, W.Chafe, C. Hagege, S.C.Dik,… Bắt đầu từ C.J.Fillmore. Trước và sau năm 1970, ông có cho đăng hàng loạt bài viết của mình, trong đó nổi tiếng nhất có lẽ là bài mang tên “The case for case” (tạm dịch là “Tác dụng của cách”) được công bố năm 1968. Trong bài viết ấy, Fillmore chủ trương rằng có thể xác định một tập hợp các mối quan hệ giữa một vị từ và các tham tố của nó. Mối quan hệ kiểu này được ông gọi là “quan hệ cách”. “Đó là những quan hệ ngữ nghĩa – cú pháp ngầm, được giả định tạo nên một tập hợp hoàn chỉnh, tồn tại ngầm đối với những ngôn ngữ có vĩ tố và dạng thức cách của các mối quan hệ cách vẫn là sự biểu đạt trong ngôn ngữ có thể thực hiện được nhờ những phụ tố, hoặc nhờ các giới từ, hoặc với các cách khác”. Với cách nghĩ này thì có thể nói Fillmore là người cầm ngọn đuốc đi tiên phong, mở đường cho việc nghiên cứu ngữ pháp cách. Theo sau ông sau đó là rất nhiều những nhà ngôn ngữ khác cũng nghiên cứu về mảng ngữ pháp cách (case grammar) nhưng ở một chừng mực nào đó thì chúng độc lập với những kết quả nghiên cứu của Fillmore trước đó. Có thể kế đến như W. Chafe (1970), J.M. Anderson (1971), R.E. Longacre (1976), S.C. Dik (1978),… trong đó S.C. Dik đã có đóng góp quan trọng trong việc bổ sung hoàn chỉnh hai khái niệm lớn trong lĩnh vực vai nghĩa: Tham thể bắt buộc (diễn tố) và Tham thể mở rộng (chu tố).Đó là sơ lược về tình hình nghiên cứu phương pháp phân tích câu theo kết cấu vị từ – tham thể trên thế giới. Còn ở Việt Nam, vấn đề này là rất mới nên nó chỉ được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu về ngữ pháp chức năng. Có thể điểm mặt một số nhà nghiên cứu như Trương Vĩnh Ký với cuốn “Grammaire de la langue annamite” xuất bản năm 1983 đề cập ngữ pháp cách, Cao Xuân Hạo với công trình “Tiếng Việt – sơ thảo ngữ pháp chức năng” (1991), tác giả Nguyễn Thị Lương với cuốn “Câu tiếng Việt” (2006), Nguyễn Văn Hiệp trong cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp” (2008),… Từ trước đến nay, ngữ pháp nhà trường sử dụng phương pháp phân tích câu theo cấu trúc chủ vị, các sách viết về vấn đề này rất phổ biến như những cuốn sách ngữ pháp của Diệp Quang Ban. Cách phân tích câu theo cấu trúc chủ vị được áp dụng trong nhà trường phổ thông nên đã trở nên vô cùng quen thuộc. Trái lại hướng phân câu theo cấu trúc vị từ – tham thể vẫn cón ít người biết đến, do vậy nó là một vấn đề tương đối mới mẻ. Khi đi nguyên cứu và tìm hiểu về cấu trúc vị từ tham thể đã có nhiều công trình nguyên cứu, hội thảo khoa học tìm hiểu về vấn đề này. Sự quan tâm cũng như những góc nhìn của những nhà nguyên cứu ngôn ngữ học nói riêng, nhà phê bình lí luận và cả nhà giáo dục nói chung đã có nhiều góc độ nhìn nhận khác nhau và khá sâu sắc về vấn đề này.TS. Trần Kim Phượng , tại khoa Ngữ văn – ĐHSP Hà Nội đã lý giải về phương pháp phân tích cấu trúc vị từ tham thể như sau: Đây là phương pháp phân tích câu nhìn từ góc độ ngữ nghĩa, do vậy, mỗi đối tượng trong câu đều ứng với một đối tượng của thực tế khách quan, nội dung của câu là một sự tình của thế giới khách quan ấy. Nói cách khác, mỗi câu phản ánh một sự tình. Trong cấu trúc của một sự tình thì động từ vị ngữ (predicator) là trung tâm. Xoay xung quanh động từ vị ngữ là các tham tố (tham thể – argument). Mỗi tham thể đảm nhiệm một vai nghĩa (semantic role) nhất định. Trong cấu trúc này, chủ ngữ cũng chỉ là một trong những tham thể của vị từ mà thôi, nó không quan trọng như vị từ; tuy nhiên, trong số các tham thể thì nó được xem là tham thể quan trọng nhất. ,30Khi đánh giá về chức năng của vị từ Cao Xuân Hạo cho rằng: “Chức năng của vị từ chính là là thành vị ngữ (ngữ đoạn vị từ) hay làm trung tâm của ngữ đoạn này, cho nên chỉnh nó đảm đương việc mang những đặc trưng ngữ pháp ngữ nghĩa đánh dấu dự phân biệt giữa các loại sự tình”. , 258Tác giả Trần Kim Phượng trong Các cách phân tích câu tiếng Việt có nhận định về cách phân tích câu theo cấu trúc vị từ tham thể như sau: “Phân tích câu theo cấu trúc vị từ tham thể là một hướng phân tích câu theo lối mới. Ưu điểm chính của nó là phản ánh được mặt nghĩa học của câu, làm rõ mối liên quan giữa nội dung câu với thực tế khách quan. Nhược điểm chính của nó là không làm rõ được đâu là thông tin mới trong câu.” Như vậy, cấu trúc vị từ – tham thể đã được các nhà nghiên cứu trong nước đề cập tới. Tuy vậy các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu phần vị từ và phần tham thể trong các phát ngôn mà chưa đi sâu vào việc phân tích câu tiếng Việt theo cấu trúc vị từ – tham thể và so sánh những ưu, nhược điểm của cấu trúc vị từ – tham thể với các phương pháp phân tích. Mỗi tác giả chỉ đưa ra một, hai ví dụ về cách phân tích này chứ chưa áp dụng một cách có hệ thống triệt để vào việc phân tích câu tiếng Việt. Số trang dành cho cấu trúc vị từ –tham thể dường như quá ít ỏi so với tầm quan trọng của nó. Bởi vậy, theo chúng tôi việc nghiên cứu, tìm hiểu Phương pháp phân tích câu tiếng Việt theo cấu trúc vị từ tham thể vẫn còn là một vấn đề mới mẻ.3.Mục đích nghiên cứuNghiên cứu đề tài này chúng tôi muốn làm rõ vấn đề phần vị từ, phần tham thể và hướng phân tích câu theo cấu trúc vị từ – tham thể để từ đó giúp người học có khả năng vận dụng lý thuyết này vào việc phân tích một câu cụ thể. Đồng thời, bằng việc đưa ra cụ thể các vai nghĩa từ các hướng nghiên cứu của các tác giả Tesnière, Nguyễn Thiện Giáp và một số tác giả khác nhằm góp phần làm rõ được ý nghĩa cụ thể của các yếu tố ngôn ngữ khi tham gia vào diễn đạt câu. Hướng đi mới, cách tiếp cận mới giúp người dạy và người học và cả những người nghiên cứu có các nhận định đúng về vai trò của các yếu tố ngôn ngữ ấy, tất cả đều định sẵn vai trò của mình chứ không chỉ riêng gì vai trò cốt lõi của thành phần chủ ngữ, vị ngữ theo như cấu trúc C – V. Trong các phương pháp phân tích câu tiếng Việt thì cấu trúc vị từ tham thể còn khá mới và bề dày lí thuyết tương đối ít nên việc nguyên cứu cũng như triển khai dạy học còn khá mập mờ khó khăn và lúng túng khi thực hiện việc nghiên cứu và học tập của học sinh, sinh viên. Khi thực hiện đề tài này với mục đích phân tích sâu hơn và kỹ hơn cấu trúc trong từng câu để từ đó giúp những người quan tâm và muốn tìm hiểu về vấn đề trên sẽ hiểu rõ hơn về phương pháp phân tích câu theo cấu trúc vị từ – tham thể.Hơn nữa, hướng nghiên cứu phân tích câu bằng phương pháp vị từ tham thể (vai nghĩa), cũng sẽ tiếp thu các bước phân tích phương pháp này để phát huy được những ưu điểm của nó trong phân tích câu tiếng Việt, cụ thể qua một số đoạn trích tác phẩm văn học.Và củng cố và làm phong phú thêm các hướng tiếp cận câu tiếng Việt. Từ đó giúp người học hiểu sâu hơn về câu trong lĩnh vực giao tiếp. Thông qua việc nghiên cứu đề tài “Phương pháp phân tích câu tiếng Việt theo kết cấu vị từ – tham thể qua đoạn trích Sân chim của Đoàn Giỏi”, chúng tôi mong muốn tiếp thu những thành tựu nghiên cứu về ngữ pháp ngữ nghĩa, đặc biệt là cấu trúc nghĩa của câu và từ đó áp dụng phương pháp này để phân tích những câu tiếng Việt đơn giản trong tác phẩm. Ngoài ra, chúng tôi cũng hi vọng rằng bài nghiên cứu về đề tài có thể trở thành kênh thông tin có giá trị tham khảo về cấu trúc nghĩa, cấu trúc ngữ pháp của câu tiếng Việt cho quý học giả.4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu4.1.Đối tượng nghiên cứuĐối tượng nghiên cứu của đề tài này này là phương pháp phân tích câu Tiếng Việt theo kết cấu vị từ – tham thể.4.2. Phạm vi nghiên cứuPhạm vi nghiên cứu trong đề tài này của chúng tôi là phương pháp phân tích câu Tiếng Việt theo kết cấu vị từ – tham thể trong đoạn trích “Sân chim” thuộc tác phẩm Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi. 5.Phương pháp nghiên cứuTừ mục đích, đối tượng nghiên cứu như trên, trong luận văn này chúng tôi có sử dụng các phương pháp sau:Phương pháp miêu tả.Phương pháp thống kê.Phương pháp đối chiếu so sánh.6.Giả thuyết khoa họcĐề tài này nếu thành công sẽ đóng góp vào cơ sở lý thuyết cho khái niệm vị từ – tham thể trong tiếng Việt và là nguồn tài liệu cho các nghiên cứu về việc phân tích câu tiếng Việt theo cấu trúc vị từ – tham thể về sau. Ngoài ra, còn là tài liệu bổ ích giúp cho sinh viên dễ dàng hơn trong việc thực hành phương pháp phân tích tương đối mới này.7.Bố cụcNgoài phần mở đầu và kết luận, đề tài này của chúng tôi gồm 3 chương:Chương 1: Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài1.1.Quan niệm về vị từ trong câu1.2. Quan niệm về tham thể (vai nghĩa) trong câu1.3. Phân loại tham thể1.3.1.Tham thể cơ sở (Diễn tố)1.3.2.Tham thể mở rộng (Chu tố)1.4. Những vai nghĩa thường gặpChương 2: Phương pháp phân tích câu tiếng Việt theo kết cấu vị từ – tham thể (vai nghĩa)2.1.Các bước phân tích câu theo kết cấu vị từ – tham thể2.2.Mối quan hệ giữa phương pháp phân tích câu theo cấu trúc vị từ – tham thể và cấu trúc C–V2.3.Ý nghĩa của phương pháp phân tích câu theo kết cấu vị từ – tham thểChương 3: Thực hành phân tích câu theo kết cấu vị từ ¬– tham thể qua đoạn trích “Sân chim” trong “Đất rừng phương Nam” của Đoàn GiỏiCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI1.1. Quan niệm về vị từ trong câuKhái niệm vị từ xuất hiện từ những năm 60 để phân biệt với thể từ, trong nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt. Nếu thể từ là chỉ những từ khi làm vị ngữ trong câu cần phải có từ là, thì vị từ là những từ không cần đến từ là và trực tiếp làm vị ngữ. Vì thế, ở bình diện ngữ pháp “vị từ là khái niệm thường chỉ tập hợp hai từ loại: động từ và tính từ”, còn thể từ tiếng Việt là danh từ, số từ đại từ.Vị từ (predicate) hay còn gọi là hàm (function), vị từ được hiểu là “biến mà giá trị của nó được xác định khi đã biết giá trị của một hay nhiều biến khác”. Vị từ được xác định thông qua khái niệm vị tố, và tiếp tục khái niệm vị tố được xác định qua khái niệm biểu thức quy chiếu. Đó là một trong những cách hiểu về vị từ, theo lí thuyết kết trị của Tesnière – nhà ngữ học người Pháp, người được xem như là cha đẻ của lí thuyết ngữ trị trong nghiên cứu ngữ pháp, những khuynh hướng nghiên cứu ngữ pháp dựa trên ngữ nghĩa. Trong khung vị ngữ, cấu trúc vị từ – tham thể, dựa trên lý thuyết của Tesnière đã được tách ra khỏi ảnh hưởng của logic học.Vì theo tác giả, “ngữ pháp là vấn đề thuộc ngôn ngữ học chứ không phải của logic, câu (câu đơn) chỉ có một đỉnh duy nhất là vị từ vị ngữ.”. Vai trò của vị từ vị ngữ được đánh giá cao theo cách hiểu này, theo Tesnière vị từ là đỉnh, là tâm điểm tổ chức của câu quyết định trực tiếp đến các diễn tố có thể xuất hiện trong câu.Vị từ là trung tâm tổ chức ngữ nghĩa và ngữ pháp của câu.Cùng cách nghiên cứu ngữ pháp dựa trên ngữ nghĩa, Igor A Mel’cuk, André Clas, Allain Polguere quan niệm “vị từ trong logic ngữ nghĩa là một nghĩa trong đó có những “lỗ hổng” để nhận những ý nghĩa khác, vị từ ngữ nghĩa là một nghĩa có tính gắn kết”. Vị từ ngữ nghĩa tập hợp các nghĩa khác để tạo thành những cấu trúc ngữ nghĩa như “một cái ống nối kết các đỉnh của một cái trại để tạo thành khung đỡ cái trại”. Qua đó, thấy rằng nếu xét trên logic ngữ nghĩa, vị từ là yếu tố ngôn ngữ mang nghĩa có tính gắn kết, là thành tố nêu đặc trưng hay quan hệ và vị từ chỉ xuất hiện khi có sự tham gia của các tham tố. Theo hướng nghiên cứu ngữ pháp chức năng, qua công trình nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học người Ba Lan – Anna Siewierska, tác giả Diệp Quang Ban có đưa ra nhận xét: “Trong ngữ pháp chức năng, toàn bộ các vị từ chia thành ba loại: thuộc động từ, thuộc tính từ và thuộc danh từ”. Vị từ thuộc động từ, tính từ là phổ biến hơn so với danh từ. Nhưng cũng có thể thấy được, khác với ngữ pháp truyền thống, vị từ không chỉ riêng động từ, tính từ mà còn có danh từ. Chẳng hạn, qua các ví dụ sau: Tôi đọc truyện “Đất rừng phương Nam” của Đoàn Giỏi. Em gái dễ thương quá.Mưa Cùng với nhận xét này, để thấy rằng phạm trù vị từ trong cấu trúc vị từ – tham thể đã được hiểu rộng hơn. Ngày nay, hiểu vị từ theo hướng nghiên cứu về mặt ngữ pháp chức năng – ngữ pháp dựa trên cơ sở ngữ nghĩa sẽ có tính mở hơn so với hướng nghiên cứu về mặt ngữ pháp truyền thống.Các vị từ được phân loại chủ yếu dựa vào ngữ trị của chúng, nghĩa là dựa vào số lượng ngữ đoạn bắt buộc đi cùng với chúng để tạo nên một câu trọn vẹn tối thiểu. Chẳng hạn, vị từ “biếu” trong ví dụ: Cháu Nam biếu ông lọ thuốc bóp chân. Vị từ này có ngữ trị 3, với ba ngữ đoạn lần lượt chỉ ra người tặng “cháu Nam”, người được tặng “ông” , vật được tặng “lọ thuốc bóp chân”.Có vị từ vô trị (avalent), vị từ đơn trị (monovalent), vị từ song trị (bivalent), vị từ tam trị (trivalent),... Vị từ vô trị là vị từ có diễn trị zero. Ví dụ: Hôm qua bão. Khuya lắm rồi Trong ví dụ trên từ “bão”, “khuya” là những vị từ vô trị. Vị từ đơn trị là vị từ có một diễn tố. Ví dụ: Tôi chạy đi. Em đứng. Vị từ song trị là vị từ có hai ngữ trị. Ví dụ: Tôi thổi cơm. Mẹ hái rau.1.2. Quan niệm về tham thể (vai nghĩa) trong câuPhương pháp phân tích câu Tiếng Việt theo kết cấu vị từ – tham thể là phương pháp phân tích câu nhìn từ góc độ ngữ nghĩa, do vậy, mỗi đối tượng trong câu đều ứng với một đối tượng của thực tế khách quan, nội dung của câu là một sự tình của thế giới khách quan ấy. Theo cách nói của Cao Xuân Hạo thì câu biểu hiện một sự tình mà trong đó, nội dung (nghĩa biểu hiện) của nó được hình dung như một “cảnh” (một màn kịch ngắn) diễn trên sân khấu và các nhân vật có mặt trên sân khấu được gọi là tham tố của sự tình. 6, tr.27 Tức là các tham tố là các vai nghĩa trong một màn kịch nhỏ của một sự thể. Nói cách khác, mỗi câu phản ánh một sự tình, trong cấu trúc của một sự tình thì động từ vị ngữ (predicator) là trung tâm, xoay xung quanh động từ vị ngữ là các tham thể. Mỗi tham thể đảm nhiệm một vai nghĩa (semantic role) nhất định.Khái niệm tham thể được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo tác giả Bùi Minh Toán “Tham thể là các thực thể tham gia vào cấu trúc và đặc trưngquan hệ tham thể của sự tình, và thường được biểu thị bằng danh từ, cụm danh từ hoặc các từ ngữ tương đương”. 1, tr.180Cùng với quan điểm của Bùi Minh Toán, các nhà nghiên cứu khác cũng khá thống nhất khi cho rằng tham thể là tất cả các thực thể được biểu hiện bằng các danh từ và tương đương danh từ tham gia vào sự tình, chịu sự chi phối trực tiếp của ý nghĩa của vị từ hoặc phải được vị từ chấp nhận.Với cái nhìn không thể tách tham thể ra khỏi sự tình thì Van Valin và Lapolla (1997) cũng có cái nhìn tương tự, cho rằng: “Vai nghĩa (tham thể) mà một thực thể đảm nhận trong sự tình luôn luôn phụ thuộc vào bản chất của sự tình đó, và thực là vô nghĩa nếu ta tách biệt các vai nghĩa ra khỏi các sự tình mà trong đó chúng xuất hiện” 5, tr.1321Với tác giả S. C. Dick thì: “Một kết cấu vị ngữ hạt nhân bao gồm một vị từ gắn kết với một số thích hợp các ngữ định danh để lắp đầy vị trí các tham tố của vị từ đó. Kết cấu vị ngữ hạt nhân xác định một tập hợp các sự tình, trong đó thuộc tính hay quan hệ của nó được vị từ chỉ định, có hiệu lực đối với những ngữ định danh cụ thể mà vị từ được ứng dụng”. 4, tr.14Tác giả Diệp Quang Ban đưa ra quan niệm tham thể là những thực thể tham gia vào sự thể (sự việc) như là một bộ phận cần thiết của sự thể, bộ phận nằm trong sự thể. Tham thể có quan hệ với sự thể theo kiểu cho sự thể ấn định, tức là một sự thể cụ thể chỉ có thể diễn ra nhờ sự có mặt của một hoặc những tham thể nào đó, một sự thể khác có thể diễn ra không cần đến sự có mặt của tham thể nào cả. Chẳng hạn sự đánh nhau nhất thiết phải có hai bên tham gia. 8, tr.21 Ở phương pháp phân tích câu Tiếng Việt theo kết cấu vị từ – tham thể, thì mỗi câu nói có một vị từ làm cốt lõi và xung quanh là những tham thể, biểu thị những vai nghĩa khác nhau. Có những vai nghĩa mang tính bắt buộc, bị quy định bởi bản chất từ vựng – ngữ pháp của vị từ trung tâm, theo cái nghĩa là những vị từ có bản chất từ vựng – ngữ pháp khác nhau sẽ quy định các vai nghĩa khác nhau. Nhưng cũng có những vai nghĩa mang tính tùy nghi, tức là không chịu sự quy định bắt buộc như vậy. Trong ngữ pháp của Tesniere, những vai nghĩa bắt buộc sẽ được hiện thực hóa thông qua những ngữ đoạn được gọi là diễn tố (actant), còn những vai nghĩa tùy nghi thì được hiện thực hóa thông qua những ngữ đoạn được gọi là chu tố (circonstant). Việc đánh giá một vai nghĩa là bắt buộc hay tùy nghi phải đặt trong quan hệ với vị từ trung tâm: một vai nghĩa có thể tùy nghi với vị từ này, nhưng lại bắt buộc đối với vị từ khác. Ví dụ, vai nghĩa “nơi chốn” (location) có thể mang tính tùy nghi khi trung tâm là một vị từ “hành động” “Tôi đi đến Sài Gòn” nhưng lại mang tính bắt buộc nếu trung tâm là một vị từ “tồn tại” “Tối sống ở Hà Nội”. Với lý thuyết này, Cao Xuân Hạo cũng khẳng định Tesniere là người đã đặt nền móng cho nghĩa học của cú pháp. Trên cơ sở đó, các tham thể được các nhà nghiên cứu khái quát thành hai loại: tham thể cơ sở và tham thể bắt buộc (thuật ngữ của tác giả Diệp Quang Ban) hoặc chu tố và diễn tố (thuật ngữ của tác giả Cao Xuân Hạo).1.3. Phân loại tham thể 1.3.1.Tham thể cơ sở (Diễn tố)Tham thể cơ sở là loại tham thể mà sự hiện diện của nó là nội dung ý nghĩa của vị từ trong cùng cấu trúc ý nghĩa nó đòi hỏi.Ví dụ: Nga vừa mua cho Linh một hộp bánh đó.Trong đó Nga, Linh và hộp bánh là những tham thể bắt buộc.Tác giả Cao Xuân Hạo gọi tham thể bắt buộc là diễn tố (actant). Theo ông, “diễn tố là tham tố của vị từ tham gia vào nội dung biểu hiện của khung ngữ vị từ (thuật ngữ của Cao Xuân Hạo). Theo ông, khung ngữ vị từ không phải là ngữ, cũng không phải là câu, ở đây là cái khung nghĩa. Như một nhân vật được giả định một cách tất yếu trong nội dung nghĩa của vị từ, mà nếu thiếu đi thì cái sự tình hữu quan không thể được thực hiện, không còn là nó nữa”. 3, tr.113Diễn tố (tham thể cơ sở) những vai nghĩa tất yếu được giả định sẵn trong nghĩa từ vựng của vị từ. Nói cách khác đây là những tham tố bắt buộc, xuất hiện do nghĩa của vị từ quy định. “Diễn tố là tham tố cần và đủ, có số lượng nhất định (cho từng vị từ), cùng với nội dung của sự tình (do vị từ biểu thị) tạo thành một sự tình, tức là tạo thành cấu trúc nghĩa của câu”. 2, tr.49Ví dụ: Người đàn bà càu nhàu câu gì trong miệng. (Vợ nhặt)Trong ví dụ này, “càu nhàu” là vị từ và “người đàn bà”, “câu gì”, “trong miệng” là những diễn tố. Trong đó, “người đàn bà”: chủ thể của hành động; “câu gì”; “trong miệng”: tham thể chỉ nơi chốn của hành động. Ba tham thể này có mặt là do nghĩa của vị từ “càu nhàu” đòi hỏi nhằm làm cho câu văn rõ ràng, đủ ý.Do chịu sự ấn định của vị tố nên các diễn tố thường đi với một loại vị từ nhất định. Trong đó: Tham thể chỉ đích thường đi với vị từ tự dời chuyển – đòi hỏi một tham thể bắt buộc (chủ thể) hoặc hai tham thể bắt buộc (chủ thể và đích); vị từ tác động làm vật dời chuyển – đòi hỏi hai tham thể bắt buộc. Cô ấy chạy, “cô ấy” là chủ thể của hành động chạy.Cô ấy chạy đến vạch đích, “cô ấy” là chủ thể của hành động chạy; vạch đích: đích đến. Tôi đem cái cây về nhà, “tôi” là chủ thể của hành động đem; “cái cây” là tham thể chỉ vật được dời chuyển – đối thể. Tham thể chỉ đối thể chịu tác động của hành động thường đi với các vị từ chỉ hành động tác động – đòi hỏi hai tham thể bắt buộc. Tôi đạp phanh phách vào các ngọn cỏ. Từ “Tôi” là chủ thể của hành động đạp và “các ngọn cỏ”: vật chịu tác động của đạp – đối thể.Tham thể chỉ chủ thể cầu khiến, đối thể được cầu khiến và nội dung cầu khiến: đi với vị từ cầu khiến – đòi hỏi ba tham thể bắt buộc. Tôi bảo em gái lấy áo quần vào nhà. Từ “Tôi” là chủ thể của hành động bảo; “em gái” là tiếp thể của hành động; “quần áo”: đối thể chỉ vật.Các tham thể chủ thể trao nhận, tiếp thể, vật được trao nhận: đi với loại vị từ trao nhận – đòi hỏi ba tham thể bắt buộc. Tôi tặng cô ấy một chiếc khăn quàng cổ. Từ “Tôi” là chủ thể của hành động tặng; “cô ấy” tiếp thể chỉ người nhận; “chiếc khăn quàng cổ”: đối thể chỉ vật được trao nhận.Các tham thể chủ thể hủy diệt thường đi với loại vị từ hủy diệt – đòi hỏi hai tham thể bắt buộc. Thạch Sanh chém chằn tinh. “Thạch Sanh” là chủ thể hủy diệt; “chằn tinh”: đối thể bị hủy diệt.Các tham thể chính là các thực thể tham dự và tạo nên sự tình (sự việc). Song tham thể phụ thuộc vào vị tố và tùy theo mối quan hệ về nghĩa với loại vị tố mà được xác định thành các vai nghĩa. Số lượng tham thể và tên gọi tham thể chưa có sự thống nhất ý kiến. Trong đó, tham thể được biểu hiện chủ yếu bằng danh từ, đại từ, đôi khi bằng các loại khác.1.3.2.Tham thể mở rộng (Chu tố)“Tham thể mở rộng, theo cách gọi của Cao Xuân Hạo là chu tố (circumstants – những kẻ đứng xung quanh) là loại tham thể mà sự xuất hiện của nó là nhằm bổ sung thêm một phương diện nghĩa nào đó cho cấu trúc nghĩa vị từ tham thể”. 7, tr.145Ví dụ: Ngày mai, tôi sẽ sáng tác cho cậu một bài hát. Thì “ngày mai” chính là tham thể mở rộng.Chu tố (circumstants) là những vai nghĩa không tất yếu, không được giả định sẵn trong nghĩa từ vựng của vị từ. Chúng là những tham tố không bắt buộc, chỉ xuất hiện để thêm một ý nghĩa nào đó cho khung vị ngữ (thời gian, không gian, cách thức, phương tiện, mục đích, ý so sánh…). Chúng không do bản chất của vị từ quy định, chúng có thể có mặt ở nhiều (hay tất cả) các loại vị từ (sự tình).Theo S. C. Dik “chu tố là sự mở rộng tùy chọn của kết cấu vị ngữ hạt nhân, chỉ ra các bình diện bổ sung của sự tình. Chu tố ‘nhạy cảm’ với bản chất của sự tình được kết cấu vị ngữ hạt nhân xác định hơn là với bản chất của vị từ được nói đến” 9, tr.7071.Chu tố dẫu không trực tiếp chịu sự chi phối của vị tố, không nhất thiết phải có mặt trong cấu trúc vị từ – tham thể, sự xuất hiện của nó là nhằm bổ sung thêm một phương diện nghĩa, nhưng vì nằm trong cùng một câu trúc nghĩa nên ý nghĩa của nó phải phù hợp với ý nghĩa của vị từ, phải được vị từ thừa nhận. Tuy nhiên, sự phân chia tham thể bắt buộc – tham thể mở rộng hay diễn tố – chu tố chỉ có tính tương đối. Một tham thể bắt buộc trong một khung ngữ vị từ này có thể là một tham thể mở rộng trong một khung ngữ vị từ khác. Chẳng hạn: (1) Tôi đi vào ngày mai. (2) Ngày mai, tôi sẽ đi Đà Lạt.Cùng là tham tố chỉ thời gian là “ngày mai” nhưng ở ví dụ (1) thì “ngày mai” là vai đích cho vị từ “đi” nên đây là tham tố cơ sở. Còn ở ví dụ (2), “ngày mai” không bị chi phối bởi vị từ “đi”, nó chỉ bổ sung ý nghĩa và thời gian cho việc sẽ đi Đà Lạt, không nhất thiết phải có tham thể này mà vẫn hiểu được ý nghĩa của câu, vậy nên trong ví dụ (2) “ngày mai” giữ vai trò là tham thể mở rộng”.1.4. Các vai nghĩa thường gặp Như trên đã nói, trong khung vị ngữ, vị từ là hạt nhân ngữ nghĩa của vị ngữ (ngữ vị từ). Nói như vậy nghĩa là vị từ với tư cách là từ biểu hiện nội dung của sự thể đối với cấu trúc tham tố của vị ngữ. Vai nghĩa thường được biểu hiện dưới hai hình thức: ngữ đoạn và một cú C – V. Người ta thường đánh dấu vai nghĩa bằng 3 phương thức:Dùng trật tự từ. Trong ngôn ngữ dùng trật tự từ như một phương tiện để phân biệt các vai nghĩa, đặc biệt đối với các ngôn ngữ không biến hình. Ví dụ: Bốn giờ tôi đi học. (vai thời điểm) Tôi đi học bốn giờ. (vai thời lượng)Dùng biến tố. Đây là phương thức chỉ dùng trong ngôn ngữ biến hình (tiếng Nga)Dùng giới từ. Phương thức này được xem là phương thức phổ biến nhất trong cách đánh dấu vai nghĩa. Ví dụ: Em đi Hà Nội bằng tàu hỏa. ( vai công cụ.Có thể kết luận về cách đánh dấu vai nghĩa trong tiếng Việt rằng, vì tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập nên vai nghĩa thường đánh dấu bằng phương thức trật tự từ và phương thức dùng giới từ.Cách tiếp cận như trên đã được nhiều nhà ngôn ngữ học tiếp thu và đưa ra danh sách những vai nghĩa trong khung vị ngữ. Cao Xuân Hạo gọi các diễn tố (vai nghĩa bắt buộc) bằng các tên gọi như: vai tác thể, vai hành thể, vai động thể, vai lực thể, vai đương thể, vai đối thể, vai tiếp thể, vai đích,…còn với tác giả Diệp Quang Ban gọi là thể động, thể tĩnh, thể cảm nghĩ, thể nói năng, thể mục tiêu, thể tiếp nhận… Còn các chu tố (vai nghĩa mở rộng) Cao Xuân Hạo gọi là: vai phương thức, vai phương tiện, vai kết quả, vai lối đi…, còn Diệp Quang Ban gọi là cảnh huống: thời gian, không gian, nguyên nhân, điều kiện, mục đích, kết quả, đường đi, nghịch đối,... 7, tr.49Ngoài ra, tác giả Nguyễn Văn Hiệp trong cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp” đã liệt kê ra danh sách các vai nghĩa như sau: 8Vai tác thể (Agent): Biểu thị người gây ra hành động.Vai nghiệm thể (Expriencer): Biểu thị chủ thể trải nghiệm một trạng thái nào đó.Vai tiếp thể (Recipient): Biểu thị kẻ tiếp nhận trong hành động trao tặng.Vai kẻ hưởng lợi (Benefactive): Biểu thị kẻ được hưởng thành quả từ một hành động do một ai đó thực hiện.Vai lực tự nhiên (Force): Chỉ tác nhân tự nhiên gây ra một biến cố, thay đổi nào đó.Vai bị thể (Patient): chỉ vật, người chịu sự tác động, dẫn đến một thay đổi nào đó. Sự thay đổi này có thể là về vật lí, tâm lí…Vai công cụ (Instrucment): Chỉ công cụ được dùng để thực hiện hành động.Vai vật thực hiện tác động (Effector): Chỉ vật trực tiếp tác động đến đối tượng nào đó, vai này rất gần gũi với vai công cụ.Vai địa điểm, vị trí (Location hay Locative): Chỉ nơi chốn của sự tình, vị trí tồn tại của sự vật.Vai điểm xuất phát, hay nguồn của trạng thái (Source): Chỉ điểm xuất phát của chuyển động, hay nguồn của trạng thái.Vai điểm đến (Goal): Chỉ đích đến của một chuyển động.Vai kẻ tham chiếu (Reference): Chỉ người hay vật được dùng để tham chiếu trong một trạng thái, quan hệ.Vai kẻ cùng hành động (Comcomitant): Chỉ người cùng hành động trong một hành động.Vai thời điểm ( Temporal): Chỉ thời điểm của sự tình.Vai chủ sỡ hữu (Possessor): Chỉ chủ sỡ hữu của sự vật.Vai thời lượng (Duration): Chỉ thời gian kéo dài của hành động.Vai nội dung (Content): Chỉ nội dung của sự hiểu biết.Vai thể chuyển động (Theme): Chỉ một thực thể tồn tại ở một vị trí nào đó, hoặc thực thể chuyển động, chịu một sự thay đổi về một vị trí do một tác nhân nào đó.Một số vai khác có tính chất ngoại vi cũng được tác giả thừa nhận, như vai cách thức (Manner), vai nguyên nhân (Cause), vai mục đích (Purpose).Như vậy, có thể thấy rằng việc phân loại các vai nghĩa trong khung vị ngữ chưa có sự thống nhất giữa các tác giả về tên gọi. Trong phạm vi bài này, chúng tôi xin giới thiệu hệ thống các vai nghĩa mà Nguyễn Thiện Giáp đã tổng kết dựa trên quan điểm của các nhà nghiên cứu trên thế giới. Theo tác giả, vai nghĩa được phân chia thành 22 vai nghĩa khác nhau, ta có bảng sau:STTTÊN GỌINỘI DUNGVÍ DỤ1Người hành động (hành thể – actor)Chủ thể trong một sự tình động mà nó vừa là người tác động, vừa là người bị tác động.Tôi đi học.2Người tác động (động thể – agent)Chủ thể của hành động do động từ biểu thị, khác với người hành động ở chỗ nó tác động vào một đối tượng, trong khi người hành động chỉ tác động đến bản thân mình mà thôi.Mẹ mở tivi.3Lực tác động (force)Chỉ sức mạnh tự nhiên tác động đến một vật gây nên một quá trình.Gió thổi làm cây ngã cả ra đường.4Người thể nghiệm (nghiệm thể – experiencer)Chỉ vai trải qua hoặc gánh chịu trạng thái nội tại.Cháu đau chân. Mẹ buồn.5Người vật bị tác động (đối thể – patient)Đối tượng của sự tác động.Cây được tỉa rồi.6Vật tạo tác (tạo thể – factive)Vật sinh ra do kết quả của hành động do động từ biểu thị.Nước bay hơi tạo thành hơi nước.7Người vật mang trạng thái (patient state)Chỉ bất kỳ vật gì được biểu thị bằng một danh từ mà vai trò của nó trong hành động hay trạng thái được động từ biểu thị, được chính cách thuyết minh nghĩa của động từ quy định.Áo quần khô rồi, mang vào nhà đi.8Người nhận (tiếp thể – recipient)Động vật chịu ảnh hưởng của trạng thái hay hành động do động từ biểu thị.Sứ yêu biết bao nhiêu cái chốn này.9Người hưởng lợi (beneficiary)Vai hưởng lợi trong hành động do động từ biểu thị.Cô giáo chở bạn Hoa về nhà.10Nơi chốn (locative)Chỉ vị trí hay hướng không gian của trạng thái hay hành động do động từ biểu thị.Con chó chạy ngoài đồng.11Đích (goal)Chỉ điểm tột cùng của sự di chuyển, thường được biểu thị bằng một giới ngữ có đến, tới, ra, vào… làm trung tâm.Tôi đến nhà ngoại chơi.12Hướng (direction)Chỉ phương hướng của sự chuyển động do động từ biểu thị. Vai này được biểu hiện bằng trạng ngữ đặt sau vị từ như lên, xuống, ra, vào…Hoa bay lên trời.13Nguồn (source)Chỉ chỗ xuất phát của chuyển động do động từ biểu thịĐá lăn từ trên đỉnh núi xuống.14Lối đi (path)Chỉ con đường được chọn cho sự di chuyển, có thể được biểu hiện bằng một vật nằm trên con đường ấy; thường được biểu thị bằng một giới ngữ có dọc, theo, qua… làm trung tâm, đặt sau vị từ.Nước men theo khe suối chảy róc rách.15Phương thức (manner)Chỉ phương thức hành động; thường biểu thị bằng trạng ngữ, vị ngữ phụ.Tay bưng chồng sách, nó bước vào phòng.16Công cụ (instrument)Chỉ công cụ của hành động do động từ biểu thị; thường được thể hiện bằng giới ngữ có trung tâm là bằng hay với hoặc bằng kết cấu dùng lấy.Nam đến trường bằng xe đạp.17Thời gian (time)Chỉ thời điểm, thời lượng, khoảng cách thời gian của trạng thái hay hành động do động từ biểu thị.Vận tốc rơi của một cánh hoa anh đào là 5cms.18Khoảng cách không gian (extent)Chỉ tầm xa của sự chuyển động; thường biểu hiện bằng một cặp giới từ sóng đôi: từ… đến.Bóng lăn được 5m.19Nguyên nhân (cause)Chỉ nguyên nhân của hành động. Sau ngữ đoạn chỉ nguyên nhân chỉ có thể có nên, mà chứ không có thì.Lâu nay, chúng tôi đã vất vả, cực khổ vì ông nhiều rồi.20Người vật tồn tại (existent)Trong câu tồn tại, ta có vai người vật tồn tạiQuyển sách trên kệ.21Điều kiện (condition)Vai điều kiện là một kiểu cú làm thành một khung đề của câu; hoặc là một trạng ngữ đặt sau vị ngữ.Cây sẽ chẳng sống được nếu thiếu ánh mặt trời.22Trở ngại (adversative – trạng ngữ nhân nhượng hay nhượng tiến)Thường được biểu thị bằng một đại từ, một danh ngữ hay một tiểu cú mở đầu bằng tuy, mặc dù, mặc cho…, diễn đạt ý của người nói chịu thừa nhận một sự tình có thật.Mặc dù buồn nhưng tôi nghĩ anh hợp với vị trí này hơn tôi.CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CÂU TIẾNG VIỆT THEO KẾT CẤU VỊ TỪ – THAM THỂ (VAI NGHĨA)2.1. Các bước phân tích câu theo kết cấu vị từ – tham thểKhác với ba phương pháp phân tích câu trong tiếng Việt theo cấu trúc chủ – vị (ngữ pháp truyền thống), theo cấu trúc đề – thuyết (ngữ pháp chức năng) và theo cấu trúc nêu – báo (lý thuyết thông tin), phương pháp phân tích câu theo cấu trúc vị từ – tham thể (ngữ pháp ngữ nghĩa) ra đời muộn hơn nên nền tảng lý thuyết chưa nhiều. Thực tế cho thấy rằng, phương pháp phân tích câu theo kết cấu này là một lối đi mới để tiếp cận câu tiếng Việt, có lẽ vì nghiên cứu ngữ pháp dựa trên cơ sở của ngữ nghĩa nên nghĩa của câu được hiểu trọn vẹn qua cách tiếp cận này. Tuy nhiên, cũng tồn tại hạn chế của nó là không làm rõ được đâu là thông tin mới trong câu.Với phương pháp phân tích câu theo cấu trúc vị từ tham thể, có 4 bước tiến hành: 10Bước 1: Tìm vị từ trung tâm (VTTT).Trước hết ta phải tìm được cái từ được xem là “đỉnh của câu”, là đầu mối của mọi quan hệ trong câu, nghĩa là phải đi tìm vị từ trung tâm. Cách đầu tiên để xác định vị từ trung tâm, ta đặt được câu hỏi với từ nào nhiều nhất thì từ đó sẽ là trung tâm. Vì từ trung tâm phải có mối quan hệ với toàn bộ các thành tố trong câu về mặt nghĩa. Ví dụ: Mẹ thổi cơm. Ta đặt được một câu hỏi với từ Mẹ (Mẹ làm gì?), hai câu hỏi với từ thổi (Ai thổi? và Thổi gì?), không đặt được câu hỏi nào với từ cơm. Vậy từ thổi là trung tâm.Cách thứ hai để tìm cái “đỉnh của câu” là ta đi tìm động từ trong câu. Vì theo tác giả Nguyễn Kim Thản, trong vị ngữ động từ, cụm động từ chiếm 90%. Những động từ trung tâm thường đứng sau chủ thể, phó từ thời gian, mệnh lệnh,... Và vì thế, 10% còn lại, sẽ phải thực hiện khác, đặt ra những câu hỏi, mà từ đó thể hiện được nghĩa miêu tả thì chính là vị từ trung tâm. Ví dụ: Anh ấy người Hà Tĩnh. Tôi chưa 18. Em vẫn thế. Danh từ “người Hà Tĩnh” , số từ “18” và đại từ “thế” là các vị từ trung tâm...Bước 2: Tìm các tham thể.Ở đây, câu trả lời cho các câu hỏi có liên quan đến vị từ sẽ chính là các tham thể cần tìm. Tên gọi của các tham thể chính là các vai nghĩa mà tham thể đảm nhiệm. Chẳng hạn: Ngày 2011, tôi tặng cho cô giáo một bó hoa hồng.Các câu hỏi được đặt ra: Ai tặng? Tặng cho ai? Tặng cái gì? Tặng lúc nào? Và ta sẽ được kết quả: tham thể 1: tôi; tham thể 2: người yêu, tham thể 3: một bó hoa hồng, tham thể 4: ngày 2011.Bước 3: Xác định tham thể bắt buộc và tham thể mở rộng.Việc xác định TTBB (diễn tố) và TTMR (chu tố) vẫn phải dựa vào vị từ trung tâm. Vì thế để phân tích câu bằng kết cấu vị từ tham thể, thì ta phải thực hiện chính xác bước 1.Cách tốt nhất là lược bớt các thành tố để xem vị từ trung tâm có còn trọn vẹn về nghĩa không. Chẳng hạn với vị từ trao nhận, chắc chắn cần có chủ thể trao nhận, vật trao nhận, người tiếp nhận. Vậy cả ba tham thể này đều là bắt buộc. Còn trao nhận ở đâu, vì mục đích gì… không quan trọng; các tham thể thể hiện những ý nghĩa này sẽ là tham thể mở rộng. Trong ví dụ trên, các tham thể 1, 2, và 3 là TTBB; còn tham thể thứ 4 là TTMR.Bước 4: Ghi tên các tham thểTrước hết, ta nên chú ý tới mối quan hệ của tham thể với vị từ trung tâm.Thứ hai, bắt buộc phải học thuộc lòng hệ thống tên gọi các tham thể theo các vị từ nhất định.Chẳng hạn, với vị từ trao nhận, ta luôn có ba tham thể: chủ thể của hành động (hành thể), đối thể của hành động (người hưởng lợi đắc lợi thể tiếp thể), vật trao nhận (đối thể).Trên đây là những bước tiến hành phân tích câu tiếng Việt theo kết cấu vị từ – tham thể theo nghiên cứu của TS.Trần Kim Phượng. Nhưng có những sự tương ứng nhất định giữa cấu trúc vị từ – tham thể và cấu trúc chủ – vị. Do vậy, người học có thể sử dụng những hiểu biết của mình về cấu trúc chủ – vị để suy ra cấu trúc vị từ – tham thể.2.2.Mối quan hệ giữa phương pháp phân tích câu theo cấu trúc vị từ tham thể và cấu trúc CVĐối chiếu phương pháp phân tích câu theo kết cấu vị từ – tham thể với cách phân tích câu theo truyền thống – theo kết cấu C – V dựa trên bảng so sánh của TS. Trần Kim Phượng:CẤU TRÚC CHỦ – VỊCẤU TRÚC VỊ TỪ THAM THỂLý thuyếtVí dụChủ ngữTương ứng với tham thể bắt buộc (là tham thể quan trọng nhất). Và chúng tôi xin đề cập đến vài trường hợp vai nghĩa chủ ngữ thường gặp: Chủ ngữ chủ thể hành động. Chủ ngữ chủ thể cảm nghĩ. Chủ ngữ chủ thể nói năng. Chủ ngữ thể mang trạng thái. Chủ ngữ đối thể. Chủ ngữ tiếp thể. Chủ ngữ thể không gian hoặc thời gian. Chủ ngữ phương tiện. Chủ ngữ nguyên nhân. Chủ ngữ thể trong quan hệ. Nam kêu Lan ra, rồi tặng cho cô một bó hoa hồng. Sáng hôm đó, anh tôi ôm tôi thật chặt rồi quay lưng đi vội vàng không nói một lời. Trâm nói: “ Ta vừa xinh, vừa giỏi, vừa hiền thế mà vẫn ế.” Trước ngày anh đi bộ đội, tôi buồn rồi lòng lại thổn thức không nguôi. Cây kim của Núp chuyền tay tất cả phụ nữ trong làng.(Đất nước đứng lên – Nguyên Ngọc) Bản thiết kế của cô đã được giải ấn tượng của chương trình. Quán trà sữa Gongcha cứ tới giờ này là tấp nập. Ngày mai mọi đau khổ sẽ tan biến. Cây bút chì này chỉ dùng để vẽ đồ họa thôi. Cơn mưa giông bất chợt làm ai cũng ướt như chuột lột. Dòng tộc Nguyễn Ngọc là dòng tộc có truyền thống học tập đạt kết quả rất cao.Trung tâm của vị ngữTương ứng với vị từ trung tâm (toàn bộ vị ngữ có thể tương đương với cả vị từ trung tâm + tham thể bắt buộc không bắt buộc).Bổ ngữ: 2 loại:+ Bổ ngữ bắt buộc (của động từ trao nhận, sai khiến…)+ Bổ ngữ không bắt buộc (Bổ ngữ thời gian, địa điểm, mục đích….) Tương ứng với tham thể bắt buộc. Tương ứng với tham thể không bắt buộc. Thầy dạy tôi cách làm người, cách đối nhân xử thế và dạy cả tri thức. ( Vế 1 là đối thể, vế 2 là tham thể nội dung)Từ khi gặp anh, tôi đã lỡ trao con tim mình cho anh.( con tim mình: đối thể; cho anh: tiếp thể) Tôi và anh trèo lên mái nhà, ngắm nhìn được cả một bầu trời pháo hoa rực rỡ. ( Vế 1 là tham thể chỉ đích đến, vế 2 là tham thể chỉ đích nhìn)Trâm đã ngồi suốt ba tiếng đồng hồ.(tham thể thời gian) Tôi đi tới trường bằng xe buýt. (tham thể phương tiện. Thiên không đi học vì trời mưa to.(tham thể nguyên nhân)Định ngữKhông tương ứng với một tham thể. Nó cùng với danh từ trung tâm làm thành một tham thể.Khởi ngữ (đề ngữ)Loại khởi nghĩa không tương quan với một vai nghĩa nào.Loại khởi nghĩa tương ứng về biểu hiện với 1 thành phần ngữ pháp khác trong câu. Vai nghĩa của khởi ngữ trùng với vai nghĩa của bổ ngữ. Trường hợp khởi ngữ lặp lại vị từ thì nghĩa của khởi ngữ trùng với nghĩa của vị từ giữ chức năng vị ngữ. Về các thể trong lĩnh vực văn nghệ, chúng ta có thể tin tưởng ở tiếng ta, không sợ nó thiếu giàu và đẹp.(Giữ gìn sự trong sáng của tiếng việt – Phạm Văn Đồng) Sống, anh ấy đã được là một anh hùng; chết, anh ấy sẽ được là 1 vĩ nhân.(Vũ Trọng Phụng)Giỏi thì nó ghét;dốt thì nó khinh.Hắn thì hắn có biết chuyện gì xảy ra đâu.( chủ thể cảm nghĩ) Còn bé Trâm, bé ấy là người hát hay nhất ở đây. (thể bị đồng nhất) Mấy con mèo của chị tôi, con nào cũng tinh nghịch. (Quan hệ bao hàm) Nhìn mấy đứa bạn cùng lứa kìa, ai cũng có gia đình rồi. (Thể trong quan hệ so sánh) Chuyện triều đình quốc gia, chúng ta biết gì mà bàn bạc cho thêm lời.(Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân) Tiền tiết kiệm để dành thì mẹ nói dùng để mua nhà. Trâm nó xinh thì có xinh nhưng dữ dằn lắm. (khởi ngữ chỉ đặc điểm) Làm thì ai không làm không được, nhưng kết quả có tốt không mới quan trọng.( Khởi ngữ chỉ hành động).Trạng ngữTương ứng với tham thể mở rộng, có thể lược bỏ (chu tố). Và có các vai nghĩa trạng thức sau đây:Vai thời gian: Chỉ thời gian xảy ra sự việc nêu trong câu. Vai không gian: Chỉ nơi xảy ra sự việc. Vai tình huống: Chỉ tình huống diễn ra sự việc. Vai cách thức – phương tiện: Chỉ cách thức hay phương tiện để chủ thể thực hiện hành động. Vai nguyên nhân: Chỉ ra nguyên nhân, lý do dẫn đến sự việc trong câu. Vai mục đích: Nêu lên cái đích mà chủ thể cần đạt được. Vai điều kiện: Chỉ các điều kiện để chủ thể thực hiện hành động hay có trạng thái biểu thị ở vị ngữ. Vai nhượng bộ: Chỉ các điều kiện mà sự tồn tại của nó không ngăn cản được việc chủ thể vẫn cứ thực hiện hành động được biểu thị ở vị ngữ. Từ bây giờ, chúng ta đường ai nấy đi. Mỗi một ngày trôi qua thì tiền lãi lại tăng lên. Dưới bóng tre của ngàn xưa, thấp thoáng mái đình, mái chùa cổ kính. (Thép Mới) Trên mái hiên ấy, là nơi chúng ta đã có nhiều kỉ niệm. Giữa sống chết, không có gì ngoài tình yêu thương đùm bọc của người xung quanh.(Lê Lựu – Sóng ở đáy sông) Tan buổi họp, ai nấy cũng vội vã xách cặp về nhà. Lại hai nách hai con, chị bế chúng vào ngồi trong chõng.(Tắt đèn – Ngô Tất Tố) Bằng ánh mắt dịu dàng, anh ôm tôi thật chặt trước khi anh đi xa. Vì chú chó bị bỏ rơi, nên tôi đành đem chú chó về nuôi. Vườn cây xung quanh tốt tươi, nhờ nguồn nước này.(Theo quà tặng cuộc sống) Để bảo vệ thứ hạng của mình, tôi không ngừng tập luyện hết sức. Để giảm cân, tôi không ngừng ăn kiêng và tập thể thao. Giá như đừng gặp anh, tôi đã có những năm tháng vui vẻ rồi. Đời sống tinh thần của nhân loại, nếu thiếu văn chương thì sẽ rất nghèo nàn.(Ý nghĩa của văn chương – Hoài Thanh) Dù rất quý Lan, nhưng khi Lan mắc lỗi lầm chúng tôi cũng không thể bỏ qua được. Tuy trời đã tối, nhưng chúng tôi vẫn chưa được tan làm. Vị ngữ phụTương ứng với tham thể mở rộng, có thể lược bỏ (chu tố).Còn điều đáng chú ý nữa về mối quan hệ giữa hai kết cấu này mà nếu ta là một phép so sánh nho nhỏ giữa những ưu và nhược điểm của chúng thì ta sẽ nhận ra. Cấu trúc C –
Trang 1ĐỀ TÀI: PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CÂU TIẾNG VIỆT THEO KẾT CẤU VỊ TỪ - THAM THỂ QUA ĐOẠN TRÍCH “SÂN
CHIM” CỦA ĐOÀN GIỎI
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tiếng Việt rất khác với các ngôn ngữ khác trên thế giới, vậy nên khingười nước ngoài học tiếng Việt thì mới có câu: “Tiếng Việt không khó cũngkhông dễ !” Vì không giống các ngôn ngữ mà hiện nay được sử dụng nhiềunhư Anh, Pháp, Trung Quốc,… nên các phương pháp được vận dụng để phântích câu trong tiếng Việt cũng rất khác biệt Theo khảo sát của chúng tôi thìmột câu tiếng Việt hiện nay có thể được phân tích theo bốn phương pháp: (1)theo cấu trúc chủ – vị (Ngữ pháp truyền thống), (2) theo cấu trúc vị từ – thamthể (Ngữ pháp ngữ nghĩa), (3) theo cấu trúc đề – thuyết (Ngữ pháp chức năng),
và (4) theo cấu trúc nêu – báo (Lý thuyết thông tin) Trong các phương phápnày thì phương pháp phân tích câu tiếng Việt theo kết cấu vị từ – tham thể làphương pháp ra đời tương đối muộn với bề dày lý thuyết chưa nhiều Ngoàiviệc có thể tạo được sự tò mò và thích thú khi nghiên cứu vì là lý thuyết mớinên sự phiêu lưu là luôn có thì chúng tôi muốn giúp những người quan tâmhiểu sâu sắc hơn về phương pháp phân tích câu theo kết cấu vị từ – tham thể.Đặc biệt, chúng tôi giới thiệu một cách chi tiết các bước tiến hành phân tíchcâu theo phương pháp này, chỉ ra mối quan hệ giữa phương pháp phân tích câutruyền thống – phân tích câu theo cấu trúc chủ – vị với vị từ – tham thể Vớinhững mong muốn được trình bày rõ ràng như trên thì đó chính là một trongnhững lý do để chúng tôi lựa chọn đề tài này
Trang 2Với đề tài “Phương pháp phân tích câu Tiếng Việt theo kết cấu vị từ –tham thể” chúng tôi muốn đi sâu nghiên cứu rõ hơn là phương pháp phân tíchcâu theo cấu trúc vị từ – tham thể, so sánh nó với các phương pháp phân tíchcâu khác, trong đó đặc biệt là với phương pháp phân tích câu theo cấu trúc chủ– vị vốn đã quen thuộc đối với người Việt Từ đây làm rõ sự phức tạp cũng như
đa dạng của Tiếng Việt, chúng ta sẽ có cái nhìn toàn diện về câu Tiếng Việt.Trong học tập thì đòi hỏi người học phải luôn có sự tiếp nhận với kiến thứcmới, không ngừng nâng cao tri thức mới, đó là một lẽ tất yếu Và trong học tậpthì lí thuyết luôn đi liền với áp dụng thực tiễn, mà thực tiễn thì luôn khôngngừng vận động, bởi vậy mà việc không ngừng trao dồi kiến thức mới là cầnthiết đối với người học Vì thế, nếu thành công, đây sẽ là nguồn tài liệu thamkhảo hữu ích cho sinh viên khi phân tích câu TV theo ngữ nghĩa
Trong ngữ pháp chức năng, các hiện tượng ngôn ngữ đã được các nhàngôn ngữ học xem xét trên cả ba bình diện: ngữ pháp – ngữ nghĩa – ngữ dụng, đặcbiệt là mặt ngữ nghĩa Ngữ pháp chức năng đã cho thấy rõ mối quan hệ giữa cấutrúc cú pháp với cấu trúc nghĩa (nghĩa miêu tả) của câu Đó là một bên là nội dung(cấu trúc nghĩa) và một bên là hình thức (cấu trúc cú pháp của câu) Các chức năng
cú pháp của câu thực chất là do các vai nghĩa chi phối khi chúng được thực hiệnhóa trong câu Do đó, trong nghiên cứu ngữ pháp cần phải nói đến nghĩa, phải bànđến ngữ pháp mang tính ngữ nghĩa
Từ những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Phân tích câu tiếngViệt theo cấu trúc vị từ – tham thể” làm đề tài nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
Với hướng tiếp cận câu bằng phương pháp phân tích dựa trên kết cấu vị từ– tham thể là một hướng đi không còn là xa lạ đối với học giả, đó như là tri thức
Trang 3luận cần thiết cho hoạt động khám phá kết cấu nội hàm của câu Tuy nhiên, hướngtriển khai nghiên cứu đề tài này trong phân tích tác phẩm cụ thể lại ít được quantâm trong giới học thuật ở Việt Nam
Người khơi nguồn cho phương pháp phân tích câu theo cấu trúc vị từ –
tham thể là L.Tesnière với lý thuyết diễn trị (vào khoảng những năm 30 của thế kỷ
trước) “Cú pháp dựa trên nghĩa học” (semantically based syntax) của L.Tesnière
đã khiến ông trở thành một trong những người sáng lập ra lý thuyết diễn trị(valency theory) – cách phân tích câu dựa trên cấu trúc nghĩa của các vai (role).Theo ông: “Cấu trúc cú pháp của câu xoay quanh vị từ và các diễn tố (actants) làm
bổ ngữ cho nó Chủ ngữ chẳng qua là một trong các bổ ngữ đó Mỗi vị từ biểu hiện
“một màn kịch nhỏ”, nó có một diễn trị (valence) riêng được thể hiện trong sốlượng các diễn tố của nó” Tesnière nhấn mạnh vai trò của vị từ vị ngữ là trung tâm
tổ chức ngữ nghĩa và cú pháp của câu
Sau ông, nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm đến vấn đề này như C.J.Fillmore, M.A.K Halliday, W.Chafe, C Hagege, S.C.Dik,… Bắt đầu từC.J.Fillmore Trước và sau năm 1970, ông có cho đăng hàng loạt bài viết của mình,trong đó nổi tiếng nhất có lẽ là bài mang tên “The case for case” (tạm dịch là “Tácdụng của cách”) được công bố năm 1968 Trong bài viết ấy, Fillmore chủ trươngrằng có thể xác định một tập hợp các mối quan hệ giữa một vị từ và các tham tốcủa nó Mối quan hệ kiểu này được ông gọi là “quan hệ cách” “Đó là những quan
hệ ngữ nghĩa – cú pháp ngầm, được giả định tạo nên một tập hợp hoàn chỉnh, tồntại ngầm đối với những ngôn ngữ có vĩ tố và dạng thức cách của các mối quan hệcách vẫn là sự biểu đạt trong ngôn ngữ có thể thực hiện được nhờ những phụ tố,hoặc nhờ các giới từ, hoặc với các cách khác” Với cách nghĩ này thì có thể nóiFillmore là người cầm ngọn đuốc đi tiên phong, mở đường cho việc nghiên cứungữ pháp cách
Trang 4Theo sau ông sau đó là rất nhiều những nhà ngôn ngữ khác cũng nghiêncứu về mảng ngữ pháp cách (case grammar) nhưng ở một chừng mực nào đó thìchúng độc lập với những kết quả nghiên cứu của Fillmore trước đó Có thể kế đếnnhư W Chafe (1970), J.M Anderson (1971), R.E Longacre (1976), S.C Dik(1978),… trong đó S.C Dik đã có đóng góp quan trọng trong việc bổ sung hoànchỉnh hai khái niệm lớn trong lĩnh vực vai nghĩa: Tham thể bắt buộc (diễn tố) vàTham thể mở rộng (chu tố).
Đó là sơ lược về tình hình nghiên cứu phương pháp phân tích câu theo kếtcấu vị từ – tham thể trên thế giới Còn ở Việt Nam, vấn đề này là rất mới nên nóchỉ được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu về ngữ pháp chức năng
Có thể điểm mặt một số nhà nghiên cứu như Trương Vĩnh Ký với cuốn
“Grammaire de la langue annamite” xuất bản năm 1983 đề cập ngữ pháp cách, CaoXuân Hạo với công trình “Tiếng Việt – sơ thảo ngữ pháp chức năng” (1991), tácgiả Nguyễn Thị Lương với cuốn “Câu tiếng Việt” (2006), Nguyễn Văn Hiệp trongcuốn “Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp” (2008),…
Từ trước đến nay, ngữ pháp nhà trường sử dụng phương pháp phân tích câutheo cấu trúc chủ vị, các sách viết về vấn đề này rất phổ biến như những cuốn sáchngữ pháp của Diệp Quang Ban Cách phân tích câu theo cấu trúc chủ vị được ápdụng trong nhà trường phổ thông nên đã trở nên vô cùng quen thuộc Trái lạihướng phân câu theo cấu trúc vị từ – tham thể vẫn cón ít người biết đến, do vậy nó
là một vấn đề tương đối mới mẻ Khi đi nguyên cứu và tìm hiểu về cấu trúc vị từtham thể đã có nhiều công trình nguyên cứu, hội thảo khoa học tìm hiểu về vấn đềnày Sự quan tâm cũng như những góc nhìn của những nhà nguyên cứu ngôn ngữhọc nói riêng, nhà phê bình lí luận và cả nhà giáo dục nói chung đã có nhiều góc
độ nhìn nhận khác nhau và khá sâu sắc về vấn đề này
Trang 5TS Trần Kim Phượng , tại khoa Ngữ văn – ĐHSP Hà Nội đã lý giải
về phương pháp phân tích cấu trúc vị từ tham thể như sau: Đây là phương phápphân tích câu nhìn từ góc độ ngữ nghĩa, do vậy, mỗi đối tượng trong câu đều ứngvới một đối tượng của thực tế khách quan, nội dung của câu là một sự tình của thếgiới khách quan ấy Nói cách khác, mỗi câu phản ánh một sự tình Trong cấu trúccủa một sự tình thì động từ vị ngữ (predicator) là trung tâm Xoay xung quanh
động từ vị ngữ là các tham tố (tham thể – argument) Mỗi tham thể đảm nhiệm một vai nghĩa (semantic role) nhất định Trong cấu trúc này, chủ ngữ cũng chỉ là
một trong những tham thể của vị từ mà thôi, nó không quan trọng như vị từ; tuynhiên, trong số các tham thể thì nó được xem là tham thể quan trọng nhất [,30]
Khi đánh giá về chức năng của vị từ Cao Xuân Hạo cho rằng: “Chức năngcủa vị từ chính là là thành vị ngữ (ngữ đoạn vị từ) hay làm trung tâm của ngữ đoạnnày, cho nên chỉnh nó đảm đương việc mang những đặc trưng ngữ pháp- ngữ nghĩađánh dấu dự phân biệt giữa các loại sự tình” [ , 258]
Tác giả Trần Kim Phượng trong Các cách phân tích câu tiếng Việt có nhận
định về cách phân tích câu theo cấu trúc vị từ - tham thể như sau: “Phân tích câutheo cấu trúc vị từ tham thể là một hướng phân tích câu theo lối mới Ưu điểmchính của nó là phản ánh được mặt nghĩa học của câu, làm rõ mối liên quan giữanội dung câu với thực tế khách quan Nhược điểm chính của nó là không làm rõđược đâu là thông tin mới trong câu.”
Như vậy, cấu trúc vị từ – tham thể đã được các nhà nghiên cứu trong nước
đề cập tới Tuy vậy các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu phần vị từ và phầntham thể trong các phát ngôn mà chưa đi sâu vào việc phân tích câu tiếng Việt theocấu trúc vị từ – tham thể và so sánh những ưu, nhược điểm của cấu trúc vị từ –tham thể với các phương pháp phân tích Mỗi tác giả chỉ đưa ra một, hai ví dụ vềcách phân tích này chứ chưa áp dụng một cách có hệ thống triệt để vào việc phân
Trang 6tích câu tiếng Việt Số trang dành cho cấu trúc vị từ –tham thể dường như quá ít ỏi
so với tầm quan trọng của nó Bởi vậy, theo chúng tôi việc nghiên cứu, tìm hiểu
Phương pháp phân tích câu tiếng Việt theo cấu trúc vị từ - tham thể vẫn còn là một
Trong các phương pháp phân tích câu tiếng Việt thì cấu trúc vị từ tham thểcòn khá mới và bề dày lí thuyết tương đối ít nên việc nguyên cứu cũng như triểnkhai dạy học còn khá mập mờ khó khăn và lúng túng khi thực hiện việc nghiên cứu
và học tập của học sinh, sinh viên Khi thực hiện đề tài này với mục đích phân tíchsâu hơn và kỹ hơn cấu trúc trong từng câu để từ đó giúp những người quan tâm vàmuốn tìm hiểu về vấn đề trên sẽ hiểu rõ hơn về phương pháp phân tích câu theocấu trúc vị từ – tham thể
Hơn nữa, hướng nghiên cứu phân tích câu bằng phương pháp vị từ tham thể(vai nghĩa), cũng sẽ tiếp thu các bước phân tích phương pháp này để phát huy đượcnhững ưu điểm của nó trong phân tích câu tiếng Việt, cụ thể qua một số đoạn tríchtác phẩm văn học.Và củng cố và làm phong phú thêm các hướng tiếp cận câu tiếngViệt Từ đó giúp người học hiểu sâu hơn về câu trong lĩnh vực giao tiếp Thông
Trang 7qua việc nghiên cứu đề tài “Phương pháp phân tích câu tiếng Việt theo kết cấu vị
từ – tham thể qua đoạn trích Sân chim của Đoàn Giỏi”, chúng tôi mong muốn tiếpthu những thành tựu nghiên cứu về ngữ pháp ngữ nghĩa, đặc biệt là cấu trúc nghĩacủa câu và từ đó áp dụng phương pháp này để phân tích những câu tiếng Việt đơngiản trong tác phẩm Ngoài ra, chúng tôi cũng hi vọng rằng bài nghiên cứu về đềtài có thể trở thành kênh thông tin có giá trị tham khảo về cấu trúc nghĩa, cấu trúcngữ pháp của câu tiếng Việt cho quý học giả
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này này là phương pháp phân tích câuTiếng Việt theo kết cấu vị từ – tham thể
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu trong đề tài này của chúng tôi là phương pháp phân tích câu Tiếng Việt theo kết cấu vị từ – tham thể trong đoạn trích “Sân chim” thuộctác phẩm Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi
5 Phương pháp nghiên cứu
Từ mục đích, đối tượng nghiên cứu như trên, trong luận văn này chúng tôi
có sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp miêu tả
Phương pháp thống kê
Phương pháp đối chiếu so sánh
6 Giả thuyết khoa học
Đề tài này nếu thành công sẽ đóng góp vào cơ sở lý thuyết cho khái niệm vị
từ – tham thể trong tiếng Việt và là nguồn tài liệu cho các nghiên cứu về việc phântích câu tiếng Việt theo cấu trúc vị từ – tham thể về sau Ngoài ra, còn là tài liệu bổích giúp cho sinh viên dễ dàng hơn trong việc thực hành phương pháp phân tíchtương đối mới này
Trang 87 Bố cục
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài này của chúng tôi gồm 3 chương:Chương 1: Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài
1.1 Quan niệm về vị từ trong câu
1.2 Quan niệm về tham thể (vai nghĩa) trong câu
1.3 Phân loại tham thể
1.3.1 Tham thể cơ sở (Diễn tố)1.3.2 Tham thể mở rộng (Chu tố)1.4 Những vai nghĩa thường gặp
Chương 2: Phương pháp phân tích câu tiếng Việt theo kết cấu vị từ – tham thể (vai nghĩa)
2.1 Các bước phân tích câu theo kết cấu vị từ – tham thể
2.2 Mối quan hệ giữa phương pháp phân tích câu theo cấu trúc vị từ– tham thể và cấu trúc C–V
2.3 Ý nghĩa của phương pháp phân tích câu theo kết cấu vị từ – tham thể
Chương 3: Thực hành phân tích câu theo kết cấu vị từ – tham thể qua đoạn trích “Sân chim” trong “Đất rừng phương Nam” của Đoàn Giỏi
Trang 9CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Quan niệm về vị từ trong câu
Khái niệm vị từ xuất hiện từ những năm 60 để phân biệt với thể từ, trongnghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt Nếu thể từ là chỉ những từ khi làm vị ngữ trongcâu cần phải có từ là, thì vị từ là những từ không cần đến từ là và trực tiếp làm vịngữ Vì thế, ở bình diện ngữ pháp “vị từ là khái niệm thường chỉ tập hợp hai từloại: động từ và tính từ”, còn thể từ tiếng Việt là danh từ, số từ đại từ
Vị từ (predicate) hay còn gọi là hàm (function), vị từ được hiểu là “biến màgiá trị của nó được xác định khi đã biết giá trị của một hay nhiều biến khác” Vị từđược xác định thông qua khái niệm vị tố, và tiếp tục khái niệm vị tố được xác địnhqua khái niệm biểu thức quy chiếu Đó là một trong những cách hiểu về vị từ, theo
lí thuyết kết trị của Tesnière – nhà ngữ học người Pháp, người được xem như làcha đẻ của lí thuyết ngữ trị trong nghiên cứu ngữ pháp, những khuynh hướng
nghiên cứu ngữ pháp dựa trên ngữ nghĩa Trong khung vị ngữ, cấu trúc vị từ –
tham thể, dựa trên lý thuyết của Tesnière đã được tách ra khỏi ảnh hưởng của logichọc.Vì theo tác giả, “ngữ pháp là vấn đề thuộc ngôn ngữ học chứ không phải củalogic, câu (câu đơn) chỉ có một đỉnh duy nhất là vị từ vị ngữ.” Vai trò của vị từ vịngữ được đánh giá cao theo cách hiểu này, theo Tesnière vị từ là đỉnh, là tâm điểm
tổ chức của câu quyết định trực tiếp đến các diễn tố có thể xuất hiện trong câu.Vị
từ là trung tâm tổ chức ngữ nghĩa và ngữ pháp của câu
Cùng cách nghiên cứu ngữ pháp dựa trên ngữ nghĩa, Igor A Mel’cuk,André Clas, Allain Polguere quan niệm “vị từ trong logic ngữ nghĩa là một nghĩatrong đó có những “lỗ hổng” để nhận những ý nghĩa khác, vị từ ngữ nghĩa là mộtnghĩa có tính gắn kết” Vị từ ngữ nghĩa tập hợp các nghĩa khác để tạo thành nhữngcấu trúc ngữ nghĩa như “một cái ống nối kết các đỉnh của một cái trại để tạo thànhkhung đỡ cái trại” Qua đó, thấy rằng nếu xét trên logic ngữ nghĩa, vị từ là yếu tố
Trang 10ngôn ngữ mang nghĩa có tính gắn kết, là thành tố nêu đặc trưng hay quan hệ và vị
từ chỉ xuất hiện khi có sự tham gia của các tham tố
Theo hướng nghiên cứu ngữ pháp chức năng, qua công trình nghiên cứu
của nhà ngôn ngữ học người Ba Lan – Anna Siewierska, tác giả Diệp Quang Ban
có đưa ra nhận xét: “Trong ngữ pháp chức năng, toàn bộ các vị từ chia thành baloại: thuộc động từ, thuộc tính từ và thuộc danh từ” Vị từ thuộc động từ, tính từ làphổ biến hơn so với danh từ Nhưng cũng có thể thấy được, khác với ngữ pháptruyền thống, vị từ không chỉ riêng động từ, tính từ mà còn có danh từ Chẳng hạn,qua các ví dụ sau:
Tôi đọc truyện “Đất rừng phương Nam” của Đoàn Giỏi
Em gái dễ thương quá.
Mưa!
Cùng với nhận xét này, để thấy rằng phạm trù vị từ trong cấu trúc vị từ –
tham thể đã được hiểu rộng hơn Ngày nay, hiểu vị từ theo hướng nghiên cứu về
mặt ngữ pháp chức năng – ngữ pháp dựa trên cơ sở ngữ nghĩa sẽ có tính mở hơn so
với hướng nghiên cứu về mặt ngữ pháp truyền thống
Các vị từ được phân loại chủ yếu dựa vào ngữ trị của chúng, nghĩa là dựa vào số lượng ngữ đoạn bắt buộc đi cùng với chúng để tạo nên một câu trọn vẹn tối
thiểu Chẳng hạn, vị từ “biếu” trong ví dụ: Cháu Nam biếu ông lọ thuốc bóp chân
Vị từ này có ngữ trị 3, với ba ngữ đoạn lần lượt chỉ ra người tặng “cháu Nam”, người được tặng “ông” , vật được tặng “lọ thuốc bóp chân”
Có vị từ vô trị (avalent), vị từ đơn trị (monovalent), vị từ song trị (bivalent),
vị từ tam trị (trivalent), Vị từ vô trị là vị từ có diễn trị zero Ví dụ: Hôm qua bão./Khuya lắm rồi! Trong ví dụ trên từ “bão”, “khuya” là những vị từ vô trị Vị từ đơntrị là vị từ có một diễn tố Ví dụ: Tôi chạy đi./ Em đứng Vị từ song trị là vị từ cóhai ngữ trị Ví dụ: Tôi thổi cơm./ Mẹ hái rau
Trang 111.2 Quan niệm về tham thể (vai nghĩa) trong câu
Phương pháp phân tích câu Tiếng Việt theo kết cấu vị từ – tham thể là phương pháp phân tích câu nhìn từ góc độ ngữ nghĩa, do vậy, mỗi đối tượng trong câu đều ứng với một đối tượng của thực tế khách quan, nội dung của câu là một sự tình của thế giới khách quan ấy Theo cách nói của Cao Xuân Hạo thì câu biểu hiệnmột sự tình mà trong đó, nội dung (nghĩa biểu hiện) của nó được hình dung như
một “cảnh” (một màn kịch ngắn) diễn trên sân khấu và các nhân/ vật có mặt trên
sân khấu được gọi là tham tố của sự tình [6, tr.27] Tức là các tham tố là các vai nghĩa trong một màn kịch nhỏ của một sự thể Nói cách khác, mỗi câu phản ánh một sự tình, trong cấu trúc của một sự tình thì động từ vị ngữ (predicator) là trung tâm, xoay xung quanh động từ vị ngữ là các tham thể Mỗi tham thể đảm nhiệm
một vai nghĩa (semantic role) nhất định.
Khái niệm tham thể được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Theo tác
giả Bùi Minh Toán “Tham thể là các thực thể tham gia vào cấu trúc và đặc trưng/ quan hệ- tham thể của sự tình, và thường được biểu thị bằng danh từ, cụm danh từ hoặc các từ ngữ tương đương” [1, tr.180]
Cùng với quan điểm của Bùi Minh Toán, các nhà nghiên cứu khác cũngkhá thống nhất khi cho rằng tham thể là tất cả các thực thể được biểu hiện bằng cácdanh từ và tương đương danh từ tham gia vào sự tình, chịu sự chi phối trực tiếpcủa ý nghĩa của vị từ hoặc phải được vị từ chấp nhận
Với cái nhìn không thể tách tham thể ra khỏi sự tình thì Van Valin và
Lapolla (1997) cũng có cái nhìn tương tự, cho rằng: “Vai nghĩa (tham thể) mà một thực thể đảm nhận trong sự tình luôn luôn phụ thuộc vào bản chất của sự tình đó,
và thực là vô nghĩa nếu ta tách biệt các vai nghĩa ra khỏi các sự tình mà trong đó chúng xuất hiện” [5, tr.13-21]
Với tác giả S C Dick thì: “Một kết cấu vị ngữ hạt nhân bao gồm một vị từ gắn kết với một số thích hợp các ngữ định danh để lắp đầy vị trí các tham tố của vị
Trang 12từ đó Kết cấu vị ngữ hạt nhân xác định một tập hợp các sự tình, trong đó thuộc tính hay quan hệ của nó được vị từ chỉ định, có hiệu lực đối với những ngữ định danh cụ thể mà vị từ được ứng dụng” [4, tr.14]
Tác giả Diệp Quang Ban đưa ra quan niệm tham thể là những thực thể thamgia vào sự thể (sự việc) như là một bộ phận cần thiết của sự thể, bộ phận nằm trong
sự thể Tham thể có quan hệ với sự thể theo kiểu cho sự thể ấn định, tức là một sựthể cụ thể chỉ có thể diễn ra nhờ sự có mặt của một hoặc những tham thể nào đó,một sự thể khác có thể diễn ra không cần đến sự có mặt của tham thể nào cả.Chẳng hạn sự đánh nhau nhất thiết phải có hai bên tham gia [8, tr.21]
Ở phương pháp phân tích câu Tiếng Việt theo kết cấu vị từ – tham thể, thìmỗi câu nói có một vị từ làm cốt lõi và xung quanh là những tham thể, biểu thịnhững vai nghĩa khác nhau Có những vai nghĩa mang tính bắt buộc, bị quy địnhbởi bản chất từ vựng – ngữ pháp của vị từ trung tâm, theo cái nghĩa là những vị từ
có bản chất từ vựng – ngữ pháp khác nhau sẽ quy định các vai nghĩa khác nhau.Nhưng cũng có những vai nghĩa mang tính tùy nghi, tức là không chịu sự quy địnhbắt buộc như vậy
Trong ngữ pháp của Tesniere, những vai nghĩa bắt buộc sẽ được hiện thực
hóa thông qua những ngữ đoạn được gọi là diễn tố (actant), còn những vai nghĩa
tùy nghi thì được hiện thực hóa thông qua những ngữ đoạn được gọi là chu tố
(circonstant) Việc đánh giá một vai nghĩa là bắt buộc hay tùy nghi phải đặt trong
quan hệ với vị từ trung tâm: một vai nghĩa có thể tùy nghi với vị từ này, nhưng lạibắt buộc đối với vị từ khác Ví dụ, vai nghĩa “nơi chốn” (location) có thể mang tínhtùy nghi khi trung tâm là một vị từ “hành động” “Tôi đi đến Sài Gòn” nhưng lạimang tính bắt buộc nếu trung tâm là một vị từ “tồn tại” “Tối sống ở Hà Nội” Với
lý thuyết này, Cao Xuân Hạo cũng khẳng định Tesniere là người đã đặt nền móngcho nghĩa học của cú pháp
Trang 13Trên cơ sở đó, các tham thể được các nhà nghiên cứu khái quát thành hailoại: tham thể cơ sở và tham thể bắt buộc (thuật ngữ của tác giả Diệp Quang Ban)hoặc chu tố và diễn tố (thuật ngữ của tác giả Cao Xuân Hạo).
1.3 Phân loại tham thể
1.3.1 Tham thể cơ sở (Diễn tố)
Tham thể cơ sở là loại tham thể mà sự hiện diện của nó là nội dung ý nghĩacủa vị từ trong cùng cấu trúc ý nghĩa nó đòi hỏi
Ví dụ: Nga vừa mua cho Linh một hộp bánh đó
Trong đó Nga, Linh và hộp bánh là những tham thể bắt buộc.
Tác giả Cao Xuân Hạo gọi tham thể bắt buộc là diễn tố (actant) Theo ông,
“diễn tố là tham tố của vị từ tham gia vào nội dung biểu hiện của khung ngữ vị từ
(thuật ngữ của Cao Xuân Hạo) Theo ông, khung ngữ vị từ không phải là ngữ, cũngkhông phải là câu, ở đây là cái khung nghĩa Như một nhân vật được giả định mộtcách tất yếu trong nội dung nghĩa của vị từ, mà nếu thiếu đi thì cái sự tình hữuquan không thể được thực hiện, không còn là nó nữa” [3, tr.113]
Diễn tố (tham thể cơ sở) những vai nghĩa tất yếu được giả định sẵn trongnghĩa từ vựng của vị từ Nói cách khác đây là những tham tố bắt buộc, xuất hiện do
nghĩa của vị từ quy định “Diễn tố là tham tố cần và đủ, có số lượng nhất định (cho từng vị từ), cùng với nội dung của sự tình (do vị từ biểu thị) tạo thành một sự tình, tức là tạo thành cấu trúc nghĩa của câu” [2, tr.49]
Ví dụ: Người đàn bà càu nhàu câu gì trong miệng (Vợ nhặt)
Trong ví dụ này, “càu nhàu” là vị từ và “người đàn bà”, “câu gì”, “trongmiệng” là những diễn tố Trong đó, “người đàn bà”: chủ thể của hành động; “câugì”; “trong miệng”: tham thể chỉ nơi chốn của hành động Ba tham thể này có mặt
là do nghĩa của vị từ “càu nhàu” đòi hỏi nhằm làm cho câu văn rõ ràng, đủ ý
Trang 14Do chịu sự ấn định của vị tố nên các diễn tố thường đi với một loại vị từnhất định Trong đó:
Tham thể chỉ đích thường đi với vị từ tự dời chuyển – đòi hỏi một tham thểbắt buộc (chủ thể) hoặc hai tham thể bắt buộc (chủ thể và đích); vị từ tác động làmvật dời chuyển – đòi hỏi hai tham thể bắt buộc
Cô ấy chạy, “cô ấy” là chủ thể của hành động chạy.
Cô ấy chạy đến vạch đích, “cô ấy” là chủ thể của hành động chạy; vạch
đích: đích đến
Tôi đem cái cây về nhà, “tôi” là chủ thể của hành động đem; “cái cây” là
tham thể chỉ vật được dời chuyển – đối thể
Tham thể chỉ đối thể chịu tác động của hành động thường đi với các vị từchỉ hành động tác động – đòi hỏi hai tham thể bắt buộc
Tôi đạp phanh phách vào các ngọn cỏ Từ “Tôi” là chủ thể của hành động
đạp và “các ngọn cỏ”: vật chịu tác động của đạp – đối thể
Tham thể chỉ chủ thể cầu khiến, đối thể được cầu khiến và nội dung cầukhiến: đi với vị từ cầu khiến – đòi hỏi ba tham thể bắt buộc
Tôi bảo em gái lấy áo quần vào nhà Từ “Tôi” là chủ thể của hành động
bảo; “em gái” là tiếp thể của hành động; “quần áo”: đối thể chỉ vật
Các tham thể chủ thể trao nhận, tiếp thể, vật được trao nhận: đi với loại vị
từ trao nhận – đòi hỏi ba tham thể bắt buộc
Tôi tặng cô ấy một chiếc khăn quàng cổ Từ “Tôi” là chủ thể của hành
động tặng; “cô ấy” tiếp thể chỉ người nhận; “chiếc khăn quàng cổ”: đối thể chỉ vậtđược trao nhận
Trang 15Các tham thể chủ thể hủy diệt thường đi với loại vị từ hủy diệt – đòi hỏi haitham thể bắt buộc.
Thạch Sanh chém chằn tinh “Thạch Sanh” là chủ thể hủy diệt; “chằn
tinh”: đối thể bị hủy diệt
Các tham thể chính là các thực thể tham dự và tạo nên sự tình (sự việc).Song tham thể phụ thuộc vào vị tố và tùy theo mối quan hệ về nghĩa với loại vị tố
mà được xác định thành các vai nghĩa Số lượng tham thể và tên gọi tham thể chưa
có sự thống nhất ý kiến Trong đó, tham thể được biểu hiện chủ yếu bằng danh từ,đại từ, đôi khi bằng các loại khác
Chu tố (circumstants) là những vai nghĩa không tất yếu, không được giả
định sẵn trong nghĩa từ vựng của vị từ Chúng là những tham tố không bắt buộc,chỉ xuất hiện để thêm một ý nghĩa nào đó cho khung vị ngữ (thời gian, không gian,cách thức, phương tiện, mục đích, ý so sánh…) Chúng không do bản chất của vị
từ quy định, chúng có thể có mặt ở nhiều (hay tất cả) các loại vị từ (sự tình)
Theo S C Dik “chu tố là sự mở rộng tùy chọn của kết cấu vị ngữ hạt nhân, chỉ ra các bình diện bổ sung của sự tình Chu tố ‘nhạy cảm’ với bản chất của sự tình được kết cấu vị ngữ hạt nhân xác định hơn là với bản chất của vị từ được nói đến” [9, tr.70-71].
Trang 16Chu tố dẫu không trực tiếp chịu sự chi phối của vị tố, không nhất thiết phải
có mặt trong cấu trúc vị từ – tham thể, sự xuất hiện của nó là nhằm bổ sung thêmmột phương diện nghĩa, nhưng vì nằm trong cùng một câu trúc nghĩa nên ý nghĩacủa nó phải phù hợp với ý nghĩa của vị từ, phải được vị từ thừa nhận
Tuy nhiên, sự phân chia tham thể bắt buộc – tham thể mở rộng hay diễn tố– chu tố chỉ có tính tương đối Một tham thể bắt buộc trong một khung ngữ vị từnày có thể là một tham thể mở rộng trong một khung ngữ vị từ khác Chẳng hạn:(1) Tôi đi vào ngày mai (2) Ngày mai, tôi sẽ đi Đà Lạt
Cùng là tham tố chỉ thời gian là “ngày mai” nhưng ở ví dụ (1) thì “ngàymai” là vai đích cho vị từ “đi” nên đây là tham tố cơ sở Còn ở ví dụ (2), “ngàymai” không bị chi phối bởi vị từ “đi”, nó chỉ bổ sung ý nghĩa và thời gian cho việc
sẽ đi Đà Lạt, không nhất thiết phải có tham thể này mà vẫn hiểu được ý nghĩa củacâu, vậy nên trong ví dụ (2) “ngày mai” giữ vai trò là tham thể mở rộng”
1.4 Các vai nghĩa thường gặp
Như trên đã nói, trong khung vị ngữ, vị từ là hạt nhân ngữ nghĩa của vị ngữ(ngữ vị từ) Nói như vậy nghĩa là vị từ với tư cách là từ biểu hiện nội dung của sựthể đối với cấu trúc tham tố của vị ngữ
Vai nghĩa thường được biểu hiện dưới hai hình thức: ngữ đoạn và một cú C– V Người ta thường đánh dấu vai nghĩa bằng 3 phương thức:
Dùng trật tự từ Trong ngôn ngữ dùng trật tự từ như một phương tiện
để phân biệt các vai nghĩa, đặc biệt đối với các ngôn ngữ không biến hình Ví dụ:
Bốn giờ tôi đi học (vai thời điểm)/ Tôi đi học bốn giờ (vai thời lượng)
Dùng biến tố Đây là phương thức chỉ dùng trong ngôn ngữ biến hình(tiếng Nga)
Dùng giới từ Phương thức này được xem là phương thức phổ biến
nhất trong cách đánh dấu vai nghĩa Ví dụ: Em đi Hà Nội bằng tàu hỏa ( vai công
cụ
Trang 17Có thể kết luận về cách đánh dấu vai nghĩa trong tiếng Việt rằng, vì tiếngViệt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập nên vai nghĩa thường đánh dấu bằng phươngthức trật tự từ và phương thức dùng giới từ.
Cách tiếp cận như trên đã được nhiều nhà ngôn ngữ học tiếp thu và đưa radanh sách những vai nghĩa trong khung vị ngữ
Cao Xuân Hạo gọi các diễn tố (vai nghĩa bắt buộc) bằng các tên gọi như:vai tác thể, vai hành thể, vai động thể, vai lực thể, vai đương thể, vai đối thể, vaitiếp thể, vai đích,…còn với tác giả Diệp Quang Ban gọi là thể động, thể tĩnh, thểcảm nghĩ, thể nói năng, thể mục tiêu, thể tiếp nhận…
Còn các chu tố (vai nghĩa mở rộng) Cao Xuân Hạo gọi là: vai phương thức,vai phương tiện, vai kết quả, vai lối đi…, còn Diệp Quang Ban gọi là cảnh huống:thời gian, không gian, nguyên nhân, điều kiện, mục đích, kết quả, đường đi, nghịchđối, [7, tr.49]
Ngoài ra, tác giả Nguyễn Văn Hiệp trong cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa phân tích
cú pháp” đã liệt kê ra danh sách các vai nghĩa như sau: [8]
Vai tác thể (Agent): Biểu thị người gây ra hành động
Vai nghiệm thể (Expriencer): Biểu thị chủ thể trải nghiệm một trạngthái nào đó
Vai tiếp thể (Recipient): Biểu thị kẻ tiếp nhận trong hành động traotặng
Vai kẻ hưởng lợi (Benefactive): Biểu thị kẻ được hưởng thành quả từmột hành động do một ai đó thực hiện
Vai lực tự nhiên (Force): Chỉ tác nhân tự nhiên gây ra một biến cố,thay đổi nào đó
Vai bị thể (Patient): chỉ vật, người chịu sự tác động, dẫn đến một thayđổi nào đó Sự thay đổi này có thể là về vật lí, tâm lí…
Trang 18 Vai công cụ (Instrucment): Chỉ công cụ được dùng để thực hiện hànhđộng.
Vai vật thực hiện tác động (Effector): Chỉ vật trực tiếp tác động đếnđối tượng nào đó, vai này rất gần gũi với vai công cụ
Vai địa điểm, vị trí (Location hay Locative): Chỉ nơi chốn của sự tình,
vị trí tồn tại của sự vật
Vai điểm xuất phát, hay nguồn của trạng thái (Source): Chỉ điểm xuấtphát của chuyển động, hay nguồn của trạng thái
Vai điểm đến (Goal): Chỉ đích đến của một chuyển động
Vai kẻ tham chiếu (Reference): Chỉ người hay vật được dùng để thamchiếu trong một trạng thái, quan hệ
Vai kẻ cùng hành động (Comcomitant): Chỉ người cùng hành độngtrong một hành động
Vai thời điểm ( Temporal): Chỉ thời điểm của sự tình
Vai chủ sỡ hữu (Possessor): Chỉ chủ sỡ hữu của sự vật
Vai thời lượng (Duration): Chỉ thời gian kéo dài của hành động
Vai nội dung (Content): Chỉ nội dung của sự hiểu biết
Vai thể chuyển động (Theme): Chỉ một thực thể tồn tại ở một vị trínào đó, hoặc thực thể chuyển động, chịu một sự thay đổi về một vị trí do một tácnhân nào đó
Một số vai khác có tính chất ngoại vi cũng được tác giả thừa nhận,như vai cách thức (Manner), vai nguyên nhân (Cause), vai mục đích (Purpose)
Như vậy, có thể thấy rằng việc phân loại các vai nghĩa trong khung vịngữ chưa có sự thống nhất giữa các tác giả về tên gọi Trong phạm vi bài này,chúng tôi xin giới thiệu hệ thống các vai nghĩa mà Nguyễn Thiện Giáp đã tổng kếtdựa trên quan điểm của các nhà nghiên cứu trên thế giới Theo tác giả, vai nghĩađược phân chia thành 22 vai nghĩa khác nhau, ta có bảng sau:
Trang 19STT TÊN GỌI NỘI DUNG VÍ DỤ
experiencer)
Chỉ vai trải qua hoặc gánh chịu
trạng thái nội tại
Cháu đau chân Mẹ
Áo quần khô rồi,
mang vào nhà đi
Trang 20minh nghĩa của động từ quy
Sứ yêu biết bao
nhiêu cái chốn này.
9 Người hưởng
lợi(beneficiary)
Vai hưởng lợi trong hành động
do động từ biểu thị
Cô giáo chở bạn Hoa về nhà.
như lên, xuống, ra, vào…
Hoa bay lên trời.
13
Nguồn (source) Chỉ chỗ xuất phát của chuyển
động do động từ biểu thị
Đá lăn từ trên đỉnh núi xuống.
14 Lối đi (path) Chỉ con đường được chọn cho
sự di chuyển, có thể được biểuhiện bằng một vật nằm trên conđường ấy; thường được biểu thị
bằng một giới ngữ có dọc, theo,
Nước men theo khe suối chảy róc rách.
Trang 21qua… làm trung tâm, đặt sau vị
tâm là bằng hay với hoặc bằng kết
biểu thị
Vận tốc rơi của mộtcánh hoa anh đào là
Trang 22câu; hoặc là một trạng ngữ đặt
sau vị ngữ mặt trời.
22
Trở ngại(adversative –trạng ngữ nhân
nhượng haynhượng tiến)
Thường được biểu thị bằng mộtđại từ, một danh ngữ hay một
tiểu cú mở đầu bằng tuy, mặc
dù, mặc cho…, diễn đạt ý của
người nói chịu thừa nhận một
sự tình có thật
Mặc dù buồn nhưng
tôi nghĩ anh hợpvới vị trí này hơn
tôi
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CÂU TIẾNG VIỆT THEO
KẾT CẤU VỊ TỪ – THAM THỂ (VAI NGHĨA) 2.1 Các bước phân tích câu theo kết cấu vị từ – tham thể
Khác với ba phương pháp phân tích câu trong tiếng Việt theo cấu trúc chủ
– vị (ngữ pháp truyền thống), theo cấu trúc đề – thuyết (ngữ pháp chức năng) và theo cấu trúc nêu – báo (lý thuyết thông tin), phương pháp phân tích câu theo cấu trúc vị từ – tham thể (ngữ pháp ngữ nghĩa) ra đời muộn hơn nên nền tảng lý thuyết
chưa nhiều Thực tế cho thấy rằng, phương pháp phân tích câu theo kết cấu này làmột lối đi mới để tiếp cận câu tiếng Việt, có lẽ vì nghiên cứu ngữ pháp dựa trên cơ
sở của ngữ nghĩa nên nghĩa của câu được hiểu trọn vẹn qua cách tiếp cận này Tuynhiên, cũng tồn tại hạn chế của nó là không làm rõ được đâu là thông tin mới trongcâu
Với phương pháp phân tích câu theo cấu trúc vị từ - tham thể, có 4 bướctiến hành: [10]
Bước 1: Tìm vị từ trung tâm (VTTT)
Trang 23Trước hết ta phải tìm được cái từ được xem là “đỉnh của câu”, là đầu mốicủa mọi quan hệ trong câu, nghĩa là phải đi tìm vị từ trung tâm
Cách đầu tiên để xác định vị từ trung tâm, ta đặt được câu hỏi với từ nàonhiều nhất thì từ đó sẽ là trung tâm Vì từ trung tâm phải có mối quan hệ với toàn
bộ các thành tố trong câu về mặt nghĩa Ví dụ: Mẹ thổi cơm Ta đặt được một câu hỏi với từ Mẹ (Mẹ làm gì?), hai câu hỏi với từ thổi (Ai thổi? và Thổi gì?), không đặt được câu hỏi nào với từ cơm Vậy từ thổi là trung tâm.
Cách thứ hai để tìm cái “đỉnh của câu” là ta đi tìm động từ trong câu Vìtheo tác giả Nguyễn Kim Thản, trong vị ngữ động từ, cụm động từ chiếm 90%.Những động từ trung tâm thường đứng sau chủ thể, phó từ thời gian, mệnh lệnh,
Và vì thế, 10% còn lại, sẽ phải thực hiện khác, đặt ra những câu hỏi, mà từ đó thểhiện được nghĩa miêu tả thì chính là vị từ trung tâm Ví dụ: Anh ấy người HàTĩnh./ Tôi chưa 18./ Em vẫn thế Danh từ “người Hà Tĩnh” , số từ “18” và đại từ
“thế” là các vị từ trung tâm
Bước 2: Tìm các tham thể.
Ở đây, câu trả lời cho các câu hỏi có liên quan đến vị từ sẽ chính là cáctham thể cần tìm Tên gọi của các tham thể chính là các vai nghĩa mà tham thể đảmnhiệm Chẳng hạn: Ngày 20-11, tôi tặng cho cô giáo một bó hoa hồng
Các câu hỏi được đặt ra: Ai tặng? Tặng cho ai? Tặng cái gì? Tặng lúc nào? Và ta sẽ được kết quả: tham thể 1: tôi; tham thể 2: người yêu, tham thể 3: một
bó hoa hồng, tham thể 4: ngày 20-11.
Bước 3: Xác định tham thể bắt buộc và tham thể mở rộng.
Việc xác định TTBB (diễn tố) và TTMR (chu tố) vẫn phải dựa vào vị từtrung tâm Vì thế để phân tích câu bằng kết cấu vị từ tham thể, thì ta phải thực hiệnchính xác bước 1
Cách tốt nhất là lược bớt các thành tố để xem vị từ trung tâm có còn trọn
vẹn về nghĩa không Chẳng hạn với vị từ trao nhận, chắc chắn cần có chủ thể trao
Trang 24nhận, vật trao nhận, người tiếp nhận Vậy cả ba tham thể này đều là bắt buộc Còn trao nhận ở đâu, vì mục đích gì… không quan trọng; các tham thể thể hiện những ý
nghĩa này sẽ là tham thể mở rộng Trong ví dụ trên, các tham thể 1, 2, và 3 làTTBB; còn tham thể thứ 4 là TTMR
Bước 4: Ghi tên các tham thể
Trước hết, ta nên chú ý tới mối quan hệ của tham thể với vị từ trung tâm.Thứ hai, bắt buộc phải học thuộc lòng hệ thống tên gọi các tham thể theocác vị từ nhất định
Chẳng hạn, với vị từ trao nhận, ta luôn có ba tham thể: chủ thể của hànhđộng (hành thể), đối thể của hành động (người hưởng lợi - đắc lợi thể/ tiếp thể), vậttrao nhận (đối thể)
Trên đây là những bước tiến hành phân tích câu tiếng Việt theo kết cấu vị
từ – tham thể theo nghiên cứu của TS.Trần Kim Phượng Nhưng có những sự tương ứng nhất định giữa cấu trúc vị từ – tham thể và cấu trúc chủ – vị Do vậy, người học có thể sử dụng những hiểu biết của mình về cấu trúc chủ – vị để suy ra cấu trúc vị từ – tham thể.
2.2 Mối quan hệ giữa phương pháp phân tích câu theo cấu trúc vị từ tham thể và cấu trúc C-V
-Đối chiếu phương pháp phân tích câu theo kết cấu vị từ – tham thể với cáchphân tích câu theo truyền thống – theo kết cấu C – V dựa trên bảng so sánh của TS.Trần Kim Phượng: